Khá nhiều mặt khác nhau của quá trình di cư ở Việt Nam đã được phân tích trong các nghiên cứu, tuy nhiên, rất ít sự chú ý được dành cho vai trò của di cư đối với việc phát triển thị trườ
Trang 1Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho người nghèo
Trang 2Lien he:
NGAN HANG PHAT TRIEN CHAU A
Co quan Dai dien Thuong tru tai Viet Nam Phong GF02,Toa nha Mat troi Song Hong
23 Phan Chu Trinh, Ha Noi, Viet Nam Tel: +(844) 933 1374
Fax: +(844) 933 1373 Website: www.markets4poor.org
Bản quyền: Ngân hμng Phát triển Châu á 2006
Ngân hμng Phát triển Châu á được giữ bản quyền với cuốn sách nμy
Quan điểm trình bμy trong cuốn sách nμy lμ quan điểm của các tác giả Những quan điểm nμy không nhất thiết phản ánh quan điểm vμ chính sách của Ngân hμng Phát triển Châu á hay của Ban điều hμnh Ngân hμng hay của các chính phủ mμ các nhμ quản lý ngân hμng đại diện
Ngân hμng Phát triển Châu á không đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu
được trình bμy trong ấn phẩm nμy vμ không chịu trách nhiệm về bất cự hậu quả nμo do việc sử dụng các dữ liệu nμy gây ra
Việc sử dụng thuật ngữ “đất nước, nước” không hμm ý sự bình luận của các tác giả hoặc của Ngân hμng Phát triển Châu á về tư cách pháp nhân hay các
vị thế khác của bất cứ vùng lãnh thổ nμo
Trang 3Mục lục
1 Tổng quan 2
2 Thị trường lao động nông thôn và di cư nông thôn ở Việt Nam 4
2.1 Thị trường lao động nông thôn Việt Nam 4
2.2 Tình hình di cư nông thôn Việt Nam 5
3 Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – phân tích ở mức hộ gia đình 6
3.1 Mô hình lý thuyết 6
3.2 Dạng hàm thực nghiệm 8
3.3 Kết quả hồi qui 9
3.3.1 Di cư và cầu lao động nông thôn 9
3.3.2 Phân bổ lao động của hộ ở khu vực nông thôn: 12
3.3.3 Năng suất lao động của hộ 13
4 Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – 8 trường hợp nghiên cứu về tác động và nhận thức về tác động ở cấp độ xã 15
4.1 Các nguồn số liệu 15
4.2 Các đặc điểm di cư 16
4.3 Chi tiêu từ tiền gửi về và cầu lao động địa phương 18
4.4 Ảnh hưởng của di cư đối với các doanh nghiệp và trường học 19
4.5 Nhận thức về tác động của di cư đến cộng đồng, các hộ gia đình và người di cư 20
4.5.1 Tác động đối với cộng đồng 20
4.5.2 Tác động tới các hộ di cư 22
4.5.3 Tác động tới những người di cư 23
5 Kỳ vọng về di cư trong tương lai và đánh giá các lựa chọn chính sách 24
5.1 Kỳ vọng về di cư trong tương lai 24
5.2 Đánh giá các lựa chọn chính sách 24
6 Các kiến nghị chính sách 26
Trang 41 Tổng quan
Sự phát triển kinh tế ở cả nông thôn và thành thị không những đã thúc đẩy sự phát triển ở nông thôn Việt Nam mà còn đặt ra các vấn đề thách thức cho khu vực này Năng suất nông nghiệp tăng cao trong thời gian qua, một mặt đã giúp đảm bảo an ninh lương thực cho đât nước, mặt khác tạo ra sự dôi dư lao động ở nông thôn Với điều kiện khan hiếm diện tích đất ở nông thôn, đặc biệt là đất nông nghiệp và sự tăng trưởng dân số cao so với khu vực thành thị, vấn đề dư thừa lao động ngày càng cộm lên ở nông thôn và trở nên nghiêm trọng hơn trong suốt 20 năm qua Thất nghiệp và bán thất nghiệp đã và đang trở thành vấn đề lớn
vì khả năng tạo ra việc làm cho lao động ở nông thôn là rất yếu Tất cả các nhân tố này cùng với khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn đã sinh ra các dòng di cư từ nông thôn ra thành thị Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá vẫn đang tiếp diễn ở Việt Nam, khu vực thành thị sẽ tiếp tục được mở rộng và vùng nông thôn ngày càng
bị thu hẹp lại Áp lực đối với khu vực nông thôn sẽ gia tăng và vì vậy, không thể tránh khỏi thực tế về các dòng di cư lao động lớn từ nông thôn ra thành thị trong thời gian tới
Khá nhiều mặt khác nhau của quá trình di cư ở Việt Nam đã được phân tích trong các nghiên cứu, tuy nhiên, rất ít sự chú ý được dành cho vai trò của di cư đối với việc phát triển thị trường lao động nông thôn và phát triển nông thôn nói chung Hầu hết các nghiên cứu phân tích các hình thức, động cơ và các mặt kinh tế xã hội khác của di cư (Đặng N A
và Nguyễn T.L (2006)), tuy nhiên, tác động của di cư chủ yếu được phân tích ở khu vực thành thị và tổng quát hơn là ở những đầu đến của di cư, chẳng hạn như Đặng N A và Lê B.D (2001) nghiên cứu sự di cư của phụ nữ và gắn kết với vùng đô thị Trong khi đó Hà T
P T và Hà Q.N (2000) lại phân tích những vấn đề khác nhau của di cư tự do từ nông thôn
và thành thị của phụ nữ Một số nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến di cư
và tác động của di cư chủ yếu tới các vùng đô thị như Đặng N A và Lê (2001), Đặng N A
và các cộng sự (2006), Thân V L (1997) và Nguyễn V.T (1998) Thực tế, có rất ít nghiên cứu đề cập phần nào tới tác động của di cư đến các vùng xuất phát của di cư Thân V L (1997) và Đỗ V H (1999) có đề cập nhưng hai nghiên cứu trên phân tích các tác động này
ở một mức độ khá khiêm tốn
Tuy nhiên, tác động của di cư bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực tới vùng xuất phát
di cư không nên bị bỏ qua Các lợi ích tiềm năng đối với các vùng xuất phát di cư có thể kể
đến: i) Làm giảm nhẹ tình trạng dư thừa lao động nông thôn; ii) Kiều hối; iii) Kỹ năng và iv) Đầu tư ((iii) và (iv) do lao di cư trở về địa phương tạo nên) và các tác động tiêu cực có thể bao gồm chẳng hạn như “chảy máu chất xám” của những người di cư có trình độ cao một cách tương đối, sự khan hiếm lao động nông nghiệp, các vấn đề xã hội v.v… Cần lưu
ý rằng mối quan hệ giữa di cư và thị trường lao động nông thôn hay phát triển nông thôn là một “dòng chảy”, tức là chúng tương tác lẫn nhau Vì vậy, ít nhất các tác động “hai vòng”
sẽ được xem xét trong nghiên cứu này
Do sự thiếu vắng các nghiên cứu về tác động của di cư đến các vùng xuất phát di cư, một
điều lô-gic và cũng là một thực tế là cho đến nay có rất ít các nghiên cứu về tiềm năng của
việc tạo lập các chính sách nhằm tối đa hoá lợi ích do di cư đem lại đối với các vùng nông thôn xuất phát di cư Thân Văn Liên (1997) đưa ra một số giải pháp mang tính chất gợi ý
cho vùng nông thôn xuất phát di cư chỉ với mục tiêu ngăn cản các dòng di cư tự do lớn từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam chẳng hạn như giúp đỡ nông dân trong việc mở rộng sản xuất nông nghiệp, củng cố cơ sở hạ tầng v.v… Tuy nhiên, các chính sách này mặc dù
đề cập đến các vùng nông thôn xuất phát di cư, nhưng không được thiết kế nhằm nâng cao lợi ích của những vùng này Cho đến hiện nay, mới có rất ít chính sách đề cập đến tiềm năng cải thiện sự phát triển nông thôn từ những lợi ích của di cư ở Việt Nam Trong một
Trang 5cách nhìn tương tự nhưng rộng hơn của di cư quốc tế, Taylor và các cộng sự (1996) cho
rằng: “Các chính sách của chính phủ phản ánh một mối liên kết rất chặt chẽ giữa di cư và
phát triển… Hơn là can thiệp trực tiếp vào thị trường lao động, các chính phủ mà muốn giảm các dòng di cư đi thì cần phải có ý định sửa chữa những khiếm khuyết ở các thị trường vốn và thị trường rủi ro trong nước, bằng cách đưa ra các lựa chọn khác nhau về tín dụng hộ và bảo hiểm đối với di cư.” Đó chỉ là một vài trong số các chính sách di cư có
thể được tạo lập mà các cấp chính quyền có thể xem xét áp dụng nhằm thúc đẩy sự phát triển của các vùng di cư xuất phát
Nhận thức được tầm quan trọng của việc di cư đối với chính quê nhà của họ và sự thiếu vắng các nghiên cứu về các vấn đề nêu trên, nghiên cứu này được thực hiên nhằm: i)
Mô tả thị trường lao động nông thôn và di cư ở Việt Nam; (ii) Phân tích tác động của các dòng di cư đối với thị trường lao động nông thôn, và iii) Đề xuất các chính sách về di cư để tối đa hóa lợi ích ở cấp địa phương
Câu hỏi nghiên cứu chính ở đây là “Những tác động có thể của di cư đối với thị trường lao động nông thôn tại những nơi có dân đi là gì và những chính sách nào có thể tối
đa hoá lợi ích của di cư đi đối với phát triển nông thôn?” Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của di cư trên 2 cấp độ: những tác động đối với hộ gia đình và những tác động đối với xã có di dân
Ở cấp độ hộ gia đình, nghiên cứu về cơ bản phân tích tác động của di cư đến cầu lao động hộ ở nông thôn bao gồm các quyết định của hộ và các hệ quả của nó Một số câu hỏi nghiên cứu cụ thể trong nghiên cứu bao gồm: i) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc phân bổ lực lượng lao động nông nghiệp, phi nông nghiệp và lao động làm công ăn lương của hộ gia đình ?; ii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; và iii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến năng suất lao động trong các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp?
Ở cấp độ xã, phân tích cũng được thực hiện nhằm nghiên cứu tác động của di cư đến thị trường lao động cũng như về khía cạnh chi tiêu Các giả thuyết chính được kiểm nghiệm trong phân tích là: i) Những người sử dụng lao động ở những vùng có di cư tương đối cao phải đối mặt với các vấn đề về thay thế lao động, có lợi nhuận ít hơn và thị trường nhỏ hơn do tác động của di cư; ii) Di cư không chỉ tốt cho bản thân người di cư mà còn tốt cho cả gia đình của họ và địa phương (xã); và iii) Cấu trúc chi tiêu từ tiền người di cư gửi
về của các hộ có người di cư thay đổi và có tác động tích cực tới sự phát triển của địa phương
Nguồn thông tin quan trọng được sử dụng để phân tích “tác động tại cấp xã” là kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu tại các vùng nông thôn trong cả nước Cuộc khảo sát này được thiết kế phục vụ cho mục đích riêng của nghiên cứu này và được tiến hành tại 8
xã (thuộc 5 tỉnh) nơi mà gần đây có tỷ lệ di cư đi cao (kể từ năm 1993) và cũng là nơi đã được khảo sát bởi tất cả các cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam Để đảm bảo tính đại diện trên toàn quốc và sự cân đối giữa các vùng, 4 xã ở miền Bắc (thuộc 3 tỉnh) và
4 xã khác (thuộc 2 tỉnh) ở miền Nam đã được chọn Đại diện các Uỷ ban Nhân dân Xã, các
hộ gia đình có người di cư, các hộ gia đình không có người di cư, các doanh nghiệp và trường học đã được phỏng vấn để có thể thu được các thông tin và nhận thức khác nhau về tình hình di cư ở địa phương Cùng với các nguồn dữ liệu thứ cấp khác, nghiên cứu này có
sử dụng một phần số liệu từ các cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam và tập trung khai thác bộ số liệu VHLSS2004 Những số liệu này được sử dụng để lượng hoá tác động của di cư đối với thị trường lao động nông thôn tại cấp hộ gia đình
Nghiên cứu sử dụng kết hợp cả hai phương pháp phân tích định lượng và phân tích
Trang 6định tính khi phân tích tác động của di cư ở cả hai cấp độ hộ gia đình và cấp xã Về mặt định lượng, mô hình bài toán kinh tế hộ của BENJAMIN (1992) được sử dụng để phân tích tác động của di cư ở cấp độ hộ gia đình và các hồi qui logit thứ tự được dùng để phân tích tác động này ở cấp độ xã cũng như đối với kỳ vọng về di cư trong tương lai và đánh giá đối với các lựa chọn chính sách nhằm tối đa hoá lợi ích cho thị trường lao động nông thôn và phát triển nông thôn
2 Thị trường lao động nông thôn và di cư nông thôn ở Việt Nam
Thị trường lao động nông thôn Việt Nam hiện nay có đặc trưng là dư thừa lao động, chủ yếu là lao động nông nghiệp và có rất ít việc làm công trong lĩnh vực nông nghiệp Bức tranh di cư nông thôn của Việt Nam được minh họa bởi di cư theo kế hoạch và di cư trong nền kinh tế thị trường Mặc dù di cư theo kế hoạch đã đạt được một số những thành tựu quan trọng, ngày nay di cư theo thị trường được quan tâm nhiều hơn
2.1 Thị trường lao động nông thôn Việt Nam
• Dư thừa lao động lớn ở nông thôn: Trong tổng số hơn 82 triệu người Việt Nam, hiện
vẫn có gần 60,4 triệu người hay 73,68% tổng dân số sống ở nông thôn Vì cơ cấu dân số nông thôn có tỷ lệ lao động trẻ cao, lực lượng lao động nông thôn vẫn tiếp tục tăng lên với khoảng 0,5 triệu người mỗi năm Hệ quả là, có một lượng dư thừa lao động lớn ở nông thôn Việt Nam Mặc dù số liệu chính thức về tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn vẫn thấp hơn đáng kể so với thành thị (1,18% so với 5,6%, năm 2004), tình trạng thất nghiệp ở đây tương đối phổ biến
• Việc làm nông nghiệp ở nông thôn: Trong cơ cấu lao động nông thôn 10 năm gần
đây, tỷ lệ lao động làm việc trong công nghiệp và dịch vụ đã tăng từ 10,88% năm 1996 lên 17,35% năm 2004 Cũng trong khoảng thời gian này, lực lượng lao động làm việc trong nông nghiệp đã giảm xuống đáng kể (CIEM, 2006) Xu hướng việc làm như vậy ở vùng nông thôn tiếp tục được khẳng định trong Bảng 2.1
Bảng 2.1: Việc làm phi nông nghiệp theo vùng
Điều tra Mức sống Việt Nam (giờ lao động)
Điều tra Lao động và Việc làm
Nguồn: Lê X.B và các cộng sự (CIEM, 2006)
Tuy nhiên, hiện nay việc làm ở nông thôn Việt Nam vẫn đặc trưng bằng việc làm nông nghiệp với hơn 60% lao động ở vùng nông thôn làm việc trong lĩnh vực này, và khoảng 52% tổng thời gian làm việc của lao động ở các vùng nông thôn được dành cho công việc nông nghiệp
việc làm tự tạo đã liên tục tăng lên trong khu vực phi nông nghiệp trong khi việc làm tự tạo nông nghiệp lại giảm xuống Tỷ lệ việc làm tự tạo phi nông nghiệp đã tăng gấp đôi từ
Trang 710,9% đến 20,3% trong tổng việc làm tự tạo ở nông thôn trong giai đoạn từ 1997 đến 2004 Ngược lại, việc làm tự tạo trong khu vưc nông nghiệp đã thống trị với 83,26% trong năm
2001 và 79,62% trong năm 2004 Những số liệu này tiếp tục khẳng định đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp có tính tự cấp của Việt Nam
Khác với việc làm tự tạo, việc làm công ở vùng nông thôn cho thấy một xu hướng tương tự như xu hướng của việc làm phi nông nghiệp Gần 90% việc làm công ở vùng nông thôn là việc làm phi nông nghiệp Thị trường lao động nông thôn đang thay đổi theo xu hướng khu vực phi nông nghiệp tiếp tục chiếm phần lớn việc làm công Về mặt này, khu vực phi nông nghiệp của Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ việc làm công cao nhất trong các năm 1997 –
2004, và những tỷ lệ này tăng dần lên Nhưng ở đồng bằng sông Mê-kông thì lại khác Mặc
dù, khu vực phi nông nghiệp vẫn chiếm một phần lớn trong cơ cấu việc làm công (73,72% trong năm 2004), tỷ lệ việc làm công trong nông nghiệp của vùng này vẫn cao nhất trong
cả nước
2.2 Tình hình di cư nông thôn Việt Nam
Di cư đã diễn ra từ lâu tại Việt Nam Hầu hết các hoạt động di cư đều có liên quan đến khu vực nông thôn bao gồm di cư từ nông thôn đến nông thôn và từ nông thôn đến thành thị Do đặc điểm này, di cư ở Việt Nam có thể được xem là di cư nông thôn Có một điểm chung là từ trước đến nay, tình hình di cư vẫn liên tục tăng lên
Di cư theo kế hoạch: Trong thời kỳ này, do thiếu đất canh tác ở các vùng đồng
bằng, di cư được tổ chức bởi chính quyền, và chủ yếu là để đưa người từ vùng nông thôn này đến các vùng nông thôn khác để thực hiện các kế hoạch phát triển khác nhau Dòng di
cư lớn nhất trong thời kỳ này là di cư từ đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long đến Tây nguyên Một số dòng di cư đi đến các khu vực miền núi phía bắc và số khác đến các vùng biên giới Có thể nói rằng mặc dù di cư theo kế hoạch đã đạt được một số thành tựu, song nó đã không huy động được tính tự chủ và và sự tham gia của những người trực tiếp chịu sự ảnh hưởng của chính sách
Di cư trong nền kinh tế thị trường: Một loại di cư đa dạng hơn bắt đầu từ thời kỳ
đổi mới Loại di cư này chủ yếu do các động lực về kinh tế thúc đẩy, do vậy được xem là
di cư trong nền kinh tế thị trường Do đó, nơi đến của dòng di cư thị trường này là các tỉnh
có mức độ công nghiệp hóa cao hơn, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Quảng Ninh và Đà Nẵng là 5 nơi đến quan trọng nhất Đồng thời, những nơi đi chủ yếu bao gồm Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Tây và Quảng Nam Trong số 5 tỉnh
có nhiều người đến nhất trong giai đoạn 2002-2004, các dòng di cư có tính tập trung cao và chủ yếu đến Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bình Dương Trong khi các dòng di cư đi lại phân bố đều hơn theo 5 nơi đi chủ yếu Khi xem xét kỹ hơn, chúng ta thấy các dòng di
cư di chuyển từ tỉnh có GDP trên đầu người thấp, chỉ số Phát triển Con người thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao đến các tỉnh có GDP trên đầu người cao, chỉ số phát triển con người cao và
tỷ lệ thất nghiệp thấp
Trong năm 2004, tỷ lệ những người rời khỏi gia đình ở vùng ven biển Nam bộ là 3,38%, đây là tỷ lệ cao nhất khi so sánh theo vùng Tỷ lệ này ở vùng đồng bằng Sông Hồng, ven biển Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long là xấp xỉ 1% Khi đề cập đến nơi đến, vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ người di cư cao nhất so với 8 vùng trong cả nước với 4,16% trong tổng lực lượng lao động, vùng này nhận được 67% tổng số người di cư trong
cả nước và tiếp đó là vùng Đông Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ tương ứng là 11%
Trang 8và 8%.1
Phân tích di cư theo trình độ học vấn và lý do di cư: Có thể thấy trình độ học vấn
của những người di cư từ đồng bằng sông Hồng là tốt nhất Có tới 35,53% trong tổng số những người di cư đi khỏi vùng này có trình độ phổ thông trung học, và 5,8% trong số họ tốt nghiệp đại học Vùng Đông Bắc bộ và vùng Đông Nam bộ là những vùng tiếp theo có trình độ học vấn của người di cư đi cao với 25,87% và 28,8% là các tỷ lệ tương ứng số người nhập cư từ các vùng này có trình độ trung học phổ thông, trong khi tỷ lệ tốt nhiệp đại học tương ứng là 2,85% và 2,59% Các vùng tiếp nhận dân di cư ở miền Bắc dễ dàng thu hút lao động nhập cư có trình độ cao hơn (45% những người nhập cư có trình độ trung học phổ thông), trong khi đó, mặc dù có nền tảng phát triển công nghiệp hoá mạnh hơn, các vùng tiếp nhận dân đến ở miền Nam khó có được lao động nhập cư có học vấn cao (80% những người nhập cư vào những vùng này chỉ có trình độ trung học cơ sở)
Trong số những lý do di cư, tìm việc làm và điều kiện sống tổt hơn là những lý do chủ yếu của những người di cư hiện đang sinh sống và làm việc ở các thành phố và các vùng khác nhau
3 Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – phân tích ở mức hộ gia đình
Di cư xuất phát từ hộ gia đình, vì vậy tác động trực tiếp của nó cũng tập trung ở hộ gia đình (TAYLOR ET AL 1996) Hai ảnh hưởng quan trọng nhất liên quan đến cung lao động và
thu nhập chuyển giao Hộ gia đình có các thành viên di cư sẽ đối mặt với sự sụt giảm cung lao động nhưng thường có thêm thu nhập gửi về đáng kể Trong phần này chúng tôi sẽ nghiên cứu tác động của việc cá nhân di cư tới các hộ gia đình ở vùng nông thôn Việt nam với việc phân tích 3 vấn đề nghiên cứu chính: i) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc phân bổ lực lượng lao động nông nghiệp, phi nông nghiệp và lao động làm công ăn lương của hộ gia đình? ii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn ngành nghề trong từng lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp? và iii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến năng suất lao động trong các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp?
Mô hình bài toán của hộ của BENJAMIN (1992) được sử dụng trong nghiên cứu có dạng tổng quát sau:
)
;,(max
;,
Trang 9H O F
DO
DF L L L L
trong đó:
u(c,l;a) là một hàm lợi ích gần lõm có thể lấy đạo hàm hai lần
c tiêu dùng của hộ gia đình
l thời gian nghỉ ngơi của hộ gia đình
a làm một vec-tơ đặc tính của hộ gia đình (trong đó có các biến di cư)
L DF nhu cầu lao động nông nghiệp của hộ gia đình
L DO nhu cầu lao động phi nông nghiệp của hộ gia đình
F(L DF ,L DO ;A) là hàm sản suất thông thường có thể đạo hàm 2 lần
L F cung lao động cho các hoạt động nông nghiệp
L O cung lao động cho các hoạt động phi nông nghiệp
L W cung lao động làm công ăn lương
L H lao động đi thuê
w lương cho L H và L W
T(a) quĩ thời gian
y(a) thu nhập ngoại lai
Kết hợp (2)-(4) cho ta ràng buộc thu nhập tổng hợp:
Y a y a wT A L L
w
wl
trong đó π(w,L DF,L DO;A)=F(L DF,L DO;A)−wL DF −wL DO (6)
Quá trình tối ưu hóa có thể diễn ra lần lượt, đầu tiên tối ưu hóa hàm lợi nhuận theo L DF và
L DO sau đó tối đa hóa hàm lợi ích theo c và l với ràng buộc về thu nhập, phương trình (5), với hàm lợi nhuận tối ưu [π*=π(w,L DF* ,L DO* ;A)] Như vậy, lợi nhuận sẽ được tối đa hóa
độc lập so với các sở thích và cung lao động của hộ gia đình Bản chất lần lượt của quá trình tối đa hóa này gọi là đặc điểm ‘phân tách’
Với đặc điểm ‘phân tách’, lao động thực tế được sử dụng trong nông nghiệp và phi nông nghiệp có thể được xác định từ lời giải của hệ phương trình đạo hàm bậc nhất của hàm lợi nhuận:
w A L
L
F DF DO
L DF( , ; )= (7)
w A L
L
F DF DO
và lời giải này có thể được thể hiện bằng một hàm số của lương và đất đai: L DF* (w;A) và
L DO* (w;A) Nhu cầu lao động chỉ phụ thuộc vào công nghệ sản xuất và lương, không phụ
thuộc vào các sở thích của hộ gia đình
Với đặc điểm ‘phân tách’, các đặc điểm của hộ gia đình (trong đó có di cư) không thể ảnh
hưởng tới nhu cầu lao động L DF* và L DO* (và năng suất lao động F/L) Khi thị trường lao
động đã phát triển, lao động đi thuê có thể thay thế hoàn hảo cho những người di cư, và sản xuất của hộ gia đình sẽ không bị ảnh hưởng
Tuy vậy, như BENJAMIN (1992) đã chỉ ra, đặc điểm ‘phân tách’ sẽ không giữ được trong một vài trường hợp Những trường hợp đó là: (1) Ràng buộc đối với lao động phi nông nghiệp có hiệu lực; (2) Nhu cầu lao động làm thuê quá lớn; và (3) lao động của hộ gia đình
và lao động được thuê là không thể thay thế cho nhau Những điều kiện trên nhằm đảm bảo
Trang 10cho lợi nhuận bị ràng buộc và sản phẩm cận biên của lao động tại điểm tối ưu không bằng
được với mức lương (w) trên thị trường như phương trình (7) và (8) Nếu những điều kiện
này xảy ra, sản phẩm cận biên của lao động tại điểm tối ưu (còn gọi là lương ẩn) không bằng với mức lương thị trường, và mức lương ẩn sẽ phụ thuộc vào sở thích của hộ gia đình Khi đó, di cư sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn lao động thông qua lương ẩn
3.2 Dạng hàm thực nghiệm
Theo BENJAMIN (1992), chúng ta giả định hàm cầu lao động tối ưu có dạng log-tuyến tính:
A w
L DF DF DFln * DFln
A w
L DO DO DOln * DOln
Cũng theo BENJAMIN (1992) chúng ta giả định hàm lương ẩn có dạng tích số:
w a m
A
a
trong đó m(a) được lựa chọn sao cho nó bằng 1 khi giả thuyết không ‘phân tách’ xảy ra
(tức là khi di cư không có ảnh hưởng tới cầu lao động của hộ gia đình) và có dạng2:
Trong trường hợp giả thuyết không, tức là đặc điểm ‘phân tách’ đúng, δ≈0 và lô-ga-rít tự
nhiên của lương ẩn có thể được ước lượng:
a w
w*= ln +δ
Khi đó hàm cầu lao động có thể được đơn giản như sau
a A w
L DF =αDF +βDFln +γDFln +δDF
a A w
L DO =αDO+βDOln +γDOln +δDO
trong đó δ DF =δβ DF , δ DO =δβ DO
Nếu δ DF ≠0 và δ DO ≠0, đặc biệt nếu hệ số của các biến di cư khác không, chúng ta loại bỏ
giả thuyết ‘phân tách’ chấp nhận trường hợp không phân tách, và di cư sẽ có ảnh hưởng tới cầu lao động của hộ gia đình Khi có di cư, chúng ta kỳ vọng là những thành viên còn lại sẽ
lao động chăm chỉ hơn để bù đắp cho sự sụt giảm T(a), nhưng nếu không được bù đắp toàn
phần cung lao động sẽ giảm (và F/L tăng lên) Tuy nhiên, nếu lao động dư thừa và sản phẩm cận biên của lao động bằng không [mô hình Lewis, xem LEWIS (1954)] thì các thành viên của hộ gia đình có thể sẽ không chăm chỉ hơn Do vậy, cung lao động sẽ chỉ có thể xác định bằng nghiên cứu thực nghiệm
Với hàm cầu lao động được biểu diễn ở trên và với hàm sản xuất có dạng Cobb-Douglas, năng suất lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp có thể được biểu diễn như sau:
2 Ở đây chúng tôi cũng bỏ qua đât đai trong hàm m(a) do những lý do tương tự như BENJAMIN (1992) đã chỉ ra: chúng tôi chỉ quan tâm đến tác động của di cư tới lượng lao động tối ưu mà hộ gia đình sử dụng, không phải là để tính lương ẩn Dầu sao thì việc thêm đất đai vào cũng không ảnh hưởng nhiều đến kết quả tính toán
Trang 11A b a A w
a c
L A b L a c L
Y
DF DF
DF DF
DF DF
DF
DF DF
DF DF DF DF
F
ln]
lnln
)[
1(
lnlnln
)
/
ln(
++
++
−+
=
−+
+
=
δγ
β
A b a A w
a c
L A b L a c L
Y
DO DO
DO DO
DO DO
DO
DO DO
DO DO DO DO
O
ln]
lnln
)[
1(
lnlnln
)
/
ln(
++
++
−+
=
−+
+
=
δγ
β
Như vậy, năng suất lao động có thể được nghiên cứu giống như cầu lao động
3.3 Kết quả hồi qui
Mô hình thực tế được chạy chủ yếu dựa trên bộ cơ sở dữ liệu của Điều tra mức sống hộ gia
đình Việt Nam năm 2004 Ảnh hưởng của di cư vĩnh viễn và di cư ngắn hạn được xem xét
một cách riêng biệt Di cư vĩnh viễn là những người đã rời khỏi hộ gia đình3 lâu dàiđể đi
lao động Trong khi đó, người di cư ngắn hạn là những người là thành viên của hộ gia đình
nhưng ở trong hộ ít hơn 6 tháng trong vòng 12 tháng qua Chúng tôi nhận thấy rằng, mô
hình được thể hiện tốt hơn khi sử dụng các biến di cư là tỷ lệ của những người di cư trên
tổng số người trong hộ gia đình so với trường hợp dùng biến giả di cư Các biến khác có
liên hệ trực tiếp tới hiện tượng di cư là lượng tiền người lao động chuyển về gia đình, cả
tiền gửi về từ trong nước lẫn kiều hối Để tránh vấn đề qui mô, chúng tôi cũng sử dụng tỷ
số giữa tiền gửi về và thu nhập của hộ gia đình chứ không phải là số tuyệt đối
3.3.1 Di cư và cầu lao động nông thôn
Di cư và mức cầu lao động tối ưu đối với các hoạt động nông nghiệp
Bảng 3.1 cho thấy những kết quả ước lượng cầu lao động đối với các hoạt động nông
nghiệp Do vấn đề nội sinh của di cư, chúng tôi đã ước lượng 3 phương trình của cầu lao
động: bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) của phương trình (14), OLS của phương
trình (14) với các đặc điểm của xã, OLS với các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh Việc
thêm các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh không thay đổi đáng kể hệ số của các biến di
cư (chúng không có ý nghĩa ở cả ba kết quả ước lượng các phương trình), do đó vấn đề nội
sinh không quan trọng đối với kết quả tính toán của chúng tôi Mặc dù vậy, kết quả ước
lượng vẫn ủng hộ giả thuyết không ‘phân tách’
Bảng 3.1: Kết quả ước lượng hàm cầu lao động nông nghiệp
Bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) OLS với các đặc điểm của xã
OLS với các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh†
Trang 12Bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) OLS với các đặc điểm của xã
OLS với các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh†
Trang 13Bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) OLS với các đặc điểm của xã
OLS với các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh†
Kiểm định Robust t trong ngoặc; * Có ý nghĩa ở mức 10%; ** Có ý nghĩa ở mức 5%; *** Có ý nghĩa ở
mức 1% †Kết quả ước lượng cho các biến giả không được báo cáo ở đây để tránh dài dòng
Kết quả hồi qui phương trình (14) đã loại bỏ giả thuyết ‘phân tách’ cho trường hợp các
nông dân Việt nam Bảng 3.1 cho thấy, mặc dù hệ số của các biến di cư không có ý nghĩa
(Tỷ lệ di cư vĩnh viễn, Tỷ lệ di cư ngắn hạn, Kiều hối, Tiền người lao động chuyển về từ
trong nước) và sự có mặt của tất cả các biến này cũng không có ý nghĩa thống kê, nhưng
các hệ số của biến “Chủ hộ hiện tại là người đơn chiếc”, Qui mô hộ gia đình, Tỷ lệ trẻ em,
Loại nhà, Trình độ học vấn của chủ hộ có ý nghĩa thống kê ít nhất ở mức 5% Kiểm định F
của các biến xã và biến giả của tỉnh có ý nghĩa thống kê ở mức ít nhất 2% Điều này gợi ý
rằng kết quả ước lượng phương trình (14) với đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh là mô
hình tốt nhất
Mặc dù di cư không có ảnh hưởng trực tiếp tới cầu lao động nông nghiệp, di cư có thể ảnh
hưởng tới cầu lao động nông nghiệp thông qua Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em do hệ
số của những biến này có ý nghĩa thống kê Do chỉ có Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em
có ý nghĩa thống kê, tác động của di cư ngắn hạn và vĩnh viễn đối với cầu lao động nông
nghiệp là như nhau Thêm một người di cư khỏi một hộ gia đình bình thường sẽ làm giảm
cầu lao động nông nghiệp tới 73 ngày công (từ 403 xuống 330 ngày công) Tuy nhiên, do
số ngày làm việc trung bình trong năm trên mỗi một người trong độ tuổi lao động là 252
ngày, tổng cộng sự sụt giảm cầu lao động nông nghiệp vẫn nhỏ hơn số người di cư (một
người/năm) Điều này có nghĩa là, những người ở lại đã làm nhiều hơn để bù đắp cho
những người di cư
Di cư và cầu lao động phi nông nghiệp tối ưu
Tương tự như trường hợp lao động nông nghiệp, kết quả ước lượng cũng phủ nhận giả
thuyết ‘phân tách’ với hệ số của Tiền người lao động gửi về từ trong nước, Dân tộc của
chủ hộ, Qui mô hộ gia đình, Tỷ lệ trẻ em, Mức độ nghèo đói theo phân loại của địa
phương, Trình độ học vấn của chủ hộ có ý nghĩa thống kê ít nhất ở mức 10% Hệ số của
Kiều hối có ý nghĩa thống kê ở mức 5% khi đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh được
thêm vào
Trang 14Mặc dù hệ số của các biến di cư (vĩnh viễn và ngắn hạn) không có ý nghĩa thống kê, di cư vẫn có tác động gián tiếp đến cầu lao động phi nông nghiệp thông qua Qui mô hộ gia đình,
Tỷ lệ trẻ em và Tiền người lao động chuyển về Di cư ngắn hạn sẽ có tác động âm rõ ràng tới cầu lao động phi nông nghiệp Cùng với việc những người lớn di cư, Qui mô hộ gia đình giảm và Tỷ lệ trẻ em tăng lên, do vậy cả hai sẽ cùng có tác động tiêu cực đến cầu lao động phi nông nghiệp Do di cư ngắn hạn chỉ có thể có tác động tới cầu lao động phi nông nghiệp thông qua 2 biến trên, nên tác động này là tiêu cực Di cư vĩnh viễn sẽ tác động đến cầu lao động phi nông nghiệp thông qua tất cả các biến: Qui mô hộ gia đình, Tỷ lệ trẻ em
và Tiền người lao động chuyển về Tác động thông qua Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em
âm như đã nói ở trên Tác động gián tiếp thông qua kiều hối cũng là tiêu cực theo như kết quả mô hình
Để có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của di cư, chúng tôi mô phỏng tác động của việc có thêm một người di cư khỏi hộ gia đình Kết quả mô hình cho thấy một người là nam giới di
cư vĩnh viễn có tác động lớn nhất đến cầu lao động phi nông nghiệp Di cư ngắn hạn có tác động ít nhất Nếu tính theo ngày công, một người là nam giới di cư vĩnh viễn sẽ làm giảm cầu lao động phi nông nghiệp từ mức trung bình 226 ngày công xuống còn 193 ngày công Thêm một thành viên nữ di cư vĩnh viễn sẽ làm giảm nhu cầu lao động phi nông nghiệp từ mức trung bình xuốn còn 194 ngày công và một người di cư ngắn hạn sẽ giảm cầu lao động phi nông nghiệp trung bình xuống còn 208 ngày công Những sự sụt giảm này nhỏ hơn so với mức ngày công lao động phi nông nghiệp trung bình (156 ngày công) Như vậy kết quả cho thấy những người còn lại trong hộ gia đình đã làm thêm để bù đắp cho những người đi khỏi hộ gia đình
Bảng 3.2 Tác động của việc thêm một người di cư tới cầu lao động phi nông nghiệp (thay đổi log của cầu lao động phi nông nghiệp)
Ảnh hưởng gián tiếp thông qua Ảnh
hưởng trực tiếp Qui mô hộ gia đình Tỷ lệ trẻ em lao động gửi Tiền người
về từ trong nước
Kiều hối
Tác động tổng cộng
3.3.2 Phân bổ lao động của hộ ở khu vực nông thôn:
Trong phần này, chúng tôi sẽ nghiên cứu tác động của di cư đến phân bổ lao động của hộ gia đình Khác với phần trước, trong phần này lao động trong các hoạt động phi nông nghiệp sẽ bao gồm cả lao động phi nông nghiệp tự làm và lao động làm công ăn lương
Các hoạt động nông nghiệp
Để nghiên cứu sự lựa chọn của hộ gia đình giữa các hoạt động nông nghiệp khác nhau, chúng tôi ước lượng một mô hình logit đa thức với trồng trọt là nhóm so sánh Hoạt động chính của hộ gia đình được định nghĩa là hoạt động tạo ra thu nhập cao nhất cho hộ gia đình Các biến độc lập bao gồm đặc điểm của hộ gia đình và biến giả của vùng Có tất cả 8