Học phần cung cấp những kiến thức cơ bản về văn hoá học, đặc trưng bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam, diễn trình văn hóa Việt Nam. Từ đó ý thức được trách nhiệm giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TÀI LIỆU HỌC TẬP ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Tháng 5 năm 2023
Trang 2I ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
II BÀI GIẢNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
Chương 1: Văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
Văn hoá học
Đại cương văn hoá Việt Nam – Một nghiên cứu ứng dụng của văn hoá học
3 9
9918
Chương 2: Bản sắc văn hoá Việt Nam (Mặt tinh thần của văn hoá Việt Nam)
Đời sống tôn giáo
Đời sống tín ngưỡng
Triết lý
Văn hoá giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ
Nghệ thuật thanh sắc và hình khối
232329313435
Chương 3: Bản sắc văn hoá Việt Nam (Mặt thực tiễn của văn hoá Việt Nam)
Văn hoá nhân cách
Văn hoá làng xã
Văn hoá đô thị
Văn hoá Nhà nước và dân tộc
3939424445
4
4.1
4.2
Chương 4: Khái lược về diễn trình văn hoá Việt Nam
Văn hoá Việt Nam trong giao lưu với văn hoá bên ngoài
Khái quát sự hình thành và phát triển của văn hoá Việt Nam
484854
Chương 5: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
Tác động của toàn cầu hoá đối với bản sắc văn hoá Việt Nam
Xung đột văn hoá trong thời đại toàn cầu hoá
Chủ nghĩa đa văn hoá – một chính sách mới nổi trong quản lý văn hoá
Giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
6161626466
Trang 4PHẦN I ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
1 Số tín chỉ: 02 TC BTL ĐAMH
2 Đơn vị giảng dạy: Bộ môn Lịch sử ĐCSVN
3 Phân bổ thời gian:
- Tổng số (TS): 30 tiết - Lý thuyết (LT): 19 tiết
- Thực hành (TH): 10 tiết - Bài tập (BT): tiết
- Hướng dẫn BTL/ĐAMH (HD): tiết - Kiểm tra (KT): 01 tiết
4 Điều kiện tiên quyết của học phần: Sinh viên phải học xong môn Xã hội học đại
cương
5 Mô tả nội dung học phần:
Học phần cung cấp những kiến thức cơ bản về văn hoá học, đặc trưng bản sắcvăn hoá truyền thống Việt Nam, diễn trình văn hóa Việt Nam Từ đó ý thức đượctrách nhiệm giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện nay
6 Nguồn học liệu:
- Giáo trình
[1] Phan Ngọc (2010), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, HN.
- Tài liệu học tập
[1] Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
(2023), Tài liệu học tập Đại cương văn hoá Việt Nam, Nxb Hàng Hải, HP.
- Tài liệu tham khảo
[1] Trần Ngọc Thêm (2012), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, HN.
G1
Trình bày được những đặc trưng văn hóa của dân
tộc và quá trình hình thành, phát triển của văn
hoá Việt Nam
G2
Điều chỉnh hành vi và ứng xử của bản thân để
góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa
tốt đẹp của dân tộc trước tác động của xu thế toàn
cầu hóa
Trang 58 Chuẩn đầu ra của học phần:
T, U) [3] G1.1 - Trình bày được khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa – đối
tượng nghiên cứu của văn hóa học T2
G1.2
- Trình bày được các đặc điểm của đời sống tôn giáo và tín
ngưỡng, văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ của người
Việt
T2
G1.3
- Trình bày được đặc điểm văn hoá nhân cách của người Việt
và văn hoá làng xã, văn hoá đô thị, quốc gia dân tộc ở Việt
Nam
T2
G1.4
- Trình bày được quá trình hình thành, phát triển của văn hoá
Việt Nam; những tác động của toàn cầu hoá đối với bản sắc
văn hoá Việt Nam
T2
G2.1 - Phân biệt được những giá trị văn hóa truyền thống của Việt
Nam với những biểu hiện của văn hoá lai căng, phản động TU3
G2.2 - Điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của bản thân trước những
cuối kỳ Y: Thi viết tự luận G1.1 – G2.2 50%
Các yêu cầu về điều kiện để hoàn thành học phần:
Trang 6X1: thời gian LT & TL >= 75%, X = (X2 + X3)/2.
Điểm đánh giá học phần: Z = 0.5X + 0.5Y
10 Nội dung giảng dạy
Giảng dạy trên lớp (bao gồm giảng dạy lý thuyết, bài tập, kiểm tra và hướng dẫn
BTL, ĐAMH)
tiết phần (Gx.x) CĐR học Hoạt động dạy và học
Bài đánh giá X.x Chương I Khái lược về văn hoá
học và đại cương văn hoá Việt
Nam
1.1 Văn hoá học
1.2 Đại cương văn hoá Việt Nam
– một ứng dụng của văn hoá
- Học:
+ Theo dõi bài
giảng; trả lời câuhỏi của giảng viên
X2,Y
Chương II Bản sắc văn hoá
Việt Nam (mặt tinh thần của
văn hoá Việt Nam)
2.1 Đời sống tôn giáo
2.2 Đời sống tín ngưỡng
2.3 Văn hóa giao tiếp và nghệ
thuật ngôn từ
4
G1.2, G2.1,G2.2 - Dạy:+ Thuyết giảng,
minh họa, vận dụng
- Học:
+ Theo dõi bài
giảng; đặt câu hỏi cho giảng viên
X2,Y
Trang 7NỘI DUNG GIẢNG DẠY Số
tiết phần (Gx.x) CĐR học Hoạt động dạy và học
Bài đánh giá X.x Chương 3 Bản sắc văn hoá Việt
Nam (mặt thực tiễn của văn hoá
Việt Nam)
3.1 Văn hoá nhân cách
3.2 Văn hoá làng xã
3.3 Văn hoá đô thị
3.4 Văn hoá Nhà nước và dân tộc
4
G1.3, G2.2 - Dạy:
+ Giao chủ đề, đưa
ra yêu cầu và hướng dẫn, tổ chức thảo luận nhóm
- Học:
+ Chuẩn bị và
trình bày bài thuyết trình theoyêu cầu, hướng dẫn của giảng viên
+ Tích cực trao đổi, thảo luận vềcác chủ đề được nêu trong buổi học
X2,Y
Chương IV Khái lược về diễn
trình văn hoá Việt Nam
4.1 Văn hoá Việt Nam trong giao
lưu với văn hoá bên ngoài
4.2 Khái quát sự hình thành và
phát triển của văn hoá Việt Nam
+ Theo dõi bài
giảng; trả lời câuhỏi của giảng viên
Y
Chương V Văn hoá Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu
5.1 Tác động của toàn cầu hoá đối
với bản sắc văn hoá Việt Nam
4
- Dạy:
+ Thuyết giảng, vận Y
Trang 8NỘI DUNG GIẢNG DẠY Số
tiết phần (Gx.x) CĐR học Hoạt động dạy và học
Bài đánh giá X.x
5.2 Xung đột văn hoá trong thời
đại toàn cầu hoá
5.3 Chủ nghĩa đa văn hoá – một
chính sách mới nổi trong quản lý
văn hoá
5.4 Giữ gìn và làm giàu bản sắc
văn hoá Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá
G1.4, G2.1 dụng, đặt câu hỏi
- Học:
+ Theo dõi bài
giảng; trả lời câuhỏi của giảng viên
Giảng dạy thực hành
NỘI DUNG GIẢNG DẠY [1] Số tiết [2]
CĐR học phần (Gx.x) [3]
Hoạt động dạy và học [4]
Bài đánh giá X.x [5]
1 Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa
của việc nghiên cứu Đại cương văn
hoá Việt Nam trong việc hình thành
phát triển thế giới quan nhân sinh
quan của con người
2 Đời sống tôn giáo và đời sống tín
ngưỡng của người Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay
3 Những biểu hiện của văn hoá nhân
cách con người Việt Nam
4 Quá trình hình thành và phát triển
của văn hoá Việt Nam
5 Bản thân bạn phải làm gì để giữ
gìn và làm giàu bản sắc văn hoá Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
2
2
2 2
2
G2.1,G2.2 - Giao chủ đề theonhóm cho sinh viên.
- Sinh viên thu thập
tư liệu và trao đổinhóm
- Sinh viên thuyếttrình theo nhóm
- Sinh viên thảoluận, thống nhất ýkiến
- Đánh giá kết quả
của sinh viên
X3, Y
Trang 9NỘI DUNG GIẢNG DẠY [1] Số tiết [2]
CĐR học phần (Gx.x) [3]
Hoạt động dạy và học [4]
Bài đánh giá X.x [5]
11 Ngày phê duyệt: 30/5/2023
12 Cấp phê duyệt:
Trưởng Khoa Trưởng Bộ môn
Người biên soạn
Quách Thị Hà Phạm Thị Thu Trang Tập thể Bộ môn
13 Tiến trình cập nhật Đề cương:
Cập nhật lần 6: Ngày
25/03/2023
Nội dung:
- Chỉnh sửa đề cương học phần theo
thông báo số 65/TB-ĐHHHVN-ĐT ngày
16/1/2023 của Nhà trường
Người cập nhật
Trưởng Bộ môn
Trang 10PHẦN II BÀI GIẢNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HOÁ HỌC VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
1.1 Văn hoá học
1.1.1 Sự cần thiết của Văn hoá học
Hiện nay, toàn cầu hoá đang làm cho mối quan tâm đến văn hoá trở nên “nóng”hơn Có thể nêu ra những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy mối quan tâm đến văn hoá và
sự gia tăng tầm quan trọng của văn hoá học (với tư cách là khoa học; hay tập hợp cácnghiên cứu về văn hoá), như dưới đây:
Nguyên nhân thứ nhất: trong tiến trình lịch sử của nhân loại, các mối liên kết
cộng đồng trên cơ sở văn hoá thường tỏ ra bền vững và chịu được thử thách của thờigian hơn những mô thức liên kết khác, chẳng hạn như nhà nước hay thị trường
Nhưng trong điều kiện toàn cầu hoá, tính tuyệt đối, tối cao, tính không chuyểnnhượng và chia cắt của chủ quyền quốc gia đang gặp phải nhiều vấn đề; mà cụ thể là:trước áp lực của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, sinh thái, an ninh, và các vấn đềchung khác nữa do toàn cầu hoá mang lại, ranh giới giữa các quốc gia đang dần bị mờđi
Nguyên nhân thứ hai: là nhu cầu tự khẳng định và bảo tồn cấu trúc của quốc
gia – dân tộc trước áp lực của toàn cầu hoá Văn hoá bản địa đang bị xâm thực bởinhững nền văn hoá khác do toàn cầu hoá đem lại, đặc biệt là văn hoá và lối sống Mỹ -cái hiện đang lan tràn trên các kênh truyền hình, trên Internet và các phương tiệnthông tin đại chúng, hoặc các ấn phẩm của Holywood , các xã hội công dân củanhững nước phát triển đang kêu gọi và gây sức ép với chính phủ, buộc các chính phủphải đưa ra những chính sách bảo hộ về văn hoá dân tộc, mà thực chất, là bảo vệ môitrường dân chủ truyền thống của xã hội công dân Vì là những nước ở vị thế yếu, nên
sự hội nhập vào đời sống quốc tế tiềm ẩn khá nhiều hiểm hoạ, mà trong số đó là sựgiảm tính tự quyết trong các thương lượng quốc tế cũng như trong xử lý các vấn đềnội bộ Đứng trước tình hình đó, các chính phủ viện đến bản sắc văn hoá dân tộc, đến
Trang 11ý thức hệ tôn giáo nhằm chống lại sự áp đặt từ phía các nước lớn khi chúng nhândanh các giá trị và chuẩn mực toàn cầu mà đưa ra những quyết định bất lợi cho nhữngnước đang chậm phát triển.
Nguyên nhân thứ ba:là nhu cầu phản tư (tự khẳng định, tự bảo vệ, tự đánh giá)
của các cá thể trước tính đa dạng và bất định do toàn cầu hoá đem lại Cùng với sựgia tăng quá trình toàn cầu hoá, văn hoá sẽ gia tăng sức mạnh của nó như lực lượngcủa cái đa dạng nhằm đối trọng lại quá trình nhất dạng hoá
Nguyên nhân thứ tư: là, trong điều kiện toàn cầu hoá, văn hoá đang ngày càng
có tiếng nói quyết định đối với tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng vai trò của văn hoá đốivới kinh tế có thể thấy rõ trên hai phương diện: tăng trưởng kinh tế và kinh tế tri thức.Trong điều kiện toàn cầu hoá, cơ hội tăng trưởng không còn nằm ở bản thân vốn vàcông nghệ, mà nằm ở khả năng thu hút và tiêu hoá chúng Đến lượt mình, việc hấp thụcông nghệ và vốn đến đâu, điều đó lại phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế - chính trị, xãhội và văn hoá của một quốc gia, được xét đến một thời điểm xác định (vốn xã hội)
Đó cũng chính là con đường dẫn các nhà kinh tế học hiện đại hiện đại đến với các tácnhân tăng trưởng phi kinh tế, mà văn hoá là một lực lượng quan trọng và có tính baotrùm
1.1.2 Bản chất của Văn hoá học
Có nhiều bộ môn khoa học cùng nghiên cứu văn hoá dưới nhiều khía cạnh khácnhau, như dân tộc học, nhân học, xã hội học, triết học Tuy nhiên, chỉ có Văn hoáhọc là nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể tự biến đối và phát triển
Cho đến nay, văn hoá học đã phát triển tới độ - bao hàm trong bản thân nhiềukhuynh hướng khác nhau, khiến cho việc xác định đối tượng và phương pháp của nótrở nên hết sức khó khăn
“Văn hoá học đặt ra nhiệm vụ xây dựng các tri thức về các nền văn hoá củangười khác (điều đó có nghĩa là người nghiên cứu cần đối xử với nền văn hoá củachính mình với một thái độ trung lập, khách quan và bình đẳng như đối với bất kỳ nềnvăn hoá nào khác) Chỉ có thái độ như vậy mới có cái gọi là văn hoá học.”
1.1.3 Các trường phái cơ bản trong nghiên cứu văn hoá
a Sử học văn hoá của Christopher Dawson (1889 -1970)
Trang 12Nghiên cứu của Dawson về lịch sử có một đặc điểm rõ nét là xoay quanh vấnđề giữa tôn giáo và văn hoá để khảo sát một cách toàn quá trình diễn biến và động lựcbên trong của văn hoá phương Tây.
Theo ông, “vấn đề tôn giáo và văn hoá với tính cách là một mạng lưới các mốiquan hệ phức tạp và rộng rãi, đã liên kết phương thức sinh hoạt xã hội vơi tín ngưỡngtinh thần và quan niệm giá trị Những tín ngưỡng tinh thần và quan niệm giá trị này lạiđược xã hội coi là chuẩn tắc tối cao của đời sống và là quy phạm tối cao của hành vicá nhân và của xã hội; bởi vậy, để tiến hành nghiên cứu những quan hệ này chỉ có thểđặt chúng vào cái cụ thể , tức là toàn bộ lịch sử thực tại của chúng”
Nguyên do giữa văn hoá và tôn giáo luôn tồn tại một thứ quan hệ nội tại nhưvậy, nên trên thực tế, các loại văn hoá đều thể hiện ra như là một loại hình đặc thù của
sự kết hợp giữa tín ngưỡng tôn giáo với phương thức sinh hoạt xã hội
Dawson đã bỏ phần lớn tinh lực của đời mình vào nghiên cứu lịch sử “tôn giáo– văn hoá”, vốn là một lĩnh vực được xem là khá “xa lạ” – để làm rõ về mặt lịch sửxem sự biến thiên đồng nhịp của văn hoá với tín ngưỡng tôn giáo như thế nào, và xemvăn hoá đã lấy tín ngưỡng tôn giáo làm động lực khởi phát cho bản thân như thế nào
b Tinh thần văn hoá của Paul Tilich (1886-1965)
Paul Tilich cho rằng, sư phân rẽ thậm chí là mâu thuẫn giữa văn hoá và tôngiáo là một kiểu chia rẽ về mặt tinh thần Nếu muốn san lấp nó, trước hết cần phảixem lại một vấn đề cơ bản: Tôn giáo là gì? Theo mạnh lập luận đó, ông phân loạiquan điểm về tôn giáo thành hai nhóm: Quan niệm của các nhà thần học và quan niệmcủa các nhà khoa học
Các nhà thần học coi tôn giáo là ân huệ của Thần thánh Trong khi đó, các nhàkhoa học xem tôn giáo chỉ là sự uỷ thác nhất thời của tinh thần nhân loại Đằng sau sựđối lập bên ngoài nói trên, thực tế giữa hai loại quan niệm trên vẫn có sự thừa nhậnchung, đó là: xem tôn giáo như hoạt động tín ngưỡng đối với một tồn tại tối cao gọi làThượng Đế”
Theo Paul Tillich, “Tôn giáo là mặt tinh thần của nhân loại” “Tôn giáo-xét từ
ý nghĩa cơ bản nhất và rộng rãi nhất của từ này, chính là mối quan thiết cuối cùng”.Theo ông, từ quan niệm “lý luận” chuyển tới quan niệm “thực tại” về tôn giáo, sẽ đưa
Trang 13lại một loạt thành quả về tư tưởng, mà một thành quả lớn trong số đó chính là: Thôithúc người ta nhận thức lại vấn đề quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá.
c Nhân học văn hoá của Bronislaw Malinowski (1884 -1942)
Bronislaw Malinowski là người sáng lập ra trường phái “chức năng văn hoá”.Ông coi “nhân học văn hoá” là một khoa học chủ đạo trong nghiên cứu văn hoá, vàcoi những nghiên cứu khoa học khác về văn hoá đều là những phân nhánh của “nhânhọc văn hoá”
Xem xét qua toàn bộ hệ thống lý luận văn hoá của Bronislaw Malinowski, quanniệm trên được thể hiện rất rõ ràng trong nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ với tư cáchlà một bộ phận cấu thành quan trọng
Tuy Malinowski nhiều năm chuyên tâm nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ,nhưng ông lại ôm một kỳ vọng cao hơn đối với kết luận của mình Theo ông, quanđiểm nói trên không chỉ thích dụng với nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ mà còn cóích cho nghiên cứu văn hoá nói chung Ông cho rằng: “Nói chung, đã có văn hoá thìtất có tôn giáo Dù văn hoá mang tính phái sinh và gián tiếp đối với nhu cầu tôn giáo,nhưng suy đến cùng, tôn giáo lại bắt rễ từ những nhu cầu cơ bản của nhân loại, và làmthăng hoa mãn phương thức văn hoá của những nhu cầu này”
d Xã hội học tôn giáo của Max Weber (1864 -1920)
Max Weber nhờ vào nghiên cứu so sánh hàng loạt tôn giáo trên thế giới củamình mà nổi tiếng trong giới học thuật đương đại Chính ông đã gọi thứ nghiên cứu ấylà “xã hội học tôn giáo” Tuy phạm vi nghiên cứu xã hội học tôn giáo của Max Weberrất rộng, nhưng những vấn đề được bàn đến lại rất tập trung Các tác phẩm nghiên cứu
so sánh về tôn giáo thế giới của ông đều cố gắng làm rõ một chủ đề: Quan hệ giữa
giữa luân lý tôn giáo và tinh thần của chủ nghĩa tư bản Weber chủ yếu thông qua
việc xem xét lại các hiện tượng văn hoá trên thế giới trong tính chỉnh thể của chúng,
để từ đó đặt ra vấn đề nói trên
Theo Weber, tính độc đáo của hiện tượng “văn hoá phương Tây” là ở “lý tính hoá”.Tính lý tính hoá này thể hiện trong tất cả các lĩnh vực – từ khoa học, âm nhạc, hội hoạ,kiến trúc cho đến chính trị, pháp luật
Weber cho rằng, gốc rễ đích thực của văn hoá phương Tây cận đại là ở tinhthần của chủ nghĩa tư bản xuất phát từ quan niệm về “thiên chức” – “bổn phận” của
Trang 14đạo Tin lành, mà nền tảng của nó là thuyết “Cứu rỗi” Giữa tinh thần của chủ nghĩa tưbản của tinh thần của chủ nghĩa tư bản Cận đại, hoặc có thể nói một yếu tố cơ bảnkhông chỉ là tinh thần của chủ nghĩa tư bản Cận đại mà bao gồm tất thảy tinh thần vănhoá Cận đại – hành vi lý tính, lấy quan niệm “thiên chức và bổn phận” làm cơ sởchính là được sản sinh ra tư chủ nghĩa khắc kỷ của Cơ Đốc giáo”.
e Triết học lịch sử của Arnold Josheph Toynbee (1889 -1975)
Theo ông, quá trình nghiên cứu phải khởi đầu từ tín ngưỡng tôn giáo để đi đếncác nền văn minh trong chỉnh thể Và sự vận động của cái chỉnh thể sau này: từ hìnhthành, nảy sinh, hưng thịnh cho đến suy tàn – đó chính là lịch sử Theo đó, lịch sửkhông lấy các quốc gia làm đơn vị, hay nói cách khác là làm chủ thể của mình; màthay vào đó, sẽ là các nền văn minh trong tính trọn vẹn của chúng
Với cách tiếp cận như vậy các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông đã hàm chứa hai luận điểm quan trọng nhất:
- Đơn vị nhỏ nhất có thể thuyết minh độc lập trong nghiên cứu lịch sử tuyệt nhiên không phải là từng quốc gia riêng lẻ, mà là một nền văn minh mang tính chỉnh thể
- Tất cả các nền văn hoá đều song hành tồn tại; (phủ nhận tính thứ bậc của thuyết tiến hoá văn)
Hai luận điểm trên đây là tiền đề lôgíc để triển khai toàn bộ hệ thống triết học lịch sử của Toynbee Ông cho rằng, kết cấu của nền văn minh chủ yếu cấu thành từ ba mặt cắt: Chính trị, Kinh tế và Văn hoá Trong đó, văn hoá là tinh hoa của “xã hội văn minh”; còn chính trị, kinh tế bị ông xem là thành phần thứ yếu Ở đây Toynbee đã phân biệt hai khái niệm cơ bản là “văn hoá” và “văn minh”
f Triết học văn hoá của Ernst Cassirer (1874-1945)
Nội dung triết học văn hoá của Ernst Cassierer tương đối phong phú, liên quanrộng rãi đến ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, chính trị có thểnói là toàn cảnh về mặt triết học của các hiện tượng văn hoá nhân loại Trong đó,nghiên cứu thần thoại – tôn giáo chiếm vị trí cực kỳ quan trọng
Cassier chỉ ra rằng: ‘Triết học văn hoá xuất phát từ giả thuyết dưới đây: Thếgiới văn hoá nhân loại không phải là sự tổng hoà giản đơn các thực tế đơn lẻ, rời rác
Nó lấy những thực tế ấy để làm nên một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ, và chỉ từ
Trang 15giác độ mới có thể cắt nghĩa được nó” Chính vì vậy mà Cassirer đưa thần thoại – tôngiáo vào phạm vi phân tích của triết học văn hoá nhằm làm rõ nội hàm phong phú củavăn hoá nhân loại.
Theo ông, nếu như coi văn hoá là một chỉnh thể đang triển khai tầm vóc của nótrong thời gian lịch sử để thực hiện mục tiêu nhân tính và tự do; thì thần thoại là mộtphỏ nan quạt trong mô hình “vòng tròn nhân tính – tự do”, bên cạnh những phổ nanquạt khác nhau như nghệ thuật hay khoa học
1.1.4 Đối tượng nghiên cứu của văn hoá học
a Khái niệm Văn hoá.
- Định nghĩa của UNESCO về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một
cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
- Với tư cách là một chỉnh thể, Văn hoá mang trong nó những đặc trưng cố hữusau:
+ Văn hoá là cái phân biệt con người với động vật; Văn hoá là đặc trưng riêng
có của xã hội loài người
+ Văn hoá không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải có sự họctập, giao tiếp
+ Văn hoá là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá
- Các khái niệm tương cận: bản sắc, văn minh, văn hiến, văn vật
- Bản sắc chính là văn hoá, song không phải bất cứ yếu tố văn hoá nào cũngđược xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hoá nào giúp phân biệt mộtcộng đồng văn hoá này với một cộng đồng văn hoá khắc là bản sắc Khái niệm bản sắc
có hai quan hệ cơ bản: thứ nhất, nó là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau(quan hệ bên ngoài); và thứ hai, nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộngđồng văn hoá phải có (quan hệ bên trong)
- Văn minh: để chỉ trình độ phát triển cao của một nền văn hoá Việc xác định
“cao” hay “thấp” dựa vào hai tiêu chí cơ bản là: tính duy lý và tính phổ biến của nềnvăn hoá ấy
Trang 16+ Tính duy lý thể hiện ở mức độ tách khỏi giới tự nhiên của con người, đượcbiểu đạt thông qua hệ thống các đồ vật xã hội (vật chất), và hệ thống các chuẩn mực,các tri thức (tinh thần).
+ Tính phổ biến thể hiện ở tình trạng, các cá thể trong cộng đồng văn hoá đượcxét đến đều hoạt động dựa trên các hệ thống nói trên (tính đồng nhất văn hoá cao); vànhững hệ thống chuẩn mực ấy có ảnh hưởng mạnh đến các nền văn hoá khác
+ Văn hiến văn vật: Văn hiến và văn vật là những thuật ngữ đặc trưng của vănhoá phương Đông Văn hiến dùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người có tàiđức chuyển tải (văn = văn hoá, hiến = hiền tài) Văn vật là truyền thống văn hoá tốtđẹp được thể hiện thông qua một đội ngũ nhân tài và hiện vật trong lịch sử
1.1.5 Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của văn hoá học
a Phương pháp chung
- Phương pháp hệ thống – chỉnh thể: Hệ thống là một hiện thực được cấu thành
bởi những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên mộtphương thức tổ chức nhất định
Trong một hệ thống, bao giờ cũng tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnhhưởng chi phối các yếu tố còn lại Tuỳ theo vị thế của mình trong cấu trúc của hệthống, mỗi yếu tố sẽ phải đảm nhiệm chức năng nhất định
Phương pháp này đòi hỏi phải ứng xử với các hiện tượng văn hoá như nhữngthành tố nằm trong hệ thống lớn, và tuy tìm ý nghĩa của chúng chính là trong bối cảnhlớn đó, chứ không cắt đoạn chúng theo địa giới hành chính hay phân giới địa lý
- Giao lưu – tiếp biến văn hoá: là phương pháp nghiên cứu văn hoá dựa trên lý
thuyết các trung tâm và sự lan toả văn hoá hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hoávới các đại biểu như F.Rasel, L.Frobenius, F.Giabner, W.Schmidt, Gelliot Smith
- Thuyết này cho rằng, sự phân bổ của văn hoá mang tính không đồng đều; vănhoá tập trung ở một số khu vực sau đó lan toả ra các khu vực kế cận Càng xa trungtâm, ảnh hưởng của văn hoá gốc càng giảm – cho đến khi mất hẳn Cơ chế này tạo ravùng giao thoa văn hoá – nơi chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều trung tâm văn hoá,và cả những “vùng tối” nơi sức lan toả không với tới
- Phương pháp lịch sử Khảo cứu sự tiến triển của một nền (hay một hiện tượng
văn hoá) theo trục thời gian Nó đem lại bức tranh phong phú, sinh động, các tiểu tiết,
Trang 17các tài liệu cụ thể liên quan đến đối tượng nghiên cứu Bên cạnh những mặt mạnh vốn
có, phương pháp này cũng gặp phải những hạn chế nhất định như:
+ Bị lệ thuộc nhiều vào các tài liệu và các di chỉ tìm được
+ Quy luật phát triển vào đối tượng thường bị chèn lấp bởi các sự kiện mạngtính mảnh đoạn
+ Đối tượng thường được hình dung như một tập hợp bao gồm các biểu hiện đadạng hơn là một chỉnh thể có kết cấu và có lôgíc phát triển nội tại
- Phương pháp lôgíc.
Khảo cứu đối tượng (văn hoá) theo lát cắt đồng đại (trong không gian đươngđại) Nó có ưu điểm là cho phép hình dung về kết cấu của đối tượng cùng với cácchức năng và các yếu tố cấu thành Nó cũng vạch ra được quy luật nội tại của đốitượng, nhờ đó đối tượng được tái hiện như một chỉnh thể sống động, vận động tự thân
Nó cũng giảm sự phụ thuộc của nghiên cứu vào các tài liệu lịch sử Bên cạnh đó,phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như: dễ rơi vào tự biện, kém sinhđộng và thiếu các luận cứ thực chứng
- Thống nhất giữa lô gisc và lịch sử (Toạ độ văn hoá) Toạ độ văn hoá là một
phương pháp nghiên cứu văn hoá theo hai trục cơ bản: Không gian văn hoá Thôngthường, không gian văn hoá vẫn được quan niệm là vùng địa lý; còn thời gian văn hoáđược xác định bằng niên đại lịch sử Về thực chất, đây là phương pháp nghiên cứumang tính tổng hợp, bởi nó bao hàm trong bản thân nhiều phương pháp hỗ trợ khác,mà cụ thể là: nó sử dụng phương pháp lô gisc, địa văn – hoá, giao lưu – tiếp biến vănhoá , để xác định không gian văn hoá Trong khi đó, phương pháp lịch sử được sửdụng để xác định thời gian văn hoá (tiến trình văn hoá – là kết quả của việc áp dụngphương pháp này)
b Phương pháp chuyên ngành
- Cách tiếp cận Địa –văn hoá: Địa – văn hoá vừa là một phương pháp dùng để
nghiên cứu văn hoá theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặcđiểm văn hoá dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiện
Cơ sở khoa học của phương pháp này là các luận điểm cho rằng:
+ Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên
Trang 18+ Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi vật chất với môitrường tự nhiên.
+ Quá trình trao đổi chất nói trên diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tựnhiên và cải tạo tự nhiên
+ Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hoá
- Cách tiếp cận Nhân học văn hoá: Nhân học văn hoá là một khoa học liên
ngành về văn hoá Nó chủ yếu nghiên cứu văn hoá từ hai giác độ: nhân chủng và ngônngữ (thổ ngữ) Điều đó có nghĩa là các cộng đồng có cùng cội nguồn huyết thống vàngôn ngữ sẽ được xem là có tính đồng nhất văn hoá
Phương pháp nhân học – văn hoá đã lấy hai thuộc tính cố hữu và nổi trội màbất kỳ cộng đồng văn hoá nào cũng có, đó là chủng và thổ ngữ của chủng để phânvùng văn hoá Chẳng hạn, với phương pháp đó người ta phân Châu Âu ra thành banhóm văn hoá: văn hoá Slavơ, văn hoá Latinh và văn hoá Gecmanh
- Cách tiếp cận Tín ngưỡng – Tôn giáo:
Tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, tôn giáo không ngừng tác độnglên hai mặt của đời sống con người: cộng đồng và cá thể Ở cả hai bình diện đó, tôngiáo đều phát huy chức năng bù đắp của mình Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hoà,chức năng bù đắp đó chẳng những không hề suy giảm mà còn chuyển hoá thànhnhững hình thức và khuynh hướng mới
- Cách tiếp cận sử học: Sử học văn hoá
Là hệ quả của việc ứng dụng phương pháp lịch sử vào trong nghiên cứu cáchiện tượng văn hoá Nó đem lại cái nhìn chi tiết về tiến trình văn hoá, qua các thời kỳ,các giai đoạn trong lịch sử Đây là một phương pháp truyền thống thường được sửdụng khi nghiên cứu văn hoá của cộng đồng người nằm trong lòng nhà nước dân tộc
- Cách tiếp cận xã hội học (Xã hội học văn hoá).
Sử dụng các phương pháp của Xã hội học như: định tính, định lượng, thống kê,trắc nghiệm, điền giã và phỏng vấn vào nghiên cứu các hiện tượng văn hoá Nó vạch
ra vai trò và mức độ ảnh hưởng của văn hoá đối với mỗi địa phương hay mỗi cộngđồng cụ thể trong việc thực hiện các chính sách xã hội, trong việc lựa chọn cáckhuynh hướng ứng xử, cũng như trong cách thức phản ứng trước những biến đổi xãhội
Trang 19- Cách tiếp cận kinh tế học (Kinh tế học văn hoá)
Kinh tế học văn hoá nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá đến pháttriển kinh tế ở các cấp độ: khu vực, địa phương Nó tập trung vào rõ ảnh hưởng củacác yếu tố văn hoá đối với việc lựa chọn triết lý kinh doanh, xu hướng kinh doanh, xuhướng lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm
1.2 Đại cương văn hoá Việt Nam – Một nghiên cứu ứng dụng của văn hoá học
1.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Đối với Đại cương văn hoá Việt Nam, thì văn hoá Việt Nam được hiểu là Vănhoá của dân tộc Việt Nam – tức văn hoá của cộng đồng người sinh sống trong phạm vilãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Bởi vậy, việcnghiên cứu văn hoá của từng tộc người riêng lẻ hiện đang sinh sống tại Việt Nam – sẽkhông phải là nhiệm vụ chủ đạo của tài liệu này
1.2.2 Xác định đối tượng nghiên cứu
Thông thường, chủ thể văn hoá được phân thành: Cộng đồng và cá nhân
a Cộng đồng
- Nhân loại: Ở cấp độ chủ thể là nhân loại, văn hoá được nhìn nhận như “cái khôngphải giới tự nhiên”, tức là được quy về cái phẩm chất mà chỉ con người mới có Nhânloại là chủ thể của văn hoá – theo nghĩa rộng nhất của khái niệm văn hoá
- Cộng đồng khu vực: là cộng đồng người được phân bổ trên một vùng địa lý xácđịnh và là chủ nhân của một nền văn hoá – văn minh
- Tộc người: Là chủ thể mang tính cộng đồng, được xác định theo sự phân bổ vềchủng và thổ ngữ Gắn với tộc người là văn hoá tộc người
- Quốc gia – dân tộc: Chủ thể của văn hoá dân tộc
Khi đi sâu vào xem xét văn hoá dân tộc, chủ thể văn hoá còn được phân nhỏ tiếptục và tạo nên một hệ thống mang tính thứ bậc Tuy nhiên, đối với từng dân tộc trênthế giới, hệ thống này là không giống nhau, mà sẽ biến đổi tuỳ theo kết cấu đặc thùcủa mỗi dân tộc
b Cá nhân
Văn hoá học quan niệm rằng, mỗi cá nhân (cá thể) vừa là chủ thể, vừa là vật mạng củavăn hoá cộng đồng mà anh ta tuỳ thuộc Do đó, văn hoá của mỗi cá nhân đều in dấucác tính quy định của văn hoá – loài, bên cạnh những phẩm chất văn hoá độc đáo mà
Trang 20chỉ riêng anh ta mới có Điều đó có nghĩa là giữa các cá thể vẫn tồn tại một “mẫu sốchung về văn hoá” – và cái “mẫu số chung về văn hoá” ấy được xem là văn hoá nhâncách của một cộng đồng
Như vậy, văn hoá nhân cách không hướng đến việc mô tả đời sống của từng cánhân cụ thể, riêng lẻ; mà trái lại – nó luôn cố gắng tìm ra mẫu số chung về văn hoágiữa các cá nhân đồng thuộc một nền văn hoá
Vận dụng lý thuyết phân bậc văn hoá vào xem xét chủ thể văn hoá Việt Nam, hệthống biểu đạt văn hoá Việt Nam được xác định như sau:
- Cá nhân – và tương ứng với nó là: Văn hoá nhân cách của người Việt Nam
- Các cộng đồng cơ bản bao gồm làng xã, đô thị, nhà nước dân tộc; và tương ứngvới chúng là các kiểu hình văn hoá: Văn hoá làng xã, Văn hoá đô thị; văn hoá nhànước – dân tộc
1.2.3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp lôgic
Với phương pháp lô gisc, kết cấu văn hoá của dân tộc Việt Nam không phải làmột tổng cơ học của các văn hoá tộc người, và cũng không bị cắt lớp thành các tầngvăn hoá theo tiến trình lịch sử kiểu như: văn hoá bản địa và văn hoá do giao lưu – tiếpbiến Theo đó, văn hoá Việt Nam được phân xuất thành: các yếu tố phổ biến, các yếu
tố đặc thù và các yếu tố đơn nhất
- Yếu tố phổ biến (mang tính nhân loại): Đây là những yếu tố mang tính duy lý vàphổ quát, chung cho toàn nhân loại và chủ yếu là gắn với các hệ giá trị chuẩn của vănminh công nghiệp và hậu cộng nghiệp,
- Yếu tố đặc thù (mang tính khu vực): Cái đặc thù, theo quan điểm biện chứngđược hiểu là sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đơn nhất Trạng thái hoà trộngiữa tính phổ biến với tính đơn nhất trong văn hoá tạo nên những sắc thái đặc thùmang tính khu vực Sắc thái này vừa dùng để phân biệt một khu vực văn hoá này vớinhững khu vực còn lại trên thế giới; song lại vừa dùng để xác định tính đồng nhất vănhoá trong bản thân khu vực ấy Yếu tố đặc thù trong văn hoá Việt Nam cũng chính lànhững yếu tố đặc trưng của Văn hoá Đông Nam Á Đó là loại hình văn hoá nôngnghiệp mang tính định cư với những phẩm chất cơ bản được khảo sát sau đó
- Yếu tố đơn nhất – không lặp lại
Trang 21Đây là những yếu tố cấu thành bản sắc vân hoá Việt Nam Và như đã xác địnhtrước, thì đây chính là đối tượng chủ đạo của Đại cương văn hoá Việt Nam Nhưngcũng phải thừa nhận một thực tế là, cho đến nay, bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn còn làmột vấn đề để ngỏ, do còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh chủ đề ấy.
b Địa – văn hoá Việt Nam
Đặc trưng địa lý của Việt Nam là : Nhiệt độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng nămlớn), và có gió mùa Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hoágắn với nông nghiệp với những đặc điểm sau:
+ Trồng lúa nước
+ Sống định cư và hoà hợp với thiên nhiên
+ Đề cao vai trò của phụ nữ
+ Sùng bái mùa màng, sinh nở (văn hoá phồn thực – nông nghiệp)
Do nằm trong vùng địa lý này, nên cấu thành các yếu tố đặc thù trong nội dungvăn hoá Việt Nam
Bên cạnh đó, điều kiện địa lý Việt Nam tạo ra những phẩm chất độc đáo+ ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao
+ Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường thuỷ và đường bộ - cửa ngõ củaĐông Nam Á nên người dân thường xuyên giao lưu với khu vực
c Nhân học văn hoá Việt Nam
Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng Tính đa dạng văn hoá là kết quả của sự đa dạng tộc người (hiện có 54 tộc người đang sinh sống tại Việt Nam), trong đó tộc người Kinh đóng vai trò chủ thể (chiếm 90%)
Về mặt chủng, tộc người Kinh (Việt) là sự hoà huyết của các tộc người sinhsống tại khu vực Đông Nam Á Đây là một khối dân cư hùng hậu bao gồm nhiều tộcngười với tên gọi chung là người Bách Việt
Về mặt ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông hiện nay là kết quả của quá trình hoàhợp các thổ ngữ của các tộc người trong cộng đồng Bách Việt và quá trình Hán hoá
Về mặt lịch sử, lúc đầu ngôn ngữ của người Kinh gồm các thổ ngữ của ngườiBách Việt Cùng với sự hoà huyết và chung sống, và xuất phát từ nhu cầu giao tiếp,các thổ ngữ này bị biến đổi để trở thành một thứ ngôn ngữ chung cho cả cộng đồng;
Trang 22đó là ngôn ngữ Việt – Mường Các yếu tố cơ bản cấu thành ngôn ngữ Việt Mường là:Môn – Khơ me, Tày – Thái.
d Tiếp cận tôn giáo với văn hoá Việt Nam
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, Việt Nam thuộc cộngđồng các quốc gia (cùng Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma ) Cách phân loại này
đã không xếp Nho giáo và hàng tôn giáo
Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá dựa trên dấu hiệu tôn giáo là rấtkhó khăn, do thiếu tính thuần nhất về tín ngưỡng và tôn giáo Bởi vậy, việc sử dụng lýthuyết giao lưu – tiếp biến văn hoá để nghiên cứu trong trường hợp này là hết sức cầnthiết
e Văn hoá Việt Nam dưới góc độ giao lưu – tiếp biến
Dưới góc độ giao lưu – tiếp biến, văn hoá Việt Nam là kết quả của các cuộcgặp gỡ văn hoá lớn trong khu vực
- Giao lưu với văn hoá Ấn: trực tiếp (lan toả tiên phát) qua đường biển đông;gián tiếp (lan toả thứ phát) qua Văn hoá Bắc thuộc, văn hoá Chăm Pha ở Trung Bộ và
Óc Eo ở Nam Bộ
+ Giao lưu với văn hoá Trung Hoa: chủ yếu bằng con đường cưỡng chế (bịxâm lược, đô hộ và đồng hoá)
+ Giao lưu với văn hoá Phương Tây: Ngoại giao, du học, di cư, hội nhập quốc
tế, tham dự vào mạng truyền thông – liên lạc toàn cầu, ứng dụng các chuẩn mực kinhtế
2.2.4 Ý nghĩa của Văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
a Trang bị năng lực phản tư văn hoá
Trong một thế giới đang bị toàn cầu hoá, sự khẳng định tính cá biệt của nhâncách là rất quan trọng, để cá thể không bị hoà tan vào những chuẩn mực chung mangtính toàn cầu đang lấp đầy không gian sống Chỉ như vậy sự độc đáo của nhân cáchmới được bảo tồn, và do đó, ca nhân mới tìm thấy ý nghĩa của sự tồn tại Để làm đượcđiều này, sự hiểu biết về bản sắc văn hoá của cộng đồng mình Tuỳ thuộc – là một đòihỏi tất yếu đối với mỗi cá nhân
b Có tác dụng giáo dục và bồi dưỡng nhân cách
Trang 23Việc nhận thức và thẩm thấu các giá trị của cộng đồng là điều kiện tiên quyết đểhình thành nhân cách Nhân cách được bộc lộ qua ứng xử, qua sự lựa chọn và cách giải quyết vấn đề mà mỗi cá nhân trong cuộc sống thường nhật phải đối mặt Các chuẩn mực dẫn dắt hành động của cá nhân luôn là văn hoá của cộng đồng mà tại đó cánhân sinh ra và lớn lên.
Chỉ khi ý thức được các chuẩn mực văn hoá ấy, cá nhân mới có thể chủ động trong quá trình khẳng định nhân cách, biết loại bỏ đi những yếu tố kìm hãm và tiếp thu những yếu tố có tác dụng tích cực – phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại, đồng thời vẫn giữ được diện mạo văn hoá dân tộc
c Giúp lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt Nam.
- Việc hiểu biết về các nền văn hoá thế giới và văn hoá dân tộc, ngoài việc đem lạimột cái nhìn đối sánh, còn giúp lý giải từ giác độ văn hoá, vì sao lại có sự khác biệttrong cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách lựa chọn triết lý sống của những cộngđồng khi đứng trước những tình huống (được giả định là) giống nhau
- Đây là những kiến thức hết sức hữu ích cho việc hình thành nên triết lý kinhdoanh, xây dựng ý thức pháp luật, định hướng tâm lý tiêu dùng, và tạo lập phong cáchlàm việc sao cho có hiệu quả
- Những kiến thức này cũng giúp người học đánh giá đúng mức các cơ hội cũngnhư những thách thức mà thời đại đang đặt ra đối với bản sắc văn hoá dân tộc
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Bản chất của văn hoá học và sự cần thiết của văn hoá học?
2 Phân biệt khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá và văn minh
3 Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong Đại cương văn hoá Việt Nam
4 Ý nghĩa của văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 2 BẢN SẮC VĂN HOÁ VIỆT NAM (Mặt tinh thần của văn hoá) 2.1 Đời sống tôn giáo
2.1.1 Vị trí của tôn giáo trong đời sống con người
Tôn giáo thường được hiểu là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng haythần thánh, cũng như những đạo lỹ, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin
đó Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trầntục
Vai trò vủa tôn giáo trong xã hội thể hiện ở một số chức năng của nó, đó là: Chứcnăng tích hợp xã hội hay còn gọi là hết hợp xã hội Chức năng thứ hai là kiểm soát xãhội Thứ ba là chức năng hỗ trợ xã hội
2.1.2 Các tôn giáo bản sắc của Việt Nam
a Phật giáo ở Việt Nam
- Khái quát về lịch sử hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo
Đạo Phật được hình thành ở Ấn Độ khoảng thế kỉ thứ VI TCN Người sáng lập làThái tử Sidharta (Tất Đạt Đa), con Vua Tịnh Phạn (một nước nhỏ thuộc miền Nam ẤnĐộ - Nepan ngày nay) Thái tử đã ra đi tìm cách giải thoát cho mọi người khỏi mọikhổ đau, và Người đã tìm được con đường giải thoát bằng “Tứ Diệu đế” (Bốn chânlý)
Thứ nhất, Khổ để khẳng định cuộc đời của con người là khổ Bốn phương đềulà bể khổ, từ đó Phật giáo đã chia nỗi khổ của con người ra làm tám loại (bát khổ) Đólà: Sinh, lão, bênh, tử, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, thụ biệt ly và thụ ngũ uẩn khổ
Thứ hai, Nhân đế là nguyên nhân của nỗi khổ, Phật giáo chỉ ra 12 nguyên nhân(Thập nhị nhân duyên)
Thứ ba, Diệt đế khẳng định mọi nỗi khổ đều có thể b ị tiêu diệt
Thứ tư, Đạo đế là con đường để tiêu diệt nỗi khổ Phật giáo chỉ ra 8 con đườngchính (Bát chính đạo) Đi theo con đường Bát chính đạo, có thể được giải thoát, muốnthoát khổ vĩnh viễn, phải lên được cõi Niết bàn
Trong quá trình phát triển đạo Phật chia thành hai phái: Phái Tiểu thừa (Namtông) “Cỗ xe nhỏ” ngụ ý chỉ chở một người và Phái Đại thừa (Bắc tông): “Cỗ xe lớn”
Trang 25ngụ ý là chở được nhiều người Sau này, từ Đại thừa đã phát triển thành nhiều tôngphái:
+ Thiền tông
+ Mật tông
+ Tịnh Độ tông
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên Vào những năm
168 – 189, Khâu – đà – la đã đến Luy Lâu, trị sở của quận Giao chi và nơi đây đã trởthành trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam Phật giáo được tiếp thu thời kỳ này làPhật giáo Tiểu thừa, Phật (Bụt) được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt,trừng phạt kẻ xấu
Đầu thế kỷ thứ V, có một nhà sư tên là Bồ-đề-đạt-ma, từ Ấn Độ sang TrungHoa xây dựng nền một Đại thừa giáo mang màu sắc Trung Hoa (nhập thế) và sau đó
đã ảnh hưởng sang Việt Nam
Vào thế kỷ XIII, xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm Người sáng lập ra Thiền pháiTrúc Lâm là Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), năm 1299, ông chính thức xuất giavào tu ở núi Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh)
- Đặc trưng của Phật giáo Việt Nam
Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người ViệtNam bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặcbiệt của riêng Việt Nam, thể hiện qua các đặc trưng sau:
+ Phật giáo Việt Nam gắn bó với dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu trang dựngnước và giữ nước, từng là cơ sở của khối đoàn kết các dân tộc
+ Tính tổng hợp
Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống
Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo, các tông phái Phật giáo Đại thừa saukhi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau
Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, tín ngưỡng truyền thống đã tiếpnhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên Sau đó Phật giáo cùng tín ngưỡng truyềnthống tiếp nhận Đạo giáo Rồi tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên “Tam giáođồng nguyên” Ba tôn giáo trợ giúp lẫn nhau
Trang 26Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác đểhình thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là “Thiên nhân hợp nhất”và “Vạn giáo nhất lý”.
+ Kết hợp giữa đạo với đời, Phật giáo vốn là tôn giáo xuất thế nhưng khi vàoViệt Nam, Phật giáo lại mang tính nhập thế Nói đến Phật giáo Việt Nam, lẽ dĩ nhiênkhông thể không nói đến quan hệ giữa Phật giáo và chính trị trong lịch sử
+ Khuynh hướng thiên về nữ tính
+ Phật giáo Việt Nam là phương tiện để biểu đạt chủ nghĩa nhân đạo và tính vịtha của dân tộc Việt Nam
b Nho giáo
- Quá trình hình thành và nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo
Nho gia là một trường phái triết học của Trung hoa do Khổng tử sáng lập ravào khoảng thế kỷ
thứ VI TCN Đến thời nhà Hán mới được gọi là Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết về chính trị - xã hội và con người Học thuyết củaNho giáo không bàn đến những lực lượng siêu nhân mà chỉ chú trọng đến việc xâydựng một xã hội có kỷ cương và mọi người trong xã hội đều được hạnh phúc màKhổng tử gọi là Xã hội Đại Đồng, đồng thời chủ chương giáo dục, đào tạo con người
để thực hiện xã hội tương lai đó
Về Chính trị - xa hội để thực hiện xã hội đại đồng, Nho giáo đã xây dựng mộtđường lối chính trị dựa trên cơ sở của đạo đức, gọi là Đức trị
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên theonhiều con đường, nhưng chủ yếu thông qua sự xâm lược của nhà Hán
Đặc trưng cơ bản của Nho giáo hậy kỳ, là biến triết lý của Khổng tử thành hệthống quy phạm ứng xử và phương thức cai trị cứng nhắc, nặng nề, áp đặt một chiều
từ trên xuống dưới Do đó, trong con mắt của người Việt Nam, Nho giáo là ý thức hệđặc trưng của tầng lớp cai trị phong kiến
Bằng sức mạnh cưỡng chế, Nho giáo đã trùm lên đời sống tinh thần của conngười Việt Nam và chèn lấp các yêu tố văn hóa này xuống hàng thứ yêu bằng cáchtước bỏ khỏi chúng tính hợp pháp
- Đặc trưng của Nho giáo Việt Nam
Trang 27Thứ nhất, Quan niệm về “nước” của người Việt Nam khác với quan niệm
“nước” của Khổng tử Ở thời Khổng tử, “nước” theo quan niệm của người TrungQuốc là vua, là cái mà vua có quyền cắt xẻ để ban cho các bên chư hầu
Đối với người Việt Nam, nước là nơi họ sinh ra lớn lên và là cái mà họ giànhgiật lấy từ tay thiên nhiên (khai khẩn, trị thủy, lấn biển) Bởi vậy, nó không thuộc vềbất cứ ông vua nào, triều đại nào – mà của chính người dân
Thứ hai, Nho giáo bị khúc xạ qua tâm lý làng xã của người Việt Nam Conngười Việt Nam trước hết là con người của cộng đồng làng xã, và “nước” cũng chỉ là
sự phóng chiếu của mô hình làng xã ở quy mô mở rộng hơn mà thôi Thế nên, khôngphải Nho giáo mà chính văn hóa làng xã mới là nền tảng của tâm thức người ViệtNam, và khi Nho giáo vào Việt Nam nó buộc phải tán sắc qua lăng kính này Biểuhiện cụ thể của sự tán sắc đó là:
+ Người dân làng xã luôn quan niệm Nho giáo là thứ học vấn của tầng lớp caitrị và giữ thái độ “kính nhi, viễn chi” (tôn trọng mà tránh xa)
+ Người Việt Nam học đạo Nho cốt để ra làm quan, nên chỉ chú trọng đến cácquy định thi cử mà không nhấn mạnh đến nhân sinh quan hay lối sống, hoặc đạo đứcNho giáo
+ Các nhà nho Việt Nam không tách thành tầng lớp nho sỹ độc lập như ở TrungHoa Trái lại, họ luôn quan niệm mình là thành viên của cộng đồng làng xã Bị chiphối với văn hóa làng xã, các nhà nho Việt Nam đã cải tiến chữ Hán thành chữ Nôm
để chuyền tải văn hóa làng xã
c Đạo giáo
- Khái quát quá trình hình thành và những nội dung cơ bản của Đạo giáo
Đạo gia là một trường phái triết học của Trung Hoa do Lão tử sáng lập ra vàocùng thời với Khổng tử nhưng tư tưởng lại hoàn toàn đối lập với Khổng tử NếuKhổng tử quan tâm đến việc xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người sống theo nhữngquy định chung (Lễ) thì Lão tử lại chủ trương con người sống hoàn toàn theo quy luậtcủa tự nhiên, xóa bỏ mọi ràng buộc xã hội Vì vậy, học thuyết của Lão tử chủ yếu bànđến vấn đề Thế giới quan, ít bàn đến Nhân sinh quan
Một hệ thống thần linh phức tạp, gồm những thực thể phi vật chất, những lựclượng tự nhiên được nhân cách hóa, những ma quỷ hình thù kỳ quái, bên cạnh đấy là
Trang 28những vĩ nhân thời xưa được tôn làm thần do đức hạnh của họ, và các Đạo sĩ đã trởthành bất từ nhờ đắc đạo, đó là Đạo giáo.
Đạo giáo là một tôn giáo được thành lập vào những năm đầu công nguyên ởTrung Hoa, bao gồm hai phái: Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên
Đạo giáo phù thủy dùng các phép thuật, bùa ngải trừ tà, trị bệnh Đạo giáo phùthủy hình thành vào khoảng cuối thứ II, đầu thế kỷ III
Đạo giáo thần tiên dạy tu tiên, luyện đan cầu trường sinh bất tử, có hai nhánh làngoại dưỡng và nội tu Đạo giáo thần tiên hình thành từ thời Đông Tấn (236 – 334)với nhân vật Cát Hồng
Theo quan niệm của Đạo giáo, vì thần tối cao điều khiển tất cả các thần khác, làNgọc Hoàng Đi kèm theo Ngọc Hoàng là Nam Tào giữ sổ sinh, Bắc Đẩu giữ sổ Tử
Nơi thờ của Đạo giáo gọi là đền Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ cuối thế
kỷ thứ II Các tín ngưỡng bản địa là môi trường để Đạo giáo dễ dàng thâm nhập vàođời sống của cư dân tại Giao Chỉ Chính vì thâm nhập bằng con đường đó nên Đạogiáo với tư cách là một triết lý sống ít được người chân Việt Nam biết đến, mà chủyếu người ta quan niệm về nó như Đạo phù thủy với các bùa chú và pháp thuật
- Đặc trưng của Đạo giáo Việt Nam
+ Đạo giáo ở Việt Nam không tồn tại biệt lập mà hòa trộn với tín ngưỡng bảnđịa Kết quả của sự hòa trộn đó là sự ra đời của Đạo giáo phù thủy được lưu hànhtrong nhân dân
+ Ở Việt Nam Đạo Giáo còn hòa trộn với Nho giáo – tạo nên triết lỹ sống annhàn, ở ẩn, không màng danh lợi của nhiều nhà nho Việt Nam
d Đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo là sự kết hợp giữa Phật giáo Tinh Độ tông và tín ngưỡng thờ Tổtiên, tạo thành một tông giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam
- Khái quát sự ra đời của Đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (naythuộc thị trấn Phý Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú
Sổ sáng lập
- Giáo lý Hòa Hảo
Trang 29Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn
Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”
Phần “Học Phật” chủ yếu dựa vào giáo lý đọa Phật, song được giản lược nhiềuvà có thêm bớt đôi chút Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền
Phần “Tu nhân” theo giáo lý Hòa Hảo, tu nhân có nghĩ là tu “tứ ân hiếu nghĩa”.Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức Cócông đức để trở thành bậc hiền nhân Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân,cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người
“Phật tại tâm, tâm tức Phật” Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùngtiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguuyên nhân
e Đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế
kỷ XX Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ “một nơi cao”, nghĩa bóng là nơi cao nhất
ở đó Thượng đế ngực trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáoCao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”
Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu làPhật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo nhưkhông sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm kanfh lánh dữ, giúp đỡ xung quanh,
…
- Khái quát sự ra đời của Đạo Cao Đài
Các tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận người được xem là tín đồ đầutiên của đạo là ông Ngô Văn Chiêu Là một viên chức trong chính quyền thực dânPháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư Đạo, một nhánh của Tam giáo
- Tôn chỉ Cao Đài là “Tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất”.
Trang 30+ Tam giáo quy nguyên là đường lối để thực hiện mục đích “Thế đạo đại đồng,Thiên đạo giải thoát”.
+ Ngũ chi phục nhất: tức Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạophục nhất Đó là đường lối tu hành tuần tự như lên năm nấc thang Phục nhất có nghĩalà thống nhất thành một hệ thống bổ sung cho nhau Hợp thành đạo pháp nhất quánnhằm đưa người tu đạt đến mục đích
2.2 Đời sống tín ngưỡng
2.2.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng và tôn giáo trong nhiều trường hợp được sử dụng vỡi nghĩa tươngđương
Những giữa tín ngưỡng và tôn giáo vẫn có sự khác biệt, thể hiện ở hai phươngdiện
Thứ nhất, xét về phạm vi ảnh hưởng thì tôn giáo có phạm vi ảnh hưởng rộng,
có thể mang tính quốc gia, thậm chí quốc tế, còn tín ngưỡng chỉ mang tính địaphương
Thứ hai, xét về nội dung và tổ chức thì tôn giáo có người sáng lập, có giáo lý,giới luật, tầng lớp tăng lữ và cộng đồng tín đồ nên nó là hiện tượng xã hội mang tính
tổ chức cao, hướng đến đời sống tâm linh siêu việt Tín ngưỡng thường gắn với đờisống trần tục một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức cá nhân
2.2.2 Một số tín ngưỡng cơ bản của người Việt
Về cơ bản các tĩn ngưỡng của người Việt Nam đều có những đặc điểm sau:
- Gắn bó mật thiết với thiên nhiên
- Đề cao vai trò của người phụ nữ
- Tôn trọng sự cân bằng hài hòa âm dương
- Tính dung chấp cao
a Tín ngưỡng phồn thực (phồn là nhiều, thực là nảy nở)
Là hình thức tín ngưỡng tôn thờ sự giao hợp, sinh nở của cư dân nông nghiệp,tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới
Tín ngưỡng phồn thực tồn tại dưới hai hình thức:
Trang 31- Thờ sinh thực khí (sinh là đẻ, thực là nảy nở, khí là công cụ): là hình thức tínngưỡng đơn giản, phổ biến ở nền văn hóa nông nghiệp có ở các vùng, miền của ViệtNam Thờ sinh thực khí là thờ những công cụ có thể tạo ra được sự sinh nở.
- Thờ hành vi giao phối: tục thờ này thể hiện sự giao hợp tự nhiên giữa giốngđực và giống cái, có tác dụng kích thuchs sự sinh sôi nảy nở trong vũ trụ
b Tín ngưỡng thờ Mẫu
Là một trong các hình thức của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Mẫu của ngườiViệt Nam không chỉ là các Bà, Mẹ, điểm khác biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu củangười Việt Nam chính là các hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa thành các Bà,Mẹ
Tín ngưỡng thờ Mẫu được hình thành từ công việc sản xuất nông nghiệp, conngười phải phụ thuộc vào các yếu tố của tự nhiên Chất âm tính của văn hóa nôngnghiệp dẫn đến kết quả trong quan hệ xã hội là lối sống tôn trọng phụ nữ và trong tínngưỡng là các nữ thần chiếm ưu thế Cái mà họ hướng tới là sự phồn thực nên nữ thầnđược thờ là các Bà, Mẹ - những người có thể tạo ra sự sinh nở Từ đó, dẫn đến tục thờMẫu
- Thánh Mẫu Thượng Thiên
- Thánh Mẫu Thượng Ngàn
- Thánh Mẫu Thoải
Gọi là Tam tỏa Thánh Mẫu Sau này, người Việt Nam bổ sung thêm một vị làThánh Mẫu Nhân phủ - cai quản con người – mặc đồ vàng – gọi là Tứ Phủ
Nơi thờ cũng các vị này là Phủ, Đền, Điện; các Mẫu có thể được thờ chunghoặc thờ riêng từng vị
Tín ngưỡng này là hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể Gắn bó với nó là hệthống các huyền thoại, truyện thơ nôm, bài văn chầu, hát chầu văn, hát bóng, hầu bóngvà lên đồng
c Tín ngưỡng thờ tổ tiên.
Là một hình thức của tín ngưỡng sùng bái con người trong gia đình Con ngườitrở thành đối tượng được thờ cúng vì người xưa cho rằng: con người được tạo ra bởihai phần: thể xác và linh hồn
Trang 32Thờ Tổ tiên là thờ những người trong gia đình, dòng họ có công lao sinh thành,dưỡng dục ra mình Ở Việt Nam, tín ngưỡng này còn được gọi là Đạo Ông Bà, đượccoi gần như tôn giáo.
Trong gia đình người Việt Nam, bao giờ cũng có bàn thờ tổ tiên Bàn thờ tổtiên được đặt ở chính giữa của gian chính Tín ngưỡng này là một hình thức sinh hoạtcộng đồng trong gia đình, gia tộc người Việt Nam, có tác dụng củng cố mối quan hệtrong gia đình, gia tộc Đồng thời nhắc nhở, giáo dục con cháu về nguồn gốc, lịch sử,truyền thống của gia đình, gia tộc
Trong gia đình, ngoài tổ tiên, người Việt Nam còn thờ vị thần trông coi gia cư,định đoạt phúc họa cho một gia đình, đó là Thổ công – một dạng của Mẹ Đất
d Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (hoặc Thần Hoàng)
Là hình thức tín ngưỡng sùng bái con người trong làng xã Tín ngưỡng thờThành Hoàng được ảnh hưởng từ Trung Quốc, chỉ vị thần làm chủ một thành lũy đượctruyền sang Việt Nam từ thế kỷ thứ IX
Đại bộ phận các vị Thành Hoàng làng đều có một lý lịch ghi thành văn bản gọilà thần tích hoặc thần phả, ngọc phả Đa số sự tích về Thành Hoàng là những truyềnthuyết, sau này được triều đình công nhận (trừ yêu thần, tà thần)
Thành Hoàng được thờ ở đình làng, mỗi làng có một đình Đình làng vừa là nơithờ Thành Hoàng, vừa là nơi sinh hoạt của làng Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng được
tổ chức thành Lễ Hội ở các làng vào mùa xuân, lễ hội Thành Hoàng chính là cầu nốigiữa quá khứ với hiện tại và tương lai Đồng thời, tạo nên một sự giao lưu về văn hóagiữa các cư dân trong làng, cũng như giữa các làng với nhau
Trong phạm vi quốc gia, Việt Nam có tín ngưỡng thờ Vua Tổ là Hùng Vươngvới ngày giỗ là 10/3 ở Phong Châu tỉnh Phú Thọ
2.3 Triết lý
2.3.1 Triết lý Âm dương
a Nội dung của triết lý Âm dương
Triết lý ÂM dương ra đời vào thời kỳ Ân – Thương (thế kỷ XVII TCN đến thế
kỷ XII TCN), có nhiều truyền thuyết về tác giả của thuyết này Theo Huyền thoại là
do vua Phục Hy và Vũ Vương Nghiên cứu thuyết Âm dương một cách có hệ thống
Trang 33nhất vẫn là trong Kinh Dịch, cuốn sách được coi là của Thánh nhân viết vì trong đóchứa đựng toàn bộ qui luật của vũ trụ, bao gồm cae Trời, Đất và Người.
Kinh Dịch bao gồm hai phần: Kinh và Truyện Phần Kinh gồm các quẻ, đó làcác ký hiệu trong truyền thuyết là do Phục Hy khi trị thủy trên sông Hoàng Hà và VũVương khi trị thủy trên sông Lạc tìm thấy
Phần Truyện chính là lời giải thích cho các quẻ trong Kinh, được tạo bởi rấtnhiều người của nhiều trường phái triết học Trung Hoa Trong đó, Khổng tử là ngườiđược coi có công lao giải thích các quẻ trong Kinh Dịch theo một hệ thống lý luậnnhất quán, vì vậy, các nhà Nho đã coi Kinh Dịch là một trong ngũ Kinh
Theo Kinh Dịch, lúc đầu, toàn bộ vũ trụ là một khối khí (gọi là Thái cực), trong
sự vận động của nó sinh ra hai khí âm và dương (gọi là lưỡng nghi)
- Trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại hai khí trái ngược nhau, đó là khí
âm và khí dương Vì vậy, trong vũ trụ, không có không có cái gì hoàn toàn âm hoặchoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm
- Hai khí âm dương có tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau: âm cực sinh dương,dưỡng cực sinh âm
b Vai trò của triết lý Âm dương trong đời sống của người Việt Nam
Triết lý Âm dương đã trở thành nền tảng trong nhận thức của người Việt Nam,
vì vậy, nó chi phối tất cả mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của người ViệtNam
Trong nhân sinh quan của người Việt Nam, triết lý Âm dương còn thể hiệntrong những quan niệm về họa – phúc, hay – dở… Chính nhờ đó mà có triết lý sốngquân bình, cố gắng không làm mất lòng ai Triết lý sống quân bình này tạo ra ở ngườiViệt Nam khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh
Trong sinh hoạt, triết lý Âm dương được biểu hiện trong văn hóa ẩm thực củangười Việt Nam, thể hiện ở sự đặc biệt chú trọng đến quan hệ âm dương của thức ăn,của cơ thể và của con người với tự nhiên
Để đảm bảo quân bình âm dương giữa con người với môi trường, người ViệtNam có thói quen ăn uống theo vùng khí hậu, theo mùa
Trang 34Triết lý Âm dương được phát triển theo hai hướng: ngũ hành và bát quái Mộthướng phát triển ở lưu vực sông Hoàng Hà, gọi Âm dương là lưỡng nghi với mô hình
vũ trụ là những con số chẵn thể hiện rất rõ trong Kinh Dịch
Hướng thứ hai phát triển ở lưu vực sông Dương tử (trong đó có Việt Nam) Âmdương sinh tam tài Tam tài là bộ ba: Trời – Đất – Người được thể hiện trong truyềnthuyết Sơn tinh Thủy tinh có ba nhân vật: Sơn tinh, Thủy tinh và Mỵ nương Từ Tamtài sinh Ngũ hành, tạo nên mô hình vũ trụ với những số lẻ
2.3.2 Thuyết Ngũ hành
a Nội dung cơ bản của thuyết Ngũ hành
Thuyết Ngũ hành gắn liền với triết lỹ ÂM dương và được thể hiện dưới dạngthể tính, bao gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ Cơ sở của thuyết Ngũ hành là Hà đồ;trong đó gồm 5 nhóm được cấu thành từ 10 con số, trong đó đặc biệt kính nể con số 5
vì nó ở vị trí trung tâm Mỗi nhóm con số ứng với các phương vị như sau:
- 1 - 6: phương Bắc - hành Thủy;
- 2 - 7: phương Nam - hành Hỏa;
- 3 - 8: phương Đông - hành Mộc;
- 4 - 9: phương Tây - hành Kim;
- 5 - 10: Trung ương - hành Thổ;
Giữa các hành có mối quan hệ mật thiết và chuyển hóa lẫn nhau, hành này sinh
ra hành kia (tương sinh có ý nghĩa bồi bổ, thúc đẩy, trợ giúp), đồng thời hành nàykhắc hành kia (tương khắc có nghĩa chế ngự, khống chế) theo chu trình
Tương tự như mối quan hệ giữa Âm và dương, tương sinh và tương khắc cómối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, trong đó sinh là “cần”, còn khắc là “thiết”.Chính nhờ cơ chế tương sinh tương khắc của Ngũ hành mà mọi vật trong vũ trụ mớigiữ được cân bằng trong quan hệ với nhau Ví dụ: Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa lại sinhThổ khắc Thủy
b Ứng dụng của thuyết Ngũ hành
Thuyết Ngũ hành được ứng dụng rất linh hoạt và rộng rãi Trong truyền thốngvăn hóa dân gian, Ngũ hành được ứng dụng rất rộng rãi: bùa ngũ sắc bằng bức tranh 5con hổ (Ngũ hổ)… Đối với người Việt Nam, trong Ngũ hành, ngoài Trung ương thìphương Đông và phương Nam được oi trọng hơn phương Tây và phương Bắc
Trang 352.3.3 Lịch Âm dương và hệ Can chi
Trên thế giới, về cơ bản có 3 loại lịch: lịch thuần Âm, lịch thuần Dương và lịch
Âm dương
Lịch Việt Nam sử dụng hiện nay có nguồn gốc từ Trung Quốc, được làm dựavào chu kỳ vòng quay mặt trăng, mặt trời và độ dài Ngũ hành nên gọi là lịch Âmdương
- Định các Ngày trong tháng theo chu kỳ vòng quay mặt trăng
- Định các Tháng trong năm theo chu kỳ vòng quay mặt trời bằng cách xác địnhcác ngày tiết mà trước hết là hai tiết Đông chí và Hạ chí; rồi thêm Xuân phân và Thuphân được tứ thời
- Định Năm dựa trên thuyết Ngũ hành: lấy chu kỳ độ dài của một chu kỳ biến đổingủ hành làm Năm
Để tính đơn vị thời gian: Năm, Tháng, Ngày, Giờ, người xưa đã sử dụng mộthệ đếm đặc biệt gọi là Hệ Can chi Hệ Can chi bao gồm Thiên Can (mười Can) vàThập nhị Địa chi (mười hai Chi)
Thiên Can bao gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, QuíThập Nhị Chi gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất,Hợi
- Hệ can xây dựng trên 5 Hành, mỗi hành đều có hai khí âm dương vì vậy mà có
10 can
- Hệ chi gồm 12 đơn vị, gồm 6 cặp âm dương do Ngũ hành sinh ra
Âm dương và Ngũ hành hóa từng năm theo hệ Can Chi tạo thành một chu kỳ
60 năm (lục thập hoa giáp) quay lại một lần (gọi là một Hội)
2.4 Văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ.
2.4.1 Văn hóa giao tiếp của người Việt
- Về chủ thể giao tiếp: người Việt Nam rất trọng danh dự
Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn tạo nên dư luận như một thứ vũkhí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của cộng đồng
- Về đối tượng giao tiếp: người Việt Nam có thói quen tìm hiểu quan sát, đánhgiá Thói quen này khiến cho người nước ngoài đánh giá là hay tò mò Nhưng đối với
Trang 36người Việt Nam, thói quen này là sản phẩm của tính cộng đồng làng xã, đó là sự quantâm lẫn nhau mà muốn quan tâm, cần phải biết rõ hoàn cảnh.
- Về quan hệ giao tiếp: do ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp với đặc điểmtrọng tình nên người Việt Nam lấy tình cảm (yêu, ghét) làm nguyên tắc ứng xử Mặc
dù cuộc sống lấy sự cân bằng, hài hòa Âm dương làm trọng nhưng người Việt Namvẫn thiên về âm Cuộc sống có lý nhưng phải có tình và khi phải chọn giữa lý hoặctình thì vẫn thiên về tình
- Về thái độ trong giao tiếp: vừa cởi mở vừa rụt rè Đặc trưng này bắt nguồn từnền kinh tế nông nghiệp, sống phụ thuộc lẫn nhau nên cần coi trọng các mối quan hệcộng đồng, giữ gìn mối quan hệ tốt với các thành viên trong cộng đồng Hai thái độtrái ngược nhau này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính tậpthể và tính tự quản
- Về cách thức giao tiếp: tế nhị, ý tứ và coi trọng sự hòa thuận Tính tế nhịkhiến cho người Việt Nam không có thói quen trực tiếp đi vào nội dung chính của câuchuyện, tạo thành lối giao tiếp vòng vo, tạo ra thói quen chào hỏi trước khi đi vào nộidung chính của câu chuyện Lối giao tiếp này còn tạo nên thói quen đắn đo, cân nhắc
kỹ càng khi nói năng Đồng thời, với tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luônchủ trương nhường nhịn trong giao tiếp
- Hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú: đó là sự phong phú của hệ thốngxưng hô Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà cách xưng hô bị thay đổi Ngoài ra, hệthống xưng hô của người Việt Nam còn thể hiện tâm lý khiêm nhường, tính tôn tynhưng lại vẫn dân chủ
Truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca, văn xuôi cũng là thơ nómang tính nhịp điệu và tiết tấu
Trang 37- Giàu chất biểu cảm: chất biểu cảm trong ngôn từ của người Việt Nam là sảnphẩm tất yếu của nền văn hóa nông nghiệp thiên về tình cảm Chất biểu cảm thể hiện
ở chỗ các từ thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm
- Tính động, linh hoạt: thể hiện ở hệ thống ngữ pháp, ngữ pháp tiếng Việt là ngữpháp ngữ nghĩa
2.5 Nghệ thuật thanh sắc và hình khối
Nghệ thuật thanh sắc của người Việt Nam sử dụng những nhạc cụ: bộ gõ, bộdây, bộ hơi, … trong nhạc cụ, bộ gõ là loại phổ biến và có xuất xứ lâu đời nhất vì nóphản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp phục vụ cho mục đích cầu mưa, gắn với
sự sinh sôi nảy nở
Nghệ thuật thanh sắc của người Việt Nam có các loại hình: dân ca có ngâm thơ,hát; sân khấu có chèo, tuồng, rối nước, đầu thế kỷ XX có kịch nói, cải lương
Nghệ thuật này có những đặc trưng sau:
2.4.1 Tính biểu trưng
a Tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc
Tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc Việt Nam thể hiện trước hết ởnguyên lý đối xứng hài hòa Tính biểu trưng còn được thực hiện bằng thủ pháp mangtính ước lệ để chuyền tải nội dung cần nói
Tính biểu trưng còn được thực hiện bằng thủ pháp mô hình hóa
b Tính biểu trưng trong nghệ thuật hình khối.
Tính biểu trưng trong nghệ thuật hình khối dùng với mục đích nhấn mạnh đểlàm nổi bật trọng tâm của đề tài bất chấp tính hợp lý về hình thức của hiện thực
Để thể hiện nội dung, người Việt Nam không câu nệ đến hình thức, dùng cảnhững con vật xấu xí, chậm chạp để thể hiện
Để tạo ra những mô hình và biểu tượng, người Việt Nam còn sử dụng ngôn ngữtạo nên sự liên tưởng
Tính biểu trưng thường bắt gặp ở văn hóa phương Đông, còn khuynh hướng tảthực thường có trong văn hóa phương Tây
2.4.2 Tính biểu cảm