1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx

72 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng TT-Associate
Trường học Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng TT-Associate
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 99,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 1 Chuyên đề tốt nghiệp Lời nói đầu 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào, vốn cũng đóng một v[.]

Trang 1

Chuyên đề tốt nghiệp

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp

nào, vốn cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Vốn là đòi hỏi đầu tiên và

bắt buộc phải có, là yếu tố không thể thiếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát

triển của doanh nghiệp Doanh nghiệp vừa phải đảm bảo vốn cho hoạt động của

mình đồng thời phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường, mở rộng

sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho người lao động, tạo công ăn việc

làm, tăng nhanh lợi nhuận Hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định đến

sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc

liệt như hiện nay

Xuất phát từ những lý do này và nhận thức được những vấn đề trên nên sau

một thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ

phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate” làm nội dung nghiên cứu của

mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn

Kiến trúc Xây dựng TT-As

Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ

phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 2

2

1

Chuyên đề tốt nghiệp

Đối tượng của đề tài là những lý luận và thực tế về tình hình sử dụng vốn

tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sẽ giới hạn việc nghiên cứu tại Công ty

Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

4 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp nghiên cứu truyền thống, kết hợp lý luận với thực tiễn

trên cơ sử phân tích các hoạt động tài chính của công ty, chuyên đề nhằm nêu rõ

bản chất, vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường; nguyên tắc và nội dung

trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp cơ bản

nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây

dựng TT-As

5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,

chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương 1: Lý thuyết chung về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc

Xây dựng TT-As

Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần

Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 3

2

1.1 VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập

và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp,

vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên,

khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau

Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thành

phạm trù tư bản K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng

dư, là đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa về vốn của K.Marx có một tầm

khái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn Bản chất của

vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài

sản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công Vốn là giá trị đem lại giá trị

thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh

doanh Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K.Marx đã bó

hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá

trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế

Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho

quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp

(máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…)

Còn theo D.Begg, tác giả cuốn “kinh tế học”, cho rằng: vốn bao gồm vốn

hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản

Trang 4

4

3

Chuyên đề tốt nghiệp

xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá

của doanh nghiệp Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản

của doanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất

cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn

của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp

Bất cứ một doanh nghiệp nào, khi bắt đầu hoạt động cũng cần phải có một lượng

vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như: chi phí thành lập

doanh nghiệp, mua sắm nguyên vật liệu, đầu tư công nghệ, trả tiền công, lãi vay,

nộp thuế…Lượng vốn này đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp được thực hiện liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc, thiết

bị mới…giúp cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng Qua đó ta thấy vốn đưa

vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hình thái vật chất khác nhau

để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường Lượng tiền

mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra

ban đầu, đồng thời phải có lãi Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo

đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá Nó giống

các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người

sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Chi phí

của việc sử dụng vốn chính là lãi suất Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu và

quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi

Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ;

mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính

chất của chúng Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp

khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố như:

 Trạng thái của nền kinh tế

 Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

 Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 5

4

Chuyên đề tốt nghiệp

 Trình độ khoa học – kỹ thuật và trình độ quản lý

 Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp

 Thái độ của chủ doanh nghiệp

 Chính sách thuế…

Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất

cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình

sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản

xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên

tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu

tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng

Như vậy, ta có thể hiểu vốn là toàn bộ các giá trị ứng ra ban đầu và các quá

trình sản xuất tiếp theo Vốn là giá trị tạo ra giá trị thặng dư

1.1.2 Vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường

Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào thì cũng cần có

vốn Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết

định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp nào

cũng cần phải có vốn trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, sau đó vốn được

sử dụng vào sản xuất kinh doanh, sau một chu kỳ hoạt động nó phải được thu về

để phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh sau Vốn của doanh nghiệp có vai

trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất và những tiến bộ xã hội, vì

vậy nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ

khoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy

nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mọi hoạt

động từ việc xác định mục tiêu cho đầu tư dài hạn, tìm nguồn tài trợ cho đến

việc đưa ra các quyết định tài chính ngắn hạn - tức là ba vấn đề quan trọng đầu

tiên của doanh nghiệp đều gắn với các hoạt động có liên quan đến vốn Như vậy,

vốn là bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh và do đó

Trang 6

6

5

Chuyên đề tốt nghiệp

việc huy động, đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất có ảnh hưởng

không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong cơ chế hành chính cũ, cơ chế bao cấp, nguồn vốn sản xuất kinh

doanh của các xí nghiệp quốc doanh là rất hạn hẹp, ngân sách cấp phát vốn và

ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi Vì thế vai trò đảm bảo vốn của tài chính

xí nghiệp chưa được đặt ra như một vấn đề cấp bách Trong điều kiện của cơ chế

thị trường hiện nay, việc huy động đủ vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh

doanh được diễn ra liên tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ

sản phẩm Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại

thì phải trang bị cho mình các bí quyết, các dây chuyền công nghệ hiện đại để

nâng cao năng suất lao động, bởi vì quy luật cạnh tranh đă đặt ra trước các nhà

doanh nghiệp những yêu cầu rất khắt khe trong sản xuất sản phẩm: phải bán

những cái mà thị trường cần chứ không phải bán những cái mà mình có Sản

phẩm mà thị trường cần là những sản phẩm tốt, giá hạ, hợp thị hiếu người tiêu

dùng Để đáp ứng được những yêu cầu này, doanh nghiệp cần phải có nhiều

vốn

Vốn còn có ý nghĩa quyết định tới quy mô hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp Do sự phát triển của kinh tế thị trường và cách mạng khoa học kỹ thuật,

doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì nhu cầu vốn càng quan

trọng hơn bao giờ hết và có xu hướng tăng không ngừng Nó giúp cho doanh

nghiệp có thể tận dụng những cơ hội trong kinh doanh và tạo được lợi thế trong

cạnh tranh

Bên cạnh đó, vốn cũng ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động hay việc đa dạng

hoá nghành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.Thông thường khi muốn tham

gia kinh doanh một lĩnh vực mới doanh nghiệp phải có một lượng tiền lớn cho

việc đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất, dây chuyền công nghệ mới, xây dựng hệ

thống phân phối, tiêu thụ sản phẩm Nếu doanh nghiệp không có nguồn tài

chính mạnh thì khó có thể thực hiện được hoạt động này ngay ở những khâu đầu

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 7

6

Chuyên đề tốt nghiệp

tiên như phân tích thị trường, xây dựng phương án kinh doanh Hơn nữa, việc

đảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp chống đỡ được những

tổn thất, rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động

Tóm lại, vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp Đất nước ta sau hai mươi năm thực hiện đổi mới, nền

kinh tế đã ổn định và phát triển Để duy trì được những thành quả đó, giữ vững

nhịp độ tăng trưởng và khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực

nói riêng, các nước trên thế giới nói chung thì một trong những vấn đề đang

được Nhà nước đặc biệt quan tâm là nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế

Trong bối cảnh chung đó, mỗi doanh nghiệp đều phải tích cực khai thác, huy

động, phát triển nguồn vốn của mình để tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp, làm

cho doanh nghiệp thực sự trở thành một tế bào quan trọng trong nền kinh tế, góp

phần tạo đà thúc đẩy nền kinh tế đất nước đi lên

1.1.3 Phân loại vốn

Có rất nhiều cách phân loại vốn khác nhau, tuỳ theo loại hình doanh nghiệp

và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn

và huy động vốn khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, các phương thức huy

động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn

trong nền kinh tế Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt

Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoản chỉnh nên việc khai thác và sử

dụng vốn có những nét đặc trưng nhất định Do đó, người ta phân loại vốn theo

các tiêu thức khác nhau:

1.1.3.1 Phân loại theo tính chất sở hữu

Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao

gồm các bộ phận chủ yếu: Vốn góp ban đầu; Lợi nhuận không chia; Tăng vốn

bằng cách phát hành cổ phiếu mới

Trang 8

8

7

Chuyên đề tốt nghiệp

Khi doanh nghiệp mới thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có

một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu góp vốn Khi nói lên

nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở

hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình

thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của

ngân sách Nhà nước Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước

Hiện nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý nguồn vốn của doanh

nghiệp Nhà nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình

thực tế

Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thì chủ doanh

nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh

nghiệp Đối với công ty Cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố

quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và

chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên,

các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đó cách thức

huy động vốn cổ phần cũng khác nhau Trong các loại hình doanh nghiệp khác

như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như trên; tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ

ra, do các bên tham gia, các đối tác góp… Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên

tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (như luật pháp, đặc điểm

ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh)

Quy mô vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng Tuy

nhiên, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu hoạt động có hiệu quả thì

doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn Nguồn

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 9

8

Chuyên đề tốt nghiệp

vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái

đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một phương thức

tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh

nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiều

doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục

tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu

vốn ngày càng tăng

Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như

doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào

khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách

tái đầu tư của Nhà nước

Tuy nhiên, đối với công ty cổ phần thì việc giữ lại lợi nhuận không chia

phụ thuộc vào một số yếu tố rất nhạy cảm Khi công ty giữ lại một phần lợi

nhuận trong năm cho tái đầu tư, điều đó đồng nghĩa với việc công ty không dùng

số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ

phần (cổ tức), nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của

công ty

Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ

bằng nguồn vốn nội bộ Điều này một mặt, khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu

lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiểu trong thời kỳ

trước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu

tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có

thể bị giảm sút

Khi giải quyết vấn để cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức của

công ty cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:

 Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ

 Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước

Trang 10

1

0

9

Chuyên đề tốt nghiệp

 Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu

của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó

 Hiệu quả của việc tái đầu tư

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở

hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới Đây là một kênh huy động vốn dài

hạn rất quan trọng cho công ty thông qua thị trường chứng khoán Phát hành cổ

phiếu được gọilà hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp Có hai loại cổ

phiếu cơ bản là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu thường (cổ phiếu thông thường) là loại cổ phiếu thông dụng nhất

vì nó có những ưu thế trong việc phát hành ra công chúng và quá trình lưu hành

trên thị trường chứng khoán Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất

được trao đổi mua bán trên thị trường chứng khoán Vì vậy nó là công cụ tài

chính quan trọng nhất trên thị trường chứng khoán Mặc dù việc phát hành cổ

phiếu có nhiều ưu thế so với các phương thức huy động vốn khác nhưng cũng có

những hạn chế và các ràng buộc cần được doanh nghiệp cân nhắc kỹ lưỡng

Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu

được cấp phép Đây là một trong những quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà

nước nhằm quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch

chứng khoán Muốn tăng vốn cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội cổ

đông cho phép, sau đó phải hoàn tất những thủ tục quy định khác

Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư

(các cổ đông) Những cổ phiếu này được gọi là những cổ phiếu đang lưu hành

trên thị trường Tuy nhiên có thể chính những công ty phát hành lại mua lại số

cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó Những cổ phiếu này

được gọi là cổ phiếu ngân quỹ, được coi như tạm thời không lưu hành Việc mua

lại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình hình

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 11

1

0

Chuyên đề tốt nghiệp

cân đối vốn và khả năng đầu tư; tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị

trường; chính sách đối với việc sát nhập hoặc thôn tính công ty (chống thôn

tính); tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của Ủy ban chứng

khoán Nhà nước; mệnh giá và thị giá

Cổ phiếu ưu tiên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát

hành Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu tiên tỏ ra là

phù hợp hơn cả Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định,

người mua cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường

Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ

không nhận được cổ tức của kỳ đó Việc giải quyết chính sách cổ tức được nêu

rõ trong điều lệ công ty

Phần lớn các công ty cổ phần đều quy định rõ: công ty có nghĩa vụ trả hết

số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới

thanh toán cho các cổ đông thường Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công

ty phát hành thu hồi lại (chuộc lại) khi công ty thấy cần thiết

Hạn chế của cổ phiếu ưu tiên là cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế, khác

với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty

Các công ty thường cố gắng cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở hữu để giữ

vững khả năng thanh toán, củng cố uy tín tài chính Khi tỷ lệ nợ ở mức thấp, nếu

cần vốn thì các công ty thường chọn cách phát hành trái phiếu tức là tăng nợ (mà

không tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu) Nếu tỷ lệ nợ ở mức cao, công ty

phải tránh việc tăng thêm tỷ lệ nợ và chọn cách phát hành cổ phiếu Tuy nhiên,

thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến việc giữ một mức cân bằng chính

xác Việc điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoản nợ thường ngẫu hứng và linh

hoạt

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ sung từ phần

chênh lệch đánh giá lại tài sản cố định và chênh lệch tỷ giá

Trang 12

1

2

1

1

Chuyên đề tốt nghiệp

Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử

dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại hoặc vay thông

qua phát hành trái phiếu

Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn

quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp

mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các

doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương

mại cung cấp trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng

Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử

dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị

trường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng

để đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm

bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhiều hạn

chế nhất định Đó là các điều kiện về hạn mức tín dụng, kiểm soát của ngân

hàng, chi phí sử dụng vốn (lãi suất)

Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng

được các yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phải

xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu

Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự

kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Và nếu lãi

suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và

làm giảm thu nhập của doanh nghiệp

Vì vậy bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng các doanh

nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi là tín

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 13

1

2

Chuyên đề tốt nghiệp

dụng của nhà cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan

hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng thương mại

có ảnh hưởng to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả với toàn bộ nền kinh

tế Trong một số công ty, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản

phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40%

tổng nguồn vốn Nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ,

tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa nó còn tạo khả năng mở rộng

các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện rằng buộc cụ

thể có thể được ấn định trong khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán hay hợp

đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín

dụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn

Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức

tín dụng ngày càng được đa dạng hóa và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranh

hơn, do vậy các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài

trợ cho hoạt động của doanh nghiệp

Trái phiếu (hay còn gọi là trái khoán) là một tên chung của các giấy vay nợ

trung và dài hạn Có hai loại trái phiếu cơ bản là trái phiếu Chính phủ và trái

phiếu công ty Thời hạn phổ biến nhất của trái phiếu thường có thời hạn 1 năm,

3 năm, 5 năm và 10 năm; rất ít công ty phát hành trái phiếu có kỳ hạn tới 20

năm Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại

trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình

trên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì

liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn

của trái phiếu

 Trái phiếu có lãi suất cố định:

Đây là loại trái phiếu thường được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất trong

các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và

Trang 14

1

4

1

3

Chuyên đề tốt nghiệp

không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Để huy động vốn trên thị trường bằng

trái phiếu, doanh nghiệp phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu Tính hấp

dẫn phụ thuộc và các yếu tố như: lãi suất của trái phiếu; kỳ hạn của trái phiếu và

uy tín của doanh nghiệp

Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý đến mệnh giá vì nó có thể

liên quan đến sức mua của dân chúng Đặc biệt, ở Việt Nam khi phát hành trái

phiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức giá vừa phải để nhiều người có thể

mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường

 Trái phiếu có lãi suất thay đổi:

Đây là loại trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan

trọng khác Trong điều kiện thị trường có mức lạm phát khá cao và lãi suất

không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu

này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự dao động của lãi suất thực, các

nhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thỏa đáng khi so sánh với tình

hình thị trường

Tuy nhiền, nó cũng có một số nhược điểm như: doanh nghiệp không thể

biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn cho việc

lập kế hoạch tài chính Ngoài ra, việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời

gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất

 Trái phiếu có thể thu hồi:

Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hành những trái phiếu có thể thu

hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thởi gian nào đó Trái phiếu như

vậy được quy định ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết

Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại

trái phiếu

Loại trái phiếu này có thể được sử dụng như một cách điều chỉnh lượng

vốn sử dụng Khi không cần thiết, doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu,

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 15

1

4

Chuyên đề tốt nghiệp

tức là giảm số vốn vay Doanh nghiệp có thể thay đổi nguồn tài chính do phát

hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các

loại trái phiếu đó

 Chứng khoán có thể chuyển đổi:

Các doanh nghiệp thường phát hành những chứng khoán kèm theo những

điều kiện có thể chuyển đổi được Sự lựa chọn và chuyển đổi cho phép cả doanh

nghiệp lẫn người đầu tư có thể lựa chọn cách thức đầu tư thích hợp và có lợi

Có hai loại hình thức chuyển đổi chính: giấy bảo đảm và trái phiếu chuyển

đổi

Giấy bảo đảm: người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ

phiếu thường, được quy định trước với giá cả và thời gian xác định

Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành

một số lượng nhất định các cổ phiếu thường Nếu thị giá cổ phiếu tăng lên thì

người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao

1.1.3.2 Phân loại theo cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản

hữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Theo

cách phân loại này thì vốn của doanh nghiệp được phia thành vốn cố định và

vốn lưu động

Bất kỳ một hàng hoá nào cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng,

nó cũng là đối tượng để trao đổi buôn bán trên thị trường Như vậy, trong nền

kinh tế thị trường để mua sắm tài sản cố định trước hết phải có một số vốn ứng

trước.Vốn tiền tệ ứng trước để mua sắm tài sản cố định hữu hình hoặc những chi

phí đầu tư cho tài sản cố định không có hình thái vật chất được gọi là vốn cố

định của doanh nghiệp

Trang 16

1

6

1

5

Chuyên đề tốt nghiệp

Vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định; quy mô tài

sản cố định được quyết định bởi quy mô của vốn cố định Song đặc điểm vận

động của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển

của vốn cố định Trên ý nghĩa của mối quan hệ đó ta có thể khái quát những nét

đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:

Vốn cố định được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Sở dĩ có đặc điểm

này do tài sản cố định có thể được phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất Vì thế

vốn cố định - hình thái biểu hiện bằng tiền của nó cũng tham gia vào nhiều chu

kỳ sản xuất tương ứng

Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm Khi

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần

Theo đó vốn cố định cũng được tách thành hai phần: một phần sẽ tham gia vào

chi phí sản xuất kinh doanh (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với

giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định; phần còn lại của vốn cố định được cố

định trong nó Trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh kế tiếp, nếu như phần vốn

luân chuyển dần dần được tăng lên thì phần vốn cố định lại dần dần giảm đi

tương ứng với mức suy giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định Kết thúc sự

biến thiên nghịch chiều đó, cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và

vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển

Như vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định được luân

chuyển dần dần từng phần, vì thế phải sau một thời gian dài vốn cố định mới

hoàn thành được một vòng luân chuyển Như vậy ta có thể nói vốn cố định của

doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, mà

đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất

và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định đã hết thời gian sử dụng

Tài sản cố định của doanh nghiệp không những bao gồm toàn bộ tài sản cố

định hiện có thuộc sở hữu doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn vốn khác

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 17

1

6

Chuyên đề tốt nghiệp

nhau mà còn bao gồm các tài sản cố định doanh nghiệp đi thuê dài hạn của bên

ngoài (thuê tài sản)

Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có tính chất vật chất như nhà

cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị

Tài sản cố định vô hình: là tài sản cố định không có hình thái vật chất, là

những giá trị biểu hiện những quyền của doanh nghiệp như quyền đặc nhượng,

quyền sử dụng, giá trị bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại Ngoài ra,

phần này cũng gồm những giá trị đã được đầu tư như chi phí thành lập doanh

nghiệp, chi phí chuẩn bị sản xuất kinh doanh, chi phí nghiên cứu

Tài sản cố định thuê dài hạn: là những tài sản mà doanh nghiệp có do thuê

theo hợp đồng thuê; quyền sở hữu tài sản cố định được chuyển cho bên đi thuê

khi hết hạn hợp đồng hoặc bên đi thuê có thể mua được tài sản cố định với giá

trị tài sản cố định thuê tại một thời điểm nào đó hoặc vào lúc kết thúc hợp đồng

Hao mòn luỹ kế tài sản cố định: là toàn bộ giá trị hao mòn của của 3 loại tài

sản nêu trên

Đầu tư dài hạn bao gồm vốn góp liên doanh bằng bất cứ hình thái nào (hiện

vật hay tiền), đầu tư chứng khoán dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu), và đầu tư dài

hạn khác (đặc biệt là đầu tư kinh doanh bất động sản)

Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn

đầu tư nói riêng và của vốn sản xuất nói chung Quy mô vốn cố định và trình độ

quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ

thuật của sản xuất kinh doanh Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm vận động

của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý và sử dụng vốn cố định

một cách có hiệu quả được coi là trọng điểm của công tác tài chính doanh

nghiệp

Trang 18

1

8

1

7

Chuyên đề tốt nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tư

liệu lao động còn phải có đối tượng lao động Đối tượng lao động khi tham gia

vào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu; bộ phận chủ

yếu của đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể

của sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất; đối

tượng lao động chỉ có thể tham gia vào một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất

sau lại phải dùng đối tượng lao động khác Vì vậy toàn bộ toàn bộ giá trị của đối

tượng lao động được chuyển dịch toàn bộ một lần vào sản phẩm và được bù đắp

khi giá trị sản phẩm được thực hiện

Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ phận:

một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên

tục như nguyên nhiên vật liệu…một bộ phận khác chính là những vật tư đang

trong quá trình chế biến như sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm Hai bộ

phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động Để phục vụ

cho quá trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công cụ dụng cụ và phụ tùng

thay thế, vật đóng gói cũng được coi là tài sản lưu động Mặt khác, quá trình sản

xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong quá trình lưu

thông còn phải tiến hành một số công việc như chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản

phẩm và thanh toán Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ trong

khâu lưu thông

Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm

trong quá trình lưu thông thay chỗ nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo

cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi Như vậy, doanh

nghiệp nào cũng cần một số vốn thích đáng để đầu tư vào tài sản lưu động, số

tiền ứng trước của những tài sản lưu động được gọi là vốn lưu động của doanh

nghiệp

Tài sản lưu động là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà

thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi thường dưới một năm hoặc một chu kỳ

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 19

1

8

Chuyên đề tốt nghiệp

kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động

được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các loại chứng khoán thanh khoản cao,

phải thu và dự trữ tồn kho Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì

giá trị của tài sản lưu động thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản

của doanh nghiệp

Tài sản lưu động bao gồm:

 Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các khoản tiền

đang chuyển Tài khoản “tiền mặt” bao gồm tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng

bạc đá quý

 Đầu tư ngắn hạn: là việc bỏ vốn mua chứng khoán có giá trị hoặc góp vốn

liên doanh bằng tiền, hiện vật có thể thu hồi kịp thời trong một chu kỳ kinh

doanh hoặc trong khoản thời gian không quá một năm như tín phiếu kho bạc,

trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và các khoản đầu tư khác không quá một năm

 Các khoản phải thu bao gồm phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, thế

chấp ký cược ký quỹ

 Dự phòng phải thu khó đòi: các khoản phải thu khó đòi phát sinh tại tài

khoản này được coi là chi phí trong kỳ

 Tam ứng cho công nhân viên và chi phí trả trước ( chi phí đã phát sinh

nhưng có tác dụng đến kết quả của nhiều kỳ hạch toán được tính vào chi phí của

nhiều kỳ)

 Vật tư hàng hoá tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hoá, thành phẩm, giá trị

sản phẩm dở dang Doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương pháp

như giá bình quân gia quyền, giá đích danh, giá nhập trước xuất trước hoặc giá

nhập sau xuất trước để dánh giá tồn kho Riêng sản phẩm dở dang và thành

phẩm thì được đánh giá theo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Ngoài ra, tài sản lưu động còn bao gồm các khoản chi phí sự nghiệp dở

dang hoặc đã kết thúc nhưng đang chờ quyết toán Chi phí sự nghiệp là những

Trang 20

2

0

1

9

Chuyên đề tốt nghiệp

khoản chi phí của doanh nghiệp cho những công việc, những hoạt động được

trang trải bằng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nứơc cấp hoặc cấp trên phát

Vốn lưu động luôn được chuyển hoá thành nhiều hình thái khác nhau, bắt

đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hoá và cuối cùng lại trở

về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên

tục không ngừng cho nên vốn lưu động cũng không ngừng tuần hoàn và có tính

chất chu kỳ

Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ

phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong các lĩnh vực sản

xuất và lưu thông

Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu

động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện

thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một

lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản

xuất Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái

sản xuất Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trên

khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới các hình thái khác nhau Muốn

cho quá trính tái sản xuất được liên tục thì doanh nghiệp cần phải có đủ vốn lưu

động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được

mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy sẽ khiến cho việc chuyển hoá

hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi Nếu như doanh

nghiệp nào đó không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn và do đó

quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hoặc gián đoạn

Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai

trò quan trọng Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng

có thể sản xuất được nhiều sản phẩm tức là càng tổ chức được tốt quá trình mua

sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân

chuyển để vốn đó chuyển biến nhanh từ một loại này thành một loại khác, từ

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 21

2

0

Chuyên đề tốt nghiệp

hình thái này sang hình thái khác thì tổng vốn lưu động sẽ tương đối ít hơn mà

đạt hiệu quả cao hơn

1.1.3.3 Phân loại theo nguồn hình thành

Là vốn do Nhà nước cấp cho doanh nghiệp được xác nhận trên cơ sở biên

bản giao nhận mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển Vốn

do Nhà nước cấp có hai loại là vốn cấp ban đầu và vốn cấp bổ sung trong quá

trình sản xuất kinh doanh

Là vốn nội bộ doanh nghiệp trong đó lợi nhuận chưa phân phối chiếm tỷ

trọng lớn Đây là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản

xuất

Là vốn do doanh nghiệp liên kết với các doanh nghiệp khác trong và ngoài

nước để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh Do nhiều yếu tố phức tạp chi

phối nên cần phải quy định chặt chẽ và đầy đủ trên giấy tờ về quyền lợi và nghĩa

vụ của mỗi bên

Gồm những khoản vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, vay cán bộ công

nhân viên trong doanh nghiệp, vay nước ngoài, phát hành trái phiếu

1.1.3.4 Phân loại theo nội dung vật chất

Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn kinh doanh được chia thành vốn thực và

vốn tài chính

Là bộ phận vốn được biểu hiện dưới dạng toàn bộ hàng hoá phục vụ cho

sản xuất kinh doanh và dịch vụ khác như máy móc, thiết bị, đường xá Các tài

Trang 22

2

2

2

Là bộ phận vốn được biểu hiện dưới hình thái tiền, chứng khoán và các

giấy tờ có giá trị khác Phần vốn này phản ánh phương diện tài chính của vốn,

nó tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư

1.1.3.5 Phân loại theo phạm vi huy động vốn

Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanh

nghiệp được chia làm 2 nguồn sau:

Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động được từ hoạt động của bản

thân doanh nghiệp, bao gồm lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng

Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài để đáp ứng

cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, bao gồm vốn vay ngân hàng, vốn vay các tổ

chức kinh tế, phát hành trái phiếu, nợ nhà cung cấp và các khoản nợ khác

Cách phân loại này chủ yếu giúp cho việc xem xét tình hình huy động vốn

của doanh nghiệp đang hoạt động và mỗi hình thức phân loại có những ưu

nhược điểm riêng

Huy động vốn bên trong có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của

doanh nghiệp, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong viêc sử dụng vốn trong quá

trình sản xuất kinh doanh nhưng có hạn chế là dễ đi đến tình trạng sử dụng vốn

kém hiệu quả

Huy động vốn từ bên ngoài có ưu điểm là tạo cho doang nghiệp một cơ chế

tài chính linh hoạt, chi phí sử dụng vốn có giới hạn, nếu doanh nghiệp đạt mức

doanh lợi cao thì không phải chia phần lợi nhuận cao đó Nhưng có hạn chế là

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 23

2

2

Chuyên đề tốt nghiệp

doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền vay đúng thời hạn Nếu

doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả hoặc bối cảnh kinh tế thay đổi theo

chiều hướng bất lợi thì nợ vay sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp và

doanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn

1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGIỆP

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh

nghiệp, mỗi cách đánh giá đều đưa ra những quan niệm từ nhiều khía cạnh và từ

mỗi một thị trường khác nhau

Trong thời kỳ bao cấp thì quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn rất lệch lạc

và hầu như chưa có nhận thức nhiều về vấn đề này vì mọi hoạt động đều do Nhà

nước chỉ đạo và bao cấp, đó là một thị trường không có sự cạnh tranh, không có

động lực của sự thúc đẩy phát triển Quan niệm của họ về hiệu quả sử dụng vốn

chỉ là sự hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao cho sao cho đúng hạn, đúng kế

hoạch Một số ít kinh doanh thì chỉ dừng lại ở hiệu quả sử dụng vốn là kinh

doanh làm sao có lãi chứ chưa có nhận thức sâu sắc

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay quan niệm về hiệu quả sử dụng

vốn đã được nhận thức một cách hoàn thiện hơn bởi nền kinh tế thị trường là

một nền kinh tế của sự cạnh tranh, chỉ có sự canh tranh thì mới có thể tồn tại và

kinh doanh hiệu quả Hiệu quả sử dụng vốn hay cũng chính là hiệu quả sản xuất

kinh doanh của một doanh nghiệp được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả

kinh tế và hiệu quả xã hội Để đạt được cả hai tính hiệu quả trên thì bản thân

doanh nghiệp trước tiên phải có sự nhận thức và có chiến lược kinh doanh hiệu

quả, sau đó là những giải pháp của chính doanh nghiệp nhằm đưa hiệu quả sản

xuất hay cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn một cách tốt nhất Trong quan

niệm của các nhà kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn là chiến lược kinh doanh

hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất mà đưa lại lợi nhuận cao nhất, đó là chiến

Trang 24

2

4

2

3

Chuyên đề tốt nghiệp

lược đưa dòng vốn vào lưu thông một cách hiệu quả nhất, dòng vốn luôn luôn

chảy và không bị ứ đọng Vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu

mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với các doanh nghiệp Đánh giá hiệu

quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung

và quản lý hiệu quả sử dụng vốn nói riêng

Để đánh giá kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp hay đánh giá

quy mô của doanh nghiệp, chất lượng của một doanh nghiệp thì có rất nhiều

cách đánh giá, rất nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng một chỉ tiêu không thể thiếu

được và rất quan trọng đó là hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và

quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng

của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu

Hiệu quả sản xuất kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội,

mà ở đây hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sao cho đạt

hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất Do vậy các nguồn lực kinh tế

đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp

Xét riêng về chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn thì nó bao gồm khá nhiều

chỉ tiêu nhỏ như : tốc độ luân chuyển của vốn, khả năng sinh lời, tỷ suất lợi

nhuận trên chi phí nó phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào hay cụ thể

hơn đó là mối tưong quan giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu được Chi bỏ ra

càng thấp mà lợi nhuận thu về càng lớn thì đó là biểu hiện rõ nhất của hiệu quả

sử dụng vốn Ngoài ra những chỉ tiêu như tốc độ lưu thông của vốn cũng là một

chỉ tiêu quan trọng để đánh giá, tốc độ lưu thông càng cao thì chứng tỏ dòng vốn

lưu thông luôn luôn tốt, khả năng sinh lời cao, vốn không bị ứ đọng và chứng tỏ

rằng chiến lược sử dụng vốn của doanh nghiệp là rất tốt Do vậy chiến lược nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn phải luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh

nghiệp, muốn vậy doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện :

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 25

2

4

Chuyên đề tốt nghiệp

- Đảm bảo cho tốc độ quay vòng của vốn cao nhất, dòng vốn luôn

luôn trong lưu thông, tránh để vốn ứ đọng nhàn rỗi, qua đó khai thác các nguồn

lực một cách triệt để

- Có chiến lược đầu tư và sử dụng vốn một cách hiệu quả và hợp lý

nhất, tránh đầu tư dàn trải và để thất thoát vốn, tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá

lợi nhuận

- Luôn luôn hoàn thiện công tác quản lý trong doanh nghiệp, đặc biệt

là tăng cường giám sát việc sử dụng vốn trong khi đầu tư và trong quá trình sản

xuất kinh doanh

Ngoài ra doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả

sử dụng vốn để có giải pháp kịp thời cho từng trường hợp, khắc phục hạn chế

và phát huy cao nhất những ưu điểm, lợi thế của mình

Có hai phương pháp để đánh giá phân tích tài chính cũng như phân tích

hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, đó là phương pháp so sánh và phương

pháp phân tích tỷ lệ

* Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp đưa ra các con số cụ thể của

từng thời kỳ, từng giai đoạn rồi qua đó so sánh để phân tích và đưa ra kết luận,

tìm ra các nguyên nhân cụ thể và từ đó đề ra các biện pháp chiến lược để khắc

phục và phát huy một cách tốt nhất những thành quả đã đạt được

Phương pháp so sánh yêu cầu các chỉ tiêu tài chính, các đại lượng phải

thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…và

theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Xác định kỳ phân tích hay so

sánh, kỳ báo cáo hay kỳ kế hoạch phải chính xác và tuân theo những quy tắc

nhất định Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian, không gian, kỳ phân tích

được chọn là kỳ báo cáo hoặc kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn

bằng số tuyệt đối hoặc số tương đối, bình quân

Trang 26

2

6

2

5

Chuyên đề tốt nghiệp

Nội dung so sánh bao gồm:

+ So sánh giữa số thực kỳ này với số thực kỳ trước để thấy được xu

hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đánh giá sự tăng trưởng hay thua lỗ

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số kế hoạch với số thực thực tế đạt được để thấy được

doanh nghiệp đã hoàn thành kế hoạch như thế nào, có vượt chỉ tiêu hay không

hay là kinh doanh thua lỗ so với kế hoạch đề ra

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của

ngành, hoặc so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác cùng ngành để thấy

rõ được sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế nói

chung và trong ngành nói riêng

+ So sánh theo chiều dọc để xem xét từng chỉ tiêu so với tổng thể, so

sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối

và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán lien tiếp

* Phương pháp phân tích tỷ lệ

Với phương pháp này sẽ cho ta những tỷ lệ nhất định giữa số liệu của

kỳ này với số liệu của kỳ trước, giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của

ngành và với ngành khác, ua đó ta thấy được tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ hiệu quả sử dụng

vốn, tỷ lệ tăng trưởng … của doanh nghiệp trong từng kỳ, từng quý, và cả năm

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành

các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những mục tiêu cơ bản theo mục tiêu hoạt

động của doanh nghiệp Cụ thể là nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ

về cơ cấu và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ

lệ về khả năng sinh lời, mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ

từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau tuỳ theo

giác độ phân tích mà người ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau

Nói chung mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm khác nhau

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 27

2

6

Chuyên đề tốt nghiệp

và đưa ra được những đánh giá từ những khía cạnh và những góc độ khác nhau

Không nên chỉ sử dụng một phương pháp nào đó bởi nó sẽ không thể đưa ra

được đầy đủ những đánh giá, không phản ánh đúng thực trạng kinh doanh và tốc

độ phát triển của doanh nghiệp từ nhiều khía cạnh Hai phương pháp này chúng

bổ sung lẫn cho nhau tạo nên sự đánh giá một cách chính xác về doanh nghiệp,

phản ánh đúng thực tế phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được

hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đó có tạo ra được lơi nhuận hay

không Như vậy, mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh doanh của các doanh

nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu Để đạt tới lợi nhuận kỳ vọng

tối đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất

kinh doanh; đặc biệt quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận rất quan trọng có ý

nghĩa quyết định đến kết quả, hiệu quả lao động của doanh nghiệp Hơn nữa, khi

chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập, được trao quyền chủ động

trong việc sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanh

nghiệp Nhà nước cần phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn trong một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế

phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạt

động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi

phí Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đồng nghĩa với việc doanh

nghiệp làm ăn có lãi, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Trong nền kinh tế thị

trường, đây là một nhân tố quyết định đến khả năng mở rộng sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp cả về chiều rộng và chiều sâu Nói cách khác, khi phân

chia vốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảo toàn, doanh

nghiệp có thể tiết kiệm được vốn, tránh lãng phí và tạo uy tín với đối tác, làm ăn

có hiệu quả Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá mình về

phương diện sử dụng vốn, qua đó thấy được chất lượng quản lý sản xuất kinh

doanh, khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có, biết được mình đang ở giai

đoạn nào trong quá trình phát triển của doanh nghiệp

Trang 28

2

8

2

7

Chuyên đề tốt nghiệp

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần

Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ

phần; tuy nhiên trong giới hạn của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp tôi chỉ nêu

ra được một số nhóm chỉ tiêu chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng

vốn của công ty cổ phần

1.2.2.1 Một số chỉ tiêu chung.

Vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, do vậy với mỗi loại chúng

cũng có những chỉ tiêu đánh giá riêng, ngoài ra còn có rất nhiều chỉ tiêu tổng

quát để đánh giá chung Tuy vào mỗi loại vốn mà sử dụng chỉ tiêu nào hợp lý

Sau đây là một số chỉ tiêu chung:

- Hiệu quả sử dụng tổng tài sản.

Doanh thu

Hiệu quả sử dụng tổng tài sản =

Tổng tài sản

Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một

đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu vì vậy nó càng lớn càng tốt

- Doanh lợi vốn.

Lợi nhuận

Doanh lợi vốn =

Tổng tổng tài sản

Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất mà các doanh nghiệp dùng để đánh giá khả

năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư Từ tỷ lệ này sẽ cho thấy lợi nhuận mà

doanh nghiệp thu được hay cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp Chỉ tiêu này còn gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư

- Doanh lợi vốn chủ sở hữu.

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 29

2

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu

Đây là những chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp, tuy đây mới chỉ là những chỉ tiêu tổng quát xong đôi khi nó cũng đã

phản ánh được toàn bộ hiệu quả sử dụng vốn và kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy nhiên để đánh giá cụ thể từng chỉ tiêu, trong từng khâu kinh doanh sản

xuất thì phải dung đến những chỉ tiêu cụ thể hơn của từng loại tài sản, từng loại

vốn, có như vậy mới đánh giá một cách chính xác nhất, cụ thể nhất tình hình của

doanh nghiệp

1.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.

Trước tiên là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định,

vốn cố định có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó là tiền đề để có

thể hình thành doanh nghiệp và là cơ sở để sản xuất kinh doanh, do vậy các chỉ

tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng rất quan trọng, nó có thể ảnh

hưởng đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp nếu như đánh giá không đúng

hoặc đánh giá sai lệch về nó

Các chỉ tiêu sau:

- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

Doanh thu thuần

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =

Nguyên giá bình quân tài sản cố định

Thông qua đánh giá của chỉ tiêu này ta biết được một đồng tài sản cố định

tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần

Trang 30

3

0

2

9

Chuyên đề tốt nghiệp

- Suất hao phí tài sản cố định.

Nguyên giá bình quân tài sản cố định

Suất hao phí tài sản cố định =

Doanh thu thuần

Qua đánh giá chỉ tiêu này cho ta biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần

thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Hệ số này càng nhỏ

càng tốt

Đây là hai chỉ tiêu đánh giá khá tổng quát chưa cho những kết quả chính

xác về hiệu suất sử dụng tài sản cố định

- Suất sinh lời của tài sản cố định.

Lợi nhuận

Suất sinh lời tài sản cố định =

Nguyên giá bình quân tài sản cố định

Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhất về hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp, chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng tài sản cố định tạo ra bao

nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng cho thấy doanh nghiệp sử

dụng tài sản rất hiệu quả

- Hệ số đổi mới tài sản cố định.

Giá trị tài sản tăng mới trong kỳ

Trang 31

3

0

Chuyên đề tốt nghiệp

Giá trị TSCĐ có ở đầu kỳ

Đây là hai chỉ tiêu cũng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định

nhưng đây chỉ là hai chỉ tiêu phụ và chủ yếu chúng đánh giá về tình hình tài sản

của doanh nghiệp, cũ hay mới, còn sử dụng được hay không, và đánh giá về

trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp

Còn hai chỉ tiêu nữa để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng được

doanh nghiệp rất hay dùng nữa là: hiệu suất sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn cố

Hai chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định

Đây là những chỉ tiêu mà doanh nghiệp dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng

vốn cố định, mỗi chỉ tiêu đều đưa ra một đánh giá nhất định và tuỳ vào từng

trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp sử dụng chỉ tiêu nào cho phù hợp

1.2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vôn lưu động.

Vốn lưu động là khoản vốn đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp trong

quá trình duy trì sản xuất kinh doanh, do vậy việc đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả

sử dụng vốn lưu động có tính chất quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp,

Trang 32

3

2

3

1

Chuyên đề tốt nghiệp

nếu đánh giá đúng doanh nghiệp sẽ có hướng kinh doanh đúng

Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động là:

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =

Doanh thu thuần

Đánh giá chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần

bao nhiêu đồng vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao thì chỉ số

này càng nhỏ

- Sức sinh lời của vốn lưu động.

Lợi nhuận

Sức sinh lời của vốn lưu động =

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

- Số vòng quay của vốn lưu động.

Doanh thu thuần

Số vòng quay của vốn lưu động =

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Đây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động,

chỉ tiêu cho biết tốc độ quay vòng của vốn, điều này thể hiện khả năng tân dụng

và sử dụng vốn của doah nghiệp có hiệu quả hay không, vốn luôn luôn sinh lời

hay là đang trong tình trạng ứ đọng Chỉ tiêu này phần nào cho ta đánh giá được

tình hình kinh doanh hiện tại của doanh, số vòng quay của vốn càng cao thì

chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng rất có hiệu quả và thu được lợi nhuận cao Chỉ

tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển vốn lưu động nó cho biết vốn lưu

động quay được mấy vòng trong kỳ

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 33

3

2

Chuyên đề tốt nghiệp

- Thời gian của một vòng lưu chuyển.

Thời gian của một kỳ phân tích

Thời gian vốn lưu chuyển một vòng =

Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết thời gian vốn lưu động lưu chuyển một vòng là bao

lâu, chỉ tiêu này càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ luân chuyển của vốn là càng lớn

và chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh rất tốt, linh vực kinh doanh của

doanh nghiệp đưa lại lợi nhuận cao và thời gian thu hồi vốn là khá nhanh Khi

mà tốc độ thu hồi vốn càng nhanh thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội đầu tư

hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn

- Tỷ suất thanh toán ngắn hạn.

Tổng số TSLĐ

Tỷ suất thanh toán ngắn hạn =

Tổng số nợ ngắn hạn

Qua chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh

nghiệp (một năm hay một chu kỳ kinh doanh) Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì

doanh nghiệp này có đủ khả năng thanh toán và nói chung là tình hình tài chính

và kinh doanh của doanh nghiệp là khá ổn định

- Tỷ suất thanh toán tức thời.

Tổng số vốn bằng tiền

Tỷ suất thanh toán tức thời =

Tổng số nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết lượng vốn dự trữ và khả năng tài chính của doanh

nghiệp tại thời điểm hiện tại cẩn thanh toán Nếu doanh nghiệp có thể đáp ứng

Trang 34

3

4

3

3

Chuyên đề tốt nghiệp

được mọi khoản thanh toán tức thời thì chứng tỏ doanh nghiệp có nguồn tài

chính khá vững chắc và hiệu quả kinh doanh là rất tốt

- Thời gian một vòng quay các khoản thu.

Thời gian kỳ phân tích

Thời gian một vòng quay =

các khoản thu Số vòng quay các khoản thu

Chỉ tiêu cho biết để thu hồi các khoản thu cần một thời gian là bao nhiêu,

nếu số ngày mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hang thì việc thu

hồi các khoản thu là chậm

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn rất nhiều chỉ tiêu khác nữa

như: Tỷ suất tài trợ, tỷ suất đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu…

Đối với mỗi doanh nghiệp thì không nhất thiết phải bắt buộc dung một chỉ

tiêu nào đó mà tuỳ vào loại hình kinh doanh hay lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm

kinh doanh mà sử dụng chỉ tiêu nào, tỷ suất thanh toán ngắn hạn hay tức thời,

thời gian hoàn vốn hay khả năng thanh toán…

Nói chung doanh nghiệp dù là có vốn lưu động hay vốn cố định lớn hơn thì

cũng phải sử dụng tất cả các chỉ tiêu của cả hai loại sao cho phù hợp và đánh giá

một cách chính xác nhất tình hình sử dụng vốn của mình, có thế doanh nghiệp

mới kịp thời đưa ra được các giải pháp cụ thể để điều chỉnh, đưa doanh nghiệp

trở lại quỹ đạo và kinh doanh ngày càng phát triển

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao thì

doanh nghiệp phải xác định phương hướng, mục tiêu trong việc sử dụng vốn

cũng như các nguồn lực sẵn có khác Muốn vậy, các doanh nghiệp cần phải nắm

Tài chính doanh nghiệp 19

Trang 35

3

 Môi trường tự nhiên

Là toàn bộ yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu thời tiết,

môi trường Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ làm

tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc

 Môi trường kinh tế

Là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, lạm

phát, thất nghiệp, lãi suất, tỉ giá hối đoái…đến các hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong nền kinh tế có lạm phát sức mua của

đồng tiền giảm sút nên dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hóa…Vì

vậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh giá trị các loại tài sản đó thì sẽ

làm cho vốn của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ giảm giá của tiền

 Môi trường pháp lý

Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật của Nhà nước

tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở pháp

luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường cho các doanh

nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch

vĩ mô Với bất kỳ thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối

các mảng hoạt động của doanh nghiệp Các văn bản pháp luật về tài chính; về

quy chế đầu tư như các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ;

các văn bản về thuế … đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

 Môi trường chính trị văn hóa

Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng; do đó

các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản

Trang 36

3

6

3

5

Chuyên đề tốt nghiệp

xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi

trường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả hoạt động sản xuất

kinh doanh sẽ được nâng cao

 Môi trường khoa học công nghệ

Là sự tác động của các yếu tố như trình độ tiến bộ khoa học công nghệ kỹ

thuật Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì cần phải nắm bắt được công

nghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảm

chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh…

 Môi trường cạnh tranh

Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt; bất cứ doanh nghiệp

nào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải đứng vững trong cạnh tranh

Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm căn cứ vào nhu cầu hiện tại và cả trong

tương lai để sản phẩm cạnh tranh có chất lượng cao, giá thành hạ mà điều này

chỉ có được ở những doanh nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ kỹ thuật

cao Vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư cải tạo, đầu tư mới tài sản cố

định trước mắt cũng như lâu dài

 Nhân tố giá cả

Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào mức

chung của thị trường Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dẫn đến hiệu

quả sử dụng vốn tăng; đồng thời sự biến động về giá cả sẽ làm cho hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến

hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2.3.1.Những nhân tố chủ quan

Ngoài các nhân tố khách quan, còn nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu

quả sử dụng vốn là do chính bản thân doanh nghiệp tạo nên Nhân tố này gồm

nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cả

trước mắt và lâu dài Bởi vậy, việc xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với

Tài chính doanh nghiệp 19

Ngày đăng: 27/06/2023, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As, Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As
2. Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As, Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh nâm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As
3. Báo cáo Tài chính Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As năm 2006 Khác
4. Báo cáo Tài chính Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As năm 2007 Khác
5. Giáo trình tài chính doanh nghiệp - chủ biên PTS. Lưu Thị Hương - Khoa Ngân hàng - Tài chính. Trường ĐH KTQD Khác
6. Giáo trình Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh – Khoa Kế toán. Trường ĐH KTQD Khác
7. Giáo trình: Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trường Tài chính - Frederic S.Mishkin - Người dịch: Nguyễn Quang Cư, PTS Nguyễn Đức Dy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy của công ty : - Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx
Sơ đồ b ộ máy của công ty : (Trang 42)
Bảng 1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006 - Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx
Bảng 1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006 (Trang 49)
Bảng 4. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây - Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx
Bảng 4. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây (Trang 53)
Bảng 4. Tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của công ty. - Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx
Bảng 4. Tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của công ty (Trang 55)
Bảng 5.  Cơ cấu tài sản cố định của công ty - Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Kiến Trúc Xây Dựng Tt-Associate.docx
Bảng 5. Cơ cấu tài sản cố định của công ty (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w