1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Tâm Lý Học, Lo Âu, Tâm Lý Trẻ Em, Cách Ứng Phó.pdf

137 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Lo Âu Và Cách Ứng Phó Của Học Sinh Trung Học Cơ Sở
Tác giả Trần Thị Thương
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Hằng
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THƢƠNG NGHIÊN CỨU LO ÂU VÀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ MINH HẰNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Minh Hằng Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

HỌC VIÊN

Trần Thị Thương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội cùng tất cả các thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Tâm lý khóa 2012 – 2014 đã truyền đạt cho tôi rất nhiều kiến thức làm cơ sở để tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng, người đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, ủng hộ tôi trong suốt thời gian hoàn thành Luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo đang giảng dạy tại trường trung học cơ sở Thịnh Quang – Hà Nội và trường trung học cơ sở Khánh Lợi – Ninh Bình đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc tham gia phỏng vấn và giúp các em học sinh hoàn thành phiếu hỏi Và cảm ơn các em học sinh của hai trường trung học đã giúp đỡ tôi hoàn thành bảng hỏi một cách trung thực

Để hoàn thành tốt Luận văn, tôi cũng nhận được sự động viên rất nhiều từ bố

mẹ, gia đình, bạn bè và những người thân yêu Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người

Mặc dù Luận văn được làm với sự cố gắng nỗ lực hết mình, sự nghiêm túc và trách nhiệm cao Tuy nhiên, với khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót Do vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của tất cả các thầy cô, các bạn độc giả

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Trần Thị Thương

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu về lo âu 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lo âu trên thế giới 4

1.1.2 Nghiên cứu về lo âu của tác giả B.N.Phillips 6

1.1.3 Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam 10

1.2 Khái niệm lo âu và rối loạn lo âu 12

1.2.1 Khái niệm lo âu 12

1.2.2 Rối loạn lo âu 12

1.2.3 Phân biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu 14

1.3 Lo âu học đường 14

1.3.1 Nội dung lo âu học đường 14

1.3.2 Những dấu hiệu của lo âu học đường 16

1.3.3 Nguyên nhân của lo âu học đường 19

1.3.4 Một vài rối loạn lo âu học đường thường gặp 21

1.4 Khái niệm ứng phó và ứng phó với lo âu học đường 22

1.4.1 Khái niệm ứng phó 22

1.4.2 Các cách thức ứng phó 24

1.5 Đặc điểm tâm lý – xã hội của học sinh trung học cơ sở 28

1.5.1 Một số đặc điểm sinh học ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý 28

1.5.2 Sự thay đổi về mặt xã hội 29

1.5.3 Sự phát triển tâm lý 30

Tiểu kết 34

Trang 6

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 35

2.1 Tổ chức nghiên cứu 35

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 35

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 37

2.1.3 Kế hoạch nghiên cứu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Thang lo âu học đường của Philips 39

2.2.2 Điều tra bằng bảng hỏi 39

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 43

2.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 44

Tiểu kết 45

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Thực trạng lo âu học đường ở học sinh trung học cơ sở 46

3.1.1 Thực trạng nghiên cứu lo âu học đường 46

3.1.2 Tương quan giữa lo âu học đường và các yếu tố khác 53

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng lo âu của học sinh trung học cơ sở 56

3.2.1 Ảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý cá nhân 56

3.2.2 Ảnh hưởng của sở thích 59

3.2.3 Ảnh hưởng của việc học tập và các mối quan hệ 65

3.2.4 Ảnh hưởng của tần suất và thời gian tâm sự giữa cha mẹ và con 73

3.4 Cách ứng phó với lo âu của học sinh trung học cơ sở 79

3.4.1 Thực trạng các cách ứng phó của học sinh trung học cơ sở 79

3.4.2 Tương quan giữa các mức độ lo âu và cách ứng phó 84

Tiểu kết 88

3.5 Kết quả nghiên cứu trường hợp 89

Trang 7

3.5.1 Thông tin cá nhân 89

3.5.2 Tiền sử phát triển 89

3.5.3 Kết quả thang lo âu học đường của Philips 91

3.5.4 Nguyên nhân 91

3.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng lo âu của H 92

3.5.6 Cách ứng phó với lo âu của H 93

3.5.7 Định hướng can thiệp cho H 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ học sinh, giáo viên, cha mẹ phân theo lớp và giới

tính 37

Bảng 3.1 Mức độ lo âu của từng yếu tố 47

Bảng 3.2.Tỷ lệ học sinh có lo âu xét theo giới tính và địa bàn 53

Bảng 3.3.Đánh giá của học sinh về các đặc điểm tâm lý dễ dẫn đến lo âu 57

Bảng 3.4 Đánh giá của cha mẹ về các đặc điểm tâm lý dễ dẫn đến lo âu 57

Bảng 3.5.Tỷ lệ học sinh có sở thích 59

Bảng 3.6.Tương quan giữa lo âu học đường và sở thích 61

Bảng 3.7.Tương quan giữa sở thích và ứng phó với lo âu 62

Bảng 3.8 Đánh giá của học sinh về các yếu tố ảnh hưởng tới lo âu 66

Bảng 3.9 Đánh giá của cha mẹ về các yếu tố ảnh hưởng tới lo âu 68

Bảng 3.10 Đánh giá của giáo viên về yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng lo âu 70

Bảng 3.11 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng lo âu của học sinh trung học cơ sở (ĐTB) 71

Bảng 3.12 Đánh giá của học sinh và cha mẹ về tần suất tâm sự giữa cha mẹ và con cái 74

Bảng 3.13 Mức độ lo âu của học sinh và tần suất tâm sự với cha mẹ 76

Bảng 3.14 Mức độ lo âu ở học sinh và thời gian tâm sự với cha mẹ 77

Bảng 3.15.Ứng phó tập trung vào nhận thức (ĐTB) 79

Bảng 3.16 Ứng phó tập trung vào hành vi 80

Bảng 3.17 Ứng phó tập trung vào cảm xúc 82

Bảng 3.18 Tương quan giữa tỷ lệ học sinh lo âu cao hơn bình thường và các cách ứng phó của học sinh 84

Bảng 3.19 Tương quan giữa học sinh có lo âu cao hơn bình thường với cách ứng phó không tích cực 86 Bảng 3.20 Tương quan giữa học sinh có lo âu cao và cách ứng phó không tích cực 87

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ học sinh có lo âu ở cả hai trường THCS Thịnh Quang và THCS Khánh

Lợi 46

Biểu đồ 3.2.Tỷ lệ lo âu cao hơn bình thường xét theo địa bàn nghiên cứu 50

Biểu đồ 3.3.Tương quan giữa khối lớp và các mức độ lo âu 54

Biểu đồ 3.4.Tỷ lệ học sinh có lo âu học đường xét theo địa bàn nghiên cứu 55

Biểu đồ 3.5 Đánh giá của học sinh và cha mẹ về các đặc điểm tâm lý dễ dẫn đến lo âu 58

Biểu đồ 3.6 Đánh giá của học sinh và cha mẹ về thời gian cha mẹ và con cái tâm sự với nhau 75

Trang 10

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ICD International Statistical Classification of Diseases and

Related Health Problems Bảng phân loại quốc tế về những vấn đề sức khỏe DSM Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders

Sách chuẩn đoán thống kê các rối loạn tâm thần của Hội tâm thần học Hoa Kì

KV1, KV2 Khu vực 1, khu vực 2

ĐTBC Điểm trung bình chung

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại đời sống của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng được đáp ứng đầy đủ Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với mọi khó khăn của cuộc sống luôn luôn thay đổi Đây cũng là nguyên nhân gây nên nhiều vấn đề về sức khỏe tinh thần Một trong những rối loạn có liên quan đến căn nguyên tâm lý thì rối loạn lo âu rất thường gặp

Rối loạn lo âu không phải bệnh mới, nhưng ở thời đại ngày nay nó tiến triển mạnh mẽ với số lượng bệnh nhân không ngừng tăng lên Theo nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15% dân số đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trưng của rối loạn lo âu và 2,3% - 8,1% có rối loạn lo âu hiện hành Số liệu gần đây của hầu hết quốc gia trên thế giới cũng cho thấy, rối loạn lo âu đang ngày càng có chiều hướng gia tăng và lên tới 20-25% dân số Trầm cảm và lo âu hiện hữu trên toàn thế giới Đó là một nghiên cứu toàn diện mới nhất về lo âu và trầm cảm, do các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Queensland thực hiện Trước kia, có giả thiết cho rằng chỉ người phương Tây mới bị lo âu, trầm cảm Tuy nhiên những khảo sát về lo âu và trầm cảm lâm sàng được thực hiện ở 91 quốc gia (gồm hơn 480.000 người) cho thấy rối loạn lo âu được ghi nhận ở các nước phương Tây nhiều hơn so với các nước khác Lo âu tác động tới khoảng 10% dân số ở Bắc

Mỹ, Tây Âu và Úc/New Zealand so với khoảng 8% ở Trung Đông và 6% ở châu Á Nghiên cứu cũng cho thấy lo âu gặp ở nữ nhiều hơn nam.[6]

Người ta thấy rằng, rối loạn lo âu quá mức thường xảy ra nhất ở trẻ em tuổi tiểu học và những em ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên Theo thống kê của nhiều nước trong nhiều thập kỉ qua tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em là 5,7 – 17,7% [11] Bề ngoài, những đứa trẻ này có biểu hiện bồn chồn hoặc căng thẳng do thiếu khả năng thư giãn Stress tuổi học đường ở trẻ vị thành niên do lo âu quá mức đang là một vấn đề thời sự đáng được quan tâm ở nhiều nước hiện nay, trong đó có Việt nam Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam hiện chưa nhiều Nguy hiểm hơn nếu tình trạng lo âu ngày càng tăng cao và khó giải quyết hơn khi biểu hiện thành

Trang 12

bệnh lý Theo nghiên cứu của Trần Tuấn và cộng sự (2003) rối loạn tâm lý ở trẻ em ngày càng tăng và có tỷ lệ khá cao chiếm gần 20%

Rối loạn lo âu tồn tại ở mọi lứa tuổi đặc biệt với các em học sinh thời kỳ tuổi

vị thành niên Ở lứa tuổi trung học cơ sở, các em đang bước vào giai đoạn phát triển tâm sinh lý đặc biệt với nhiều biến đổi cơ thể Việc học tập, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, những biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì gây nên không ít ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của các em

Vì các lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu về lo âu học đường ở học sinh trung học cơ sở Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng lo âu học đường và cách ứng phó của các em khi gặp vấn đề này, từ đó có những biện pháp hỗ trợ thích hợp giúp các em vượt qua lo âu, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần cho các em

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu biểu hiện lo âu học đường và cách ứng phó với lo âu của học sinh THCS nhằm tìm ra những biện pháp phòng ngừa và can thiệp rối loạn lo âu phù hợp với lứa tuổi này

3 Đối tượng nghiên cứu

Lo âu và cách ứng phó với lo âu của học sinh trung học cơ sở

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nghiên cứu thực tiễn về biểu hiện lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở và cách ứng phó của các em

- Chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường, tìm hiểu cách ứng phó của học sinh THCS

- Đề ra một số biện pháp phòng ngữa và can thiệp rối loạn lo âu học đường ở học sinh THCS

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chọn nghiên cứu lo âu liên quan đến các yếu

tố học đường của học sinh THCS

Trang 13

- Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trên học sinh trung

học sơ sở, giáo viên và cha mẹ của các em thuộc hai trường: Trường trung

học cơ sở Thịnh Quang (Hà Nội) và trung học cơ sở Khánh Lợi (Ninh Bình)

6 Giả thuyết nghiên cứu

Có một tỷ lệ không nhỏ học sinh có lo âu học đường Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu ở học sinh THCS rất đa dạng, trong đó yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất là áp lực học tập Phần lớn học sinh THCS có biểu hiện lo âu thường có cách ứng phó theo chiều hướng tiêu cực

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Các phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể ở chương II

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu về lo âu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lo âu trên thế giới

Rối loạn lo âu được biết từ rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại – thế kỉ thứ IV trước công nguyên Hypocrat mô tả với một dạng bệnh thường gặp mà biểu hiện của nó là: cảm giác co thắt và ngột ngạt khó thở Rối loạn lo âu được cho là những cuộc đấu tranh của tâm hồn - quan niệm này tồn tại hàng chục thế kỉ sau đó Trong suốt thời gian này lo âu được nói nhiều, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn học Nó được xem như dục vọng của tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ Người ta không chú ý đến việc nghiên cứu bản chất của các cảm xúc mà chỉ tìm cách chế ngự nó Lo âu không được xem là bệnh lý cần được nghiên cứu

Rối loạn lo âu tên tiếng anh là anxiety disorder, được dùng nhiều trong ngành tâm thần học và y học Thuật ngữ “angest” được Kerkgard người Đan Mạch

sử dụng để chỉ trạng thái lo âu vào năm 1844 [13]

Lo âu là một trong các vấn đề về sức khỏe tâm thần được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vào những năm cuối thế kỉ XIX Vào năm 1895, Freud cho rằng trạng thái “loạn thần kinh lo âu” bao gồm sự chờ đợi lo âu cấp tính Ông đã đề xuất sử dụng thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu” trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh Trong thời gian dài từ thế kỉ XX cho tới nay khái niệm này được nhiều người chấp nhận và sử dụng Freud cho rằng, chứng bệnh tâm căn này là do xung đột nội tâm vô thức Đây có lẽ là một sự kiện nghiên cứu có sức thuyết phục trong lịch sử nghiên cứu về lo âu và để lại ảnh hưởng trong thời gian dài của thế kỉ XX Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhưng nó làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng [11, tr.46]

Trong tác phẩm “Loạn thần kinh chức năng” Sullivan đã mô tả nếu người mẹ mang thai mà có những lo lắng căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến con Từ giai đoạn thứ hai của thai nhi (tháng thứ 6 trở đi) thì nó sẽ ảnh hưởng nặng nề vì lúc đó thai nhi đã

Trang 15

có cảm giác Điều này còn ảnh hưởng tới đời sống học đường của đứa trẻ về sau này nếu không được trợ giúp

Theo H.B Phillips, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy đời sống tình cảm của đứa trẻ với người thân đặc biệt là người mẹ sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động học đường cũng như đời sống học đường của đứa trẻ sau này

Rối loạn lo âu trong bảng phân loại quốc tế những vấn đề sức khỏe tinh thần (ICD) lần thứ 8, thứ 9 và thứ 10 đã có những thay đổi như sau:

+ Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD 8, 1986) tổ chức y tế thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh lo âu do tâm lý)

+ Theo bảng phân loại bệnh lần thứ 9 (ICD 9, 1978) mặc dù đã có nhiều tiến

bộ và thay đổi nhưng về cơ bản các trạng thái lo âu vẫn được xếp vào các rối loạn tâm căn Nhưng khác ở chỗ là các tác giả bắt đầu theo hướng mô tả triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của rối loạn lo âu

+ Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lý Rối loạn lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và các rối loạn dạng cơ thể

Khoảng những năm 80 của thế kỉ XX, các nhà tâm lý học Nga xếp các trạng thái lo âu sợ hãi ám ảnh của trẻ em vào hội chứng loạn thần kinh chức năng

Trong bảng chuẩn và rối loạn tâm lý của Hiệp hội tâm thần Mỹ chỉnh sửa lần thứ III (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders – DSM III, 1983) thì khái niệm rối loạn lo âu chính thức được sử dụng Rối loạn lo âu được phân chia thành: rối loạn lo âu chia li, rối loạn lo âu quá mức, rối loạn lo âu né tránh

Năm 1994, hội tâm thần học Mỹ chỉnh sửa và đưa ra phiên bản IV bảng phân loại DSM-IV Theo đó, mỗi loại rối loạn tâm thần (Mental Disorder) được khái niệm hóa như là một nhóm những triệu chứng bất thường về tâm lí (hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan đến stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc mất năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng

Trang 16

những cảm giác tiêu cực (ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc mất mát đáng kể, sự tự do của cá nhân (nhưng triệu chứng này không phải là một sự đáp ứng được người ta chấp nhận về mặt văn hóa hoặc được người ta mong đợi, chẳng hạn như cái chết của người thân) Bất kể điều gì là nguyên nhân của các triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải được xem là sự biểu hiện của sự suy thoái về chức năng ở các góc độ sinh lý, tâm lý (nhận thức – hành vi) xảy ra ở các cá nhân nào đó.[19, tr.182]

Năm 1988, tổ chức y tế thế giới đã sử dụng DSM III làm tài liệu tham khảo

để soạn thảo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD – 10) Năm 1992, ICD – 10 được WHO công bố và áp dụng chính

thức trên toàn thế giới cho đến nay

1.1.2 Nghiên cứu về lo âu của tác giả B.N.Phillips

Thực tế cho thấy, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về lo âu Họ đều cho

rằng lo âu có mặt tích cực khi nó trở thành động lực phát triển cá nhân Ngược lại, nếu trở thành rối loạn lo âu thì cá nhân sẽ không thể thích ứng với các mối quan hệ

xã hội Tuy nhiên luận văn tập trung tìm hiểu những quan niệm của tác giả Phillips

về lo âu

Ông là giáo sư ở trường đại học Austin ở Texas, là người chuyên nghiên cứu

về học đường và lo âu từ những năm 1971, 1972 cho đến nay Năm 1972 ông đã đưa ra trắc nghiệm nghiên cứu mức độ và đặc điểm của lo âu học đường ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở Trắc nghiệm gồm 58 câu hỏi xoay quanh các tình huống có thể gây ra cho học sinh lo âu ở trường học như: khi làm bài kiểm tra, khi trả lời câu hỏi, khi làm bài tập…Người làm trắc nghiệm đọc cho học sinh nghe hoặc đưa cho các em tự trả lời Trắc nghiệm có thể tiến hành với cá nhân hoặc nhóm không quá 20 học sinh Nó được tác giả chia làm 8 yếu tố như sau:

+ Lo âu học đường nói chung: trạng thái cảm xúc chung của trẻ liên quan đến

tất cả các mối quan hệ, các hình thức hoạt động trong đời sống học đường, gồm các câu: 2, 3, 7, 12, 16 , 21, 23, 26, 28, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58

Trang 17

+ Stress xã hội: trạng thái cảm xúc chủ đạo của trẻ trong mối liên hệ với

những người xung quanh (chủ yếu là các bạn cùng trang lứa) Gồm các câu: 5, 10,

15, 20, 24, 30, 33, 36, 39, 42, 44

+ Sự hẫng hụt nhu cầu đạt được thành tích: đây là một phông cảm xúc bất

lợi, không cho phép đứa trẻ phát triển nhu cầu đạt được thành tích, được kết quả cao trong học tập Gồm các câu: 1, 3, 6, 11, 17, 19, 25, 29, 32, 35, 38, 41, 43

+ Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện: đây là những tình huống trải nghiệm

cảm xúc âm tính làm mất mong muốn khám phá bản thân, ức chế nhu cầu thể hiện các năng lực của bản thân, gồm các câu: 27, 31, 34, 37, 40, 45

+ Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức: thái độ tiêu cực và

những trải nghiệm lo sợ trong các tình huống kiểm tra kiến thức, sự tiến bộ, các khả năng (đặc biệt là trước mọi người), gồm các câu: 2, 7, 12, 16, 21, 26

+ Sự lo lắng không làm thoả mãn mong đợi của người khác - định hướng

vào sự đánh giá của người khác về kết quả công việc, hành động và ý nghĩ của bản thân, lo sợ sự đánh giá của người khác, chờ đợi những đánh giá âm tính, gồm các câu: 3, 8, 13, 17, 22

+ Khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp - đặc điểm của hoạt động tâm sinh

lý này làm giảm khả năng thích ứng của đứa trẻ với những hoàn cảnh gây stress, làm tăng khả năng phản ứng chính xác và có hiệu quả của trẻ đối với những kích thích gây stress từ môi trường, gồm các câu: 9, 14, 18, 23, 28

+ Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên – đây là phông cảm xúc âm tính

chung trong quan hệ của trẻ với những người lớn ở trường học, điều này góp phần làm giảm kết quả học tập của các em, gồm các câu: 2, 6, 11, 32, 35, 41, 44, 47

Trước khi làm tiến hành làm trắc nghiệm, cần chỉ dẫn cho học sinh: “Các em thân mến! Bây giờ các em sẽ được phát một bộ câu hỏi gồm 58 câu hỏi khác nhau

về tâm trạng của các em Để hiểu rõ hơn về bản thân mình, các em hãy trả lời những câu hỏi này một cách trung thực nhất Ở đây không có câu trả lời đúng hay không đúng, tốt hay xấu, vì vậy các em hãy cố gắng trả lời nhanh nhất có thể, đừng nghĩ nhiều Bên cạnh các câu hỏi là các phương án trả lời, nếu em đồng ý (hoặc điều đó đúng với bản thân em) thì em hãy đánh dấu “+” vào cột “có”, nếu không đồng ý

Trang 18

(hoặc không đúng với bản thân em) thì em đánh dấu “-“ vào cột “không” Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các em! Bây giờ các em bắt đầu làm nhé!”

Khi xử lý kết quả cần phải tìm ra các câu trả lời không trùng với mã khoá (xem bảng) Chẳng hạn, ở câu hỏi số 11 học sinh trả lời là “-” (không), trong khi đó

mã khoá là “+” (có) Những câu trả lời nào không trùng với mã khoá là biểu hiện của lo âu, được tính theo các mức độ và các yếu tố (hội chứng) Tính số lượng các câu trả lời không trùng với mã khoá của toàn bộ 58 câu, nếu chúng >50% có thể kết luận rằng có lo âu cao hơn mức bình thường; nếu >75% là lo âu ở mức độ cao Tính

số lượng các câu trả lời không trùng với mã khoá của từng yếu tố Mức độ lo âu ở mỗi yếu tố cũng được tính như trên

Các yếu tố thành phần của lo âu học đường

1 Lo âu học đường nói chung 2, 3, 7, 12, 16 , 21, 23, 26, 28, 46, 47,

5 Lo âu liên quan đến các tình huống

kiểm tra kiến thức

2, 7, 12, 16, 21, 26

∑ = 6

Trang 19

6 Lo không thoả mãn sự mong đợi của

Cách mã khóa các câu hỏi đƣợc tính nhƣ bảng sau:

Mã khoá của các câu hỏi

Trang 20

+ Biểu diễn kết quả trên bằng biểu đồ hoặc đồ thị;

+ Số lượng các câu trả lời không trùng với mã khoá của cả nhóm khách thể;

+ Biểu diễn kết quả ở phần 3 bằng biểu đồ;

+ Số lượng học sinh có tỷ lệ các câu trả lời không trùng với mã khoá ≥50% và ≥ 75% ở tất cả các yếu tố;

+ So sánh với kết quả làm trắc nghiệm lần 2;

+ Tất cả mọi thông tin về từng học sinh

Như vậy, với phương pháp trắc nghiệm tác giả đã đưa ra phương pháp giúp người nghiên cứu có được số lượng, tỷ lệ học sinh ở 3 mức độ của lo âu Phương pháp của Phillips ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới

1.1.3 Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam

Hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lo âu một cách độc lập, chuyên biệt Bởi các nghiên cứu thường tập trung vào nhiều yếu tố cùng một lúc

Từ năm 1987 đến nay chưa có một cuộc nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về vấn

đề sức khỏe tâm thần trẻ em [19]

Phạm Văn Trụ, trưởng khoa khám bệnh tại bệnh viện tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “cuộc sống hiện tại làm con người ngày càng có nhiều áp lực vì vậy

Trang 21

mà số người mắc bệnh lo âu đến khám ngày càng nhiều Chỉ trong tháng 11/2004 đã có tới 812 bệnh nhân, tăng nhiều lần so với tháng trước”

Qua 352 hồ sơ của Phạm Văn Đoàn thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em (NT) tính từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 có các nhóm rối nhiễu tâm trí cơ bản sau:

+ Loạn tâm: có 24 trường hợp chiếm 6,8% trong đó chủ yếu là tâm thần phân liệt ở tuổi dậy thì

+ Nhiễu tâm: có 95 trường hợp chiếm 27%, chủ yếu là nhiễu tâm tiến triển

có biểu hiện hyteria

+ Bệnh lý về nhân cách và các rối nhiễu tiến triển ngoài loạn tâm và nhiễu tâm có 14 trường hợp chiếm 4%

Theo tài liệu của Nguyễn Công Khanh: “ Báo cáo của tổ chức y tế thế giới

năm 1995 công bố rằng, có khoảng 20% người lớn đã có trải nghiệm cơn hoảng sợ trong đời”.[10]

Theo Nguyễn Thanh Hồi, kết quả của cuộc khảo sát gần đây đưa ra con số

thống kê như sau: 19,46% học sinh từ độ tuổi 10-16 gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần Như vậy, gần 20% trẻ dưới 16 tuổi có vấn đề về sức khỏe tâm thần

Nguyễn Văn Thụ - trưởng khoa khám bệnh của bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh cho biết: trong tháng 11/2004 có 812 bệnh nhân đến khám bệnh trong đó bệnh nhân có rối loạn lo âu ngày càng tăng [15]

Ngoài ra, theo nghiên cứu mới nhất về “ Mức độ lo âu của khoa tâm lý học trước kì thi” của Triệu Thị Biển trên 130 sinh viên cho thấy có 22,31% - 26,92%

sinh viên có biểu hiện lo âu

Tác giả Lã Thị Bưởi và cộng sự với nghiên cứu “Bước đầu nhận xét về các hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em dựa vào cộng đồng” tại phòng khám

Tu Na trên 202 trẻ từ 0-18 tuổi (nghiên cứu tiến hành từ 12/2005 đến 10/2007) đưa

ra kết quả: Trong số các trẻ đến khám có 23,76% trẻ trầm cảm, 20,79% trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý, 10,4% trẻ rối loạn dạng phân liệt

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về lo âu của học sinh Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có nghiên cứu nào về lo âu và cách ứng phó của học sinh trung học cơ sở

Trang 22

1.2 Khái niệm lo âu và rối loạn lo âu

1.2.1 Khái niệm lo âu

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu:

Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện, lo âu là suy nghĩ và đón

chờ một điều gì đó có thể đến mà không chắc đối phó được Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi tâm lý bị rối loạn thì một triệu chứng thường gặp là mối lo.[23]

Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng, lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực

được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể.[3]

U.Baumann cho rằng lo âu là một hiện tượng cảm xúc tự nhiên tất yếu của

con người trước những khó khăn, thử thách của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp để vượt qua, tồn tại Lo âu là một tín hiệu báo động, nó báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người chuẩn bị mọi biện pháp để đương đầu với đe dọa

Từ các cách định nghĩa khác nhau về lo âu chúng ta có cách xem xét thuật ngữ này ở các khía cạnh như sau:

+ Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua để tồn tại

+ Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa

+ Lo âu và sợ hãi, hoảng sợ có những điểm khác nhau: Nếu như hoảng sợ được coi là một phản ứng đối với một đe dọa cụ thể nào đó, thì lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền và không có đối tượng và có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội và thường được tạo ra bởi sự không

ý thức được nguồn gốc của nỗi nguy hiểm

Như vậy, chúng tôi hiểu về định nghĩa lo âu như sau: Lo âu là một trạng thái cảm xúc bình thường của cá nhân đối với những tác nhân gây stress báo hiệu sự đe dọa đến với cuộc sống của cá nhân nhưng không có đối tượng rõ ràng

1.2.2 Rối loạn lo âu

Aubrey Lewis (Anh) đã khái quát những điểm bản chất của lo âu như sau:

Trang 23

+ Đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tổn hại, hoảng hốt khiếp sợ, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng)

+ Cảm xúc xấu: có thể là cảm giác cái chết hoặc là suy sụp

+ Đó là sợ trực tiếp cho tương lai, trong đó có cảm giác đe dọa của nguy hiểm đang đến

+ Có những đe dọa hoặc không thể nhận ra được, hoặc theo tiêu chuẩn hợp

lí, đe dọa ấy không cân xứng với cảm xúc đó gây nên

+ Có những khó chịu chủ quan về cơ thể như là cảm giác thắt lại trong ngực, cảm giác thít chặt trong cổ họng và khó thở

+ Có các rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thét lên, chạy khi hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn toàn tự ý (ra mồ hôi, đánh trống ngực…)

P.Pichot (1967) quan niệm, lo âu chỉ là sự lo sợ về một đối tượng không rõ ràng hoặc không cụ thể Finona Judd và Graham Burrows trong bài viết “Các rối loạn lo âu” đã cho rằng: lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó chịu, lan tỏa cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ và nhất thời, chúng ta thường thấy mang tính chu kì Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như là một tín hiệu báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong và hậu quả là tạo ra hoạt động thích hợp

Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng: Lo âu là sự sợ hãi quá mức không có nguyên nhân hay do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần hay do một bệnh cơ thể Rối loạn lo âu là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính lan tỏa, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát [Vũ Dũng, 2008]

Trong tiêu chuẩn phân loại của hội tâm thần học Mỹ, DSM – IV rối loạn lo

âu là những lo lắng thái quá về một sự kiện hoặc hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra lặp đi lặp lại ít nhất trong 6 tháng Cá nhân thường có khó khăn hoặc mất sự kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể như: sự căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an…

Trang 24

Từ các quan điểm trên chúng tôi hiểu rối loạn lo âu là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lí

1.2.3 Phân biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu

Đối với một người có biểu hiện lo âu, ta phải phân biệt hai loại lo âu bình thường và rối loạn lo âu Lo âu trở thành bệnh lý khi nó ở mức trên của ngưỡng bình thường, kéo dài, kèm theo những rối loạn về mặt thực thể, rối loạn hệ thần kinh thực vật…Theo DSM – IV, sự khác biệt giữa hai yếu tố trên là ở trạng thái lo lắng quá mức và cá nhân có khó khăn hoặc mất sư kiểm soát những lo âu này Những trải nghiệm sự lo âu khó kiểm soát những xúc cảm của bản thân, những xúc cả tiêu cực thường tạo ra sự đảo lộn hay sự mất năng lực trong phạm vi của bản thân

Bảng so sánh lo âu và rối loạn lo âu [15]

Thời gian Nhất thời khi có các sự kiện

trong đời sống tác động đến tâm lý của các chủ thể Hết lo

âu khi mất các tác động này

Kéo dài và lặp đi lặp lại

Triệu chứng Không có hoặc có rất ít rối

loạn thần kinh thực vật

Nhiều rối loạn thần kinh thực vật (mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất an)

1.3 Lo âu học đường

1.3.1 Nội dung lo âu học đường

Rối loạn lo âu là một vấn đề về sức khỏe tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên Đôi khi con người có thể cảm thấy băn khoăn lo lắng trong cuộc sống, thì lo âu là một tình trạng mà người ta cảm thấy dai dẳng không thể kiểm soát

Trang 25

được trong một thời gian dài Rối loạn lo âu có thể bị tác động bởi nhiều môi trường như trường học, quan hệ bạn bè và cuộc sống gia đình Nó có thể gây ảnh hưởng đến cuộc sống con người bằng việc giới hạn khả năng tham gia của họ vào các hoạt động khác nhau Mỗi chúng ta đều thừa nhận rằng mình đã trải qua cảm giác lo hãi trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày (hỏi chuyện với những người cấp trên, các bài kiểm tra…) hoặc trong các tình huống đặc biệt được đặt trong sự nguy hiểm Lo âu có thể được phát sinh từ sự phức tạp của cuộc sống nhưng nó cũng có thể được nảy sinh trực tiếp từ môi trường học đường

Chúng ta phải xem xét lo âu của học sinh ở các mức độ và gắn với yếu tố trường học:

+ Yếu tố thứ nhất - lo âu học đường nói chung, là tất cả những trạng thái cảm xúc liên quan đến mối quan hệ với bạn bè, giáo viên hay các hoạt động ở trường như đến lớp nghe giảng, kiểm tra bài, làm bài trên lớp…

+ Yếu tố thứ hai - stress xã hội, trong yếu tố này cần tập trung vào cảm xúc của trẻ trong mối quan hệ với bạn bè

+ Yếu tố thứ ba - hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích, trẻ có những cảm xúc tiêu cực khi thỏa mãn nhu cầu đạt kết quả cao trong học tập Trẻ em có rối loạn lo âu thường quá bận tâm về thành công của mình và khả năng giành được sự tán dương của những người khác Những đứa trẻ này cũng có thể thiếu tự tin, luôn phê bình bản thân hoặc quá cầu toàn trong mọi việc

+ Yếu tố thứ tư - sự tự thể hiện, trẻ có những cảm xúc âm tính liên quan đến nhu cầu thể hiện năng lực của bản thân, khám phá bản thân

+ Yếu tố thứ năm - các tình huống kiểm tra kiến thức, trẻ có trạng thái cảm xúc tiêu cực khi được cô gọi lên bảng, khi làm bài thi hay kiểm tra trên lớp…

+ Yếu tố thứ sáu - không làm thỏa mãn mong đợi của người khác, trẻ quá tập trung vào việc thực hiện những mong muốn về học tập của cha mẹ và thầy cô bằng cách chờ đợi các đánh giá âm tính Điều này làm cho các em phải đối mặt với những áp lực rất lớn về mặt tinh thần: áp lực phải giữ hình ảnh bản thân, áp lực từ

sự mong đợi của những người xung quanh (cha mẹ, thầy cô…) Các em thường

Trang 26

thức trắng đêm để ôn bài trước kì kiểm tra, thậm chí vắng mặt trong cả ngày thi vì

Trái ngược với những lo lắng bất chợt thông thường, rối loạn lo âu tồn tại dai dẳng trong vòng 6 tháng và tác động đến trẻ em trong mọi tình huống (ở nhà, ở trường và với bạn bè) Trẻ bị lo lắng quá mức tỏ ra thiếu linh hoạt trong việc tuân theo các nguyên tắc, không có khả năng tham gia các sở thích hoặc các hoạt động giải trí Một vài đứa trẻ có thể trở nên nhút nhát Thực tế, chúng bận tâm với những

lo lắng nhiều hơn Thậm chí những đứa trẻ có thể nhận thức được sự lo lắng của mình nhưng chúng không có khả năng để ngăn chặn được sự lo lắng này Những học sinh bị lo âu học đường đôi khi là những học sinh giỏi, thậm chí là những học sinh rất giỏi Họ có khả năng trí tuệ bình thường Vì vậy mà lo âu trở thành sự bất lợi thật sự, đôi khi lo âu cũng dẫn đến ám ảnh sợ học đường hay lo âu từ chối trường học

Thuật ngữ về lo âu học đường trong tiếng anh là school anxiety, trong tiếng

pháp là anxiété.Trong đề tài này chúng tôi cho rằng, lo âu học đường là biểu hiện

sự lo lắng quá mức, dai dẳng, kéo dài có liên quan đến các yếu tố học đường như học tập, quan hệ với bạn bè thầy cô…và ảnh hưởng của nó đến học tập cũng như cuộc sống của học sinh

1.3.2 Những dấu hiệu của lo âu học đường

Ở từng giai đoạn, lo âu học đường được đặc trưng bởi các dấu hiệu khác nhau Hersov chia ra ba giai đoạn sau: Thứ nhất là từ 5-7 tuổi; thứ hai là từ 7-11 tuổi ( đây là lứa tuổi phù hợp cho trẻ bắt đầu đi học và học cấp hai với sự phục hồi

Trang 27

hoạt động của lo hãi chia ly khi đối mặt với cha mẹ); thứ ba là từ 11 đến 15 tuổi ( xuất hiện lo âu từ chối học đường) Berg nhận thấy rằng có 1/3 các em bắt đầu xuất hiện lo âu học đường từ cấp hai (Berg) Ở thanh thiếu niên, nhất là các em từ 14 tuổi , các tác giả đã thừa nhận tính nghiêm trọng của bệnh lý này bởi nó làm phức tạp vấn đề phát triển tâm lý lứa tuổi và vấn đề tiên lượng sự phát triển cũng như chuẩn đoán gặp nhiều khó khăn hơn

Những học sinh có lo âu nhìn chung có trí tuệ bình thường, tỷ lệ nam nữ là như nhau, ở thanh thiếu niên thì nam có tỉ lệ nhiều hơn nữ Yếu tố lứa tuổi có sự ảnh hưởng đến lo âu học đường Với những trẻ nhỏ nó bắt đầu sớm mạnh và thường

có những biểu hiện về mặt cơ thể (đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy…) Thỉnh thoảng

nó còn làm trầm trọng một số bệnh có sẵn (đái tháo đường, hen suyễn…) Bệnh xá trường học trở thành nơi nghỉ ngơi cho trẻ em, là nơi cho bố mẹ, đặc biệt là người

mẹ đến tìm thấy con mình nhanh chóng Thỉnh thoảng trẻ em “ được dẫn đi” hết bác

sĩ này đến bác sĩ khác, các bậc cha mẹ được thuyết phục rằng con họ bị bệnh tật và những bệnh này thì còn chưa tìm được nguyên nhân

Học sinh có rối loạn lo âu dần dần bị kéo ra khỏi các họa động của nhóm Trẻ đi chơi ngày càng ít và sự phụ thuộc đối với bố mẹ ngày càng tăng lên Thỉnh thoảng học sinh có tính độc đoán, sự bạo ngược thậm chí là bạo lực nghiêm trọng Đôi khi một sự kiện mà bề ngoài không có gì đáng kể (chuyển nhà, thay đổi giáo viên cấp một,cái chết của một người với đứa trẻ hình như không có sự gắn bó đặc

biệt…) cũng gây nên ảnh hưởng không nhỏ đế trẻ Ở nhà, trẻ em có rối loạn lo âu

có thể được biểu hiện bởi sự kết hợp của những triệu chứng dưới đây:

+ Lo lắng quá mức và lo lắng về nhiều vấn đề trong vòng 6 tháng gần nhất Trẻ em có thể lo lắng về việc học tập, quan hệ bạn bè, phải đúng giờ và tuân theo quy tắc Lo lắng về sự tán thành và công nhận của người khác đối với mình đặc biệt phổ biến Trẻ em có thể lo lắng về những hoạt động trong tương lai, những kinh nghiệm mới hoặc những vấn đề khác, lo lắng mình hoặc người thân sẽ bị thương

+ Thường xuyên mất tự tin và tự phê bình

+ Không có khả năng kiềm chế lo lắng mặc dù bố mẹ quan tâm

+ Vấn đề cơ thể bao gồm: đau đầu, đau bụng, căng cơ

Trang 28

+ Dấu hiệu lo âu dai dẳng bao gồm: hoạt động luôn tay luôn chân, cảm thấy bực mình, khó tập trung hoặc khó thư giãn, đầu óc trống rỗng

+ Cáu kỉnh thường tăng cùng sự lo lắng cao độ

+ Tìm nhiều nguyên nhân để trì hoãn hoặc không phải đến trường; trẻ thường quên đồ dùng học tập và đến trường muộn

+ Vấn đề giấc ngủ bao gồm: thức dậy sớm, thức dậy mà không cảm thấy thoải mái, hay gặp ác mộng…

+ Uống rượu và dùng ma túy là một cách để giảm lo âu, nhưng rượu và ma túy càng làm cho lo âu tồi tệ hơn

+ Trầm cảm hoặc những suy nghĩ về việc không muốn sống trong một số tình huống nếu trẻ không hi vọng về việc giảm những triệu chứng của lo âu xuống

Nhìn chung, trong suốt cả ngày đứa trẻ chỉ quanh quẩn trong nhà, càng ngày càng tách mình và không đi chơi trong nhiều giờ Trái lại với những đứa trẻ trốn học đi chơi, phần lớn thời gian những đứa trẻ lo âu học đường đã từng rất chăm chỉ trong học tập

Ở trường, trẻ em bị rối loạn lo âu có những biểu hiện sau:

+ Lo lắng quá mức về nhiều vấn đề

+ Tìm kiếm lặp đi lặp lại sự công nhận của giáo viên

+ Không có khả năng giải thích về sự lo lắng Trẻ em không hiểu tại sao mình lại lo lắng

+ Không có khả năng chấm dứt lo lắng mặc dù người lớn làm yên lòng nhưng lo lắng vẫn tiếp tục

+ Khó khăn để đưa trẻ đến trường: Trẻ em có thể có những khó khăn khi đến trường vào buổi sáng nếu chúng gắn nhiều nỗi lo hơn với trường học Điều đó có thể gây ra đến trường muộn thường xuyên, khóc lúc bố mẹ đưa đến và tiếp tục khóc

ở trường

+ Từ chối hoặc miễn cưỡng đến trường: Lo âu có thể làm cho trẻ em nhất quyết đòi quà ở nhà Có thể sắp xếp cho một đứa trẻ hoặc lên kế hoạch để đưa trẻ đến trường là vô ích, chuẩn bị cặp sách cho trẻ từ hôm trước nhưng cuối cùng trẻ

Trang 29

không thể ra khỏi nhà mặc dù đã hứa từ hôm trước Đứa trẻ có thể có xuất hiện những cơn hoảng sợ thật sự khi người ta muốn bắt buộc nó đến trường

+ Tránh xa việc học và các hoạt động với bạn bè

+ Những rối loạn lo âu khác như: ám ảnh xã hội, lo âu chia ly, hoặc rối loạn hoảng sợ Rối loạn lo âu có thể không được nhận ra bởi những triệu chứng của trẻ diễn ra bên trong và không thể phát hiện được

+ Những rối loạn học tập có thể cùng tồn tại và không nên bỏ qua ở trẻ em

và thanh thiếu niên Những khó khăn của trẻ em ở trường học không nên gán hoàn toàn cho lo lắng Nếu những đứa trẻ vẫn có những khó khăn ở trường học sau những triệu chứng đã được điều trị, nên kiểm tra xem đứa trẻ có bị rối loạn học tập hay không Sự miễn cưỡng đến trường của đứa trẻ ở trường học được lặp lại có thể

là chỉ báo cho chẩn đoán bất lực học tập

Nhìn chung, có thể thấy những biểu hiện của trẻ có lo âu học đường cũng thường được biểu hiện ở ba mặt sau: biểu hiện về mặt cơ thể (đau bụng, đau đầu, tức ngực khó thở, run chân tay…) biểu hiện về mặt hành vi (né tránh hoặc từ chối việc đến trường cũng như các hoạt động ở trường…) và biểu hiện cảm xúc (cáu kỉnh, tự ti, hay phê bình bản thân, lo lắng liên miên về nhiều vấn đề…)

1.3.3 Nguyên nhân của lo âu học đường

Cần phải mất thời gian để tìm hiểu về nguyên nhân của lo âu học đường, tuy nhiên có thể có hai nhóm nguyên nhân sau:

Đây là những nguyên nhân xuất phát từ bản thân đứa trẻ và có thể gồm:

Trang 30

- Mất năng lực học tập hoặc có những trải nghiệm thất bại trong học tập (những đứa trẻ này đã có lần bị điểm kém nên bị thầy cô cha mẹ trách mắng, bạn bè chê cười)

- Mâu thuẫn với giáo viên hay với bạn

- Đặc điểm tâm lý cá nhân: tự ti, nhút nhát, quá nhạy cảm, cầu toàn…

- Cảm thấy lo lắng về trường mới hay cấp học mới

- Cảm thấy lo lắng về việc học tập ở trường (kiểm tra, bị gọi lên trước lớp, trình bày…)

- Không muốn xa bố hoặc mẹ

- Trẻ mắc một vài bệnh thực thể cũng có thể là nguyên nhân của lo âu

Bao gồm những nguyên nhân có liên quan đến gia đình nhà trường và xã hội:

- Cha mẹ quá kì vọng vào việc học tập cũng như thành tích học tập của con mình

- Phương pháp chăm sóc, giáo dục con chưa phù hợp: yêu cầu con học quá nhiều, học thêm, học hè…

- Sự thay đổi trong gia đình (ly hôn, đau ốm, cái chết của một thành viên gia đình, chuyển nhà…)

- Việc học ở trường quá dễ hoặc quá chán hoặc quá khó và chán nản

- Trẻ bị bạo lực học đường, bị bắt nạt hay quấy rối…

- Việc chuyển trường, chuyển lớp hoặc thay đổi giáo viên chủ nhiệm nhiều lần, làm cho đứa trẻ không có khả năng thích nghi

- Phương pháp giảng dạy không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh như yêu cầu các em ngồi yên quá lâu, không tạo ra các hoạt động trong giờ học…

- Trẻ gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè và giáo viên

- Cường độ học tập cao, khối lượng kiến thức cần phải học lớn

- Trẻ sử dụng một số chất kích thích như: rượu, cà phê, …cũng có thể là nguyên nhân gây ra lo âu ở trẻ

Trang 31

Ngoài ra, xã hội cũng đã, đang tác động đến trường học, gia đình và gián tiếp gây ra lo âu học đường ở học sinh

1.3.4 Một vài rối loạn lo âu học đường thường gặp

Trẻ trai hoặc trẻ gái gặp khó khăn khi chia ly với cha mẹ chúng hoặc những người mà trẻ quen biết, điều đó kéo theo lo âu nghiêm trọng Khi đến năm thứ nhất của cấp 2, trẻ có thể có một thái độ ngập ngừng lớn, thậm chí từ chối tất cả những gì thuộc về trường học; thi thoảng nỗi sợ này xuất hiện khi rời khỏi nhà và rời cha mẹ chúng, nỗi sợ này được đeo mặt nạ bởi những lời phàn nàn về cơ thể Ở trường học, học sinh thường xuyên sỗ sàng và nói “bậy” với giáo viên quan tâm quá mức Những lời phàn nàn về cơ thể thì có thể dẫn đến mất rất nhiều thời gian cho dịch vụ sức khỏe Đôi khi cha mẹ chấp nhận rất dễ dàng việc nghỉ học thường xuyên, hoặc những lo lắng đối mặt với thanh thiếu niên, họ xem con họ như những cơ thể yếu ớt

1.3.4.2 Lo âu lan tỏa

Trẻ em luôn luôn lo lắng, đôi khi diễn đạt nhiều lo lắng quá mức về những vấn

đề nhỏ nhất Trẻ có thể than phiền thường xuyên những khó khăn phức tạp của cơ thể, như: đau bụng,… mà đó là những biểu hiện của lo âu quá mức

Trẻ em rất chăm chỉ, đã từng có những lo lắng phải làm thật hoàn hảo các công việc của em ở trường học Ngoài ra em còn rất chú ý trong giờ học, đòi hỏi rất cao với bản thân mình và rất thường xuyên có cảm giác giáo viên đánh giá mình, với nhu cầu tái khẳng định định kì và quá mức Trẻ luôn cảm nhận được sự đua tranh và một sự cố gắng quá lớn bởi sự đòi hỏi phải cố gắng Trẻ có thể phản ứng quá mức (khóc, thu mình, cách ly…) trước lời nhắc nhở nhỏ của giáo viên hoặc đối với một thất bại nhỏ Nếu lo âu nghiêm trọng thì trẻ có thể tránh đối mặt với một thách thức ở trường học bằng cách vắng mặt trong cả kì kiểm tra, thi thoảng do những lý do về mặt cơ thể

Trong nghiên cứu này chúng tôi đo lường lo âu học đường theo các tiểu thang đo sau đây do tác giả Phillips (1962) đề xuất:

Trang 32

+ Lo âu học đường nói chung: trạng thái cảm xúc chung của trẻ liên quan đến tất cả các mối quan hệ, các hình thức hoạt động trong đời sống học đường

+ Stress xã hội: trạng thái cảm xúc chủ đạo của trẻ trong mối liên hệ với những người xung quanh (chủ yếu là các bạn cùng trang lứa)

+ Sự hẫng hụt nhu cầu đạt được thành tích: đây là một phông cảm xúc bất lợi, không cho phép đứa trẻ phát triển nhu cầu đạt được thành tích, được kết quả cao trong học tập

+ Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện: Đây là những tình huống trải nghiệm cảm xúc âm tính làm mất mong muốn khám phá bản thân, ức chế nhu cầu thể hiện các năng lực của bản thân

+ Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức: thái độ tiêu cực và những trải nghiệm lo sợ trong các tình huống kiểm tra kiến thức, sự tiến bộ, các khả năng (đặc biệt là trước mọi người)

+ Sự lo lắng không làm thoả mãn mong đợi của người khác - định hướng vào

sự đánh giá của người khác về kết quả công việc, hành động và ý nghĩ của bản thân,

lo sợ sự đánh giá của người khác, chờ đợi những đánh giá âm tính

+ Khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp - đặc điểm của hoạt động tâm sinh

lý này làm giảm khả năng thích ứng của đứa trẻ với những hoàn cảnh gây stress, làm tăng khả năng phản ứng chính xác và có hiệu quả của trẻ đối với những kích thích gây stress từ môi trường

+ Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên – đây là phông cảm xúc âm tính chung trong quan hệ của trẻ với những người lớn ở trường học, điều này góp phần làm giảm kết quả học tập của các em

1.4 Khái niệm ứng phó và ứng phó với lo âu học đường

1.4.1 Khái niệm ứng phó

Khái niệm ứng phó xuất phát từ tiếng Anh “cope” có nghĩa là đương đầu, đối

mặt với những tình huống bất thường, tình huống khó khăn và stress Khái niệm này còn được sử dụng để mô tả phản ứng của cá nhân trong các tình huống khác nhau

Trang 33

Khái niệm hành vi ứng phó được sử dụng lần đầu tiên trong tâm lý học Stress của R Lazarus và S.Folkman và được định nghĩa là tổng hợp của những nỗ lực nhận thức và hành vi mà cá nhân bỏ ra để làm suy yếu đi ảnh hưởng của stress [8, tr.43]

Theo Adler A, ứng phó là phong cách sống của cá nhân, là sự tổng hợp những mục đích có ý nghĩa và cách đạt được chúng, được xác định như sự thống nhất giữa các đặc điểm nhân cách, tâm thế và hoạt động hàng ngày Còn tương ứng với hoàn cảnh, như một thời khắc của đường đời thì có thể coi ứng phó như một sự thay đổi phong cách sống theo hoàn cảnh

Ứng phó là những hành động thuộc về nhận thức - hành vi nhằm chế ngự những đòi hỏi của một sự kiện được nhận định là có tính gây stress Khi đối đầu với một sự kiện gây stress, đương sự sẽ cố gắng “hóa giải” sự nguy hại và phòng tránh

sự đe dọa Vẫn còn có ít nhiều dữ liệu về việc làm thế nào mà đương sự ứng phó được với các tác nhân gây stress trong môi trường sống tự nhiên Sự biến hóa của các chiến lược ứng phó là vô hạn

Trong nghiên cứu của N.Haan, hiểu cách ứng phó trong thuật ngữ Ego, như là một trong những cách thức phòng vệ tâm lý, được sử dụng để làm giảm căng thẳng

Trong các tác phẩm của R H Moos định nghĩa ứng phó trong đặc điểm nhân cách – như một thiên hướng tương đối ổn định đáp lại những sự kiện gây stress theo một cách thức nhất định Tuy nhiên nghiên cứu này ít được các nhà nghiên cứu ủng hộ

Theo quan điểm của Lazarus và Folkman, ứng phó được hiểu là một quá trình động thái, đặc thù của nó được xác định không chỉ bởi hoàn cảnh mà còn bởi các giai đoạn của sự phát triển xung đột, sự va chạm của chủ thể với thế giới bên ngoài

Trang 34

khỏi, hoặc làm quen với chúng và bằng cách đó hóa giải được những tác động gây stress của hoàn cảnh

+ Nhiệm vụ chủ yếu của ứng phó là tạo ra và ủng hộ sự bền vững của con người, sức khỏe thể chất cũng như tâm lý, làm thỏa mãn các quan hệ xã hội của cá nhân.[8]

Trong đề tài chúng tôi quan niệm ứng phó với lo âu là cách mà cá nhân đối đầu với hoàn cảnh mà cá nhân đó nhận định là có tính gây stress với khả năng tâm

lý của mình, nhằm thích ứng tốt hơn với hoàn cảnh, tình huống

Theo nghiên cứu của Lazarus, Folkman và cộng sự năm 1986 chỉ ra có 8 cách ứng phó cho hai loại chiến lược ứng phó trên:

+ Trong chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề gồm có: Sẵn dàng đương đầu được đặc trưng bởi những nỗ lực mang tính xâm kích nhằm làm thay đổi tình huống; Tìm kiếm chỗ dựa xã hội đặc trưng bởi những cố gắng để có được sự bình

ổn về cảm xúc và cơ hội để có thể chia sẻ thông tin với những người khác về vấn đề vừa xảy ra với mình; Giải quyết vấn đề có kế hoạch mô tả cụ thể những nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề

+ Những chiến lược ứng phó tập trung nhiều hơn đến điều chỉnh cảm xúc: Kiểm soát bản thân mô tả những cố gắng điều chỉnh cảm giác của mình; Giữ khoảng cách là những cố gắng không đề cập tới tình huống gây stress, thờ ơ với nó; Đánh giá lại những quan điểm dương tính đặc trưng bởi những nỗ lực tìm ra ý nghĩa tốt đẹp trong việc trải nghiệm tình huống stress như việc coi đó là cơ hội để bản thân lớn

Trang 35

hơn, có kinh nghiệm hơn; Chấp nhận trách nhiệm nhìn nhận lại trách nhiệm, vai trò của cá nhân trong vấn đề xảy ra; Lảng tránh/chạy trốn mô tả suy nghĩ hy vọng rằng tình huống xấu qua đi thật nhanh hay là những nỗ lực chạy trốn hoặc lảng tránh tình huốn bằng cách ăn uống, uống rượu, hút thuốc hoặc dùng thuốc

● Một cách phân loại khác do Lazarus (1971) và Meichenbaum (1977) đưa ra: Chiến lược ứng phó bằng con đường nhận thức gồm việc thay đổi cách diễn giải những hoàn cảnh khó khăn của con người và vì thế có thể thay đổi được cách

họ đáp lại hoàn cảnh Chiến lược này giúp cho con người suy nghĩ một cách bình tĩnh hơn, hợp lý hơn và có tính xây dựng hơn khi đối mặt với những khó khăn Trong đó có quá trình “nói chuyện với bản thân” về vấn đề xảy ra [8, tr 52]

Chiến lược ứng phó bằng hành động bao gồm việc lên kế hoạch, sắp xếp lại cá việc phải làm trước hoàn cảnh xảy ra nhằm làm giảm tới mức tối thiểu những khó khăn gây ra cho bản thân mình Quản lý thời gian là một trong những hình thức của chiến lược này (bao gồm: lên kế hoạch theo thời gian, xây dựng thời gian biểu chỉ ra những hành động cụ thể cần phải làm trong một giai đoạn nhất định Chiến lược này nhiều tác giả đã đề cập đến Nó gắn chặt với vấn đề của lựa chọn và ra quyết định trên cơ sở những phân tích tình hình và tiềm năng, khả năng của bản thân

Chiến lược ứng phó bằng hành động và nhận thức thường gắn bó chặt chẽ với nhau Việc suy nghĩ bình tĩnh giúp con người dễ dàng lên những kế hoạch hợp

lý cho hành động của mình Khi hành động có những kết quả nhất định, hạn chế được khó khăn thì những suy nghĩ và cảm giác về bản thân càng tốt đẹp hơn

Chiến lược ứng phó bằng con đường sinh lý là việc phản ứng trực tiếp hướng

về thể chất của bản thân trước hoàn cảnh khó khăn, tress xảy ra Cách ứng phó này chỉ có tác dụng tạm thời bởi nó không nhằm trực tiếp đến vấn đề xảy ra Cách dùng các loại thuốc an thần, ma túy …nên được thay thế bằng biện pháp an toàn hơn như thư giãn, sử dụng các dụng cụ đo các phản ứng sinh lý của cơ thể như huyết áp, nhịp tim , độ căng cơ…để họ có thể kiểm soát các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể mình bằng các chiến lược tinh thần

● Cách phân loại của Olson: Theo ông, chiến lược ứng phó là cố gắng thu hẹp, hạn chế tiêu cực của nguồn gây ra stress (ứng phó hướng đến tác nhân kích

Trang 36

thích), giảm biên độ của phản ứng đáp lại (ứng phó hướng đến phản ứng đáp lại) hoặc thay đổi cách nhận thức về tác nhân gây stress (ứng phó nhận thức)

+ Ứng phó hướng đến tác nhân kích thích: Đó là cách ứng phó xoay quanh vấn đề xảy ra, tìm hiểu kỹ lưỡng vấn đề, về nguyên nhân phát sinh, những bước hành động để khắc phục nó, làm thay đổi nó hoặc làm nó phát triển theo hướng thuận lợi hơn, gây tác hại ít hơn…

+ Ứng phó hướng đến làm giảm nhẹ phản ứng gây stress cũng là một cách làm quên đi tình huống khó khăn hiện tại Sự lựa chọn cách ứng phó này có thể có hiệu quả tức thì, những phản ứng sinh lý trở nên dịu lại, con người cảm thấy dễ chịu hơn, những khó khăn tạm thời khuất đi Một trong những kỹ thuật khác nhằm làm giảm nhẹ phản ứng khó chịu của stress là luyện tập thể dục thể thao Đây là ký thuật rất có ích cho sức khỏe và tăng tuần hoàn não

+ Chiến lược ứng phó tâm lý là việc thay đổi cách nghĩ về tác nhân gây stress cũng như phản ứng stress Đánh giá và xây dựng lại nhận thức về sự kiện, về vấn đề xảy ra sẽ giúp cho con người suy nghĩ biến cố theo chiều hướng tích cực Các kỹ thuật: Tưởng tượng đầy đủ về bản thân với đầy đủ tiềm năng để vượt qua khó khăn; Suy nghĩ theo hướng “trong cái rủi có cái may” nhằm làm giảm ảnh hưởng có hại của stress đối với sức khỏe, với cơ thể Tuy nhiên cách này nếu kéo dài sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến con người

● Phân chia theo hiệu quả: Chiến lược ứng phó hiệu quả và chiến lược ứng phó không hiệu quả

+ Chiến lược ứng phó hiệu quả là những chiến lược giải quyết về cơ bản những vấn đề xảy ra, giúp con người làm chủ tình thế, làm giảm đi đáng kể tác hại của stress gây ra cho con người, mang đến cho họ một hy vọng, niềm tin và những cảm giác dương tính về bản thân

+ Chiến lược ứng phó không hiệu quả không giúp cho con người đương đầu với stress một cách tốt đẹp, làm suy sụp tinh thần, con người không thể làm chủ được tình huống và chịu tác động tiêu cực của tình huống đó, không làm thay đổi được vấn đề xảy ra, thậm chí càng lún sâu vào vấn đề phức tạp hơn

Trang 37

● Theo Cox và Ferguson (1991) thì có 3 chiến lược ứng phó chính: Ứng phó đặt trọng tâm vào vấn đề hay nhiệm vụ là những nỗ lực nhằm thay đổi môi trường khách quan bên ngoài, thường bao gồm những hành động đã được lên kế hoạch Ứng phó đặt trọng tâm vào cảm xúc là chiến lược trong đó con người cố gắng thay đổi suy nghĩ và cảm giác của mình về sự kiện vừa xảy ra, bằng cách rút một số kinh nghiệm, bài học qua tình huống, nhìn về phía sáng của vấn đề hoặc thể hiện những cảm xúc âm tính của mình Lảng tránh là chiến lược nhằm chạy trốn khỏi vấn đề, bằng cách che dấu suy nghĩ thực về vấn đề, làm lãng trí bằng các hoạt động khác, tích cực thoát ra khỏi tình huống [8]

● Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác nhau của các nhà nghiên cứu tùy theo hướng nghiên cứu của họ:

+ A Billing và R Moos xem xét 3 cách ứng phó: Đánh giá hoàn cảnh, tham

dự sâu vào hoàn cảnh và chạy trốn

+ Cách phân loại do P Vitaliano đưa ra: Đổ lỗi cho bản thân, lảng tránh và suy nghĩ mang tính tô hồng sự việc

+ H Weber cho rằng có 8 cách ứng phó cụ thể là: giải quyết vấn đề thực tế; tìm kiếm chỗ dựa xã hội; cải tạo hoàn cảnh theo hướng có lợi cho mình; tự vệ và từ chối vấn đề; láng tránh và khuất phục; tự giày vò; đánh giá thấp bản thân; thể hiện cảm xúc.[Dẫn theo 8]

Như vậy, việc phân loại các cách ứng phó là tương đối khó khăn, tuy nhiên chúng ta có thể tổng hợp những dấu hiệu của ứng phó như sau:

- Có tính định hướng hoặc trọng tâm (vào vấn đề, vào bản thân)

- Thuộc lĩnh vực tâm lý mà trong đó ứng phó được nảy sinh và phát triển (bao gồm hoạt động bên ngoài, tri giác hoặc tình cảm)

- Tính hiệu quả (có tính đến kết quả giải quyết khó khăn hay không)

- Tính thời gian để nhận được hiệu quả (tình huống đã được giải quyết một cách cơ bản hay còn cần thêm thời gian nữa)

- Hoàn cảnh – tình huống sinh ra hành vi ứng phó (tình huống khủng hoảng hay thường ngày

Trang 38

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng cách phân chia ứng phó theo hai cách: Cách thứ nhất là ứng phó tập trung vào nhận thức, hành vi và cảm xúc Thứ hai dựa vào hiệu quả của ứng phó phân chia thành 3 loại ứng phó tích cực, ứng phó trung tính và ứng phó không tích cực

Ứng phó với stress và lo âu + Một số chiến lược ứng phó có thể được áp dụng để ứng phó với stress Việc lựa chọn chiến lược chịu ảnh hưởng bởi các thông số thuộc về bản thân đương

sự cũng như các thông số thuộc về tình huống Những thông số cá nhân như giá trị (value) và niềm tin (belief) sẽ làm phát sinh hoặc loại bỏ một số cách thức hành động và ảnh hưởng đến cách thức của đương sự ứng phó như thế nào với các tác nhân gây stress Một kiểu cách đáp ứng cũng phải có sẵn trong “vốn sống” của đương sự Tóm lại, các kiểu hành động ứng phó phải “có sẵn” nơi đương sự và được đương sự chấp nhận

+ Tình huống xảy ra tác nhân gây stress cũng có thể ảnh hưởng đến phương thức mà đương sự áp dụng để ứng phó Hiển nhiên rằng, tác nhân gây stress tự nó

có thể thúc đẩy tính khả dụng và hiệu quả của các chiến lược ứng phó Nỗi mất mát

từ cái chết của một người mà mình thương yêu chủ yếu đòi hỏi một hình thức ứng phó định hướng cảm xúc, bởi không thể nào làm người chết sống lại Nội dung của tác nhân gây stress cũng thúc đẩy sự ứng phó Hậu quả không hay sẽ xảy ra nếu một người nào đó đánh ông chủ của mình vì những yêu cầu không hợp lí Những cố gắng ứng phó do vậy thường phải làm sao cho phù hợp với những áp lực và đòi hỏi của môi trường

1.5 Đặc điểm tâm lý – xã hội của học sinh trung học cơ sở

1.5.1 Một số đặc điểm sinh học ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý

Phát triển chiều cao và sự biến đổi: Chiều cao tăng phát triển nhanh chóng kéo theo đó là sự vụng, về lóng ngóng khi trẻ phải học cách điều khiển “bộ dạng mới” của mình Hooc môn “tính nam” và “tính nữ” đều tồn tại ở cả hai giới Các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự phụ thuộc lỏng lẻo giữa mức độ hooc môn ở lứa tuổi

vị thành niên với các đặc điểm về hành vi (Buchanan, Eccles & Becker, 1972) Đó là: sự cau có, trầm cảm, lo lắng – mất tập trung, tức giận, kích động, hoảng hốt,

Trang 39

hung hăng và những vấn đề hành vi khác…Tuy nhiên chúng ta cần nhắc tới ảnh hưởng của các nhân tố khác nữa

Giai đoạn tuổi vị thành niên được coi như giai đoạn thay đổi sinh học cực kì nhanh chóng ngang hàng với giai đoạn phát triển phôi thai và giai đoạn hài nhi Tuy nhiên trẻ vị thành niên vẫn cảm nhận được nỗi đau và sự sung sướng khi quan sát quá trình thay đổi này Các em nhận thấy được sự biến đổi của cơ thể, xúc cảm thay đổi Khi ngạc nhiên, khi tức giận hay mất bình tĩnh chúng thường so sánh bản thân mình với người khác để rồi xem xét lại chính “cái tôi” Đại diện cả hai giới đều hốt hoảng theo dõi sự phát triển của chính bản thân xem có hợp thời và đúng đắn hay không dựa trên những suy luận bằng kiến thức thực tế và cả những thông tin không chính xác Trẻ thường so sánh bản thân với những chuẩn mực xã hội được chấp nhận về giới của mình Trên thực tế nỗ lực cố gắng dung hòa giữa hiện thực và mơ mộng là vấn đề cốt lõi của trẻ vị thành niên Và việc các bậc cha mẹ phản ứng trước

sự biến đổi thể chất của con cái cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự thích ứng của trẻ

Dậy thì sớm hay muộn cũng gây ra các hệ quả, một trong số đó là ít có cơ hội trao đổi với bạn bè và những thay đổi trong cơ thể hay tình cảm Một vấn đề nữa là chúng cảm thấy đau khổ trong quá trình trưởng thành này (Ge, Conger & Elder, 1996) và thường bị đám bạn trêu chọc

Như vậy, sự phát triển sinh lý trong thời kỳ này dẫn đến sự mất cân bằng tạm thời, gây ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ Ví dụ, sự mất cân bằng giữa sự phát triển của các cơ quan nội tiết và hệ thần kinh trung ương là cơ sở của sự mất cân bằng chung, sinh ra tính dễ nổi nóng, dễ bị kích thích, tính hiếu động và hay gây gổ và cả tính uể oải, thờ ơ có chu kì ở trẻ vị thành niên Sự tăng trưởng mạnh và cải tổ về mặt sinh lý ở lứa tuổi này làm cho các em cảm thấy thực sự bỡ ngỡ và bối rối Thậm chí một số em ít được chuẩn bị trước cho việc chờ đón những biến đổi đó còn tỏ ra

lo lắng, hốt hoảng Bên cạnh đó, những thay đổi lớn của lứa tuổi này còn kéo theo không ít những thay đổi về tâm tư, tình cảm và ước mơ, nguyện vọng của các em

1.5.2 Sự thay đổi về mặt xã hội

Về phía nhà trường, khác với ở bậc tiểu học ở trường trung học có nhiều thay đổi trong cách thức dạy, học và các hoạt động khác Các em được xem như là

Trang 40

những học sinh đã được tích lũy một vốn kiến thức nhất định, có khả năng tự chủ hơn trong hoạt động học tập và trong sinh hoạt Phong cách giáo dục ở trường đòi hỏi các em có tinh thần tự giác cao, có khả năng thích nghi nhanh để có thể tiếp thu tốt nhất các môn học Phong cách sinh hoạt, nề nếp, kỷ luật cũng khắt khe hơn và nghiêm túc hơn Đây là một khó khăn đầu tiên mà thanh thiếu niên phải trải qua, từ một đứa trẻ với kỷ luật tương đối lỏng lẻo cùng với sự quan tâm của gia đình và thiết chế trường học đến một người chưa phải thành niên với nhiều vai trò đòi hỏi

có tính kỷ luật, tự giác và nghị lực, từ một đứa trẻ trong gia đình đến một thành viên trong xã hội Điều này khiến không ít thiếu niên chưa thích nghi kịp trở nên lo lắng, căng thẳng Đặc biệt là thời kì đầu chuyển cấp học

Về phía gia đình, các em không còn được xem là những đứa trẻ như trước đây, mà các em đã có một vị thế mới Ở thiếu niên xuất hiện nguyện vọng muốn làm người lớn, được đối xử như người lớn Tuy nhiên, người lớn vẫn coi các em như những đứa trẻ nhỏ Từ đó có sự mâu thuẫn khá phổ biến giữa người lớn và các

em trong giao tiếp ứng xử Nhiều trẻ tỏ ra bất bình trước việc bị đối xử không “công bằng” của người lớn thông quan thái độ ngang bướng, “anh hùng hảo hán” hay bất cần trong mối quan hệ với người lớn, trong công việc và trong sinh hoạt hằng ngày, hay trước những thất bại mà trẻ phải trải nghiệm

Như vậy, sự phát triển về mặt xã hội cũng kèm theo những lo lắng khi thiếu niên bước sang vị thế mới Tuy nhiên, nếu các em được giáo dục đúng đắn, phù hợp thì sự mất cân bằng về sinh lý, tâm lý và những mâu thuẫn, khó khăn về lứa tuổi sẽ qua đi Các em sẽ tiếp tục phát triển bình thường, khỏe mạnh

1.5.3 Sự phát triển tâm lý

Ở học sinh trung học cơ sở nhu cầu quan hệ với bố mẹ giảm đi, trái lại nhu cầu quan hệ với bạn bè ngày càng lớn Mối quan hệ bạn bè có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển tâm lý của trẻ Ý nghĩa của quan hệ bạn bè: Bạn bè là những người có những biến đổi tương tự nhau về mặt sinh lý và xã hội, có nhiều tâm tư nguyện vọng giống nhau, có cùng mức độ phát triển về mặt nhận thức… Bạn bè thường dễ hiểu và thông cảm cho nhau và dễ dàng nhanh chóng chấp nhận nhau

Ngày đăng: 27/06/2023, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Tú Anh (2010), “Bước đầu sử dụng “thang đo ứng phó của trẻ vị thành niên” để tìm hiểu đặc điểm ứng phó với khó khăn của trẻ vị thành niên thành phố Huế”, Tạp chí tâm lý học (10), tr. 20-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu sử dụng “thang đo ứng phó của trẻ vị thành niên” để tìm hiểu đặc điểm ứng phó với khó khăn của trẻ vị thành niên thành phố Huế”, "Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Trần Thị Tú Anh
Năm: 2010
2. Võ Văn Bản (2006), Thực hành điều trị tâm lý, Nxb Y học, tr. 277- 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành điều trị tâm lý
Tác giả: Võ Văn Bản
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2006
3. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển tâm lý học, Nxb từ điển bách khoa, tr.67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb từ điển bách khoa
Năm: 2008
4. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc Gia, tr. 117-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2012
5. Nguyễn Văn Đồng (2003), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Đỗ Thị Lệ Hằng (2009), “Các tác nhân gây stress và cách ứng phó của trẻ vị thành niên”, Tạp chí tâm lý học (7), tr. 20-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác nhân gây stress và cách ứng phó của trẻ vị thành niên”, "Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Đỗ Thị Lệ Hằng
Năm: 2009
7. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2001
8. Phan Thị Mai Hương (chủ biên) (2007), Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn, Nxb Khoa học xã hội, tr. 42-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Phan Thị Mai Hương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
9. Ngô Công Hoàn (2010), Giáo trình tâm lý học gia đình, Nxb Đại học sƣ phạm, tr. 86 – 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2010
10. Nguyễn Công Khanh (2003), Tâm lý trị liệu, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 185-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trị liệu
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
11. Phạm Minh Lăng (2004), Freud và phân tâm học, Nxb Văn hóa thông tin, tr. 46-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freud và phân tâm học
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
12. Nguyễn Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 20-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Nho
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
13. Phan Trọng Ngọ (chủ biên) (2001), Tâm lý học trí tuệ, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 295-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trí tuệ
Tác giả: Phan Trọng Ngọ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hướng (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học Sƣ Phạm Hà Nội, tr. 25 – 340 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Tác giả: Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hướng
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm Hà Nội
Năm: 2003
15. Nguyễn Thị Hằng Phương (2008), Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – Hà Nội, tr. 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng Phương
Năm: 2008
16. Patricia H. Miller (Vũ Thị Chín lƣợc dịch) (2003), Các lý thuyết về tâm lý học phát triển, Nxb Văn hóa thông tin, tr. 255-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết về tâm lý học phát triển
Tác giả: Patricia H. Miller (Vũ Thị Chín lƣợc dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
17. Pierreb Daco (Võ Phương Liên dịch) (2004), Những thành tựu lẫy lừng trong tâm lý học, Nxb thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu lẫy lừng trong tâm lý học
Tác giả: Pierreb Daco (Võ Phương Liên dịch)
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2004
18. Nguyễn Dục Quang (2004), Giáo dục trẻ em vị thành niên, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ em vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Dục Quang
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2004
19. Robert S.Feldman, Những điều trọng yếu trong tâm lý học, NXB thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều trọng yếu trong tâm lý học
Nhà XB: NXB thống kê
20. Paul Bennett (Nguyễn Sinh Phúc biên dịch) (2003), Tâm lý học dị thường và lâm sàng, tr. 48-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dị thường và lâm sàng
Tác giả: Paul Bennett (Nguyễn Sinh Phúc biên dịch)
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm