ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HỒ THẾ NAM PHƢƠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP TRONG ĐẦU TƢ TRẠM ÉP RÁC KÍN NHẰ[.]
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Rác thải đang trở thành vấn đề nghiêm trọng trong xã hội hiện nay, đòi hỏi các nghiên cứu để tìm ra giải pháp xử lý hiệu quả Quản lý chất thải đô thị tại Việt Nam và trên thế giới đang đối mặt với những thách thức lớn Việc áp dụng chính sách phù hợp cho từng quốc gia và tổ chức là cần thiết để giải quyết vấn đề này Cuốn “Tổng luận về Công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và Việt Nam” đã tổng hợp tình hình xử lý chất thải rắn toàn cầu và tại Việt Nam Cuốn sách “Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn” của Nguyễn Xuân Nguyên và Trần Quang Huy trình bày nguyên lý và công nghệ xử lý rác thải thành phân bón Một nghiên cứu tại Trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2 đã chỉ ra thực trạng và giải pháp cho việc xử lý rác thải y tế rắn tại thành phố Hồ Chí Minh, nêu rõ những hạn chế trong hệ thống thu gom và xử lý.
Nghiên cứu hiện trạng xử lý rác tại các vùng nông thôn đô thị hóa ở miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra những thách thức trong hệ thống quản lý chất thải Bài viết tập trung vào việc xây dựng mô hình thu gom và xử lý rác thải khả thi, nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng gia tăng.
Các nghiên cứu hiện tại đã chỉ ra tình trạng ô nhiễm môi trường và quản lý rác thải tại Việt Nam, nhưng các giải pháp đưa ra chủ yếu mang tính khuyến nghị và chưa phù hợp với thực tế Vấn đề tài chính và công nghệ trong xử lý rác thải là rất quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu sâu Do đó, tác giả đề xuất nghiên cứu chính sách tài chính để thúc đẩy công nghệ phù hợp trong đầu tư trạm ép rác kín, nhằm nâng cao hiệu suất xử lý rác thải Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và năng lực, tác giả sẽ chỉ tập trung vào quy trình ép rác kín tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài viết là đề xuất các chính sách tài chính và giải pháp bổ sung nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ phù hợp trong đầu tư trạm ép rác kín, từ đó nâng cao hiệu suất xử lý rác thải.
Thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt với thách thức trong quản lý rác thải, đặc biệt là trong việc áp dụng công nghệ thích hợp cho quy trình xử lý Việc sử dụng công nghệ ép rác kín đã cho thấy tiềm năng cải thiện hiệu quả xử lý rác thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Tuy nhiên, cần có sự đầu tư và cải tiến liên tục để tối ưu hóa quy trình này, đảm bảo tính bền vững trong quản lý rác thải đô thị.
Bài viết nêu rõ rào cản tài chính trong việc xử lý rác thải tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thích hợp Để khắc phục vấn đề này, cần thiết phải đưa ra các chính sách tài chính và giải pháp bổ sung nhằm thúc đẩy việc áp dụng công nghệ trong các trạm tư ép rác kín, từ đó nâng cao hiệu quả xử lý rác thải.
Mẫu khảo sát
Tiến hành khảo sát và thu thập ý kiến từ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xử lý rác thải tại thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tại các trạm ép rác kín.
- Trạm ép rác kín Phan Văn Trị, Q Bình Thạnh
- Trạm ép rác kín Lô A cƣ xá Thanh Đa, P.27, Q Bình Thạnh
- Trạm ép rác kín 350B Trần Bình Trọng, P 1, Q 10
- Trạm ép rác kín 12 Quang Trung, Q Gò Vấp
- Trạm ép rác kín phường Bình Trưng Tây, quận 2.
Câu hỏi nghiên cứu
Để nâng cao năng suất xử lý rác thải, cần sử dụng các công cụ tài chính hiệu quả nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thích hợp trong đầu tư trạm ép rác kín.
Giả thuyết nghiên cứu
Cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tƣ trạm ép rác kín trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh khuyến khích các doanh nghiệp công ích chủ động trong việc đầu tư đổi mới công nghệ bằng cách tính toán cấp bù kinh phí từ nhà nước thông qua việc xử lý rác Điều này nhằm thúc đẩy sự tham gia của các thành phần kinh tế vào lĩnh vực này.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã nghiên cứu tài liệu từ các chuyên gia trong nước về công nghệ xử lý rác thải, lý thuyết tài chính và môi trường.
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Xây dựng phiếu điều tra và phỏng vấn các đơn vị xử lý chất thải sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm hiểu về quy trình xử lý rác thải và ứng dụng công nghệ phù hợp trong việc ép rác kín.
Trong quá trình khảo sát, tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực xử lý chất thải và các lãnh đạo tại các đơn vị quản lý rác thải cũng như trung tâm xử lý rác thải.
Kết cấu của luận văn
Toàn bộ nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị sẽ được trình bày trong 3 chương:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH VÀ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP TRONG XỬ LÝ RÁC THẢI
Chính sách tài chính
Chính sách được hiểu là quá trình hành động có mục tiêu, theo định nghĩa của James E Anderson, mà một hoặc một số chủ thể thực hiện để giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.
Chính sách là các chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định, dựa trên đường lối chính trị chung và tình hình thực tế Nó bao gồm các chủ trương và biện pháp của một đảng phái hoặc chính phủ trong các lĩnh vực chính trị và xã hội.
Khái niệm chính sách có thể được phân tích qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm tiếp cận chính trị học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế học, lý thuyết trò chơi, hệ thống, khoa học pháp lý và tiếp cận tổng hợp.
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
Chính sách là tập hợp các biện pháp do chủ thể quyền lực hoặc quản lý đề ra, được thể chế hóa thành những quy định pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục tiêu mà chủ thể quyền lực mong muốn.
Chính sách thường dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, trong đó các chủ thể quyền lực hoặc quản lý có xu hướng ưu ái một hoặc một số nhóm nhất định.
1 James E Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec 1983)
2 Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng 1988 Tr.157
3 Nguyễn Nhƣ Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá – Thông tin.1999 tr.369
Các biện pháp ưu đãi cần phải kích thích động lực của nhóm được ưu đãi, nhóm này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của hệ thống Điều này nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu phát triển được thực hiện theo chiến lược mà các chủ thể quyền lực hoặc quản lý đã đề ra.
Chính sách có thể tạo ra bất bình đẳng xã hội, đồng thời khắc phục những bất bình đẳng hiện có, nhưng cũng có thể làm sâu sắc thêm những bất bình đẳng vốn có Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của chính sách phải là đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho sự phát triển xã hội.
Tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa trong bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tổng hợp từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa, do chủ thể quyền lực hoặc quản lý ban hành, nhằm tạo ưu đãi cho một nhóm xã hội Mục tiêu của chính sách là kích thích động cơ hoạt động của nhóm này và định hướng hành động của họ để đạt được các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội.
Hệ thống xã hội được hiểu một cách khái quát, bao gồm các đơn vị như quốc gia, khu vực hành chính, doanh nghiệp, và nhà trường.
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau:
Chính sách bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, như biện pháp kích thích kinh tế, động viên tinh thần, mệnh lệnh hành chính, và ưu đãi cho cá nhân hoặc nhóm xã hội.
Chính sách bao gồm các biện pháp được thể chế hóa qua các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh, cùng với các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ, và các quy định nội bộ của các tổ chức như doanh nghiệp và trường học.
Chính sách cần ảnh hưởng đến động lực hoạt động của cá nhân và nhóm xã hội, như nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, và nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế.
Chính sách cần định hướng động lực của cá nhân và nhóm xã hội vào các mục tiêu cụ thể của hệ thống xã hội, như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của địa phương, và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của quốc gia.
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
Chính sách ra đời nhằm chuẩn bị giải pháp ứng phó trong cuộc chơi, với mục tiêu đảm bảo rằng chủ thể quản lý luôn giành chiến thắng Tuy nhiên, điều quan trọng là phải lựa chọn giải pháp sao cho đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích một cách hợp lý, tránh dồn họ vào tình thế khó khăn, từ đó giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp theo.
Công nghệ thích hợp
Công nghệ đƣợc trình bày theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Sau đây là một số quan niệm thường gặp:
Tổ chức PRODEC (1982) định nghĩa công nghệ là tổng hợp các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được áp dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ.
Ngân hàng Thế giới (1985) định nghĩa công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, bao gồm ba yếu tố chính: thông tin về phương pháp, phương tiện và công cụ sử dụng để thực hiện phương pháp, cùng với sự hiểu biết về cách thức hoạt động và lý do của phương pháp đó.
Luật KH&CN VN (2013) định nghĩa công nghệ là sự kết hợp của các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện nhằm chuyển đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
- Theo, có thể xét công nghệ dưới nhiều “lớp” khác nhau 4 :
(1) Technology as objects: tools, machines, intruments, weapons, appliances – the physical devices of technical performance
(Công nghệ là các đối tƣợng: công cụ, máy móc, trang thiết bị - những thiết bị vật lý thực hiện kỹ thuật)
(2) Technology as knowledge: the know-how behind technological innovation
(Công nghệ là những kiến thức: bí quyết đằng sau sự đổi mới công nghệ)
(3) Technology as activities: What people do – their skills, methods, procedures, rountines
(Công nghệ là những hoạt động: cách thức con người làm: những kỹ năng, phương pháp, quá trình và trình tự làm việc của họ)
4 http://atschool.eduweb.co.uk/trinity/watistec.html
(4) Technology as a process: begin with a need and ends with a solution
(Công nghệ là một quá trình: bắt đầu bằng nhu cầu và kết thúc bằng một giải pháp)
(5) Technology as a sociotechnical system: the manufacture and use of objects involing people and other objects in combination
Công nghệ được xem như một hệ thống kỹ thuật xã hội, bao gồm việc sản xuất và sử dụng các đối tượng kết hợp giữa con người và vật thể Theo phương diện khoa học và công nghệ, công nghệ bao gồm mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết và phương pháp (phần mềm) được lưu giữ dưới nhiều dạng khác nhau, cùng với các thiết bị, công cụ và tư liệu sản xuất (phần cứng) Ngoài ra, công nghệ còn bao gồm các tiềm năng khác như tổ chức, pháp chế và dịch vụ, được áp dụng vào thực tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Nhƣ vậy, có thể khái quát về khái niệm công nghệ nhƣ sau:
Công nghệ là tập hợp các giải pháp được phát triển từ việc ứng dụng kiến thức khoa học, nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn trong sản xuất và kinh doanh Nó bao gồm bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu và các dịch vụ tư vấn hỗ trợ.
Công nghệ bao gồm phần cứng và phần mềm:
- Phần cứng: máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng
+ Con người: nhân lực có sức khỏe, kỹ năng kinh nghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất cao
+Thông tin: dữ liệu, thuyết minh, dự án, phần mô tả sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều hành sản xuất
Tổ chức là quá trình quan trọng bao gồm việc thiết lập quan hệ, bố trí và sắp xếp đào tạo đội ngũ nhằm tối ưu hóa hoạt động phân chia nguồn lực, tạo dựng mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra và điều hành hiệu quả.
+Phần bao tiêu: nhu cầu thị trường đầu ra
5 Theo Trịnh Ngọc Thạch ,Tập bài giảng Khoa học và công nghệ luận đại cương, 2009
Khi nhắc đến công nghệ, nhiều người thường chỉ nghĩ đến khía cạnh "phần cứng", dẫn đến việc hiểu sai về bản chất của công nghệ Nếu chỉ xem xét công nghệ dưới góc độ này, chúng ta sẽ giới hạn nó trong các sản phẩm từ nghiên cứu khoa học ứng dụng Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học, bên cạnh nghiên cứu ứng dụng, còn có nghiên cứu cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nền tảng cho các nghiên cứu khác.
Công nghệ thích hợp là những công nghệ đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Căn cứ xác định công nghệ thích hợp:
Sự thích hợp của công nghệ không phụ thuộc vào bản chất của chính nó, mà được xác định bởi hoàn cảnh và mục tiêu mà nó được sử dụng để đánh giá.
Hoàn cảnh được xác định qua nhiều yếu tố quan trọng, bao gồm dân số, tài nguyên, kinh tế, công nghệ, môi trường sống, văn hóa - xã hội, chính trị - pháp luật và quan hệ quốc tế.
Dựa vào các mục tiêu của quốc gia, ngành, địa phương và cơ sở, cần xác định các chiến lược phù hợp nhằm tối đa hóa hiệu quả và tối thiểu hóa hậu quả.
Mục tiêu có thể thay đổi khi các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả và hậu quả biến động, cũng như mối quan hệ giữa chúng Định hướng công nghệ cần được xác định theo bốn hướng, trong đó có định hướng theo trình độ công nghệ.
Tiền đề cơ bản làm cơ sở cho định hướng này là có một loạt công nghệ sẵn có để thỏa mãn một nhu cầu nhất định
Vấn đề là lựa chọn công nghệ nào cho phù hợp
Các công nghệ hiện có được phân loại từ thô sơ, thủ công đến tiên tiến, hiện đại Đối với các nước đang phát triển, việc lựa chọn công nghệ tiên tiến mang lại nhiều ưu điểm và khuyết điểm.
- Công nghệ tiến tiến là then chốt để các nước đang phát triển có cơ hội công nghiệp hóa nhanh chóng
- Công nghệ tiến tiến có thời gian sử dụng lâu dài
- Công nghệ tiên tiến tạo năng suất lao động cao, chất lƣợng tốt, giá thành hạ, lợi nhuận cao, thuận lợi trong phân công hợp tác quốc tế
Các công nghệ tiên tiến, được phát triển từ các kết quả của khoa học hiện đại, thường gây khó khăn cho các nước đang phát triển khi tiếp nhận và áp dụng.
1 Tập trung vốn lớn, khó thực hiện nhiều mục tiêu cùng một lúc, kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2 Đòi hỏi năng lực vận hành và trình độ quản lý cao
3 Tính thích nghi giảm do bỏ qua một cách đột ngột với quá khứ
Nhiều chuyên gia công nghệ cho rằng, các nước đang phát triển nên lựa chọn công nghệ trung gian, kết hợp giữa công nghệ tiên tiến và công nghệ thô sơ, nhằm đạt được sự dung hòa hiệu quả.
- Phù hợp với trình độ phát triển của đất nước
Rác thải và các cách xử lý rác thải
- Công nghệ thích hợp tiết kiệm tài nguyên
- Có khả năng sử dụng dịch vụ, nguyên liệu trong nước
- Có khả năng sử dụng đƣợc phế liệu và không gây ô nhiễm
- Tạo tiềm năng nâng cao năng lực công nghệ
1.3 Rác thải và tác hại của rác thải
Sản phẩm từ nền công nghiệp hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống, bao gồm dược phẩm giúp cải thiện sức khỏe và thiết bị gia dụng tiết kiệm công sức Danh sách hàng hóa hữu ích như ô tô, tàu thủy, sơn, chất tẩy rửa, sợi tổng hợp, bao bì, nhựa tổng hợp và máy tính cá nhân không ngừng mở rộng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mặc dù hàng hóa mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại những mặt trái nghiêm trọng Sản xuất công nghiệp tạo ra hàng trăm triệu tấn rác thải mỗi năm, chứa đựng các hóa chất độc hại và yếu tố nguy hiểm cho sức khỏe con người cũng như môi trường Những chất thải này có thể gây độc tính, dễ cháy nổ, ăn mòn hoặc gây nhiễm trùng, và chúng được phát tán từ ống khói, ống xả, hoặc bị vứt bỏ tại các bãi rác Ngoài ra, rác thải hạt nhân và rò rỉ phóng xạ cũng là những mối đe dọa lớn Đáng lo ngại hơn, một số rác thải còn bị vận chuyển trái phép đến những khu vực không hay biết, gây ra nguy hiểm cho cộng đồng.
1.3.1 Tác hại của rác thải đối với môi trường
Rác thải có thể gây ra nhiều tác động ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, bao gồm cả môi trường không khí, đất và nước
- Ô nhiễm môi trường không khí
Rác thải phát sinh mùi khó chịu do quá trình phân hủy các chất hữu cơ, gây ô nhiễm không khí Các khí độc hại từ quá trình này bao gồm: Amoni với mùi khai, phân thối, hydrosunfur có mùi trứng thối, sunfur hữu cơ với mùi bắp cải rữa, mecaptan có mùi hôi nồng, amin với mùi cá ươn, diamin có mùi thịt thối, khí clo nồng và phenol với mùi đặc trưng khó chịu.
Ngoài ra, quá trình đốt rác sẽ phát sinh nhiều khí ô nhiễm nhƣ: SO2, NOx,
Nước rỉ rác chứa nhiều chất ô nhiễm, bao gồm chất hữu cơ từ phân súc vật và thức ăn thừa, cùng với chất thải độc hại từ bao bì phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và mỹ phẩm Nếu không được thu gom và xử lý kịp thời, nước rỉ rác sẽ xâm nhập vào nguồn nước mặt và nước ngầm, gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng.
- Ô nhiễm môi trường đất Ô nhiễm môi trường đất từ rác thải do 2 nguyên nhân:
Rác thải trong quá trình thu gom và vận chuyển thường bị rơi vãi, dẫn đến ô nhiễm đất Nguyên nhân chính là do trong rác có chứa các thành phần độc hại như thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất và vi sinh vật gây bệnh.
Nước rỉ rác nếu không được thu gom, xử lý sẽ thấm xuống đất gây ô nhiễm môi trường đất do:
- Nước rỉ rác chứa nhiều kim loại nặng
- Có thành phần chất hữu cơ khó phân hủy sinh học cao
- Chứa nhiều vi sinh vật, vi khuẩn gây bệnh
1.3.2 Tác hại của rác thải đối với sức khoẻ cộng đồng
Các nguyên nhân gây bệnh
- Rác thải chứa nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh do chứa mầm bệnh từ phân người, súc vật, rác thải y tế
- Các vi khuẩn gây bệnh nhƣ: E.Coli, Coliform, giun, sán
- Ruồi, muỗi đậu vào rác rồi mang theo các mầm bệnh đi khắp nơi
- Kim loại nặng: Chì, thủy ngân, crôm có trong rác không bị phân hủy sinh học, mà tích tụ trong sinh vật, tham gia chuyển hóa sinh học
- Dioxin từ quá trình đốt rác thải ở các điều kiện không thích hợp Ảnh hưởng đến sức khỏe của người thu gom rác
Sida, cảm cúm, dịch bệnh và các bệnh nguy hại khác Các bệnh trên có thể gây ra các tác động tức thời hoặc lâu dài
- Nếu không sử dụng thiết bị bảo hộ khi thu gom rác thì vi khuẩn sẽ xâm nhập vào da và gây viêm da
- Ngoài ra chất hữu cơ dễ bay hơi cũng có thể gây viêm loét da
Chất hữu cơ dẽ bay hơi gây nguy cơ bị hen suyễn nhất; chảy nước mắt,mũi; viêm họng
Trường hợp ngộ độc nặng có thể gây nhức đầu, nôn mữa Về lâu dài có thể gây tổn thương gan và các cơ quan khác
Ngoài ra khi tiếp xúc trƣc tiếp với rác thải còn gây ra bênh xung huyết niêm mạc miệng, viêm họng, lợi, rối loạn tiêu hóa
Một số thành phần chất hữu cơ dễ bay hơi trong rác, như benzen và styrene butadiene, có khả năng gây ung thư máu Ngoài ra, tiếp xúc trực tiếp với THC cũng có thể dẫn đến ung thư da và ung thư tinh hoàn.
Rác thải tạo điều kiện cho muỗi sinh sôi, trong đó muỗi chích có thể gây ra bệnh sốt xuất huyết Bệnh này không chỉ lây lan nhanh chóng mà còn đe dọa tính mạng con người; nếu không được cấp cứu kịp thời, có thể dẫn đến tử vong.
Bệnh sida, cảm cúm, dịch bênh và các bệnh nguy hại khác
Rác thải chứa nhiều ruồi, muỗi và vi trùng gây bệnh nên dễ bị dịch bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với rác thải
Xử lý rác thải
1.4.1 Khái niệm về xử lý chất thải
Xử lý chất thải là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm xử lý chất thải mà không gây hại cho môi trường, đồng thời tái tạo các sản phẩm có lợi cho xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.4.2 Các phương pháp xử lý chất thải
Phương pháp cơ học trong xử lý chất thải bao gồm việc tách kim loại, thủy tinh và nhựa ra khỏi chất thải Ngoài ra, quy trình này còn bao gồm sơ chế và đốt chất thải mà không thu hồi nhiệt, cũng như lọc tạo rắn cho các chất thải bán lỏng.
- Phương pháp cơ-lý: phân loại vật liệu; thuỷ phân; sử dụng chất thải như nhiên liệu; đúc ép các chất thải, sử dụng làm vật liệu xây dựng
- Phương pháp sinh học: chế biến ủ sinh học; mêtan hoá trong các bể thu hồi sinh học
Các phương pháp xử lý rác thải có thể khái quát theo sơ đồ hình 1
Hình 1 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
- Phương pháp ủ sinh học làm phân compost
Phương pháp ủ sinh học thích hợp cho chất thải rắn hữu cơ trong rác thải sinh hoạt, đặc biệt là các hợp chất chứa nhiều carbonhydrat như đường, xenllulo, lignin, mỡ và protein, có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước Quá trình phân huỷ này diễn ra với sự có mặt của ôxy (phân huỷ hiếu khí) hoặc không có ôxy (phân huỷ yếm khí, lên men) Hai quá trình này xảy ra đồng thời trong khu vực chứa rác thải, với sự chiếm ưu thế của một trong hai dạng phụ thuộc vào mức độ thông khí Phương pháp ủ sinh học để sản xuất phân compost được minh hoạ trong hình 2.
Hình 2 Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp
Xử lý rác thải bằng phương pháp thiêu đốt giúp giảm thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng Việc áp dụng công nghệ tiên tiến mang lại nhiều lợi ích cho môi trường Tuy nhiên, phương pháp này có chi phí cao hơn khoảng 10 lần so với chôn lấp hợp vệ sinh.
Công nghệ đốt rác thường được áp dụng ở các nước phát triển, nơi có nền kinh tế đủ mạnh để hỗ trợ việc thu gom rác thải sinh hoạt như một dịch vụ phúc lợi xã hội Tuy nhiên, việc đốt rác sinh hoạt, bao gồm nhiều loại rác khác nhau, có thể tạo ra khói độc dioxin, gây nguy hiểm cho sức khỏe nếu không được xử lý đúng cách.
Năng lượng phát sinh từ quá trình đốt có thể được sử dụng cho lò hơi, lò sưởi và trong ngành công nghiệp nhiệt và phát điện Tuy nhiên, mỗi lò đốt cần phải có một hệ thống xử lý khí thải hiệu quả để kiểm soát ô nhiễm không khí do quá trình này gây ra.
Hiện nay, nhiều nước châu Âu đang giảm thiểu việc đốt rác thải do các vấn đề kinh tế và môi trường cần giải quyết Phương pháp thu đốt thường chỉ được áp dụng cho rác thải độc hại như rác thải bệnh viện và công nghiệp, vì các phương pháp xử lý khác không hiệu quả Hình thức thiêu đốt rác thải được minh họa trong hình 3.
Hình 3.Hệ thống thiêu đốt chất thải
Phương pháp chôn lấp rác thải là một giải pháp chi phí thấp, phổ biến ở các nước đang phát triển Rác được vận chuyển bằng xe chuyên dụng đến các bãi chôn lấp đã được xây dựng Sau khi đổ rác xuống, xe ủi sẽ san bằng và đầm nén bề mặt, sau đó phủ lên một lớp đất.
Hàng ngày, việc phun thuốc diệt muỗi và rắc vôi bột được thực hiện để xử lý rác thải Qua thời gian, sự phân hủy vi sinh vật giúp rác trở nên tơi xốp và giảm thể tích bãi rác Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy, sau đó chuyển sang bãi mới Mặc dù chôn lấp rác thải sinh hoạt và rác thải hữu cơ vẫn phổ biến ở các nước đang phát triển, nhưng cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định bảo vệ môi trường Xu hướng chôn lấp rác thải đang giảm dần và hướng tới việc chấm dứt ở các nước này Các bãi chôn lấp phải được đặt xa khu dân cư và nguồn nước, với đáy bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ lớp chống thấm Cần thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải ra môi trường, và việc thu khí gas để chuyển đổi thành năng lượng là một trong những cách để thu hồi chi phí đầu tư cho bãi rác.
Phương pháp này có những ưu điểm như công nghệ đơn giản và chi phí thấp Tuy nhiên, nó cũng tồn tại một số nhược điểm, bao gồm việc chiếm diện tích đất lớn, thiếu sự đồng thuận từ cộng đồng dân cư xung quanh, khó khăn trong việc tìm kiếm địa điểm xây dựng bãi chôn lấp mới, và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, cũng như nguy cơ cháy nổ.
- Các phương pháp xử lý khác
- Xử lý rác thải bằng công nghệ ép kiện
Rác thu gom được đưa về nhà máy chế biến và được phân loại thủ công trên băng tải Tại đây, các chất trơ và chất có thể tái sử dụng được phân loại một cách hiệu quả.
Kim loại, nilon, giấy, thủy tinh và nhựa được thu hồi để tái chế Các chất còn lại sẽ được chuyển qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực nhằm giảm thể tích khối rác và tạo thành các kiện có tỷ số nén cao Những khối rác ép này được sử dụng để san lấp và làm bờ chắn cho các vùng đất trũng.
Hình 4 Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện