CÔNG DỤNG CHÍNH CỦA DẦU NHỜNBôi trơn giảm ma sát các chi tiết chuyển động; Giảm sự mài mòn hay ăn mòn các chi tiết máy; Tẩy sạch bề mặt linh kiện, chi tiết máy móc, động cơ; Tránh tạo cá
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁI QUÁT VỀ DẦU NHỜN
Ngô Thanh Hải Copyright © 2010 AP SAIGON PETRO JSC
CÔNG TY CỔ PHẦN AP SAIGON PETRO
Trang 2LỊCH SỬ NGÀNH DẦU NHỜN
Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái
niệm về dầu nhờn
Tất cả các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn
bằng dầu mỡ lợn và sau đó dùng dầu ôliu, và dầu thảo
mộc khác (như dầu cọ)
Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu là
dầu hỏa, phần còn lại là mazut (chiếm 70% – 90%) không
được sử dụng và coi như bỏ đi
Với sự phát triển của ngành công nghiệp dầu mỏ thì
lượng cặn mazut càng ngày càng lớn, buộc con người
phải nghiên cứu để sử dụng nó vào mục đích có lợi
Lúc đầu cặn dầu mỏ được pha thêm vào dầu thực vật
hoặc mỡ lợn với tỉ lệ thấp để tạo ra dầu bôi trơn, nhưng từ
năm 1867 cặn dầu mỏ được chế ra dùng làm dầu nhờn
Năm 1870 ở Creem (Nga), tại nhà máy Xakhanxkiđơ bắt
đầu chế tạo được dầu nhờn từ dầu mỏ, nhưng chất lượng
thấp Từ 1880 ngành chế tạo dầu nhờn đã thực sự phát
triển và đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử chế tạo
chất bôi trơn
Hiện nay, dầu nhờn có mặt trên toàn thế giới với sự đa
dạng về sản phẩm & chủng loại Dầu nhờn phát triển
mạnh mẽ nhờ sự cạnh tranh giữa các tập đoàn lớn và
theo yêu cầu ngày càng cao của các động cơ
Trang 3CÔNG DỤNG CHÍNH CỦA DẦU NHỜN
Bôi trơn (giảm ma sát) các chi tiết chuyển động;
Giảm sự mài mòn hay ăn mòn các chi tiết máy;
Tẩy sạch bề mặt linh kiện, chi tiết máy móc, động cơ;
Tránh tạo các lớp cặn bùn trong quá trình vận hành;
Trám & làm khít các bề mặt cần làm kín;
Tản nhiệt, làm mát máy móc, động cơ;
Truyền nhiệt trong các hệ thống gia nhiệt;
Chống sét rỉ
Trong số các tính năng trên, bôi trơn là chức năng quan trọng
nhất của dầu nhờn Bôi trơn là biện pháp làm giảm ma sát
đến mức thấp nhất bằng cách tạo ra giữa các bề mặt ma sát
một lớp chất gọi là chất bôi trơn
Chất bôi trơn đa phần ở dạng lỏng (dầu nhờn), phần còn lại
là dạng đặc (mỡ), và ở tỉ lệ rất ít là dạng rắn (chỉ dùng trong
các ổ trục hoạt động ở nhiệt độ cao hoặc trong chân không)
3 / 96
Trang 4THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – DẦU GỐC
Dầu nhờn để bôi trơn cho các động cơ hoạt động vận
hành trong thực tế là hỗn hợp bao gồm dầu gốc và phụ
gia Phụ gia thêm vào với mục đích giúp dầu nhờn có
được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu
gốc không có được
Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử
lý tổng hợp bằng các quá trình xử lý vật lý và hóa
học
Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu thực
vật, dầu khoáng và dầu tổng hợp
Dầu thực vật chỉ dùng trong một số trường hợp đặc
biệt, chủ yếu là phối trộn với dầu khoáng hoặc dầu
tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định
Ngày nay người ta thường sử dụng dầu khoáng hay
dầu tổng hợp là chủ yếu
Với tính chất ưu việt như giá thành rẻ, sản phẩm đa
dạng và phong phú, dầu khoáng đã chiếm một vị trí
quan trọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn
Trong ngành công nghiệp sản xuất dầu nhờn hiện
đại, dầu tổng hợp giữ một vị trí quan trọng và ngày
càng được quan tâm nhiều bởi tính chất ưu việt
Trang 5THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – DẦU GỐC KHOÁNG
SẢN XUẤT TỪ CẶN MAZUT là phần cặn của quá trình chưng cất khí quyển có nhiệt độ sôi cao
hơn 350°C Phần cặn này có thể đem đi đốt hoặc làm nguyên liệu để sản xuất dầu gốc Để sản
xuất dầu gốc người ta đem mazut chưng cất chân không thu được phân đoạn có nhiệt độ sôi
khác nhau:
Phân đoạn dầu nhẹ (LVGO: Light Vacuum Gas Oil) có nhiệt độ sôi từ 300°C - 350°C
Phân đoạn dầu trung bình (MVGO: Medium Vacuum Gas Oil) có nhiệt độ từ 350°C - 420°C
Phân đoạn dầu nặng (HVGO: Heavy Vacuum Gas Oil) có nhiệt độ từ 420°C - 500°C
Thành phần của các phân đoạn này gồm những phân tử hydrocarbon có số carbon từ C21-40,
những hydrocarbon trong phân đoạn này có trọng lượng phân tử lớn (1000 – 10000), cấu trúc
Trang 6THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – DẦU GỐC KHOÁNG
SẢN XUẤT TỪ CẶN MAZUT
Các hợp chất phi hydrocarbon như các hợp chất chứa các nguyên tố ôxy, nitơ, lưu huỳnh cũng
chiếm phần lớn trong phân đoạn dầu gốc Các hợp chất chứa kim loại cũng gặp trong phân đoạn
này Nói chung, các hợp chất phi hydrocarbon là rất có hại, chúng tạo ra màu sẫm và làm giảm
độ ổn định ôxy hoá ở sản phẩm, cụ thể là:
Hợp chất chứa lưu huỳnh (S): chỉ cho phép ở mức từ 0,3%-0,5%; nếu lớn hơn 2%-5% sẽ ảnh
hưởng đến nhiệt độ sôi của dầu Ngoài ra, S tự do dễ bị biến thành H2S (Hydro Sunfua) hoặc
gặp hơi nước hay khí lạnh tạo thành axit H2S (Axit Sunfuhidric) gây ăn mòn thiết bị, động cơ
Hợp chất chứa ôxy (O
2): nếu hàm lượng lớn sẽ làm dầu lắng và kết tủa ở dạng keo nhựa đen nằm dưới đáy các thùng chứa, làm giảm khả năng đốt cháy của nhiên liệu, tạo ra các hợp
chất axit vô cơ và hữu cơ ăn mòn các thiết bị
Hợp chất chứa Nitơ (N): làm ảnh hưởng đến tỉ trọng và hàm lượng keo Thường khống chế ở
ngưỡng ≤0,2%, nếu quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng tạo nhiều muội than trong quá trình đốt
Các hợp chất nhựa Asphalt: có độ nhớt lớn & chỉ số độ nhớt (VI: Viscosity Index, độ biến
thiên độ nhớt theo nhiệt độ) rất thấp Trong quá trình bảo quản, rất dễ bị ôxy hoá khi tiếp xúc
với ôxy trong không khí Các chất này tạo cặn không tan đọng trong dầu gây mài mòn máy
Hợp chất cơ kim: có tác hại như nhựa Asphalt, làm nóng máy và khi đốt tạo nhiều muội than
Trong quá trình sản xuất dầu gốc, các hợp chất có hại nêu trên được loại ra (hoặc giảm thiểu)
khỏi dầu bằng nhiều biện pháp khác nhau
Trang 7THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – DẦU GỐC KHOÁNG
SẢN XUẤT TỪ CẶN GUDRON là phần cặn còn lại của quá trình chưng cất chân không, có
nhiệt độ sôi trên 500°C Trong phần này tập trung các cấu tử có số nguyên tử carbon từ C41 trở
lên, thậm chí có cả C80, có trọng lượng phân tử lớn, có cấu trúc phức tạp Do đó, thành phần
của phân đoạn này không được chia theo từng hợp chất riêng biệt mà phân làm ba nhóm:
Nhóm chất dầu bao gồm các hydrocarbon có phân tử lượng lớn, tập trung nhiều các hợp
chất thơm có độ ngưng tụ cao, cấu trúc hỗn hợp nhiều vòng giữa hydrocarbon thơm và
naphten, đây là nhóm chất nhẹ nhất có tỷ trọng xấp xỉ bằng 1 Nhóm chất này hòa tan được
các dung môi nhẹ như parafin và xăng, nhưng người ta không thể tách nó bằng các chất
như silicagen hay là than hoạt tính vì đây là những hợp chất không có cực Trong phân đoạn
cặn Gudron, nhóm này chiếm khoảng 45%-46%
Nhóm chất nhựa hòa tan được trong các dung môi như nhóm dầu nhưng nó là hợp chất có
cực nên có thể tách ra bằng các chất như than hoạt tính hay silicagen Nhóm chất nhựa gồm
hai thành phần là các chất trung tính và axit Các chất trung tính có màu nâu hoặc đen, nhiệt
độ hóa mềm nhỏ hơn 100°C, tỷ trọng lớn hơn 1, dễ dàng hòa tan trong xăng, naphtan Chất
trung tính tạo cho nhựa có tính dẻo dai và tính kết dính Hàm lượng của nó ảnh hưởng trực
tiếp đến độ kéo dài của nhựa, chiếm khoảng 10%-15% khối lượng cặn Gudron
Nhóm Asphanten là nhóm chất rắn màu đen, cấu tạo tinh thể, tỷ trọng lớn hơn 1, chứa hầu
hết hợp chất dị vòng có khả năng hòa tan mạnh trong Carbon Disunfua (CS2), nhưng không
hòa tan trong các dung môi nhẹ như parafin hay xăng, ở 300°C không bị nóng chảy mà bị
cháy thành tro
Nhóm dầu, nhựa, asphanten tồn tại ở trạng thái hệ keo, trong đó nhóm nhựa tan trong dầu tạo
thành một dung dịch thật sự gọi là môi trường phân tán Asphanten không tan trong nhóm dầu
nên tồn tại ở trạng thái pha phân tán Ngoài ba nhóm chất trên, trong cặn Gudron còn tồn tại các
hợp chất cơ kim của kim loại nặng, các hợp chất carbon, cacboit, các hợp chất này không tan
Trang 8THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN
PHÂN LOẠI DẦU GỐC THEO BẢN CHẤT HOÁ HỌC CỦA CÁC HYDROCARBON
(các phân đoạn dầu gốc thuộc họ Naphteno- Parafinic và Parafino- Naphtenic hay Parafinic)
VI thấp;
Độ ổn định nhiệt nhỏ hơn dầu gốc paraffin;
Hàm lượng lưu huỳnh thấp;
Điểm đông đặc rất thấp;
Trị số TAN cao
VI rất thấp;
Độ bền nhiệt thấp;
Độ bền ôxy hoá thấp;
Hàm lượng lưu huỳnh cao;
Điểm đông cao
dầu gốc parafin thường được dùng
để sản xuất nhiều loại dầu nhờn khác nhau;
Đặc biệt là dùng cho dầu động cơ
Dầu gia công kim loại;
Dung môi hòa tan polymer
Trang 9THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN
PHÂN LOẠI DẦU GỐC THEO TIỂU CHUẨN API (AMERICAN PETROLEUM INSTITUTE)
9 / 96
Nhóm Chỉ số độ nhớt (VI) Hydrocarbon bão hoà Sulfur Ghi chú
V Tất cả các loại dầu gốc còn lại không bao gồm Nhóm I, II, III, IV
VI Europa Only (ATIEL) - PIO (Poly Internal Olefins)
Ghi chú: Chỉ số Độ nhớt (VI: Viscosity Index) là một chỉ tiêu về chất lượng dầu nhờn, là trị số thể hiện sự
biến đổi của Độ nhớt Động học (Kinematic Viscosity) theo nhiệt độ Độ nhớt giảm xuống theo sự tăng lên
của nhiệt độ Dầu có Chỉ số Độ nhớt (VI) càng cao thể hiện sự biến đối Độ nhớt Động học theo nhiệt độ của
loại dầu đó càng ít.
PHÂN LOẠI DẦU GỐC THEO ĐỘ NHỚT
Dầu gốc SN (Solvent Neutral) từ các phân đoạn chưng cất, phân loại theo độ nhớt
Saybolt SUS (Saybolt Universal Second) ở 40oC (100oF): SN50, SN70, SN150, SN250,
SN500
Dầu gốc BS (Bright Stock) từ phân đoạn cặn, phân loại theo độ nhớt Saybolt SUS
(Saybolt Universal Second) ở 100oC (210oF): BS150, BS250
Trang 10THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – DẦU TỔNG HỢP
Dầu gốc sản xuất từ dầu mỏ (dầu khoáng) vẫn chiếm ưu thế
do có những ưu điểm như: công nghệ sản xuất dầu đơn giản,
giá thành rẻ Nhưng ngày nay, để đáp ứng yêu cầu cao của
dầu nhờn bôi trơn, người ta bắt đầu quan tâm đến dầu tổng
hợp nhiều hơn
Dầu tổng hợp là dầu được tạo ra bằng các phản ứng hóa học
từ những hợp chất ban đầu, do đó có những tính chất được
định ra trước Nó có thể có những tính chất tốt nhất của dầu
khoáng, bên cạnh đó còn có các tính chất đặc trưng khác
như: không cháy, không hòa tan lẫn trong nước
Ưu điểm của dầu tổng hợp là có khoảng nhiệt độ hoạt động
rộng từ -55°C đến 320°C, có độ bền nhiệt lớn, có nhiệt độ
đông đặc thấp, chỉ số độ nhớt cao… Chính những ưu điểm
này mà dầu tổng hợp ngày càng được sử dụng nhiều, nhất là
trong các động cơ phản lực Có hai phương pháp chính để
phân loại dầu tổng hợp:
Phương pháp 1: dựa vào một số tính chất đặt thù để phân
loại như: độ nhớt, khối lượng riêng
Phương pháp 2: dựa vào bản chất của dầu, theo đó chia
dầu tổng hợp thành những loại chính sau: hydrocarbon
tổng hợp, este hữu cơ, poly glycol, và este photphat Bốn
hợp chất chính này chiếm trên 40% lượng dầu tổng hợp
tiêu thụ trên thực tế
Trang 11THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – PHỤ GIA
Những hiệu ứng phụ không mong muốn của các loại phụ gia cần phải được giảm thiểu và
việc kết hợp các loại phụ gia phải được tính toán và điều chỉnh nhằm đạt được các tính năng
tối ưu cho dầu nhờn pha trộn ra từ việc kết hợp này
Phụ gia là một phần rất quan trọng trong dầu nhờn Thông dụng nhất hiện nay là dùng các
phụ gia họ metal phenoxid có công thức RC6H4ONa, nhiệm vụ của chúng là:
trung hòa các axit tạo ra bởi các gốc sulfur có trong dầu;
ngăn cản quá trình ôxy hóa xảy ra trong dầu;
tẩy sạch và làm lắng đọng các hạt muội than, các sản phẩm phân hủy và vận chuyển
chúng đến bộ lọc dầu để loại chúng ra khỏi chu trình làm việc của dầu nhờn
11 / 96
Phần lớn các loại dầu nhờn cần nhiều loại phụ gia khác
nhau để thoả mãn tất cả các yêu cầu về tính năng
Các loại phụ gia khác nhau có thể hỗ trợ cho nhau tạo
nên hiệu ứng tương hỗ hoặc ngược lại có thể tương tác
với nhau tạo nên hiệu ứng đối kháng làm giảm hiệu ứng
của phụ gia (và tạo ra các sản phẩm phụ không tan hoặc
có hại)
Hiệu ứng tương tác giữa các loại phụ gia xảy ra do hầu
hết các loại phụ gia là những hợp chất hoạt động nên có
thể dễ dàng tương tác với nhau để tạo ra các hợp chất
mới
Vì vậy, việc kết hợp các loại phụ gia đòi hỏi phải khảo sát
kỹ các tác động qua lại, cơ chế hoạt động của từng loại
phụ gia và tính hoà tan giữa các loại phụ gia
Trang 12THÀNH PHẦN CỦA DẦU NHỜN – PHỤ GIA
Một lớp phụ gia khác được dùng làm chất chống bào mòn, ví dụ
như dialkyldithiophotphat kẽm Zn[S2P(OR)2]2 Chất phụ gia này
bám thành lớp mỏng vài micromet trên bề mặt kim loại và có tác
dụng ngăn cản bề mặt bị trầy xước Các hợp chất của kẽm cùng
với các amin như là diphenylamin vừa là chất ức chế ăn mòn kim
loại vừa là chất chống ôxy hóa
Các chức năng quan trọng của phụ gia:
Làm tăng độ bền ôxy hoá của sản phẩm;
Ngăn chặn hiệu ứng xúc tác của kim loại trong quá trình ôxy
hoá và ăn mòn;
Chống ăn mòn; giảm và ngăn chặn sự mài mòn;
Chống rỉ;
Chống tạo cặn bám và cặn bùn (phụ gia tẩy rửa);
Giữ các tạp chất bẩn ở dạng huyền phù (phụ gia phân tán);
Tăng chỉ số độ nhớt;
Giảm nhiệt độ đông đặc;
Làm dầu có thể trộn lẫn với nước (phụ gia tạo nhũ);
Chống tạo bọt;
Ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật (phụ gia diệt khuẩn);
Làm dầu có khả năng bám dính tốt; làm tăng khả năng làm
kín;
Giảm ma sát;
Chống sự kẹt xước các bề mặt kim loại (phụ gia cực áp)
Trang 13SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT DẦU NHỜN
13 / 96
Trang 14MA SÁT LÀ GÌ?
Khi một vật dịch chuyển trên bề mặt của một vật khác thì
sẽ xuất hiện một lực cản lại chuyển động của chính vật
thể đó, lực ma sát
Trong một số trường hợp, lực ma sát cũng có ích như lực
ma sát dùng trong các cỗ phanh, các truyền động dây
đai
Trong nhiều trường hợp khác thì lực ma sát lại rất có hại,
ví dụ khi chuyển hoá năng lượng từ dạng này sang dạng
khác, nhiệt năng biến thành cơ năng để khắc phục phải
tốn hao nhiều năng lượng
Các loại ma sát thường gặp:
Ma sát trượt: khi một vật rắn trượt trên vật khác, bề
mặt tiếp xúc sinh ra lực ma sát gọi là ma sát trượt;
Ma sát lăn: khi một vật hình tròn/cầu lăn trên bề mặt
của vật khác, tại điểm/đường tiếp xúc sinh ra lực ma
sát gọi là ma sát lăn
Nguyên nhân của ma sát:
Do sự liên kết cơ học của các chỗ lồi trên bề mặt một
vật rắn (chỉ thấy rõ qua kính hiển vi);
Do tác dụng tương hỗ giữa các phân tử bề mặt làm
việc tại các điểm tiếp xúc
Ma sát trượt thường lớn hơn gấp 10-100 lần ma sát lăn
Trang 15MA SÁT LÀ GÌ?
Hiện tượng ma sát luôn làm toả nhiệt, gây mài mòn các chi
tiết làm việc, và kéo theo sự hao phí công suất nhằm khắc
phục ma sát
Trong quá trình nghiên cứu tìm biện pháp làm giảm các
hao tổn do ma sát gây ra, người ta phát hiện ra rằng khi
các bề mặt được bôi trơn bằng dầu thì ma sát giảm xuống
rất nhiều
Trong một số điều kiện nhất định, ma sát trượt ở các bề
mặt được bôi trơn đôi khi còn nhỏ hơn cả ma sát lăn
Khi hai bề mặt chuyển động lên nhau được ngăn cách bởi
một lớp dầu thì sẽ xuất hiện ma sát lỏng, nghĩa là một lực
ma sát trong bản thân lớp dầu giữa các phân tử dầu Tuy
nhiên, mức độ tổn thất năng lượng trong ma sát lỏng thì
vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với ma sát khô
Ma sát lỏng có nhiều ưu điểm hơn ma sát khô, điển hình
như:
Độ mài mòn các chi tiết giảm đi rất rõ;
Tổn thất công suất chống ma sát giảm đi;
Các chi tiết ít bị nóng hơn;
Các vật ma sát có thể chịu được tải trọng lớn hơn;
Nâng cao độ bền và kéo dài thời gian hoạt động của
các chi tiết làm việc
15 / 96
Trang 16NGUYÊN LÝ BÔI TRƠN
Yêu cầu hàng đầu của chất lỏng dùng để bôi trơn là phải
có khả năng chảy loang trên bề mặt kim loại Chất lỏng có
tính chất này dễ chảy loang, len vào các khe nhỏ và bám
chắc trên bề mặt kim loại Ngược lại, sẽ không thể chảy
loang và len vào các khe nhỏ
Lực liên kết giữa các phân tử chất lỏng với nhau cũng là
một tính chất quan trọng của các chất bôi trơn Lực liên
kết này càng lớn thì lực ma sát giữa các phân tử chuyển
động của chất lỏng càng lớn
LỰC MA SÁT TRONG của chất lỏng, nghĩa là ma sát sinh
ra giữa các phân tử chuyển động của chất lỏng được gọi
là ĐỘ NHỚT
Nhà bác học Nga N.P Petrov đã chứng minh được rằng
khi trục quay trong vòng bi thì lớp dầu hoàn toàn ngăn
cách các bề mặt làm việc với nhau, và như vậy nó ngăn
cản không cho các bề mặt tiếp xúc trực tiếp với nhau
N.P Petrov đã hình thành nên môn khoa học nghiên cứu
chuyển động của chất lỏng gọi là Lý thuyết Bôi trơn Thủy
động học
Các nguyên lý bôi trơn lỏng đều được biểu diễn bằng
những công thức toán học Các nhà thiết kế và chế tạo
máy có thể dựa vào những công thức đó để tính toán bề
dày của lớp dầu giữa các chi tiết làm việc và tác dụng làm
mát của dầu
Trang 17NGUYÊN LÝ BÔI TRƠN
Các phép toán trong lý thuyết bôi trơn chủ yếu dùng để
tính toán các điều kiện nhằm duy trì sự bôi trơn lỏng và
các điều kiện mà tại đó gây ra sự phá hủy lớp dầu, xuất
hiện ma sát khô, đe doạ máy móc và thiết bị
Trong thực tế, nếu không đề cập đến các tính toán, vẫn có
thể ứng dụng những nguyên lý cơ bản rút ra từ Lý thuyết
Bôi trơn Thủy động học như sau:
Trong trường hợp ma sát lỏng, nếu độ nhớt của dầu
cùng tốc độ trượt của các chi tiết làm việc và bề mặt
tiếp xúc của chúng tăng, thì lượng tổn thất do ma sát
sẽ tăng lên;
Độ nhớt của dầu tăng lên, tải trọng của các chi tiết làm
việc giảm thì độ bền bôi trơn lỏng sẽ tăng lên;
Đối với các chi tiết làm việc có chuyển động nhanh cần
dùng dầu có độ nhớt thấp, và ngược lại;
Khe hở giữa các chi tiết làm việc càng lớn, thì dầu bôi
trơn càng cần phải có độ nhớt cao;
Tải trọng trên các chi tiết làm việc càng lớn, thì dầu bôi
trơn càng cần phải có độ nhớt cao
17 / 96
Trang 18TÀI LIỆU THAM KHẢO DẦU CÔNG NGHIỆP
Copyright © 2010 AP SAIGON PETRO JSC
CÔNG TY CỔ PHẦN ÁP SÀI GÒN DẦU KHÍ
Trang 19GIỚI THIỆU
Dầu công nghiệp bao gồm các loại dầu nhờn được sử dụng để bôi trơn
máy móc công nghiệp nhằm duy trì hoạt động của tất cả các loại máy
móc, thiết bị công nghiệp
Phạm vi sử dụng của dầu bôi trơn công nghiệp là rất rộng với hàng
trăm sản phẩm khác nhau Vì vậy, về tổng thể, nếu dựa vào công dụng
chính của dầu công nghiệp, có thể chia dầu công nghiệp ra làm 2 nhóm
lớn như sau:
Dầu công nghiệp thông dụng: sử dụng cho máy móc, thiết bị (như
máy dệt, xe cẩu, máy móc phục vụ xây dựng ) hoạt động ở điều
kiện tải trọng thấp và nhiệt độ thấp, không có những yêu cầu đặc
biệt về chất lượng - trừ tính bôi trơn Chính vì vậy, chỉ cần dựa vào
độ nhớt mà có thể đánh giá mức độ ổn định, khả năng chống lão
hóa của loại dầu này
Dầu công nghiệp đặc biệt: là các loại dầu chuyên dụng, dùng cho
các chi tiết/thiết bị riêng biệt, các máy móc có cơ cấu tốc độ cao
(như máy mài, ổ trục), hệ thống thủy lực của các thiết bị công
nghiệp truyền động bánh răng dẫn hướng trượt trong máy (máy cắt
gọt kim loại, máy cán thép…) Dầu tuabin, dầu máy nén, dầu cách
điện, dầu xylanh, dầu chân không và dầu máy khoan (khoan khí)…
đều thuộc nhóm dầu nhờn chuyên dụng Loại dầu này đòi hỏi phải
đảm bảo tiêu hao do ma sát nhỏ và không có hiện tượng cháy ở mặt
tiếp xúc, có độ ổn định chống oxy hóa, chống mài mòn Trên thế
giới, dầu công nghiệp chiếm một tỉ trọng khá lớn so với tổng lượng
các loại dầu bôi trơn - khoảng trên 60%, con số này ở Việt Nam là
30%-40% nhưng đang dần tăng rất nhanh
19 / 96
Trang 20PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 3448 – PHÂN CẤP THEO ĐỘ NHỚT
Căn cứ vào các đặc trưng về mặt hóa lý hoặc mục đích sử dụng, Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc
tế (ISO: International Organization for Standardization) đưa ra nhiều tiêu chuẩn phân loại
Dầu nhờn công nghiệp được sản xuất chủ yếu từ dầu khoáng và do điều kiện làm việc của
loại dầu này không quá khắt khe như dầu động cơ nên độ nhớt là chỉ tiêu quan trọng nhất
để phân loại Tiêu chuẩn ISO 3448 phân loại theo độ nhớt đối với dầu công nghiệp như sau:
STT CẤP ĐỘ NHỚT
ISO 3448
ĐỘ NHỚT ĐỘNG HỌC Ở 40 o C STT
CẤP ĐỘ NHỚT ISO 3448
ĐỘ NHỚT ĐỘNG HỌC Ở 40 o C
11 12 13 14 15 16 17 18 19 20
Trang 21PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-0:1981 – PHÂN LOẠI THEO CÔNG DỤNG & LĨNH VỰC DÙNG
21 / 96
Hiện nay, tiêu chuẩn ISO 6743-99:2002 đã thay thế 6743-0:1981 Tuy nhiên, do các điều kiện khách quan, nên tài liệu này vẫn dùng 6743- 0:1981 (với một số cập nhật).
Sự phân loại theo tiêu chuẩn ISO 6743-0:1981 (sau là 6743-99:2002)
là sự phân loại tổng quan
Để giúp người sử dụng dễ tra cứu, lựa chọn nhanh các loại dầu cần thiết, tổ chức ISO đã tiếp tục phân loại sâu thêm thành các nhóm nhỏ
Trang 22PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-1:2002 – PHÂN LOẠI THEO NHÓM A: HỆ BÔI TRƠN HỞ
Nhóm Ứng dụng chung Thông tin chi tiết Thành phần & đặc tính ISO-L Cấp ứng dụng Lĩnh vực Ghi chú
A Hệ bôi trơn hở Mã nhóm Dầu khoáng chưa tinh chế AY Kết cấu thô, trục, ghi
đường sắt, v.v (a) Một số sản phẩm
của nhóm này có thể chứa các thành phần nguy hại đến sức khỏe
và môi trường.
Dầu khoáng tinh AN Các chi tiết tải trọng nhẹ
(trục quay, bánh răng), tời trục trong hệ thống thủy động học.
Dầu khoáng tinh có chứa bitumen (nhựa đường) và các phụ gia nâng cao các đặc tính nhất định như tính bám dính, cực áp, chống mài mòn.
AB Truyền động bánh răng
hở làm việc ở tốc độ thấp và tải trọng không cao, cáp điện, băng chuyền cơ khí (b)
Dầu từ nguồn dầu khoáng, dầu động vật, dầu thực vật hoặc dầu tổng hợp, có chứa các phụ gia tính năng đáp ứng đặc tính yêu cầu.
AC Dây xích cưa của cưa
máy (có lưỡi cưa cấu tạo bằng dây xích).
(a) Đối với các ứng dụng xả thẵng vào môi trường, dầu nhờn sử dụng phải tuân thủ luật pháp hiện hành của mỗi nước sở tại.
(b) Đối với các ứng dụng như bánh rằng hở, cáp điện, băng chuyền cơ khí, ghi đường sắt, trục quay sử dụng mỡ bôi trơn mịn
đến lỏng thì việc phân loại các loại mỡ bôi trơn này được qui định tại các tiêu chuẩn phân loại khác.
Trang 23PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-2:1981 – PHÂN LOẠI THEO NHÓM F: TRỤC & KHỚP NỐI
23 / 96
LĨNH VỰC
SỬ DỤNG
MÁY MÓC KẾT CẤU
BỘ PHẬN BÔI TRƠN
THÀNH PHẦN
& ĐẶC TÍNH
CẤP ISO
Dầu khoáng tinh có đặc tính tốt (chống ăn mòn, oxy hóa do pha phụ gia)
FC Bôi trơn ổ trục và
khớp nối dưới áp suất của bể dầu nhờn hoặc màn sương dầu.
Loại trừ việc sử dụng phụ gia – chống mài mòn
và chống kẹt xước do khả năng ăn mòn các mối nối.
Trục chính
ổ trục Dầu khoáng tinh có đặc tính tốt (chống ăn mòn,
mài mòn, oxy hóa do pha phụ gia)
FB Bôi trơn ổ trục
trượt vào trục lăn
ở áp suất do dùng bể dầu nhờn hoặc màn sương dầu.
Trang 24PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
THEO AGMA (AMERICAN GEAR MANUFACTURERS ASSOCIATION)
Theo cách này, ngoài chỉ số nhớt (VI ≥ 90) và độ bền oxy hoá, phân loại AGMA còn đánh
giá khả năng chống ăn mòn, chống rỉ, chống tạo bọt, đầy nước và độ sạch dầu Đối với dầu
có pha phụ gia chống kẹt xước còn đáng giá thêm khả năng chống kẹt xước và tính hoà tan
của phụ gia
DẦU PHA PHỤ GIA CHỐNG
MÀI MÒN & OXY HOÁ
SỐ HIỆU DẦU PHA PHỤ GIA CHỐNG KẸP XƯỚC EP
*** EP: Extreme Pressure (Phụ gia EP được dùng với mục đích giảm mài mòn trên bề mặt các
linh kiện, thiết bị chịu cực áp).
Trang 25CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG (HỘP SỐ)
GEAR OIL
CÔNG TY CỔ PHẦN ÁP SÀI GÒN DẦU KHÍ
25 / 96
Trang 26CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG (HỘP SỐ) – GEAR OIL
Sử dụng cho kết cấu hộp số cơ, hộp số phụ, cầu dẫn
hướng của ô tô và bộ truyền động máy kéo thường dùng
bánh răng thẳng và bánh răng xiên, truyền động bánh răng
côn xoắn và truyền động trục vít
Kiểu truyền động, đặc tính, kết cấu và điều kiện vận hành
của máy móc xác định yêu cầu về chất lượng đối với dầu
truyền động bánh răng (hộp số) Để đảm bảo hoạt động
bình thường của hệ truyền động, dầu phải đạt các yêu cầu
cơ bản sau:
Chống ăn mòn và chống mài mòn;
Độ bền nhiệt cao (Chỉ số Độ nhớt - VI: Viscosity Index
cao);
Độ bền ôxy hóa cao (chống rỉ sét, ăn mòn);
Độ bám cao, bảo vệ tốt thiết bị;
Không độc hại và không ảnh hưởng đến môi trường
Truyền động bánh răng trong các thiết bị công nghiệp
thường chia làm 02 nhóm:
Bánh răng đặc biệt và bánh răng trục vít (trục khuỷu,
côn xoắn, hypoid);
Bánh răng trục và bánh răng côn với vòng quay đầu
tiên của bánh răng sẽ lăn mà không trượt
SPUR - NHỌN HELICAL - XOẮN
HERRINGBONE BEVEL – CÔNIC
WORM - TRỤC VÍT NON-CIRCULAR
EPICYCLIC SUN & PLANET
Trang 27CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG (HỘP SỐ) – GEAR OIL
27 / 96
PHÂN LOẠI THEO TIÊU CHUẨN SAE J306
(phiên bản hiệu chỉnh tháng 06/2005) – SAE: Society of Automotive Engineers
Độ nhớt SAE Nhiệt độ tối đa cho
(4) Giới hạn cũng phải đáp ứng thử nghiệm theo CEC L-45-A-99, Phương pháp C (20 giờ)
(5) Tiêu chuẩn ASTM D2983 không được xây dựng cho độ chính xác dưới -40 o C Điều này cần được xem xét thận trọng trong quá trình ứng dụng.
GHI CHÚ: 1 cP = 1 mPa*s; 1 cSt = 1 mm 2 /s (cP: CentiPoises; mPa*s: MilliPascal-second: cSt: CentiStokes) (SAE 110, 190 chưa ứng dụng rộng rãi)
Với các loại dầu nhờn có tăng cường phụ gia chống mài mòn, phía sau ký tự tiêu chuẩn thường đặt thêm “EP” (Extreme Pressure: Cực Áp)
hoặc “HD” (Heavy Duty: Công việc/Tải trọng nặng) tùy thuộc vào mức độ & yêu cầu đề ra.
Trang 28CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG (HỘP SỐ) – GEAR OIL
PHÂN LOẠI THEO TIÊU CHUẨN API
API: American Petroleum Institute
GL1 Dùng cho hệ truyền động bánh răng kiểu hình trụ, trục
vít, côn xoắn làm việc ở tốc độ và tải trọng nhẹ. + Thường không có phụ gia.+ Có thể có phụ gia chống oxy hóa, chông ăn mòn và
chống tạo bọt nhưng không có phụ gia chống kẹt xước GL2 Dùng cho truyền động trục vít làm việc ở điều kiện như
GL1, nhưng có yêu cầu cao hơn về tính chống ma sát. + Khác với nhóm GL1, trong nhóm này có phụ gia giảm ma sát GL3 Dùng cho hệ truyền động bánh răng côn xoắn, làm việc ở
điều kiện khắc nghiệt về tốc độ và tải trọng. + Có tính chống mài mòn và chống kẹt xước tốt hơn GL2, nhưng kém hơn GL4
GL4 Dùng cho các hệ truyền động hypoid, làm việc ở tốc độ
cao với moment quay thấp, và ở tốc độ thấp với moment quay điều kiện cao.
+ Có phụ gia chống kẹt xước chất lượng cao.
GL5 Dùng cho các hệ truyền động hypoid, làm việc ở tốc độ
cao với moment quay thấp.
Hệ truyền động có tải trọng va đập trên bánh răng truyền động, hoạt động ở tốc độ trược cao.
+ Điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn so với GL4.
+ Phụ gia chống kẹt xước có chứa phosphor và lưu huỳnh.
GL6 Dùng cho truyền động hypoid có sự dịch chuyển dọc
theo trục của hệ truyền động (dịch chuyển mạnh ở hệ hypoid bình thường), gặp moment quay lớn khi tăng tốc
độ và tải trọng va đập.
+ Có phụ gia chống kẹt xước chứa phosphor và lưu huỳnh nhiều hơn nhóm GL5.
MT-1 Thường dùng cho hộp số tay không đồng bộ trong các
động cơ tải trọng nặng như xe buýt (bus) và xe tải. + Dầu có tính năng bền nhiệt, và 10% phụ gia EP (Extreme Pressure: cực áp) và giảm ma sát.
Trang 29PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-6:1990 – NHÓM C: TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG
bôi trơn bằng dòng bắn tia tuần hoàn hoặc phun
Dầu khoáng tinh chế với độ bền ôxy hóa, chống ăn mòn (kim loại có sắt và không có sắt), và chống tạo bọt
CKB Điều kiện tải trọng nhẹ
Dầu Nhóm CKB có tăng cường EP (Extreme Pressure: Cực áp) và AW (Anti-Wear: Chống Ăn mòn)
CKC Điều kiện làm việc ổn
định về nhiệt độ dầu bình thường và trung bình, với tải trọng nặng
Xem Phụ lục C.A
Dầu Nhóm CKC có tăng cường ổn định nhiệt/ôxy hóa đáp ứng điều kiện làm việc ở nhiệt độ cao hơn
CKD Điều kiện làm việc ổn
định ở nhiệt độ cao, với tải trọng nặng
Dầu Nhóm CKB với sự bảo đảm hệ số ma sát thấp CKE Điều kiện làm việc có ma sát cao (vd bánh
răng trục vít) Dầu có độ bền ôxy hóa,
chống ma sát và chống ăn mòn, ở dãy nhiệt độ lớn (thấp
và cao)
CKS Điều kiện làm việc dầu
ở nhiệt độ ổn định rất thấp, thấp và rất cao với tải trọng nhẹ
1) Phụ lục C.A 2) Các sản phẩm
có yêu cầu kỹ thuật cao thường
là dầu tổng hợp
do dầu khoáng không đảm bảo tốt
Dầu Nhóm CKS ở dãy nhiệt
độ lớn (thấp và cao) làm việc
ở tải trọng nặng
CKT Điều kiện làm việc dầu
ở nhiệt độ ổn định rất thấp, thấp và rất cao với tải trọng nhẹ Dầu phun
tia liên tục Mỡ nhờn chịu cực áp có tính năng AW (Anti-Wear) CKG
a Điều kiện tải trọng nhẹ Xem Phụ lục C.A
(còn tiếp)
Trang 30PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-6:1990 – NHÓM C: TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG
Nhóm Ứng dụng chung Ứng dụng đặc biệt Thông tin chi tiết Thành phần & đặc tính ISO-L Cấp ứng dụng Lĩnh vực Ghi chú
sự đảm bảo
về an toàn
Bôi trơn gián đoạn hay nhỏ giọt hay theo thiết
kế cơ khí
Dầu có thành phần nhựa đường (bituminous) với tính năng chống ăn mòn
CKH Bánh răng hình trụ
hoặc hình nón (xiên góc) hoạt động trong môi trường nhiệt độ trung bình, với tải trọng nhẹ
1) Phụ lục C.A 2) Dầu Nhóm AB theo ISO 6743-1 có thể được dùng như Nhóm CKJ
3) Có thể dùng với chất pha loãng dễ bay hơi (CKH-DIL, CKJ-DIL)
Dầu Nhóm CKH có tăng cường EP (Extreme Pressure) và AW (Anti-Wear)
CKJ
Mỡ nhờn tăng cường EP,
AW, chống ăn mòn, và ổn định nhiệt
CKLa Bánh răng hình trụ
hoặc hình nón hoạt động trong môi trường nhiệt độ cao và rất cao, với tải trọng nặng
Xem Phụ lục C.A
Bôi trơn gián đoạn Dầu có tính năng chống kẹt xước cho phép làm việc trong
điều kiện cực áp (EP), và dầu
có tính năng chống ăn mòn
CKM Điều kiện làm việc tải
trọng rất nặng không thường xuyên
Dầu không thể phun tia
a Các sản phẩm loại này có thể là một số loại Mỡ nhờn Các loại Mỡ nhờn này theo tiêu chuẩn ISO 9743-9 nên được tư vấn bởi
nhà cung cấp.
Trang 31PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-6:1990 – NHÓM C: TRUYỀN ĐỘNG BÁNH RĂNG
31 / 96
PHỤ LỤC C.A
Để lập tiêu chuẩn phân loại này, có 02 nhóm yếu tố quan trọng cần xét đến:
Môi trường làm việc; và
Điều kiện làm việc của bánh răng (tải trọng cùng tốc độ trượt)
Trên đây không phải là các yếu tố duy nhất cần xét đến khi lựa chọn dầu nhờn, nhưng do
tính quan trọng và thiết yếu nên các yếu tố này cần phải được xác định Các bảng tiếp sau
mang tính hướng dẫn khi lựa chọn dầu mỡ nhờn, tuy nhiên đây cũng chỉ là sự tham khảo
Tính ổn định nhiệt của dầu
hoặc môi trường nhiệt độ
Điều kiện làm việc của bánh răng
Tải trọng nhẹ Tải trọng làm việc thường nhỏ hơn
500 MPa (MegaPascal; 500 N/mm2)
và với tốc độ trượt tối đa (vg) trên bề mặt bánh răng nhỏ hơn 1/3 bước răng trượt trên trục quay
Tải trọng nặng Tải trọng làm việc thường lớn hơn
500 MPa (MegaPascal; 500 N/mm2)
và với tốc độ trượt tối đa (vg) trên bề mặt bánh răng lớn hơn 1/3 bước răng trượt trên trục quay
Qui đổi: 1 N/mm 2 = 10,194 kg/cm 2
Trang 32CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU MÁY NÉN
COMPRESSOR OIL
CÔNG TY CỔ PHẦN ÁP SÀI GÒN DẦU KHÍ
Trang 3333 / 96
Dầu máy nén bao gồm dầu máy nén khí và dầu máy nén lạnh (dầu máy
lạnh)
Trong công nghiệp dầu khí, máy nén có những ứng dụng như nén khí
đồng hành, nén khí thiên nhiên để hóa lỏng, để tồn chứa hoặc vận
chuyển khí dưới dạng nén hóa lỏng, để phân tích các thành phần hóa
học…
Trong công nghiệp hóa chất, máy nén dùng để nén và hóa lỏng không
khí, phân tích khi nitơ và ôxy trong các nhà máy sản xuất phân đạm…
Máy nén còn có ứng dụng trong kỹ nghệ lạnh và các máy hút chân
không
Yêu cầu bôi trơn cho các máy nén rất khác nhau và tùy thuộc vào kiểu
máy nén, kiểu khí được nén… Ngoài ra việc bôi trơn chịu ảnh hưởng của
áp suất và nhiệt độ vận hành
Về mặc nguyên lý và cơ học, các máy nén khí và máy lạnh có điểm khác
nhau cơ bản là sự ảnh hưởng của khí lên dầu bôi trơn Đối với máy nén
lạnh và máy điều hòa nhiệt độ cần phải hết sức chú ý đến việc tác nhân
làm lạnh luôn được trộn lẫn với dầu trong quá trình tuần hoàn
Máy nén làm tăng áp suất của khí hoặc hỗn hộp các khí và chuyển
chúng đến nơi cần sử dụng Ngược lại, máy chân không làm giảm áp
suất xuống thấp hơn áp suất khí quyển và theo cách nhìn nhận này thì
máy nén hoạt động theo chiều ngược với bơm chân không Vì vậy dầu
bôi trơn và việc bôi trơn đối với các bơm chân không cũng được gộp
luôn vào phần dầu máy nén
CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU MÁY NÉN – COMPRESSOR OIL
Trang 34Máy nén gồm có 2 loại chính:
Máy nén kiểu thể tích (dòng gián đoạn), gồm các loại:
cylinder-piston, rotor
Máy nén kiểu động lực (dòng liên tục), gồm các loại: ly tâm,
trục vít, kiểu dòng hỗn hợp… Máy nén khí kiểu động lực cũng
được gọi là máy nén kiểu turbine
Với 2 loại máy nén nói trên, dầu bôi trơn và khí tiếp xúc mạnh
trong điều kiện liên tục tiếp xúc với bề mặt kim loại ở áp suất và
nhiệt độ cao
Khí càng bị nén thì nhiệt độ phát ra càng cao Nhiệt độ sinh ra có
thể lên đến 270oC khi áp suất đẩy nằm trong khoảng 750-820kPa
trong kỳ nén thứ nhất Điều kiện làm việc như vậy sẽ thúc đẩy
các phản ứng hóa học của chất bôi trơn, trong đó chủ yếu sẽ tạo
ra quá trình ôxy hóa
Khi quá trình ôxy hóa diễn ra, các hợp chất bị ôxy hóa sẽ tiếp tục
bị polymer hóa, tạo ra các chất có tính nhớt để đến một giai đoạn
nào đó nó sẽ trở nên không tan trong dầu (kết tủa), đây là
nguyên nhân tạo ra nhựa và bùn cặn lắng lại trong dầu máy nén
Chức năng chính của dầu máy nén là:
Bôi trơn, làm giảm ma sát, chống mài mòn;
Tản nhiệt, làm mát máy;
Làm kín buồng nén;
Chống ăn mòn linh kiện, thiết bị
CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU MÁY NÉN – COMPRESSOR OIL
Trang 3511 12 13 14 15 16 17 18 19 20
Dầu máy nén được chia làm 03 nhóm chủ yếu nêu sau:
Dầu máy nén khí (có độ nhớt nằm trong dãy từ VG22 đến VG460; VG: Viscosity Grade);
Dầu máy nén lạnh (có độ nhớt nằm trong dãy từ VG15 đến VG100); và
Dầu bơm chân không: thường sử dụng các dầu chuyên dụng có áp suất hơi thấp ở nhiệt
độ làm việc cho các bơm chân không để tạo chân không cao và siêu cao Dầu nhờn loại
này được sản xuất từ các dầu khoáng gốc naphten hoặc parafin bằng chưng cất phân tử
với độ ổn định ôxy hóa cao và độ ổn định nhiệt tốt Một nhóm dầu khác dùng cho bơm
chân không là các este tổng hợp được sử dụng rộng rãi nhất thuộc loại này là
di-n-butyl- và di-n-octylphtalat
CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU MÁY NÉN – COMPRESSOR OIL
Trang 36PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-3:1981 – PHÂN LOẠI THEO NHÓM D: MÁY NÉN
LĨNH VỰC
SỬ DỤNG
MÁY MÓC KẾT CẤU
BỘ PHẬN BÔI TRƠN
THÀNH PHẦN
& ĐẶC TÍNH
CẤP ISO
Bơm piston: con trượt và dẫn hướng.
Bơm rôto có bộ phận tra dầu nhỏ giọt (kiểu cánh).
Dầu khoáng DAA
DAB DAC
Chế độ làm việc nhẹ.
Chế độ làm việc trung bình.
Chế độ làm việc nặng.
Chú thích chi tiết về các chế độ làm việc tham khảo Bảng 3_b1
và 3_b2 tiếp sau.
Bơm rôto có bộ phận tra dầu nhanh (kiểu cánh, trục vít).
DAG DAH DAI
Chế độ làm việc nhẹ.
Chế độ làm việc trung bình.
Chế độ làm việc nặng.
Máy nén khí, máy nén piston
và rôto không
có hệ thống bôi trơn.
Máy nén chất lỏng vành và máy nén dạng trục khuỷu dùng nước.
Phù hợp với dầu truyền động bánh răng ổ trục và các cơ cấu vận hành.
Bơm
chân
không
Máy nén động lực bơm chân không có hệ thống bôi trơn buồng nén.
Máy nén tuabin ly tâm, máy nén tuabin, trục piston, máy nén rôto giọt, máy nén rôto bịt kín bằng dầu nhờn (kiểu trục và cánh)
Bơm chân không bít kín bằng dầu nhờn (rôto cánh
và lòxo)
Dầu khoáng
và dầu tổng hợp
DVA DVB DVC DVD DVE DVF
Độ chân không thấp, cho khí không hoạt tính.
Độ chân không thấp cho khí axít.
Độ chân không trung bình cho khí không hoạt tính.
Độ chân không trung bình cho khí axít.
Độ chân không cao, cho khí không hoạt tính.
Độ chân không cao, cho khí hoạt tính.
Vật liệu bôi trơn ổ trục.
Độ chân không thấp (từ 0 ÷ 10 2 Pa).
Độ chân không trung bình (từ 10 2 ÷10 -1 Pa).
Độ chân không cao (từ 10 -1 ÷10 -5 Pa)
Trang 37PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-3:1981 – PHÂN LOẠI THEO NHÓM D: MÁY NÉN
ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG
Nhẹ DAA Hoạt động theo chu kỳ: Đủ thời gian để làm lạnh giữa các chu kỳ, áp suất đầu ra > 10 6 Pa.
Hoạt động liên tục: Nhiệt độ đầu ra 100 o C, hạ áp suất cấp < 3:1 hoặc áp suất đầu ra: 10 6 Pa.
Nhiệt độ đầu ra 140 o C hoặc hạ áp suất cấp lớn hơn 3:1.
Trung bình DAB Hoạt động chu kỳ: Không đủ thời gian làm lạnh giữa các chu kỳ, áp suất đầu ra tới 10 6 Pa.
Nhiệt độ đầu ra hơn 160 o C và áp suất hơn 10 6 Pa.
Nhiệt độ đầu ra từ 140 o C đến 160 o C hoặc hạ áp cấp lớn hơn 3:1.
Nặng DAC Hoạt động chu kỳ và liên tục: các thông số giống như chế độ trung bình nhưng quan tâm tới độ tạo
cốc trên đường hút khi sử dụng dầu nhờn ở chế độ làm việc trung bình.
Bảng 3_b2 Nhóm dầu máy nén trục rôto và máy nén khí kiểu cánh
CHẾ ĐỘ
LÀM VIỆC
CẤP ISO
ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG
Nhẹ DAG Nhiệt độ không khí đầu ra nhỏ hơn 110 o C.
Trung bình DAH Nhiệt độ không khí đầu ra từ 100 đến 110 o C.
Nặng DAI Nhiệt độ không khí đầu ra lớn hơn 110 o C.
Trang 38CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU THỦY LỰC
HYDRAULIC OIL
CÔNG TY CỔ PHẦN ÁP SÀI GÒN DẦU KHÍ
Trang 3939 / 96
“Thủy lực” được diễn giải là sự chuyển hóa năng lượng và tín hiệu thông qua chất lỏng; lực
được truyền đến hệ thống kiểm soát, điều khiển và chuyển động
Dầu thủy lực sản xuất từ dầu khoáng, dầu tổng hợp và chất lỏng chống cháy được sử dụng
rộng khắp trong tất cả máy móc và thiết bị Dầu thủy lực có mặt ở mọi nơi trong cuộc sống
Hiếm có máy móc, thiết bị nào hoạt động mà không sử dụng đến hệ thống thủy lực
Các thành phần chính trong hệ thống thủy lực bao gồm:
Bơm và động cơ (vd hệ thống truyền động bánh răng, bơm piston, cánh quạt);
Hydraulic Cylinder (xylanh thủy lực, vd đơn hoặc đa tác vụ);
Valves (vd valve điều áp, valve điều hướng);
Hệ thống tuần hoàn (vd két dầu, bộ lọc dầu, bồn tăng áp, đường ống dẫn dầu);
Roăn (gasket), niêm (seals) ;
CÁC CHỦNG LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP CHÍNH
DẦU THỦY LỰC – HYDRAULIC OIL
Trang 40PHÂN LOẠI DẦU CÔNG NGHIỆP
TIÊU CHUẨN ISO 6743-4:2001 – PHÂN LOẠI THEO NHÓM H: HỆ THỦY LỰC
Nhóm Ứng dụng chung Ứng dụng đặc biệt Thông tin chi tiết Thành phần & đặc tính ISO-L Cấp ứng dụng Lĩnh vực Ghi chú
H Hệ thống
thủy lực Thủy tĩnh Dầu khoáng tinh chế không tự nhiên HH
Dầu tinh chế tăng cường tính năng chống
rỉ và tăng độ bền ôxy hóa.
HL
Dầu nhóm HL có tăng cường tính năng chống mài mòn.
HM Các hệ thống thủy lực
thông thường với chi tiết chịu lực cao.
Dầu nhóm HL có tăng cường độ nhớt và độ bền nhiệt.
HR
Dầu nhóm HM có tăng cường độ nhớt và độ bền nhiệt.
HV Máy móc, thiết bị ngành
xây dựng và hàng hải.
Dầu tổng hợp không có tính năng chống cháy đặc biệt.
HS Tính năng đặc biệt
Ứng dụng ở những nơi có yêu cầu về dầu thân thiện môi trường.
Triglycerides HETG Các hệ thống thủy lực
thông dụng (di động)
(a)
Polyglycols HEPG Dầu tổng hợp Esters HEES Polyalphaolefin và các
sản phẩm gốc hydrocarbon
HEPR