Đối tượng nghiên cứu Đối tượng chính của luận án là các chợ, tác giả xin lựa chọn một số chợ tỉnh, chợ phủ, chợ huyện và chợ làng ở Nam Định được hình thành, hoạt động trong giai đoạn 1
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, xây dựng trên
cơ sở kế thừa những ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước Kết quả nghiên cứu của luận án này là trung thực Những tư liệu trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Tác gi ả luận án
Bùi Văn Huỳnh
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ của các thầy, cô, cơ quan, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè Tôi xin được gửi tới những người đã đồng hành cùng bản thân trong quá trình học tập, nghiên cứu, viết luận án lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Trước hết, tôi xin kính trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Minh Tường – người thầy hướng đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt phương pháp, kiến thức và tư duy để hoàn thành luận án này cũng như trong nhiều công việc chuyên môn khác
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cơ quan Viện Sử học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, công tác Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Viện
Sử học qua các thời kỳ, cảm ơn các đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong hội đồng đánh giá luận án qua các cấp đã góp những
ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện luận án Trân trọng cảm ơn sự giúp
đỡ của các cán bộ Thư viện Viện Sử học, Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Thư viện tỉnh Nam Định, Thư viện tỉnh Thái Bình, Bảo tàng tỉnh Nam Định Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cơ sở đào tạo Học viện Khoa học xã hội
Tôi trân quý gửi lời cảm ơn gia đình, bố mẹ, vợ con, anh chị em và bạn bè đã giúp đỡ về mặt vật chất, tinh thần, động viên, khích lệ cho tôi tham gia học chương trình nghiên cứu sinh và hoàn thành luận án này
Và cuối cùng, luận án này được hoàn thành như một nén tâm nhang tôi thành kính tri ân người thầy đã quá cố của mình là PGS.TS Hà Mạnh Khoa – người đã hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong một nửa thời gian đầu của quá trình học nghiên cứu sinh và làm luận án
Trân trọng cảm ơn!
Hà N ội, mùa Xuân 2023
Tác giả
Trang 5Bùi Văn Huỳnh
Trang 6M ỤC LỤC
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ
1.1 Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 9 1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội có đề cập đến chợ 9
1.1.3 Các công trình nghiên cứu của tỉnh Nam Định, Thái Bình có đề
1.2 Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 22
1.4 Những nội dung luận án tiếp tục giải quyết 24 Chương 2: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỢ Ở TỈNH NAM
2.1 Một số khái niệm và các loại hình chợ 26
2.2 Những yếu tố tác động đến sự hình thành và hoạt động của chợ 28
Trang 72.2.3 Yếu tố kinh tế 36
2.2.6 Chính sách quản lý chợ của triều Nguyễn 54
Trang 84.2.1 Đối với đời sống kinh tế ở địa phương 122
4.2.3 Vai trò của chợ đối với quá trình đô thị hoá ở đô thị Nam Định 138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
Trang 10DANH M ỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1: Số nhân đinh làm nghề buôn bán ở phủ Xuân
Trường và phủ Nghĩa Hưng đầu thế kỷ XX
47
2 Bảng 2.2: Đơn vị tiền tệ thời Nguyễn 58
3 Bảng 2.3: Đơn vị đo trọng lượng thời Nguyễn 59
Trang 114 Bảng 2.4: Đơn vị đo chiều dài thời Nguyễn 59
5 Bảng 2.5: Đơn vị đo dung lượng thời Nguyễn 60
6 Bảng 2.6: Tên chữ Hán và tên Nôm của một số chợ trên
địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890
9 Bảng 4.3: Tỷ lệ đất đai so với số chợ ở phủ Xuân Trường
và phủ Nghĩa Hưng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
108
10 Bảng 4.4: Số nhân khẩu và số chợ ở phủ Xuân Trường và
phủ Nghĩa Hưng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
108
11 Bảng 4.5: Vị trí của các chợ ở huyện Nam Trực cuối thế
kỷ XIX so với hiện nay
117
Trang 121 Tính c ấp thiết của đề tài
Chợ không chỉ là nơi giao lưu, trao đổi, mua bán hàng hóa, mà còn hàm chứa nhiều khía cạnh của đời sống xã hội, văn hóa Nghiên cứu chợ giúp chúng ta hiểu thêm về đời sống kinh tế của nhân dân, qua đó có thể lý giải nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử và sinh hoạt của người dân các vùng miền Với những vai trò và
ý nghĩa trong đời sống, chợ đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Sử học, Kinh tế học, Dân tộc học, Văn hoá học, Xã hội học… Riêng đối với Sử học, chợ từ lâu đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu lịch sử Cổ - Trung đại Việt Nam Bởi, hơn ở đâu hết, chợ cùng với đình, chùa, làng xã chính là những nơi còn in dấu đậm nét về truyền thống văn hóa của nhân dân từ xa xưa Như vậy, về mặt khoa học, nghiên cứu chợ mang nhiều ý nghĩa quan trọng và thiết thực,
là một vấn đề có tính cấp thiết và hoàn toàn có cơ sở để đi vào nghiên cứu chuyên
sâu
Trên thực tế các chợ hiện nay đang phát huy vai trò tích cực trước hết là trên lĩnh vực kinh tế, trao đổi, mua bán hàng hóa Mặc dù trong đời sống hiện đại xuất hiện nhiều loại hình thương mại mới như mua bán tại các siêu thị, cửa hàng tiện ích, mua bán qua các kênh truyền hình, thương mại điện tử, mua bán hàng qua các nền tảng ứng dụng Zalo, Facebook trên internet… Nhưng hoạt động mua bán tại các chợ không vì thế mà giảm sút, nó vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thương mại Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2020, trên cả nước có 8.581 chợ đang hoạt động [167, tr.622] Tính chung trên cả nước, giá trị hàng hóa dịch vụ qua hệ thống chợ chiếm hơn 40% Số lượng chợ gấp gần 13 lần các loại hình thương mại khác Tổng số người buôn bán tại các chợ là hơn 2 triệu người, riêng các chợ khu vực nông thôn chiếm 78,35% tổng số chợ Vì vậy, một yêu cầu thực tiễn đặt ra là cần có quy hoạch tổng thể hệ thống chợ trên quy mô toàn quốc cũng như ở từng địa phương Để làm được việc này, trước hết phải nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về các chợ xưa và nay làm cơ sở cho việc lập quy hoạch Việc nghiên cứu chợ cũng mang ý
nghĩa thực tiễn
Trang 13Khu vực đồng bằng Bắc Bộ là nơi có mật độ chợ dày đặc nhất cả nước Nam Định và Thái Bình là hai tỉnh có nhiều chợ được hình thành từ lâu đời, đang hoạt động phục vụ đời sống nhân dân Hoạt động thương mại thông qua chợ ở Nam Định
và Thái Bình khá phát triển so với các tỉnh lân cận Cũng theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 12 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nam Định có 201 chợ lớn nhỏ, tỉnh Thái Bình có 218 chợ, tỉnh Hải Dương có 172 chợ, tỉnh Hưng Yên có 107 chợ, tỉnh Ninh Bình có 110 chợ, tỉnh Hà Nam có 110 chợ, tỉnh Bắc Ninh có 108 chợ, tỉnh Vĩnh Phúc có 126 chợ, thành phố Hải Phòng có 156 chợ [167, tr.622] Với sự phát triển của hệ thống chợ ở Nam Định và Thái Bình hiện nay, việc nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống chợ ở đây mang tính khoa học và thực tiễn cao
Chợ thường gắn với các hoạt động thương nghiệp, quy mô của hệ thống chợ phản ánh sự phát triển nền thương nghiệp (nhất là lĩnh vực nội thương) ở từng địa phương qua các thời kỳ lịch sử Tỉnh Nam Định nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là mảnh đất có bề dầy văn hiến, nền tảng kinh tế truyền thống ở đây khá vững chắc so với nhiều địa phương khác Mặt khác, khu vực đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Nam Định nói riêng là nơi sớm có sự du nhập của Nho giáo, ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với đời sống nhân dân hết sức sâu rộng Vấn đề kinh tế nói chung, buôn bán nói riêng là những lĩnh vực ít được Nho giáo quan tâm Phần lớn Nho gia đều chủ trương “Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt” (以 農 為 本 以 商 為 末), tức coi nông nghiệp là “bản nghiệp” (本業) (nghề gốc) của quốc gia, coi thương nghiệp
là “mạt nghiệp” (末 業) (nghề ngọn) Vậy, trong bối cảnh triều Nguyễn còn đề cao vai trò của Nho giáo, và với sự phát triển của mạng lưới chợ ở thế kỷ XIX được Nhà nước quân chủ triều Nguyễn ứng xử như thế nào? Để giải quyết vấn đề này, bên cạnh việc nghiên cứu về Nho giáo, cần có những nghiên cứu về thương nghiệp nói chung và nghiên cứu chợ nói riêng
Chợ không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà nó còn là nơi thể hiện đời sống văn hóa, xã hội của người dân ở các địa phương Nhiều nơi xuất hiện loại hình chợ chùa hay những chợ họp gần đình, đền là những địa điểm người dân thường kết hợp việc đi chợ với những hoạt động tâm linh, lễ bái Chợ cũng là nguồn cảm hứng cho
sự ra đời những câu ca dao, tục ngữ nói về những phong tục, tập quán liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội Những vấn đề kiêng kỵ khi đi chợ cũng là một phần
Trang 14thể hiện tâm lý xã hội Bởi vậy, nghiên cứu về chợ còn giúp chúng ta hiểu thêm về
đời sống văn hóa, xã hội truyền thống của nhân dân
Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tác giả chọn vấn đề “Chợ ở tỉnh Nam Định
t ừ năm 1831 đến năm 1890” làm đề tài nghiên cứu của luận án này
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận án Chợ ở tỉnh Nam Định từ năm 1831 đến năm 1890, tác giả
nhằm mục đích nghiên cứu về nguồn gốc, quy mô, hoạt động, đặc điểm và vai trò của mạng lưới chợ ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn 1831-1890
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đề ra khi nghiên cứu luận án, tác giả cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:
- Th ứ nhất: Khái quát bức tranh kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định từ năm 1831
đến năm 1890 để thấy được những nhân tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến việc hình thành và hoạt động của các chợ
- Th ứ hai: Tìm hiểu những chính sách của triều Nguyễn đối với hệ thống chợ
nói chung và quá trình thực hiện những chính sách đó ở Nam Định để xây dựng mạng lưới chợ rộng khắp
Th ứ ba: Làm rõ nguồn gốc, quy mô và hoạt động của các chợ trên địa bàn tỉnh
Nam Định giai đoạn 1831 - 1890
Th ứ tư: Nghiên cứu mở rộng, so sánh chợ ở Nam Định với một số địa phương
lân cận và giữa các địa bàn khác nhau ở Nam Định để thấy được đặc điểm, vai trò của mạng lưới chợ ở Nam Định đối với kinh tế, xã hội địa phương cũng như cả nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận án là các chợ, tác giả xin lựa chọn một số chợ tỉnh, chợ phủ, chợ huyện và chợ làng ở Nam Định được hình thành, hoạt động trong giai đoạn 1831 – 1890 để nghiên cứu Trong trường hợp cần thiết, tác giả cũng tìm hiểu thêm một số hoạt động của các làng nghề, làng buôn, phố buôn ở Nam Định liên quan đến việc trao đổi sản phẩm tại chợ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- V ề thời gian: Luận án có giới hạn khung thời gian nghiên cứu chính là từ
năm 1831 đến năm 1890 Năm 1831, vua Minh Mệnh tiến hành cuộc cải cách hành
Trang 15chính bỏ đơn vị hành chính “trấn”, chia đất Bắc Thành làm 11 tỉnh, từ đây ra đời tỉnh Nam Định Năm 1890 là năm chính quyền Pháp tách một số huyện của tỉnh Nam Định, kết hợp với một số huyện của tỉnh Hưng Yên để thành lập tỉnh Thái
Bình
- V ề không gian: Luận án nghiên cứu trên vùng đất Nam Định đặt trong
không gian hành chính từ năm 1831 đến năm 1890 bao gồm các phủ: Thiên Trường (Xuân Trường), Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Thái Bình, và phân phủ Nghĩa Hưng, phân phủ Thái Bình thuộc tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian trên
- V ề nội dung: Luận án nghiên cứu về chợ ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn
1831 – 1890, bao gồm các nội dung:
+ Nguồn gốc, quy mô và những hoạt động chính trong chợ ở tỉnh Nam Định + Đặc điểm và vai trò của chợ Nam Định đối với đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội địa phương
4.1 Phương pháp luận
Thực hiện đề tài, tác giả dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội mà nghiên cứu toàn bộ xã hội với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các chính sách nhằm quản lý xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt đời sống trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản nhất của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khách quan và khoa học, hai phương pháp chính được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử: Được tác giả vận dụng để trình bày điều kiện và quá
trình hình thành, hoạt động, phát triển của các chợ ở Nam Định Nhiệm vụ của phương pháp lịch sử là thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu các vấn đề theo tiến trình lịch đại Đối với luận án này, phương pháp lịch sử là trình bày sự ra đời lần lượt của các loại hình chợ và những chợ tiêu biểu cụ thể ở tỉnh Nam Định Nhiều chợ
ra đời từ thời kỳ trước nhưng vẫn còn duy trì hoạt động trong khoảng thời gian nghiên cứu của đề tài; cũng có những chợ ra đời trong khoảng thời gian trên nhưng
do điều kiện khách quan hay chủ quan mà nó duy trì phát triển hay bị lụi tàn ở thời
Trang 16Cùng với 2 phương pháp chính trên, tác giả còn kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như:
Phương pháp so sánh: Nhằm tìm ra những điểm khác biệt của chợ ở tỉnh
Nam Định với những địa phương khác trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ cũng như trên cả nước và sự khác biệt ngay trong tỉnh ở những giai đoạn lịch sử khác nhau Từ
đó đưa ra những cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá vấn đề
Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp: Xây dựng các
bảng thống kê những số liệu cần thiết Trên cơ sở các bảng thống kê đã được lập, tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu để rút ra những nhận định, đánh giá khách quan, chân thực về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điền dã: Với một đề tài nghiên cứu về một khu vực địa lý cụ
thể thì việc sử dụng phương pháp điền dã có vai trò quan trọng Phương pháp điền
dã để khảo sát thực địa, thu thập tư liệu địa phương góp phần bổ khuyết cho những
tư liệu chính sử giúp nghiên cứu trở nên cụ thể, khách quan và có những đánh giá chính xác hơn trong nghiên cứu
Phương pháp liên ngành: Là phương pháp nhằm nghiên cứu nhiều mặt kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Nam Định Tác giả sử dụng kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học khác như Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hoá học, Kinh tế học, Xã hội học từ đó tìm ra mối liên hệ, tác động qua lại giữa các vấn đề, rút ra những đánh giá về nguyên nhân - hệ quả của một sự kiện, hiện tượng đối với đối tượng khác
4.3 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành luận án, tác giả tập hợp và nghiên cứu những tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau cả các tài liệu thành văn, tư liệu dân gian, tư liệu hiện vật và tài
liệu thực tế, gồm:
- Những bộ sách được biên soạn dưới thời Nguyễn như:
Trang 17+ Đại Nam thực lục: Là bộ chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà
Nguyễn Bộ sách được Quốc sử quán triều Nguyễn tổ chức biên soạn trong 88 năm (từ năm Minh Mệnh thứ 2 – 1821 đến năm Duy Tân thứ 3 – 1909) Công trình được biên soạn theo lối biên niên (chép sự kiện theo trình tự năm, tháng) gồm 2 phần Tiền
biên và Chính biên: Đại Nam thực lục tiền biên (còn gọi là Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi chép về sự nghiệp của 9 đời chúa Nguyễn: từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến năm Nguyễn Phúc Thuần mất (1777) Đại Nam thực lục
chính biên ghi chép lịch sử triều Nguyễn, từ thời Nguyễn Ánh đến thời Đồng Khánh Đây là bộ sử gốc quý giá, có giá trị lớn cho việc nghiên cứu các vấn đề lịch sử triều Nguyễn
+ Đại Nam thực lục chính biên Đệ lục kỷ phụ biên: Tiếp theo bộ Đại Nam thực
l ục trên, bộ sách này chép lịch sử thời Thành Thái (1889 – 1907) và Duy Tân (1907
– 1916) Sách được biên soạn khoảng từ năm 1922 đến năm 1942
+ Đại Nam nhất thống chí: Là bộ sách địa lý học – lịch sử lớn được biên soạn
dưới thời vua Tự Đức (1848 – 1883) Bộ sách cung cấp khá nhiều tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung Đối với đề tài này, Đại Nam nhất
th ống chí có những thống kê, ghi chép về số chợ của từng tỉnh ở giữa thế kỷ XIX + Đại Nam liệt truyện (Tiền biên và Chính biên): Là bộ sách được Quốc sử
quán triều Nguyễn khởi soạn từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909) Sách chép về tiểu sử, sự nghiệp của các vị Hậu phi, Hoàng tử, Công chúa, các bề tôi trung thành với chúa Nguyễn, quan lại có công với triều Nguyễn, những người tiết nghĩa Trong sách cũng chép một số truyện về những người chống lại nhà Nguyễn và một số ghi chép về các vương quốc, tiểu quốc láng giềng như: Thủy Xá, Hỏa Xá, Vạn Tượng, Cao Miên, Xiêm La, Miến Điện Bộ sách có ghi chép về một số quan lại người Nam Định đã có công tổ chức khẩn hoang, lập làng,
mở chợ ở Nam Định trong thế kỷ XIX
+ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ: Là bộ sách lớn do Nội các triều Nguyễn
biên soạn từ năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) đến năm Tự Đức thứ 8 (1855) được khắc
in Bộ sách này được biên soạn theo thể Hội điển, chủ yếu chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của triều Nguyễn + Cùng với bộ Hội điển trên, Quốc sử quán Triều Nguyễn còn biên soạn bộ
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên Công trình này được làm từ năm Thành
Thái thứ nhất (1889) đến năm Thành Thái thứ 7 (1895) và khắc in năm Khải Định
Trang 18thứ 2 (1917) Bộ sách cũng chứa đựng lượng thông tin khá phong phú về lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
+ Đồng Khánh địa dư chí: Là bộ sách địa lý học - lịch sử lớn được hoàn thành
dưới thời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) Sách ghi chép về địa giới hành chính, thành trì và các vấn đề phong tục tập quán, ruộng đất, thuế khóa, binh lính, núi sông, sản vật, đường đi của 25 tỉnh (từ Cao Bằng đến Bình Thuận) Kèm theo những ghi chép là các tập bản đồ vẽ các tỉnh, phủ, huyện Đây là nguồn tư liệu quan trọng phục
vụ việc nghiên cứu các vấn đề lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX
+ Hoàng Vi ệt luật lệ (Luật Gia Long): Là bộ luật được vua Gia Long cho biên
soạn trong thời gian đầu ông ở ngôi Hoàng đế Bộ luật được xây dựng trên cơ sở tham khảo bộ Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) dưới thời Lê ở Việt Nam và bộ
Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc Năm 1816, bộ luật được ban hành gồm 22 quyển
với 398 điều Nội dung chính của luật là những điều lệ trong quản lý đất nước Trong thời gian đầu, luật được áp dụng trên cả nước Từ cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp xâm lược nước Đại Nam thì bộ luật này được áp dụng ở Trung Kỳ đến năm 1945
+ Qu ốc triều chính biên toát yếu: Là bộ sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên
soạn đầu thế kỷ XX Nội dung sách ghi chép ngắn gọn về lịch sử nhà Nguyễn từ thời Nguyễn Ánh – Gia Long (1778 – 1819) đến thời Đồng Khánh (1886 – 1888) Bộ sách là một công trình có tính bao quát và là một nguồn sử liệu quan trọng tái hiện
sự thành lập và phát triển của nhà Nguyễn trong hơn một thế kỷ Công trình này biểu thị những giai đoạn thăng trầm khác nhau của vương triều quân chủ cuối cùng và đồng thời làm nổi bật hình ảnh một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, nền văn hoá đa dạng
- Những công trình của các tác giả đương thời như: Hoàng Việt nhất thống địa dư
chí của Lê Quang Định (1806), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
(1819), B ắc Thành dư địa chí lược của Lê Chất, Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng
- Những ghi chép của người Việt Nam hoặc người nước ngoài đương thời như:
Chuy ến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký, Un campagne au Tonkin
(Một chiến dịch ở Bắc Kỳ) của bác sĩ người Pháp Hocquar
- Các sách thông sử, công trình chuyên khảo, biên khảo của người Việt Nam và
người nước ngoài có liên quan đến đề tài
Trang 19- Các bài báo, tạp chí khoa học
- Các sách địa phương chí, lịch sử địa phương như: Nam Định tỉnh địa dư chí
m ục lục (1893) của Nguyễn Ôn Ngọc, Thái Bình phong vật chí (1900) của Phạm Văn Thụ, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược (1915) của Khiếu Năng Tĩnh, Thái Bìn h địa dư ký
- Các văn bia, thư tịch cổ, gia phả, thần tích, tục lệ, địa bạ
- Nguồn văn học dân gian tại địa phương
- Những hiện vật khảo cổ, di tích lịch sử - văn hóa
- Tài liệu lưu trữ tại các Trung tâm lưu trữ quốc gia và lưu trữ tại địa phương Ngoài ra tác giả còn thu thập nhiều tài liệu từ các cơ quan, ban, ngành có liên quan ở địa phương như: Ban Quản lý di tích và danh thắng, Bảo tàng, Thư viện của các tỉnh Nam Định, Thái Bình và tư liệu điền dã
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về chợ ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn 1831 – 1890 Luận án góp phần bổ khuyết cho những nghiên cứu về chợ nói riêng và thương nghiệp nói chung, cũng như góp phần làm sáng
tỏ bức tranh thương nghiệp tại tỉnh Nam Định trong giai đoạn trên
Luận án góp phần nghiên cứu về lịch sử làng xã nói chung cũng như lịch sử kinh tế làng xã tại Nam Định nói riêng
Luận án cũng là một công trình nghiên cứu góp phần vào việc tìm hiểu vùng đất Nam Định trong lịch sử
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án hoàn thành góp phần khẳng định vai trò, vị trí của Nhà nước, chính quyền địa phương và nhân dân trong việc xây dựng, quản lý các hoạt động buôn bán nói chung cũng như quản lý chợ nói riêng
Luận án nêu ra và phân tích một số khái niệm có liên quan đến chợ, trình bày những chính sách quản lý chợ dưới triều Nguyễn Trên cơ sở đó áp dụng cho việc đánh giá mạng lưới chợ ở các địa phương nói chung và ở Nam Định nói riêng
Luận án cũng có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu những vấn đề về buôn bán nói chung và một số vấn đề lịch sử địa phương
7 C ấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương:
Trang 20Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề
tài luận án
Chương 2: Những yếu tố tác động đến chợ ở tỉnh Nam Định (1831 – 1890)
Chương 3: Nguồn gốc, quy mô và hoạt động của chợ ở tỉnh Nam Định
(1831 – 1890)
Chương 4: Đặc điểm và vai trò của chợ ở tỉnh Nam Định (1831 – 1890)
Trang 21Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nh ững công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội có đề cập đến chợ
Hoạt động buôn bán nhỏ ít được coi trọng trong xã hội Việt Nam thời quân chủ, nhưng đó lại là những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống mưu sinh của một bộ phận không nhỏ cư dân Vì vậy, trong nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đã chú ý đề cập đến vấn đề này Chợ và các hoạt động buôn bán thường được đề cập gắn liền với nhau trong nhiều công trình của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kinh tế
Cuốn “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của tác giả Nguyễn Thế Anh được NXB Lửa Thiêng xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn năm
1968 Đây là một tác phẩm nghiên cứu về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam ở thế kỷ XIX Trong đó, hoạt động thương mại được tác giả trình bày trong Chương 5 của cuốn sách Đánh giá về hoạt động nội thương dưới triều Nguyễn, tác giả có những nhận xét cho rằng: Ở lĩnh vực nội thương đã có những luồng mậu dịch khá mạnh mẽ cho phép trao đổi hàng hoá, thổ sản giữa những làng, những vùng khác nhau Đối với vai trò của chợ, ông cho là: “Trong vùng quê, các chợ chỉ là nơi dân cư các làng lân cận họp mỗi ngày hay mỗi phiên chợ để trao đổi nông phẩm hay chế phẩm của tiểu công nghệ” [1, tr.241] Nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh cũng cho thấy vai trò của các thương nhân người Hoa dần chiếm địa vị quan trọng trong thương nghiệp triều Nguyễn, ông không đánh giá cao vai trò của chợ đối với hoạt động thương nghiệp dưới triều Nguyễn
Tác giả Trương Thị Yến là một trong những người dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu về các chính sách và hoạt động thương nghiệp Việt Nam thời quân chủ: Bài viết “Bước đầu tìm hiểu về chính sách thương nghiệp của nhà nước phong kiến
Vi ệt Nam thế kỷ XVII-XVIII” trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 (187) năm 1979
là công trình nghiên cứu khá sớm về những chính sách nội thương, ngoại thương của triều đình Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Năm 1981, tác giả tiếp tục công bố chuyên luận “Nhà Nguyễn với các thương nhân người Hoa thế kỷ XIX” trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 (198) Với bài viết này,
tác giả nghiên cứu về những nhóm cộng đồng người Hoa chuyên làm nghề buôn bán
Trang 22ở Việt Nam và những chính sách đặc thù của nhà Nguyễn dành riêng cho họ Năm
1993, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử cho xuất bản số chuyên san về nhà Nguyễn trong lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX (số 6 (271) năm 1993) Trong chuyên san này, tác giả
Trương Thị Yến có chuyên luận “Vài nét về thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” Bài viết này, tác giả nghiên cứu về nội thương và ngoại thương Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858 Ở hoạt động nội thương, ngoài những hoạt động thương nghiệp mang tính chất nhà nước, tác giả còn phân tích những hoạt động thương nghiệp của nhân dân trong các trung tâm thương nghiệp như Hà Nội, Hội An, hoạt động tại các chợ địa phương, hoạt động của các phường buôn Luận án Tiến sĩ
“Chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” của Trương Thị
Yến bảo vệ tại Viện Sử học, năm 2004 là công trình nghiên cứu công phu, tỉ mỉ, có chất lượng và giá trị cao về mặt khoa học Trong Chương 2 của Luận án, tác giả trình bày về chính sách nội thương của triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX với những phân tích và đánh giá về nhiều chính sách quan trọng như: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, giá cả, thống nhất các đơn vị đo lường Luận án là công trình có giá trị tham khảo tốt khi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến kinh tế thương nghiệp nói chung cũng như các vấn đề về chợ, phố, thuế khóa Năm 2006, tác giả tiếp tục công bố chuyên luận: “Giao tử vụ-Một trong những chính sách tiền tệ của
tri ều Nguyễn được thực thi ở Cao Bằng” trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 12
(368) Tác giả khảo cứu về một cơ quan đặc biệt của triều Nguyễn được thành lập ở khu vực biên giới Việt - Trung tại Cao Bằng nhằm thực thi chính sách tiền tệ của triều đình đối với các hoạt động thương mại vùng biên Bài “Thuế biệt nạp dưới thời
Nguy ễn” in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong l ịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” do Hội khoa học Lịch sử Việt
Nam phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức năm 2008 Bài viết này, Trương Thị Yến khảo cứu về một loại thuế cụ thể là thuế biệt nạp là loại thuế đánh vào các ngành nghề thủ công nghiệp, các nguồn thu nông, lâm nghiệp, thủy sản Người dân làm ngành nghề gì thì phải nộp thuế bằng chính những sản phẩm mà mình làm ra
Số lượng đánh thuế tùy thuộc vào từng hạng dân đinh và quy mô sản xuất Người nộp thuế biệt nạp sẽ được miễn trừ thuế đinh, nghĩa vụ lao dịch và binh dịch Nhìn chung, các nghiên cứu của tác giả Trương Thị Yến đề cập nhiều vấn đề trong lĩnh vực thương nghiệp, trong đó có những nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận án này
Trang 23Trong nhiều công trình của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội có đề cập đến vấn đề thương mại: Luận án Phó Tiến sĩ “Thăng
Long - Hà N ội thế kỷ XVII - XVIII - XIX” bảo vệ năm 1983 tại Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội, Nguyễn Thừa Hỷ tập trung nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội ở các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội Năm 1993, luận án được tác giả chỉnh
lý, bổ sung in thành sách, năm 2010 NXB Hà Nội in lại với tựa đề “Kinh tế - Xã hội
đô thị Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII – XVIII - XIX” Cùng với luận án, tác giả cũng có những chuyên luận đăng trên Tạp chí khoa học như “Phố phường Thăng Long - Hà N ội trong những thế kỷ XVII – XVIII - XIX” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
số 210+211, năm 1983) Những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ viết về Thăng Long - Hà Nội với những hoạt động thương mại nổi bật của các chợ, phố, phường buôn bán Những nghiên cứu trên cung cấp nhiều tư liệu cho việc nghiên cứu, so sánh hoạt động thương mại giữa các địa phương
Về vấn đề kinh tế thương nghiệp Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc cũng thể hiện sự quan tâm nghiên cứu về mạng lưới chợ và bức tranh thương nghiệp nông thôn Việt Nam qua những nghiên cứu của mình như: “Mấy nét về kết cấu kinh
t ế của một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX” (Tạp chí Nghiên
c ứu Lịch sử, số 218, năm 1984); “Mấy ý kiến về hoạt động thương nghiệp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII - XIX “ (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 224, năm
1985, viết chung với Phan Đại Doãn); “Thương nghiệp ở nông thôn Việt Nam truyền
th ống, mấy hiện tượng đáng lưu ý” (Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 171, năm 1989) Năm 1993, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho xuất bản cuốn “Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX” của Nguyễn Quang Ngọc Đối tượng
nghiên cứu chính của cuốn sách này là một số làng buôn như làng Đa Ngưu, tỉnh Hưng Yên; làng Báo Đáp, tỉnh Nam Định; làng Phù Lưu, tỉnh Bắc Ninh; làng Đan Loan, tỉnh Hải Dương Tác giả cũng đã phân tích và trình bày những nét cơ bản về hoạt động mua bán ở chợ và hình thức làng buôn Trong các công trình nghiên cứu này, tác giả đã có những luận giải về lý thuyết thương nghiệp, kinh tế hàng hóa Cuốn “Nông thôn và đô thị Việt Nam – Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến
đổi” (NXB Giáo dục Việt Nam, 2018) tập hợp những công trình nghiên cứu tiêu
biểu của tác giả Nguyễn Quang Ngọc về nông thôn và đô thị truyền thống ở Việt Nam Cuốn sách có in nhiều bài viết của tác giả về quá trình hình thành làng xã, làng buôn, buôn bán tại một số chợ quê, sự phát triển các đô thị Việt Nam thời trung đại
Trang 24Một phần quan trọng của cuốn sách là những nghiên cứu về phương thức tổ chức quản lý nông thôn và đô thị, trong đó có việc tổ chức quản lý kinh tế làng xã trên các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại làng xã Cuốn sách cũng có ý nghĩa tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án này
Trong cuốn “ Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội” (xuất
bản lần đầu tại NXB Mũi Cà Mau, 1992), tác giả Phan Đại Doãn cũng có những đánh giá về mạng lưới chợ làng, những hoạt động thương nghiệp tại các chợ, thị tứ, các tụ điểm buôn bán khác Tác giả xuất phát từ góc nhìn Sử học, Xã hội học để nghiên cứu những vấn đề của làng xã Việt Nam và liên hệ với thực tiễn đất nước để phân tích những vấn đề cốt yếu của làng xã, trong đó có vấn đề thương mại làng xã Trên cơ sở phân loại chợ làng, phân tích các mặt hàng buôn bán, hệ thống hóa mạng lưới chợ làng, tác giả đã đưa ra nhận định: “Chợ làng có vai trò thương nghiệp rất quan trọng”
Năm 1997, NXB Thuận Hóa cho ấn hành cuốn sách “Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn” của tác giả Đỗ Bang Cuốn sách đã trình bày bức tranh thương
nghiệp Việt Nam dưới sự quản lý, điều hành của triều Nguyễn Trong đó, phần viết về hoạt động nội thương, tác giả đã có những phân tích và đưa ra nhận định Nhà nước chưa thực sự khuyến khích tư nhân phát triển thương nghiệp và chủ trương ức thương Tuy nhiên, về phạm vi không gian, cuốn sách không nghiên cứu toàn bộ lãnh thổ Việt Nam mà chủ yếu đề cập đến thương nghiệp ở các tỉnh miền Trung
Nghiên cứu về chính sách quản lý chợ và thương mại trước thời Nguyễn, tác giả Nguyễn Thị Phương Chi có chuyên luận “Chính sách của nhà nước Lê sơ đối
v ới hoạt động thương mại ở nông thôn” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (485)
năm 2016) Trong bài viết, tác giả đã trình bày và phân tích những chính sách quan trọng của nhà nước Lê sơ như: Chính sách thống nhất tiền tệ, định lệ mở chợ, quy định các mặt hàng cấm bán ở chợ, cấm quan lại sách nhiễu khi mua hàng, phát triển giao thông phục vụ cho thương mại Một số chính sách của nhà Lê được nhà Nguyễn kế thừa trong việc quản lý đất nước Bài viết có giá trị tham khảo cao cho tác giả khi nghiên cứu về vấn đề quản lý chợ dưới thời quân chủ Việt Nam
Cuốn “Thương nhân Việt Nam xưa – Lịch sử, vấn đề và giai thoại” của tác
giả Nguyễn Thanh Tuyền được NXB Văn hóa văn nghệ TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2019 là một tác phẩm tập hợp nhiều mẩu chuyện, giai thoại về các thương nhân Việt Nam thời quân chủ Tác phẩm này góp thêm một góc nhìn về các thương nhân Việt Nam xưa từ những người bán lớn đến các tiểu thương bán hàng ngoài chợ
Trang 25Trong bộ “Lịch sử Việt Nam” - bộ thông sử lớn nhất của giới sử học Việt Nam từ trước đến nay do các nhà nghiên cứu của Viện Sử học biên soạn được NXB KHXH ấn hành trong các năm 2007, 2013, 2014 và được tái bản lần thứ nhất năm
2017 với 15 tập cũng có những phần viết về hoạt động thương nghiệp Việt Nam thế
kỷ XIX trong đó, các tác giả dành một phần nội dung viết về mạng lưới chợ giai
đoạn 1802-1896 trong các tập: tập 5: từ năm 1802 đến năm 1858 (Trương Thị Yến CB), tập 6: từ năm 1858 đến năm 1896 (Võ Kim Cương CB) Trong tập 5 của bộ
sách, các tác giả đã dành riêng một phần viết về mạng lưới chợ đặt trong những hoạt động buôn bán của nhân dân Nội dung này, các tác giả cũng khẳng định chợ đã có
từ lâu đời, phục vụ hoạt động buôn bán của nhân dân Dưới triều Nguyễn, mạng lưới chợ càng được mở rộng Mạng lưới chợ này được thể hiện rõ qua bảng thống kê phố, chợ, quán ở các địa phương Ở tập 6, phần viết về thương mại nửa cuối thế kỷ XIX, các tác giả tiếp tục khẳng định “Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối, dù những người này chỉ là thiểu số Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ” [23, tr.379]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chợ
Nghiên cứu trực tiếp về chợ được nhiều tác giả chú ý đến trong các công trình chuyên khảo, biên khảo, luận văn, luận án cũng như các chuyên luận khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành Những công trình này khá phong phú và đa dạng, gồm:
M ột số sách chuyên khảo, biên khảo, luận án về chợ
Chợ truyền thống Việt Nam không chỉ là đề tài hấp dẫn đối với giới Sử học, Dân tộc học mà nó còn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác của KHXH Những năm gần đây, nhiều công trình chuyên khảo, tham luận và những luận án tiến sĩ về chợ thuộc nhiều lĩnh vực khoa học đã được công bố rộng rãi, như:
Luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Lê Thị Mai “Chợ nông thôn Châu thổ
sông H ồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới (Trường hợp chợ Ninh Hi ệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang)” bảo vệ tại trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002 Công trình tập trung nghiên cứu về nguồn gốc xã hội của chợ quê; cấu trúc xã hội và quan hệ thương mại của những chủ thể kinh doanh trong chợ quê; sự vận động và hướng phát triển của chợ quê Từ những
Trang 26nội dung trên, tác giả cũng rút ra những nhận xét về vai trò của chợ quê, sự thay đổi cấu trúc chợ và một số vấn đề về cách thức trao đổi, buôn bán tại chợ Năm 2004, luận án
được NXB Thế giới in thành sách “Chợ quê trong quá trình chuyển đổi”
Thuộc lĩnh vực Văn hóa học có công trình: “Chợ Hà Nội xưa và nay” do tác giả Đỗ Thị Hảo CB (NXB Phụ nữ, Hà Nội 2010): Cuốn sách giới thiệu vị trí, đặc điểm và những nét đặc trưng của các chợ ở Hà Nội Trong đó, các tác giả đi vào khảo cứu cụ thể về 18 chợ ở 4 quận trung tâm (Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng) và 35 chợ thuộc các quận, huyện khác Ngoài ra, các tác giả còn sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ nói về chợ ở Hà Nội; Cuốn “Chợ Việt” của Huỳnh Thị Dung (NXB
Từ điển bách khoa, Hà Nội 2011) giới thiệu về 208 chợ ở 3 miền Bắc, Trung, Nam Trong số này, tác giả có miêu tả về 11 chợ ở tỉnh Nam Định Đây là những miêu tả ngắn gọn về vị trí và hoạt động trao đổi cùng những sản phẩm đặc trưng của các chợ; Cuốn “Chợ quê Việt Nam” của tác giả Trần Gia Linh (NXB KHXH, Hà Nội 2015)
trình bày về đặc trưng văn hoá của chợ xưa ở đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển, sưu tầm và giới thiệu về 42 chợ quê từ Bắc vào Nam Trong số đó, một số chợ nổi tiếng ở Nam Định và Thái Bình cũng được nhắc đến như: chợ Gôi (huyện Vụ Bản), chợ
Tò (huyện Quỳnh Phụ), chợ Cổ Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị cho tác giả khi thực hiện đề tài Tuy nhiên, trong cuốn “Chợ quê Việt Nam” còn một số thông tin chưa hoàn toàn chính xác, như việc miêu tả chợ Cổ, tác giả cho là chợ Cổ là chợ chung của 7 làng mang tên “Cổ” (Cổ Tung, Cổ Da, Cổ Giả, Cổ Nông, Cổ Chử, Cổ Lễ, Cổ Lũng) ở huyện Nam Trực và huyện Trực Ninh, nhưng thực tế chưa có tài liệu nào cho thấy có sự tồn tại của một chợ như thế
Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến có biên khảo “Sống đời của chợ” là một công trình nằm trong chương trình nghiên cứu độc lập “Hiểu Việt Nam” Sách được NXB Hội nhà văn phát hành năm 2017 Qua khảo cứu tài liệu kết hợp với điều tra Dân tộc học, Xã hội học trên địa bàn một số huyện ngoại thành Hà Nội, tác giả có một số khái quát về mạng lưới chợ làng ở Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại với những nội dung như: Vai trò của chợ trong hoạt động kinh tế làng xã, môi trường điển chế pháp luật của chợ làng, những ma thuật, tín ngưỡng tại chợ, làn sóng thông tin, dư luận xuất phát từ chợ làng, chợ với việc bảo tồn không gian văn hoá làng xã đây là một công trình tham khảo có giá trị đối với những người quan tâm nghiên cứu về chợ Việt Nam nói chung
Trang 27Luận án tiến sĩ “Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn” (giai đoạn
1802 – 1884) của Đinh Thị Thảo, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội
Tác giả nghiên cứu sự hình thành, phát triển và hoạt động của các chợ ở khu vực Nam Trung Bộ (bao gồm 5 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) trong thời gian nhà Nguyễn nắm quyền quản lý đất nước với tư cách là một vương triều quân chủ độc lập Luận án này có giá trị tham khảo tốt đối với tác giả khi có đối tượng nghiên cứu là chợ dưới thời quân chủ Việt Nam
Những công trình chuyên khảo, biên khảo và luận án trên góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về chợ ở các địa phương Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo
có giá trị cho tác giả khi thực hiện đề tài
Nhóm công trình nghiên c ứu về chợ trên các tạp chí, hội thảo khoa học
Tác giả Nguyễn Đức Nghinh sớm có những chuyên luận nghiên cứu về chợ
như: “Chợ chùa ở thế kỷ XVII” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 năm 1979), “Mấy nét phác th ảo về chợ làng (qua những tài liệu các thế kỷ XVII, XVIII)” (Tạp chí Nghiên cứu
L ịch sử số 5 năm 1980), “Chợ làng trước cách mạng tháng Tám” (Nguyễn Đức Nghinh
- Trần Thị Hòa, Tạp chí Dân tộc học, số 2 năm 1981), “Chợ làng, một nhân tố củng cố
m ối liên hệ dân tộc” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 năm 1981), Chợ truyền thống in trong “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời Cận đại” (NXB KHXH, Hà Nội, 1990)
Nhìn chung, các bài viết của tác giả Nguyễn Đức Nghinh đã nghiên cứu về nhiều mặt của chợ làng, chợ chùa (chợ Tam bảo) Qua những khảo cứu trên, tác giả đã đưa ra một số nhận xét bước đầu về quy mô, tính chất, vai trò của chợ trong đời sống xã hội Theo tác giả Nguyễn Đức Nghinh: Chợ thường xuất hiện ở những nơi đông đúc dân cư, những đầu mối giao thông thủy, bộ và những nơi có kinh tế phát triển, nguồn hàng dồi dào Về mặt kinh tế, sự xuất hiện của các chợ, những địa điểm trao đổi hàng hóa cố định là sự đột phá quan trọng trong nền kinh tế khép kín của các làng xã vốn mang tính tự trị và khép kín Chợ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp, nông nghiệp dưới thời quân chủ Việt Nam Về mặt xã hội, tác giả cũng khẳng định chợ chính là môi trường tiếp xúc thường xuyên giữa người với người, làm nảy sinh và củng cố quan hệ xã hội Đây cũng là nơi truyền đạt thông tin, lan tỏa, truyền bá và giao lưu văn hóa giữa các địa phương Đặc biệt, qua những nghiên cứu, tác giả Nguyễn Đức Nghinh còn khẳng định
“Chợ làng là một nhân tố củng cố mối liên hệ dân tộc”
Trang 28Năm 1983, tác giả Nguyễn Thừa Hỷ có chuyên luận: “Mạng lưới chợ ở Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII - XVIII - XIX” (Tạp chí Nghiên cứu
L ịch sử số 208, năm 1983) nghiên cứu về mạng lưới chợ ở kinh thành Thăng Long
trong các thế kỷ XVII-XVIII và sự duy trì, phát triển mạng lưới chợ này của tỉnh Hà Nội trong thế kỷ XIX Bên cạnh việc nghiên cứu về địa điểm, thời gian họp chợ, phương thức mua bán và mặt hàng trao đổi tại chợ, tác giả bài viết cũng phân tích mối quan hệ giữa chợ và nhà nước quân chủ
Những năm gần đây Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đăng tải một số bài viết về chợ
các địa phương cụ thể: Tác giả Nguyễn Quang Hồng có bài “Hệ thống chợ ở Nghệ An
th ế kỷ XIX” (số 6 năm 2004), bài viết “Hệ thống chợ làng ở Thừa Thiên Huế dưới thời chúa Nguy ễn” (số 12 năm 2010) của tác giả Trương Thị Thu Thảo Trong bài viết của
tác giả Nguyễn Quang Hồng ngoài phần khái quát tình hình kinh tế, xã hội Nghệ An thế
kỷ XIX, tác giả đi sâu nghiên cứu phạm vi, quy mô, chức năng của hệ thống chợ ở Nghệ An thế kỷ XIX từ các chợ trấn - tỉnh đến chợ phủ, huyện và chợ làng xã Tác giả Trương Thị Thu Thảo nghiên cứu chợ làng theo không gian hành chính của từng huyện
để đi đến một nhận xét tổng quan cho toàn bộ hệ thống chợ ở Thừa Thiên Huế
Tác giả Ngô Vũ Hải Hằng có chuyên luận “Kinh tế hàng hóa thời Mạc nhìn
t ừ chợ làng” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 8, năm 2013) Tác giả lấy hệ thống
chợ làng làm trung tâm nghiên cứu, từ đó rút ra những nhận xét về đặc điểm kinh tế thương mại, nông nghiệp, thủ công nghiệp, lưu thông hàng hóa dưới triều Mạc giai đoạn ở Thăng Long (1527-1592)
Trong một số hội thảo khoa học được tổ chức tại các địa phương cũng có tác giả quan tâm đến vấn đề kinh tế làng xã dưới tác động của chợ làng Tác giả Hà Mạnh Khoa có bài viết “Chợ Mẹo và hoạt động kinh tế của Phương La (Quá khứ và
hi ện tại)” in trong sách Hoằng Nghị đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích
L ịch sử - Văn hóa Phương La (NXB Thế giới, 2007) Bài viết khảo cứu khá tỉ mỉ về
một chợ cổ của làng Phương La, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Theo tác giả, chợ Mẹo hình thành từ khá lâu và những hoạt động kinh tế diễn ra xung quanh chợ này
có vai trò lớn trong đời sống kinh tế, xã hội của địa phương và những vùng lân cận
Ngoài những nghiên cứu độc lập về chợ đã được công bố, trong nhiều hội thảo khoa học cũng có những tham luận trao đổi về lịch sử các chợ và vai trò lịch sử của các chợ truyền thống Đáng kể nhất là ngày 12 tháng 4 năm 2013, Viện Dân tộc học phối hợp với Viện Nhân học xã hội Max Planck (Đức) và UBND tỉnh Lào Cai
Trang 29tổ chức hội thảo khoa học “Sự chuyển đổi của chợ trong xã hội Việt Nam đương đại
theo hướng tiếp cận nhân học” Tại hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã
phân tích những vai trò cơ bản của chợ truyền thống và phương hướng đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống chợ ở Việt Nam Hội thảo đã đặt hệ thống chợ truyền thống ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam trong nghiên cứu của các nhà Dân tộc học, Nhân học Việt Nam và một số nhà nghiên cứu nước ngoài
Nhìn vào những nghiên cứu trên có thể thấy: Các tác giả đã nghiên cứu một
số vấn đề chung về chợ ở Việt Nam thời quân chủ, một số chợ ở địa phương, khu vực Những nghiên cứu này tuy không phải là chuyên luận trực tiếp về chợ ở tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 – 1890, nhưng số liệu và phân tích trong các bài viết trên
là nguồn tham khảo hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu luận án này
M ột số nghiên cứu về chợ dựa trên tư liệu Hán Nôm
Năm 2003, tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm với đề tài “Nghiên cứu về hệ thống văn bia chợ Việt Nam” Luận văn đã tập trung làm rõ về: Một số vấn đề chung về văn bia chợ Việt Nam, đặc điểm văn bia chợ, chữ Nôm trên bia chợ, tình hình phân bố văn bia chợ về không gian và thời gian, những quy định về chợ làng, giá trị tư liệu của văn bia Ngoài phần chính văn, trong phần phụ lục của luận văn tác giả có trình bày danh mục 83 bia chợ và tuyển dịch 10 văn bia chợ mà tác giả cho là tiêu biểu Sau khi hoàn thành luận văn, thạc sĩ Đỗ Thị Bích Tuyển tiếp tục có những nghiên cứu về bia chợ Năm 2006, tác giả công bố chuyên luận “Văn bia chợ Việt Nam – giá trị tư liệu khi tìm hiểu các vấn
đề sinh hoạt xã hội thời phong kiến” trên Tạp chí Hán Nôm số 5 (78) Tác giả bài
viết tiếp tục thống kê và bổ sung bia chợ ở các tỉnh từ Nghệ An trở ra có 88 văn bia chợ các loại Trong số đó, tỉnh Nam Định có 5 văn bia và ở Thái Bình có 4 Văn bia ghi chép về chợ Đây là một nguồn tư liệu quý khi nghiên cứu về chợ truyền thống Việt Nam nói chung và chợ ở tỉnh Nam Định nói riêng
Trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 (422) năm 2011, tác giả Đinh Văn Viễn
có bài giới thiệu tư liệu Hán Nôm “Về bản giao ước nhượng đất mở chợ của hai xã
Côi Trì và Yên Mô năm 1755” Bài viết đăng tải nguyên văn chữ Hán cùng phần
phiên âm, dịch nghĩa của bản giao ước về việc phân chia đất đai nơi giáp ranh giữa 2
xã cùng việc mở thêm chợ Mo (mới) bên cạnh chợ Bút (đã có từ xưa) ở xã Côi Trì (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) và phân chia việc họp phiên của 2 chợ Đây là một tư liệu khá thú vị, có giá trị tham khảo cho luận án
Trang 30Nhóm tác giả của Viện Nghiên cứu Hán Nôm công bố công trình “Chợ truyền
th ống Việt Nam qua tư liệu Văn bia” do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (NXB KHXH,
Hà Nội 2015, tái bản năm 2020) Trong công trình này, các tác giả đã tổ chức dịch thuật và chú thích 65 bia chợ khắc bằng chữ Hán, Nôm nhằm phục vụ công tác nghiên cứu về chợ truyền thống Việt Nam và những vấn đề liên quan Đây là một công trình dịch thuật quy mô, cung cấp nhiều tư liệu cho các nhà nghiên cứu khi khảo cứu về chợ truyền thống
1.1.3 Các công trình nghiên cứu của tỉnh Nam Định, Thái Bình có đề cập đến chợ
Đến nay, chưa có nghiên cứu độc lập về chợ ở tỉnh Nam Định, những nghiên cứu về mạng lưới chợ ở tỉnh Nam Định chủ yếu được lồng ghép vào nội dung nghiên cứu chung về kinh tế, xã hội của địa phương
Năm 1988, Phòng Nghiên cứu lịch sử Hà Nam Ninh cho xuất bản cuốn “Lịch
s ử Hà Nam Ninh tập 1” Cuốn sách viết về lịch sử, con người vùng đất Hà Nam
Ninh (nay là các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình) từ khi có con người sinh sống đến năm 1945 Kết cấu cuốn sách gồm 4 phần: phần I: Từ buổi bình minh của lịch
sử đến thế kỷ thứ X; phần II: Hà Nam Ninh từ thời chế độ phong kiến hình thành đến thịnh đạt (thế kỷ X - thế kỷ XV); phần III: Hà Nam Ninh từ thế kỷ XVI đến thế
kỷ XIX; phần IV: Đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai phản động giành chính quyền về tay nhân dân (từ năm 1858 đến năm 1945) Nội dung cuốn sách viết tương đối đầy đủ về quá trình hình thành đất đai, quang cảnh thiên nhiên, sự xuất hiện, tụ cư và phát triển của cộng đồng cư dân Hà Nam Ninh Các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của nhân dân Hà Nam Ninh được trình bày khá chi tiết và khoa học Nội dung về thương mại Hà Nam Ninh cũng được các tác giả chú ý Nhìn chung, cuốn sách phê phán chính sách ức thương của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, chính sách thuế khóa nặng nề đã kìm hãm sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp trên cả nước nói chung và ở Hà Nam Ninh nói riêng Các tác giả đưa ra dẫn chứng “Gạo từ Nam Định đưa vào bán ở Nghệ An phải nộp thuế đến chín lần” [61, tr.203] Đối với thương mại thời Pháp thuộc, cuốn sách cũng thừa nhận “Hàng hóa Pháp tràn ngập khắp thị trường ở Nam Định, cạnh tranh với hàng nội địa” [61, tr.267] Công trình cung cấp nhiều thông tin có giá trị tham khảo tốt cho tác giả khi thực hiện luận án này
Trang 31“hàng” như: Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Tiện, Hàng Bát, Hàng Cau Đây chính là một nét đặc sắc của hoạt động thương mại ở thành phố Nam Định đầu thời Pháp thuộc
Năm 2000, HĐND, UBND huyện Nam Trực (Nam Định) cho ấn hành cuốn
“Văn hóa Nam Trực cội nguồn và di sản” Đây là tập hợp các bài nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Nam Trực Trong cuốn sách này có bài viết “Chợ Viềng đầu xuân” của tác giả Vũ Minh Xuyến Bài viết giới thiệu về những phong
tục tập quán, nét đặc sắc về phong tục mua bán trong chợ Viềng Nam Giang – một loại hình chợ khá đặc biệt ở Nam Định
Năm 2001, Sở Văn hóa thông tin Nam Định cho ấn hành cuốn “Nam Trực - văn hóa lịch sử qua các thời đại” của tác giả Lê Xuân Quang là một công trình tập
hợp các nghiên cứu của tác giả về lịch sử, văn hóa huyện Nam Trực Trong cuốn sách có bài viết “Chợ Viềng Nam iang” Qua bài viết, tác giả tiếp tục giới thiệu
một số nét cơ bản về thời gian ra đời và địa điểm diễn ra chợ Viềng Nam Giang
Năm 2001, tác giả Phạm Thị Nết bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ “Tiền Hải
t ừ sau khi thành lập đến cuối thế kỷ XIX” tại Viện Sử học Luận án nghiên cứu về
quá trình khẩn hoang ở huyện Tiền Hải (khi ấy thuộc đất Nam Định) từ sau năm
1828 đến cuối thế kỷ XIX và các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Tiền Hải đương thời Đối với hoạt động thương nghiệp, tác giả cho biết: khi mới thành lập huyện (năm 1828), Tiền Hải chưa có chợ, người dân phải đi tới những chợ quanh vùng thuộc các huyện Chân Định, Thanh Quan, Giao Thủy để trao đổi
Trang 32hàng hóa Từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX, nhiều chợ được lập mới trên địa bàn huyện Tiền Hải giúp cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa của nhân dân được thuận tiện hơn Theo tác giả, đến cuối thế kỷ XIX, nhân dân huyện Tiền Hải có thể trao đổi hàng hóa tại 20 chợ trong vùng, trong đó có 12 chợ trên địa bàn huyện Tiền Hải và 8 chợ khác ở các huyện lân cận
Tác giả Trần Xuân Mậu biên soạn bộ “Quần Anh dấu xưa mở đất” gồm 3 tập được Hội Văn học nghệ thuật Nam Định và NXB Hội nhà văn cho ấn hành vào các năm 2002, 2004 và 2005 Bộ sách biên khảo về quá trình khẩn hoang lập làng tại vùng Quần Anh (huyện Hải Hậu) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX Trong những vấn đề
về kinh tế, xã hội, tác giả đánh giá cao vai trò của mạng lưới chợ đối với quá trình phát triển vùng đất này
Năm 2003, Tỉnh ủy – HĐND - UBND tỉnh Nam Định cho xuất bản cuốn
“Địa chí Nam Định” Trong những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực được đề cập đến ở
cuốn địa chí này, vấn đề chợ và hoạt động thương mại được các tác giả trình bày trong 2 phần là Phần lịch sử và Phần kinh tế Trong Phần lịch sử, vấn đề kinh tế thương mại Nam Định dưới triều Nguyễn chỉ được trình bày ngắn gọn, súc tích dưới
sự tác động của tình hình chính trị, xã hội Trong khi Phần kinh tế truyền thống Nam Định có những phân tích và thống kê cụ thể hơn Dựa vào nguồn tài liệu gốc như các văn bia, địa bạ các tác giả đã đưa ra bảng thống kê ở vùng Quần Anh, huyện Hải Hậu tính đến cuối thế kỷ XIX đã có 10 chợ lớn nhỏ đang hoạt động và luân phiên nhau họp phiên kín hết các ngày trong tháng
Trong cuốn “744 năm kiến trúc thành phố Nam Định” in năm 2006, tác giả Phan Đăng Trình khảo tả về các công trình kiến trúc tiêu biểu trên địa bàn thành phố Nam Định Trong số các công trình này, tác giả đã chú ý khảo tả về một số chợ như chợ Rồng, chợ Mỹ Tho, chợ Cửa Trường Theo tác giả, chợ Rồng là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu nhất, là biểu tượng thương mại của thành phố Nam Định từ cuối thế kỷ XIX đến nay, chợ này được xây dựng vào năm 1856 và nhiều lần được tu sửa vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Tác giả Bùi Văn Tam có bài viết “Ngày xuân trẩy hội chợ Viềng” trên Tạp chí Xưa & Nay số 1 năm 2007 Bài viết ngắn gọn giới thiệu về phong tục mua bán,
trao đổi trong chợ Viềng Phủ Dầy ở huyện Vụ Bản Trong bài viết này, tác giả lý giải tên chợ Viềng Phủ Dầy xuất phát từ tên Chợ Trời theo cách gọi dân gian
Trang 33Cuốn “Thành Nam địa danh và giai thoại” của Thành ủy – HĐND – UBND thành phố Nam Định (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) là công trình cung cấp những thông tin, sử liệu mang tính phổ quát, hệ thống về các địa danh, tên làng, tên chợ, tên đường, tên phố ở thành phố Nam Định cùng với các sự kiện, sự tích, giai thoại tiêu biểu về mảnh đất Thành Nam
Năm 2012, tác giả Hoàng Dương Chương hoàn thành đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh Nam Định “Nghiên cứu quá trình biến đổi địa danh làng xã tỉnh Nam
Định từ năm 1802 đến năm 2003” Nội dung đề tài khảo cứu về sự thay đổi địa danh
cấp tổng, xã và các thôn xóm trên địa bàn tỉnh Nam Định trong hơn 200 năm Kết quả nghiên cứu đề tài cũng cho thấy những thay đổi về tên chợ cùng với tên làng ở Nam Định trong khoảng thời gian này
Từ năm 2006 đến năm 2017, Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu Lịch sử
và Văn hóa Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa thông tin Thái Bình (nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Bình) và NXB Văn hóa thông tin tiến hành sưu tầm và biên dịch các tư liệu Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Thái Bình tổng hợp trong bộ sách
“Tài liệu địa chí Thái Bình” gồm 10 tập Đây là bộ tài liệu đồ sộ tổng hợp nhiều bản
thần tích, sắc phong, gia phả, văn bia, địa bạ và các bộ địa chí cổ trên đất Thái Bình (thuộc các phủ Thái Bình, Kiến Xương và Tiên Hưng thế kỷ XIX) Bộ sách cung cấp nhiều tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội của vùng đất này trước năm 1945
Năm 2017, tác giả Trần Thị Thái Hà cho xuất bản cuốn “Từ hành cung Tức Mặc – Thiên Trường đến đô thị Vị Hoàng (thế kỷ XIII – XIX)” (Đây là kết quả nghiên cứu
của tác giả khi thực hiện luận án tiến sĩ cùng tên năm 2012) Cuốn sách khảo cứu về sự hình thành, vị trí, vai trò của hành cung Tức Mặc – Thiên Trường dưới triều Trần (thế
Trang 341.2 Nh ững công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều học giả nước ngoài có mặt tại Việt Nam đã công bố những công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam Các tác giả Pháp có những nghiên cứu tổng hợp về Việt Nam nói riêng cũng như toàn xứ Đông Dương nói chung Trong các nghiên cứu đó cũng có nhiều công trình đề cập đến vấn đề chợ và thương mại của người Việt ở mức độ nhất định
Tác giả G Dauphinot có bộ sách “Nghiên cứu về Bắc Kỳ” (Etudes sur le Tonkin) gồm 3 cuốn được xuất bản năm 1909, trong đó: Cuốn thứ nhất là “Le Tonkin en 1909”
nghiên cứu về nhiều mặt, chủ yếu về kinh tế của Bắc Kỳ Trong sách có nhiều bảng thống
kê về tình hình thương mại, nông sản, thuỷ lợi, công cuộc mở mang các nhượng địa, lâm nghiệp, khoáng sản, hải sản, giao thông vận tải, binh lính, giáo dục, y tế, kho bạc của
từng tỉnh vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuốn thứ 3: “Le Tonkin en 1909: Extrait
du bull Economique de l'Indochine ; Nos 79-81 (Juillet - Déc 1909)” chủ yếu nghiên
cứu về tình hình xã hội Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX sau 25 năm Pháp đô hộ Cuốn sách cũng trình bày hoạt động thương mại, nông sản và sản xuất nông nghiệp, công cuộc khai thác đồn điền ở từng tỉnh, lâm nghiệp, khoáng sản, hải sản, xây dựng, giao thông vận tải, tổ chức quân sự, hệ thống giáo dục, y tế, tài chính, pháp luật, tổ chức hành chính, miêu tả về một số thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương, Phủ Lạng Thương, Hưng Yên)
Cuốn “Guide du Tonkin” (Chỉ dẫn về xứ Bắc Kỳ) của L Bonnafont xuất bản
tại Hải Phòng năm 1919: Giới thiệu về địa lý, khí hậu, con người, các điểm du lịch, các danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc, nền kinh tế, thương mại, công nghiệp, nông nghiệp ở các vùng thuộc Bắc Kỳ
Cuốn “Les Paysans du delta Tonkinois” (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ) của Pièrre Gourou xuất bản lần đầu tại Paris năm 1936 Cuốn sách được một số NXB của Việt Nam dịch ra tiếng Việt và in tái bản nhiều lần Công trình nghiên cứu về nông dân
và hệ thống nông nghiệp của vùng châu thổ Bắc Kỳ - Việt Nam Phân tích về đất và
Trang 35người Bắc Bộ như địa hình, khí hậu châu thổ, lịch sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công nghiệp làng xã Trong đó có phần thương mại làng xã viết về những hoạt động buôn bán qua chợ làng vùng châu thổ Bắc Bộ đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu về Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX được các nhà nghiên cứu Pháp chú ý nhiều Mục đích chủ yếu của những nghiên cứu này nhằm tạo cơ sở cho việc thi hành chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân ta Trong nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả người Pháp đương thời
đã cố tình đưa ra những luận điểm xuyên tạc, ca ngợi công cuộc “bảo hộ” của người Pháp đối với nền văn minh của người Việt Tuy nhiên, cũng có một số nhà nghiên cứu mang quan điểm và phương pháp hiện đại, khách quan hơn khi nghiên cứu về Việt Nam Những tác giả này đã để lại nhiều công trình có giá trị
Những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu của các quốc gia khác công bố nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam Tác giả Yoshiharu Tsuboi có cuốn
“L’empire Vietnamien face à la France et à la Chine 1847-1885” (Nước Đại Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885) Cuốn sách nghiên cứu về tình hình Việt Nam (chủ yếu dưới triều vua Tự Đức) với các mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Pháp, Trung Quốc Trong đó mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc được tác giả đề cập đến thông qua mạng lưới thương nhân người Hoa
Tác giả Đới Khả Lai (Đại học Trịnh Châu, Trung Quốc) có bài viết “Hoa kiều
và nh ững người Hoa ở Việt Nam trong “Hải Nam tạp trước” của Thái Đình Lan”
Tác giả khảo cứu những ghi chép của Thái Đình Lan (người đời Thanh) trong thời gian ở Việt Nam những năm 1835 – 1836 qua tác phẩm “Hải Nam tạp trước” Bài viết được công bố tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất (năm 1998) Trong phần viết về Hoa kiều và người Hoa với mậu dịch Trung – Việt, tác giả căn cứ vào tư liệu trên cho biết: Nơi thuyền Trung Quốc cập bến nhiều nhất là ở các tỉnh Gia Định (tức Lũng Nại), thứ đến là Quảng Nam (tức Hội An), thứ nữa là Bình Định (tức Tân Châu), Quảng Ngãi thứ nữa là Phú Xuân (tức Huế), Nam Định (thường gọi là Si Phóng), Nghệ An Việc các chợ có tấp nập đông đúc không và quan lại kiếm chác được qua việc đưa lễ của chủ thuyền cũng có sự khác biệt tùy theo thuyền lớn, nhỏ,
ít, nhiều Thuyền cập bến vào mùa đông và rời bến vào mùa hạ… Hàng hóa thuyền buôn Trung Quốc chở đến tràn ngập thị trường Việt Nam “Trong chợ có đủ loại hàng hóa, các loại hàng như chè, thuốc, đồ sứ, áo cũ đều do thuyền buôn Trung Quốc mang tới và bán nhiều” [92, tr.837 - 838]
Trang 36Nhìn chung các nghiên cứu về Việt Nam của các tác giả nước ngoài khá phong phú trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, vấn đề chợ và hoạt động thương mại ở Nam Định được phản ánh qua những nghiên cứu này còn tản mát và chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
1.3 Nh ững nội dung luận án kế thừa
Những công trình nghiên cứu về chợ của các tác giả trong nước cũng như tác giả nước ngoài xuất phát từ nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu đó đều đi đến khái quát, làm rõ từng vấn đề cụ thể trên một số lĩnh vực và ở một số địa phương nhất định Từ những nghiên cứu trên, tác giả luận án kế thừa được một số nội dung sau:
- Ảnh hưởng của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đất nước đối với hoạt động thương mại nói chung và hệ thống chợ nói riêng
- Những chính sách của nhà nước quân chủ Việt Nam đối với người dân thông qua hệ thống chợ và hoạt động buôn bán
- Vai trò của chợ đối với hoạt động thương nghiệp ở nông thôn
- Những điều kiện ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa như giao thông, đo lường, tiền tệ
- Đặc điểm mua bán, trao đổi hàng hóa ở chợ và một số làng buôn, đô thị
- Vị trí, tên gọi của một số chợ ở Nam Định trong giai đoạn 1831-1890
- Một số hoạt động thương nghiệp của người Hoa ở Việt Nam
1.4 Nh ững nội dung luận án tiếp tục giải quyết
Trên cơ sở tìm hiểu một cách tổng quan về thành tựu và quan điểm của các tác giả trong nước cũng như tác giả nước ngoài, tác giả luận án nhận thấy cho đến nay chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về chợ ở tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890 Bởi vậy, luận án này tiếp tục giải quyết những vấn đề sau:
Trang 37Th ứ nhất: Làm rõ tác động của các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã
hội đến sự hình thành và hoạt động của chợ ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn
1831-1890
Th ứ hai: Trong giai đoạn này, chợ ở Nam Định nói riêng cũng như mạng lưới
chợ trên cả nước nói chung hoạt động, phát triển dưới sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn Bởi vậy, khi nghiên cứu về hoạt động và vai trò của chợ ở tỉnh Nam Định, luận án cũng trình bày, phân tích những tích cực và hạn chế của các chính sách quản
lý chợ mà triều Nguyễn đặt ra
Th ứ ba: Luận án phục dựng bức tranh chung về chợ ở Nam Định với những
thống kê về số lượng, loại hình, quy mô các chợ; tìm ra mối liên hệ qua lại giữa các chợ trong cùng khu vực và quan hệ liên vùng, liên xã, liên huyện
Th ứ tư: Luận án trình bày những hoạt động cơ bản của chợ như hoạt động
mua bán, trao đổi sản phẩm, đối tượng hoạt động tại chợ, nguồn hàng cung cấp cho các chợ Luận án cũng phân tích đặc điểm của các hoạt động này Trên cơ sở phân tích các hoạt động trong chợ, luận án đi đến tổng hợp, đúc rút những đặc trưng riêng biệt của chợ ở tỉnh Nam Định so với một số địa phương khác
Th ứ năm: Từ kết quả nghiên cứu sự hình thành, hoạt động của các chợ ở tỉnh
Nam Định giai đoạn 1831-1890, luận án đánh giá vai trò của mạng lưới chợ trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương Trong các đô thị Việt Nam, thành phố Nam Định là một đô thị khá phát triển ở đầu thế kỷ XX Ngay từ năm
1921, khu vực tỉnh lỵ của tỉnh Nam Định đã được chính quyền Pháp công nhận là thành phố loại 3 Đây là một trong những đô thị đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là thành phố Luận án làm rõ vai trò, tác động của các chợ ở khu vực trung tâm tỉnh Nam Định trong quá trình đô thị hóa ở đô thị Nam Định từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Tóm l ại, nghiên cứu về thương nghiệp dưới triều Nguyễn nói chung và hoạt
động thương mại ở tỉnh Nam Định nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều ít đề cập trực tiếp đến hoạt động và vai trò của mạng lưới chợ ở địa phương này Các nghiên cứu về chợ chủ yếu nằm tản mát trong những công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế, văn hóa, chính trị của đất nước hoặc địa phương Một số nhà nghiên cứu có những bài viết trực tiếp về chợ, nhưng đó chủ yếu vẫn là nghiên cứu chung về chợ trong vùng đồng bằng Bắc Bộ hoặc tập trung vào nghiên cứu
Trang 38khu vực Thăng Long - Hà Nội Cũng có những nghiên cứu về lịch sử, địa lý của riêng tỉnh Nam Định hoặc Thái Bình có đề cập đôi nét về chợ dưới dạng các công trình địa chí mang tính tập hợp, liệt kê hơn là phân tích, so sánh Nghiên cứu chuyên biệt về chợ
ở tỉnh Nam Định chưa được đề cập đến trong bất kỳ công trình nào
Tuy vậy, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước rất có giá trị đối với việc nghiên cứu về chợ nói chung và chợ ở tỉnh Nam Định nói riêng Trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu, kế thừa, phát triển kết quả của người đi trước, tác giả giải quyết thỏa đáng những vấn đề đặt ra của luận án
Trang 39Trong T ừ điển bách khoa Việt Nam do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ
điển bách khoa Việt Nam biên soạn định nghĩa: Chợ (kinh tế), nơi gặp nhau giữa cung và cầu các hàng hóa, dịch vụ, vốn; là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng Quy mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hóa, đồng thời cũng
có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất ở nhiều vùng miền núi Ở đây, chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Quy mô và tính chất của chợ rất đa dạng; có chợ nông thôn tự sản tự tiêu, có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn Thông thường mặt hàng mua bán ở chợ rất phong phú, nhiều loại Nhưng cũng
có những chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định như chợ trâu bò, chợ gạo, chợ vải Tùy theo điều kiện, địa điểm và nhu cầu, chợ có thể họp hàng ngày, nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng Có chợ một năm chỉ họp mấy ngày tết [42, tr.486]
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ: “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư” [84]
Như vậy, tùy theo mục đích quản lý hay hoạt động của chợ mà có nhiều cách giải thích về chợ khác nhau Nhìn chung qua các cách định nghĩa trên cho thấy chợ
có một số đặc điểm cơ bản:
- Chợ là nơi công cộng để mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của dân cư Ở
đó ai có nhu cầu đều có thể đến mua bán, trao đổi hàng hóa
- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan từ sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch
vụ của nhân dân Chợ có thể hình thành một cách tự phát hoặc được quy hoạch xây dựng
- Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ ở chợ được diễn ra theo một chu kỳ thời gian (phiên) nhất định Chu kỳ đó hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương
Trang 4029
Những khái niệm trong các sách từ điển và văn bản quy phạm pháp luật trên
lý giải về chợ nói chung Tuy nhiên, trong thực tế chợ có nhiều loại hình và quy mô khác nhau Bởi vậy, khi nghiên cứu về chợ cũng cần có những cách phân loại chợ theo quy mô, tầng bậc để có thể đưa ra được những quan niệm cụ thể về từng loại hình chợ trên thực tế
Trong một số công trình nghiên cứu lịch sử đã có những quan niệm về chợ được các nhà nghiên cứu nêu ra và phân tích Tác giả Nguyễn Đức Nghinh dùng khái niệm
“chợ làng bao gồm các loại hình chợ ở nông thôn dưới thời phong kiến”, từ chợ của một làng, của nhiều làng đến chợ của một vùng mang danh chợ huyện Nó là loại “chợ
do các tổ chức trong làng xã lập ra và quản lý” [87, tr.51] Tác giả Phan Đại Doãn cho
là: “chợ làng” còn gọi là “chợ phiên” có nhiều tầng bậc khác nhau Có chợ hôm (hoặc
chợ sớm) họp hàng ngày hoặc vài ngày một lần Chợ tổng, chợ huyện lớn hơn các loại chợ hôm, họp thưa ngày, người đông hơn và có thêm một số hàng đặc sản [26, tr.59] Như vậy, hai nhà nghiên cứu lịch sử trên đã bước đầu đưa ra những quan niệm cơ bản
về một số loại hình chợ thường thấy dưới thời quân chủ Việt Nam
tế Bên cạnh đó có một số chợ mang tính văn hóa, tín ngưỡng như chợ Tình, chợ Viềng, chợ Âm Dương
Dựa vào hoạt động kinh tế có thể phân loại theo số lượng, chủng loại hàng
hóa như chợ thương mại tổng hợp, chợ đặc sản, chợ làng nghề
Về thời gian họp chợ có các chợ họp quanh năm, có chợ chỉ họp một vài lần trong một năm, có chợ sớm (họp vào buổi sáng) chợ hôm (họp buổi chiều)
Căn cứ vào địa lý, địa hình có thể phân loại chợ miền núi và chợ đồng bằng, chợ thành thị và chợ nông thôn (chợ quê), ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhân dân chủ yếu sinh sống trên sông nước, ở đây có loại hình chợ nổi họp trên sông
Về chức năng của chợ có chợ đầu mối, chợ bán buôn, chợ bán lẻ