1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Quan Hệ Quốc Tế, Hợp Tác Quốc Tế, Dầu Khí.pdf

97 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Tác Quốc Tế Trong Lĩnh Vực Dầu Khí Của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan Và Dịch Vụ Khoan Dầu Khí (2001-2010)
Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng
Người hướng dẫn TS Nguyễn Minh Mẫn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Quốc Tế Học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN DẦU KHÍ (PV DRILLING) (17)
    • 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của PV Drilling (17)
      • 1.1.1 Quá trình hình thành của PV Drilling (17)
      • 1.1.2 Các giai đoạn phát triển của PV Drilling (20)
      • 1.1.3 Định hướng phát triển của PV Drilling (27)
    • 1.2 Vai trò của PV Drilling đối với ngành dầu khí Việt Nam (30)
      • 1.2.1 Đối với ngành dầu khí trong nước (31)
      • 1.2.2 Đối với ngành dầu khí quốc tế (32)
    • 1.3 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của PV Drilling (35)
      • 1.3.1 Cơ sở hoạch định (35)
      • 1.3.2 Quá trình triển khai hợp tác quốc tế (36)
  • CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PV DRILLING (39)
    • 2.1. Đối với lĩnh vực khoan thăm dò (39)
      • 2.1.1 Chính sách ưu đãi của nhà nước trong việc hợp tác quốc tế cho việc khoan thăm dò dầu khí tại vùng biển Việt Nam (39)
      • 2.1.2 Hợp tác với Vietsovpetro (41)
      • 2.1.3 Hợp tác với JVPC (44)
      • 2.1.4 Hợp tác với các nhà thầu khoan của Hoa Kỳ (46)
      • 2.1.5 Hợp tác với các nhà thầu khoan của khối ASEAN (48)
    • 2.2 Đối với lĩnh vực khoan khai thác (49)
      • 2.2.1 Hợp tác với Biển Đông POC (0)
      • 2.2.2 Hợp tác với các đối tác từ Anh Quốc và Hoa Kỳ (50)
      • 2.2.3 Chính sách của nhà nước về việc ưu đãi cho ngành khoan khai thác tại vùng biển Việt Nam (54)
    • 2.3 Đối với lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực (57)
      • 2.3.1 Hợp tác với Hoa Kỳ (57)
      • 2.3.2 Hợp tác với Nhật Bản (59)
      • 2.3.3 Hợp tác với các nước trong tổ chức ASEAN (60)
      • 2.3.4 Hợp tác với các tổ chức quốc tế (63)
    • 2.4 Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ (64)
      • 2.4.1 Chính sách ưu đãi của Việt Nam (64)
      • 2.4.2 Chiến lược của PV Drilling (0)
  • CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUÁ TRÌNH HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PV DRILLING (69)
    • 3.1 Tác động của quá trình hợp tác quốc tế của PV Drilling (69)
      • 3.1.1 Tác động đối với ngành công nghiệp dầu khí nội địa (69)
      • 3.1.2 Tác động đối với ngành công nghiệp dầu khí thế giới (70)
    • 3.2. Triển vọng phát triển (71)
      • 3.2.1 Triển vọng (71)
      • 3.2.2 Thời cơ và thách thức (76)
    • 3.3 Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của PV Drilling (78)
      • 3.3.1 Giải pháp (78)
      • 3.3.2 Kiến nghị (84)
  • Kết luận (87)
  • Phụ lục (90)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MẠNH HÙNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN DẦU KHÍ (2001 2010) LUẬN VĂN[.]

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN DẦU KHÍ (PV DRILLING)

Quá trình hình thành và phát triển của PV Drilling

1.1.1.1 Khái quá bối cảnh hình thành PV Drilling

Ngày 6 tháng 7 năm 1990, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập dựa trên tiền thân là Tổng cục Dầu mỏ và Khí đối Việt Nam, khởi đầu một kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của ngành dầu khí Việt Nam 1

Tổng Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được xác định là đơn vị kinh tế chủ lực, với mục tiêu trở thành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân.

Mô hình liên hiệp Xí nghiệp quốc doanh hiện tại không còn phù hợp với Tổng Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, cần được tổ chức lại theo mô hình tổng công ty mạnh Để đáp ứng yêu cầu này, vào ngày 31-7-1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Chỉ thị số 235-CT nhằm thành lập Tổ Xây dựng Đề án tổ chức lại ngành Dầu khí.

Ngày 9-2-1993, Tổng Giám Đốc của Tổng Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam đã ký quyết định số 131/DK-TCNS-ĐT với nội dung chính là sát nhập Công ty Dịch vụ Dầu Khí (PSC) và Công ty Địa vật lý và Dịch vụ Dầu Khí (GPTS) thành Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu Khí (PTSC) do ông Nguyễn Xuân Nhậm làm giám đốc 3

Năm 1994, Xí Nghiệp Dịch vụ Kỹ Thuật Dầu Khí Biển (PTSC Offshore) được thành lập, thuộc PTSC, với mục tiêu cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cho ngành dầu khí.

1 Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 38

2 Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 44

3 Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 50

PTSC Offshore cung cấp dịch vụ cho thuê thiết bị khoan, ứng cứu sự cố tràn dầu và sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị khoan Sau Đổi Mới, Vietsovpetro và nhiều nhà thầu khoan nước ngoài đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam, giúp PTSC Offshore phát triển nhanh chóng Nhiều giàn khoan lớn như Maersk Convincer và Topaz Driller của các nhà thầu quốc tế như Idemitsu, BP, Transoceans, Sea Drill, và Baker Hughes đã xuất hiện tại Việt Nam trong giai đoạn này.

Việc các giàn khoan nước ngoài vào vùng biển Việt Nam theo hợp đồng với Vietsopetro và các nhà đầu tư lớn như BP, Gazprom đã tạo ra thách thức cho công tác đảm bảo quốc phòng và an ninh trên biển Để ổn định an ninh và khai thác tiềm năng ngành dịch vụ khoan dầu khí, Chính phủ đã yêu cầu Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam thành lập một công ty chuyên trách cho lĩnh vực này Năm 2001, Công ty Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí (PV Drilling) được thành lập dựa trên kinh nghiệm và nhân sự từ PTSC Offshore.

Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ PV Drilling, bao gồm miễn thuế VAT đến năm 2016 và cung cấp quota nhập khẩu miễn thuế cho vật tư giàn khoan Những biện pháp này, cùng với việc hạn chế đầu tư từ các nhà thầu khoan lớn, đã tạo ra cơ chế gần như độc quyền cho PV Drilling Nhờ đó, công ty đã nhanh chóng phát triển và trở thành một trong những nhà thầu khoan hàng đầu tại khu vực Châu Á.

1.1.1.2 Quá trình hình thành PV Drilling năm 2001

Vào năm 1999, Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam đã phát hiện trữ lượng lớn dầu khí ngoài khơi, nhưng yêu cầu kỹ thuật cao đã làm giảm sức hấp dẫn đối với các công ty dầu khí nước ngoài Để thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã cho phép hoạt động của các giàn khoan nước ngoài, nhằm tận dụng công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm của chuyên gia để đào tạo lao động Việt Nam Đến năm 2000, với sự đầu tư mạnh mẽ từ Chính Phủ, Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam đã tăng cường khai thác thông qua các giàn khoan nước ngoài và hợp tác với các nhà thầu khoan lớn PTSC đã trở thành công ty tiên phong trong việc cung cấp dịch vụ khoan cho các hoạt động giàn khoan nước ngoài tại Việt Nam, với PTSC Offshore là đơn vị trực tiếp điều hành.

Năm 2001, nhu cầu cung cấp dịch vụ khoan thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam gia tăng, dẫn đến việc thành lập Công ty Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PetroVietnam Drilling and Well Services Company) vào ngày 26 tháng 11 năm 2001 Quyết định này được ban hành bởi Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nhằm tận dụng năng lực của PTSC Offshore, đơn vị đã có truyền thống và khả năng cung cấp dịch vụ khoan và cho thuê thiết bị khoan.

PV Drilling, a member unit of the Vietnam Oil and Gas Group, leverages resources and facilities from PTSC Offshore.

Tháng 12 năm 2001, chỉ một tháng sau khi thành lập, PV Drilling đã hoàn thành hơn 80% công đoạn chuyển giao tất cả các cơ sở vật chất, máy móc và sắp xếp lại nhân lực Đồng thời, đảm bảo công suất 100% cho các dịch vụ mà PTSC Offshore đang cung cấp cho Idemitsu và Shell Corporation Ngoài ra, thời gian này, PV Drilling đã có kế hoạch mở rộng sang các dịch vụ công nghệ cao như chống tràn dầu, cung cấp các dịch vụ nhân lực cho giàn khoan…tạo những nền móng vững chắc cho các kế hoạch dài hạn trong tương lai

Với việc chính thức thành công ty trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam,

PV Drilling đã khẳng định vị thế là công ty tiên phong trong việc hiện đại hóa ngành dầu khí tại Việt Nam, đóng vai trò chiến lược quan trọng cho chính phủ Trong những năm qua, công ty đã không ngừng phát triển, vượt qua những hạn chế ban đầu về nhân lực, công nghệ và trang thiết bị.

PV Drilling đã phát triển thành một công ty có trình độ cao và nguồn nhân lực ổn định, với định hướng rõ ràng và kế hoạch dài hạn khả thi Tuy nhiên, để trở thành một ông lớn trong ngành, công ty cần nắm bắt công nghệ điều hành giàn khoan, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh với các nhà thầu khoan quốc tế.

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của PV Drilling

1.1.2.1 Những năm đầu mới thành lập 2001 – 2003

Sau khi thành lập vào năm 2001, PV Drilling đã nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định chỉ sau 3 tháng chuyển giao từ PTSC Offshore Công ty đã mở rộng tìm kiếm khách hàng mới, bao gồm Vietsopetro và JVPC, những nhà điều hành mỏ mới thành lập, đã chọn PV Drilling làm nhà cung cấp đáng tin cậy Mặc dù giai đoạn đầu gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nhiều mặt, nhưng công ty đã nỗ lực vượt qua.

4 Báo cáo thường niên PV Drilling năm 2006 – trang 34, 35

Vai trò của PV Drilling đối với ngành dầu khí Việt Nam

15 Báo cáo thường niên năm 2010 PV Drilling – trang 25, 26, 27

1.2.1 Đối với ngành dầu khí trong nước 1.2.1.1 Ngành khoan dầu khí

PV Drilling là một trong những nhà thầu khoan lớn nhất tại Việt Nam tính đến năm 2010, nhờ vào các ưu đãi thuế từ nhà nước Theo Hiệp hội các nhà thầu khoan Thế Giới IADC, PV Drilling đã chiếm hơn 30% thị phần khoan tại Việt Nam trong năm 2010, với 3 giàn khoan thuộc sở hữu của công ty.

PV Drilling, với vai trò tiên phong trong ngành khoan dầu khí Việt Nam, cần phát triển mạnh mẽ hơn khi thời gian mở cửa cho các nhà thầu khoan lớn quốc tế ngày càng gần theo yêu cầu của WTO Các dự án giàn khoan PVD 5 và PVD 6 đang dần hiện thực hóa, giúp PV Drilling tự tin hơn và sẵn sàng cạnh tranh với các nhà thầu khác trong khu vực biển Đông và châu Á – Thái Bình Dương.

PV Shipyard, PTSC, PVEP và VietsoPetro đã phát triển các giàn khoan riêng, trong đó giàn khoan Tam Đảo 3 của PV Shipyard được đóng 100% tại Việt Nam, mở ra triển vọng tươi sáng cho ngành khoan dầu khí trong nước Mặc dù các giàn khoan hiện tại đều thuộc thế hệ cũ và không đủ khả năng khoan ở độ sâu trên 100m, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của ngành dầu khí Việt Nam sẽ sớm dẫn đến sự cạnh tranh với các giàn khoan Jack-up được đóng tại Singapore của PV Drilling Để duy trì vị thế tiên phong, PV Drilling cần đầu tư mạnh mẽ và xây dựng các chiến lược phát triển dài hạn và khả thi hơn.

1.2.1.2 Ngành thăm dò và khai thác dầu khí

16 Annual Report of IADC in 2010, International Association of Drilling Contractors, trang 18, trang 19

Ngành thăm dò và khai thác dầu khí là khách hàng chủ yếu của ngành khoan dầu khí tại Việt Nam Vì vậy, các đối tác như JOC, PVEP, VietsovPetro và JVPC đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của PV Drilling.

Vào năm 2010, PV Drilling đã chiếm hơn 30% thị phần khoan tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thăm dò và khai thác các mỏ dầu khí tại biển Đông Từ năm 2007 đến 2009, giàn PVD 1 đã khoan hơn 80 giếng cho Cửu Long JOC tại mỏ Sư Tử Trắng, với khoảng 10% giếng phát hiện có dầu Dự kiến, đến cuối năm 2010, tất cả 3 giàn khoan biển của PVD sẽ hoạt động với hiệu suất cao, hoàn thành từ 10-15 giếng mỗi tháng, với trữ lượng dầu dự kiến lên tới 10 triệu thùng và khí hơn 25 triệu mét khối.

1.2.2 Đối với ngành dầu khí quốc tế 1.2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật khoan

Trong lĩnh vực khoan, PV Drilling đã áp dụng chính sách “đi tắt đón đầu” của Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI, đưa vào danh sách dịch vụ nhiều kỹ thuật tiên tiến như chống tràn dầu và thử vỉa Những kỹ thuật này yêu cầu quy trình kỹ thuật hiện đại, thay thế công nghệ cũ từ 2001-2003 Sự ra đời của các công ty liên doanh như PVD – Baker Hughes, PVD – PTI, PVD – BJ đã khẳng định uy tín quốc tế của PV Drilling, thu hút sự hợp tác từ các nhà thầu khoan lớn Đến năm 2010, giàn khoan PVD 1 của PV Drilling đã được công nhận toàn cầu với chứng nhận 3 năm liên tiếp.

Zero LTI (một tiêu chuẩn về tính an toàn và làm việc hiệu quả trong ngành khoan)

17 Báo cáo kết quả hợp đồng của phòng Điều hành Khoan gửi Giám đốc Xí Nghiệp Điều hành Khoan ngày 01 tháng 6 năm 2009 – trang 17

Khi đặt chân lên giàn khoan, chúng ta nhận thấy sự hiện diện không chỉ của cán bộ PV Drilling mà còn của nhiều chuyên gia từ các nhà thầu khoan lớn toàn cầu như Keppel Fels, Baker Hughes, và Petronas Điều này chứng tỏ rằng ngành khoan đang phát triển mạnh mẽ theo hướng toàn cầu hóa về kỹ thuật Các nhà thầu khoan trên thế giới cần hợp tác chặt chẽ để học hỏi và tối ưu hóa hoạt động của các giàn khoan tại những vùng biển giàu tiềm năng dầu khí.

1.2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế biển

Biển là nguồn tài nguyên vô tận và lợi thế kinh tế lớn của Việt Nam với 3.200 km bờ biển, nhưng hiện tại, Việt Nam chưa đủ khả năng khai thác triệt để Do đó, Việt Nam cần sự hỗ trợ từ các quốc gia tiên tiến để phát triển ngành khoan dầu khí, nhằm thăm dò và khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên dưới lòng đất.

Trước khi PV Drilling phát triển mạnh mẽ, vùng ngoài khơi Việt Nam chủ yếu chỉ có các giàn khoan nước ngoài hoạt động, với rất ít giàn khoan cố định mang cờ Việt Nam và hạn chế về kích thước cũng như kỹ thuật Do đó, dù PV Drilling có mạnh mẽ đến đâu, cũng không thể độc quyền vùng biển Việt Nam mà cần sự hợp tác với các nhà thầu khoan uy tín toàn cầu.

Việt Nam hiện đang đứng trong top 20 quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, với hơn 4,4 tỷ thùng dầu, đủ để cung cấp năng lượng cho khu vực trong 50 năm tới Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt là trình độ kỹ thuật chưa đủ hiện đại để khai thác triệt để nguồn tài nguyên này Nếu không cải thiện công nghệ, nguy cơ xảy ra tai nạn và thảm họa thiên nhiên sẽ rất cao.

18 Báo cáo thường niên PV Drilling năm 2008 , trang 10

Footer Page 33 of 107. các vụ tràn dầu lớn trên thế giới trong thời gian qua là minh chứng cho việc này Nếu

PV Drilling, nhà thầu khoan tiên phong của Việt Nam, cần thiết phải hợp tác quốc tế để nâng cao kỹ thuật, công nghệ và nhân lực Trong bối cảnh có hơn 200 nhà thầu khoan trên thế giới, việc lựa chọn đối tác cẩn thận là rất quan trọng, vì không phải nhà thầu nào cũng đủ mạnh và kinh nghiệm để hỗ trợ sự phát triển của PV Drilling Nếu không chú ý, PV Drilling có thể bị tụt hậu trong ngành công nghiệp khoan dầu khí, nơi yêu cầu sự hiện đại và cập nhật thường xuyên, điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

1.2.2.3 Hợp tác trong lĩnh vực chính trị

PV Drilling hiện đang dẫn đầu trong việc hợp tác quốc tế của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, với văn phòng tại Venezuela và giàn khoan PVD 11 ở Algeria, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong chính trị Việt Nam Điều này phù hợp với phương châm ngoại giao của Việt Nam: “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới.”

Vào năm 2009, PV Drilling đã khánh thành và di chuyển giàn khoan PVD 11 từ Trung Quốc đến Algeria, đánh dấu bước đầu tiên trong việc thiết lập hợp tác phát triển bền vững với các nước châu Phi Từ năm 2011, giàn khoan PVD 11 đã thực hiện hợp đồng khoan với GBRS tại Location BRS-11, Block 433a, 7416b, đạt chỉ số Free LTI và hiệu suất khoan trên 80%, sản xuất hơn 10.000 thùng dầu mỗi ngày, đáp ứng hơn 5% nhu cầu năng lượng của Algeria Tuy nhiên, một số yếu tố kỹ thuật đã hạn chế khả năng hợp tác quốc tế của PV Drilling Trong những năm tiếp theo, công ty đã lên kế hoạch đóng mới hai giàn khoan Jack-up PVD 6 và PVD 7 để phục vụ nhu cầu khoan thăm dò tại khu vực Đông Nam Á.

19 Báo cáo của văn phòng PV Drilling tại Algeria gửi Ban Tổng Giám Đốc ngày 07 tháng 08 năm 2013 – trang 03

Venezuela đang trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí, điều này hứa hẹn sẽ nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam trên trường quốc tế Sự hợp tác này không chỉ gia tăng uy tín cho ngành khoan Việt Nam mà còn chứng minh cho thế giới thấy rằng Việt Nam có trình độ phát triển kỹ thuật hiện đại, đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu khắt khe từ các đối tác toàn cầu.

Giàn khoan được coi là một pháo đài di động và là dấu hiệu quan trọng của lãnh thổ trên biển Việc tăng cường sự hiện diện của các giàn khoan mang quốc tịch Việt Nam trên vùng biển Đông là cần thiết và quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng đang gia tăng tại khu vực này.

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của PV Drilling

Chủ trương hợp tác quốc tế của PV Drilling được hình thành và thông qua chủ yếu dựa trên ba cơ sở chính:

- Mục tiêu kinh doanh ngành công nghiệp khoan dầu khí chính thống và định hướng phát triển các ngành phụ trợ

Cơ sở vật chất hiện tại đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư và tăng cường nguồn vốn Để xây dựng hình ảnh hiện đại và chuyên nghiệp trên thị trường khoan thế giới, cần nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và cải thiện các dịch vụ liên quan.

- Nguồn nhân lực và hệ thống đào tạo các nhân sự cấp cao cho các vị trí lãnh đạo cả ở offshore và onshore

Để xây dựng chủ trương hợp tác quốc tế cho toàn Tổng Công ty, ban lãnh đạo PV Drilling cần chú ý đến các cơ sở phụ có ảnh hưởng lớn, bên cạnh ba cơ sở chính đã nêu.

- Chủ trương hợp tác quốc tế của Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam và Bộ Công Thương

- Khả năng của từng đơn vị trực thuộc, công ty con, công ty cháu và các công ty liên doanh

- Tình hình chính trị đối ngoại của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước khu vực ASEAN và Trung Quốc

Các chỉ số hợp tác quốc tế trong quá khứ và các công ty cạnh tranh trực tiếp sẽ là nguồn tham khảo quan trọng cho PV Drilling trong việc xây dựng chiến lược hợp lý.

1.3.2 Quá trình triển khai hợp tác quốc tế

Chủ trương hợp tác quốc tế của PV Drilling, mặc dù đã được thiết lập từ những ngày đầu thành lập, vẫn chưa hoàn thiện và còn mang tính cục bộ Điều này phần lớn do sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam và các bộ, ban ngành liên quan.

Những chủ trương về hợp tác quốc tế hiện nay có thể chia thành 3 lĩnh vực chính với những đặc điểm riêng biệt

PV Drilling tập trung vào việc tăng cường hợp tác với các quốc gia ASEAN trong lĩnh vực đầu tư, đặc biệt là về kỹ thuật đóng mới giàn khoan, cung cấp dịch vụ nhân lực cấp cao và tư vấn kỹ thuật Công ty cũng mở rộng hợp tác với các quốc gia phát triển trong ngành khoan và xây dựng một hệ thống toàn cầu Năm 2006, liên doanh PV Drilling – Baker Hughes được thành lập với vốn đầu tư ban đầu 70 tỷ đồng, và đến năm 2007, liên doanh này đã mang lại lợi nhuận hơn 3 tỷ đồng cho PV Drilling.

PV Drilling chú trọng hợp tác với các đối tác lâu năm như SeaDrill, Vantage, và Transocean để nâng cao chất lượng nhân lực Việt Nam với tay nghề kỹ thuật cao cho các vị trí trên giàn khoan, từ Routabout đến Driller Để thực hiện mục tiêu này, PVD Training đã được thành lập như một trung tâm đào tạo chuyên nghiệp Hiện tại, PVD Training đã đạt tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực đào tạo khoan và cung cấp các chứng chỉ quan trọng như BOSIET và Well Control.

PV Drilling, mặc dù chủ yếu phục vụ các JOC trong nước, vẫn chú trọng đến việc ký kết hợp đồng khoan với các quốc gia có quan hệ tốt với Việt Nam như Venezuela và Algeria Văn phòng của PV Drilling tại Venezuela, được thành lập từ năm 2009, đã hoạt động hiệu quả trong việc quảng bá hình ảnh ngành khoan Việt Nam tại quốc gia giàu dầu mỏ này Tại Algeria, PV Drilling cũng đang mở rộng hoạt động kinh doanh.

PV Drilling đang thực hiện khoan thăm dò cho các công ty dầu mỏ quốc gia Algeria, với mục tiêu chính là tăng cường hợp tác với các nhà thầu khoan lớn trên thế giới để thuê giàn khoan phục vụ cho các hợp đồng trong nước Các đối tác lớn như ENSCO, Vantage và Idemitsu đã giúp PV Drilling chiếm lĩnh thị trường khoan nội địa bằng cách cung cấp nhiều giàn khoan Jack-up và SemiSub.

Trong chương 1, luận văn trình bày tổng quan về quá trình hình thành và phát triển, đồng thời nêu rõ các đặc điểm chính trong giai đoạn phát triển từ năm 2001 đến nay.

Vào năm 2010, PV Drilling đã khẳng định vai trò quan trọng trong ngành khoan dầu khí tại Việt Nam Tác giả làm rõ các cơ sở hoạch định chủ trương hợp tác quốc tế, cùng với những đặc điểm chính của chiến lược này nhằm nâng cao năng lực và tầm ảnh hưởng của PV Drilling trên thị trường khoan Việt Nam.

Chương 1 cung cấp thông tin nền tảng cho việc phát triển các hoạt động hợp tác quốc tế của PV Drilling trong chương 2 Đồng thời, chương 3 sẽ đánh giá tác động và triển vọng của quá trình này đối với tương lai của PV Drilling.

HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PV DRILLING

Đối với lĩnh vực khoan thăm dò

2.1.1 Chính sách ưu đãi của nhà nước trong việc hợp tác quốc tế cho việc khoan thăm dò dầu khí tại vùng biển Việt Nam

Nhà nước hiện đang triển khai nhiều chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế cho hoạt động khoan thăm dò của PV Drilling Các chính sách này bao gồm việc cấp quota nhập khẩu miễn thuế, ưu tiên nhập cảnh cho chuyên gia có hợp đồng lao động với PV Drilling, và tạo điều kiện thuận lợi trong thủ tục xuất nhập cảnh tại bộ phận biên phòng Ngoài ra, còn có chính sách miễn thuế cho các giàn khoan nước ngoài mà PV Drilling thuê lại khi nhập vào Việt Nam, giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh cho ngành dầu khí Việt Nam.

PV Drilling nhận được sự hỗ trợ đáng kể trong việc hợp tác quốc tế thông qua các liên doanh với các đối tác lớn như Baker Hughes, Viettubes và EXPRO Những liên kết này giúp các đối tác đầu tư vào Việt Nam dễ dàng hơn, với Baker Hughes được ưu tiên cung cấp ống khoan cho các hoạt động khai thác trong tương lai, ngay cả khi nhà thầu khoan không còn là PV Drilling.

Nghị định số 121/2007/NĐ-CP và Nghị định số 17/2009/NĐ-CP của Chính Phủ Việt Nam đã cung cấp nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp dầu khí trong việc hợp tác đầu tư ra nước ngoài PV Drilling đã tận dụng những ưu đãi này để đóng mới ba giàn khoan Jack-up (PVD 1, PVD 2, PVD 3) và một giàn khoan đất liền (PVD 11), từ đó tạo nền tảng vững mạnh cho việc chiếm lĩnh thị trường khoan tại Việt Nam Ngay sau khi hoàn thành ba giàn khoan Jack-up, nhiều JOC tại Việt Nam đã ký hợp đồng cho các hoạt động thăm dò trong khu vực.

Footer Page 39 of 107. biển ngoài khơi Vũng Tàu, tiêu biểu là hàng loạt hợp đồng dài hạn với Vietsopetro, Cửu Long JOC, Biển Đông JOC…

Luật Dầu Khí Việt Nam được Quốc Hội Việt Nam thông qua vào ngày 6 tháng

Vào năm 1993, một số điều khoản trong Luật Dầu Khí đã tạo điều kiện thuận lợi cho PV Drilling, đặc biệt là điều 28, khoản 5, cho phép miễn thuế nhập khẩu thiết bị và vật tư cần thiết cho hoạt động dầu khí Điều này giúp PV Drilling, nhà thầu khoan hàng đầu tại Việt Nam, giảm thiểu chi phí thuế cho hoạt động xuất nhập khẩu Thêm vào đó, các điều 17 và 18 quy định thời hạn thăm dò từ 5 đến 7 năm và thời hạn khai thác lên đến 25 năm, tạo thêm nhiều cơ hội cho PV Drilling trong việc phát triển và mở rộng hoạt động của mình.

PV Drilling đã hoạt động trong 30 năm, cho phép công ty này giành được nhiều hợp đồng khoan trong bối cảnh thời hạn thăm dò chỉ khoảng 5 năm Điều này buộc các nhà thầu mỏ phải thay đổi nhà thầu khoan để ký kết hợp đồng mới hoặc gia hạn hợp đồng cũ, tạo ra nhiều cơ hội cạnh tranh cho PV Drilling nhờ vào giá thuê rẻ, công nghệ hiện đại và đội ngũ nhân công bản địa hóa hơn 80% Thực tế cho thấy, phần lớn các hợp đồng khoan mà PV Drilling có được là nhờ vào sự cạnh tranh thành công với các nhà thầu khoan quốc tế.

“Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.” Không có nhà thầu mỏ nào lại chọn nhà thầu khoan quốc tế khi PV Drilling, nhà thầu khoan Việt Nam, hoàn toàn đáp ứng mọi yêu cầu cần thiết.

Dầu khí là tài nguyên thiên nhiên quý giá và là nguồn nhiên liệu chính cho ngành hóa dầu, sản xuất ra các sản phẩm như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu và nhựa đường, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho quốc gia sở hữu Tuy nhiên, do dầu khí là nguồn tài nguyên không tái tạo, việc khai thác cần được thực hiện một cách hợp lý để tránh cạn kiệt Chính vì vậy, chính phủ các nước có nguồn tài nguyên dầu khí rất quan tâm và quản lý chặt chẽ quá trình tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí.

Khi tiến hành khai thác dầu khí hoặc cung cấp giàn khoan trong vùng biển đặc quyền kinh tế của một quốc gia, cần phải đàm phán để liên doanh với công ty dầu khí của quốc gia đó Ví dụ, theo mục 6.1 Luật PDA ở Malaysia, chỉ có PETRONAS hoặc các tổ chức, cá nhân được Thủ tướng cho phép mới được tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại lãnh thổ Malaysia Tương tự, Điều 3.5 và Điều 10 của Luật Dầu khí Việt Nam cũng quy định về việc này.

Việt Nam cho phép tổ chức và cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, thăm dò và khai thác khoáng sản cùng các tài nguyên thiên nhiên khác ngoài dầu khí trong khu vực hợp đồng dầu khí Tuy nhiên, các hoạt động này phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và không được gây cản trở hay thiệt hại cho các hoạt động dầu khí.

Khi thực hiện liên doanh hoặc liên kết, các nhà thầu khoan cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và đảm bảo các yêu cầu về môi trường cũng như an toàn lao động.

Thủ tướng Chính Phủ đã chỉ đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ưu tiên các công ty trong ngành cho các dịch vụ đi kèm, nhằm phát triển và phân ngành cho các Tổng Công ty và Công ty thành viên PV Drilling được nhắc đến như một đơn vị cung cấp dịch vụ khoan quan trọng Năm 2010, PV Drilling sở hữu ba giàn khoan Jack-up hiện đại hoàn toàn do người Việt làm chủ, tạo nền tảng vững chắc để tham gia đấu thầu khoan cho các khu vực mỏ mới ngoài khơi Cà Mau và Hải Phòng.

2.1.2.1 Giới thiệu sơ lƣợc Vietsovpetro

20 Malaysia Chapter- Oil & Gas Regulation 2014, tr.6

21 Luật Dầu khí số 19/2000/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí số 10/2008/QH12 năm

Vietsovpetro, liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài trong ngành dầu khí, là biểu tượng cho tình hữu nghị bền chặt giữa Việt Nam và Liên Bang Nga.

Liên doanh dầu khí Vietsopetro được thành lập trên cơ sở các Hiệp định Việt –

Vào ngày 03/07/1980, Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa, tiếp theo là Hiệp định Liên Chính phủ Việt Nam – Liên Xô vào ngày 19/06/1981, nhằm thành lập Liên doanh dầu khí Việt – Xô.

2.1.2.2 Hợp tác khoan thăm dò giữa PV Drilling và Vietsovpetro

Vietsovpetro đã hợp tác lâu dài với PV Drilling từ những ngày đầu thành lập, góp phần quan trọng vào sự phát triển của PV Drilling, hiện nay là một trong những nhà thầu khoan lớn nhất tại Việt Nam.

Giàn PVD 3 được hoàn thành vào năm 2009 đã mở ra cơ hội cho PV Drilling ký hợp đồng khoan thăm dò 5 năm từ năm 2010, củng cố mối quan hệ với Vietsopetro Trước đó, PV Drilling đã đảm nhận các hoạt động phụ trợ khoan cho Vietsopetro tại mỏ Đại Hùng và Bạch Hổ, bao gồm cung ứng nhân lực và thiết bị khoan Sự chuyển giao của ông Trần Văn Hoạt từ Vietsopetro sang PV Drilling vào năm 2001 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài giữa hai bên Từ 2006 đến 2010, PV Drilling trở thành đối tác lớn nhất của Vietsopetro với ba công ty con cung cấp dịch vụ, trong đó liên doanh PV Drilling – Baker Hughes chiếm hơn 51% doanh thu của PV Drilling với Vietsopetro.

Đối với lĩnh vực khoan khai thác

2.2.1 Hợp tác lâu dài với Biển Đông POC

2.2.1.1 Sơ nét về Biển Đông POC

Biển Đông POC được thành lập vào ngày 26/2/2009 nhằm đại diện cho PVN trong việc tiếp nhận các hoạt động dầu khí từ BP và ConocoPhillips Hiện tại, Biển Đông POC đang triển khai dự án Biển Đông 01 tại khu vực Hải Thạch – Mộc Tinh.

2.2.1.2 Hợp tác khoan khai thác nguồn khí đốt trữ lƣợng cao với Biển Đông POC

Vào năm 2010, PV Drilling và Biển Đông POC đã ký hợp đồng khoan kéo dài 6 năm với giàn khoan hiện đại nhất Việt Nam, PVD 5 Giàn khoan PVD 5, loại TAD (Tender Assist Drilling), có khả năng khoan ở vùng nước sâu tại Biển Đông Biển Đông JOC được giao quản lý các khu vực mỏ cận thềm lục địa, trong đó Hải Thạch và Mộc Tinh là hai khu vực có độ sâu lớn nhất và được đánh giá là khó khăn do áp suất và nhiệt độ cao Thêm vào đó, thời tiết tại khu vực này khắc nghiệt hơn so với các khu vực khai thác khác ở Vũng Tàu.

Sau 3 năm khai thác, tới tháng 9/2013, dòng khí đầu tiên đã xuất hiện Và đến nay, sản lượng đã vượt hơn 90% so với kế hoạch ban đầu đặt ra Không dừng lại ở đó, ngoài khí đốt thông thường, khí ở các khu vực này còn có thành phần condensate, đây là thành phần có giá trị kinh tế rất cao Thành phần của condensate chủ yếu là hydrocarbon mạch thẳng, bao gồm pentane và các hydrocarbon nặng hơn (C5+) Condensate có điểm sôi nằm trong dải điểm sôi của xăng Tỷ trọng của condensate vào

Footer Page 49 of 107. khoảng 80 API Condensate chủ yếu được sử dụng để sản xuất xăng, dung môi công nghiệp và làm nguyên liệu cho tổ hợp hóa dầu 24

Đến năm 2013, Dự án Biển Đông 1 đã hoàn thành gần 100% công việc theo kế hoạch Dự kiến, vào năm 2014, khí từ hai mỏ Hải Thạch và Mộc Tinh sẽ được đưa vào bờ để cung cấp cho các nhà máy điện tại khu vực miền Đông Nam Bộ.

2.2.2 Hợp tác với các đối tác từ Anh Quốc và Hoa Kỳ

Tại Việt Nam, ba công ty dầu khí lớn của Liên Hiệp Anh, bao gồm BP, Premier Oil và Royal Dutch Shell, đang đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động khai thác dầu khí Trong đó, BP hiện đang bị cấm vận bởi chính phủ Mỹ do sự cố giàn khoan Deepwater Horizon vào năm 2010.

BP là một trong những công ty dầu khí tiên phong tại Việt Nam từ thập niên 90 Công ty đã đầu tư vào hai lĩnh vực chính trong ngành dầu khí: upstream (thăm dò, khai thác) và downstream.

- sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

BP Corporation, viết tắt là British Petroleum, là một công ty dầu khí có trụ sở tại London, Anh Đây là một trong những công ty năng lượng lớn nhất thế giới, đứng thứ ba về quy mô và thứ tư về doanh thu Là một công ty đa quốc gia, BP là công ty dầu khí lớn nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Trụ sở chính của công ty nằm ở St James's, City of Westminster, London, trong khi chi nhánh BP America có trụ sở tại One Westlake Park, Houston, Texas Hiện tại, BP được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán London.

24 Báo cáo của Biển Đông JOC gửi Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam tháng 8 năm 2013, trang 7

Vào năm 2009, công ty trong bộ phận của chỉ số FTSE 100 Index đã ghi nhận doanh thu 246,1 tỷ USD và lợi nhuận ròng đạt 16,58 tỷ USD, đồng thời sử dụng 80.300 nhân công trên toàn cầu.

Trong giai đoạn 2005-2010, PV Drilling là nhà thầu phụ chính của BP, cung cấp dịch vụ bơm trám vỉa và chống sự cố tràn dầu, với doanh thu hàng năm luôn vượt 15 triệu USD Tuy nhiên, sau sự cố giàn khoan ngoài khơi Mexico năm 2010, BP đã bị cấm vận, dẫn đến việc PV Drilling giảm hợp tác với BP tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các hoạt động hỗ trợ kho vận và cung cấp vật tư dầu khí nhỏ lẻ.

+ Hợp tác với Premier Oil

Premier Oil đã chú ý đến thị trường Việt Nam từ năm 2006, nhưng đến năm 2008, công ty mới chính thức thành lập công ty con tại đây Công ty con này chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ tư vấn hỗ trợ cho hoạt động khai thác của PVEP và các JOC, POC khác.

Trong giai đoạn 2008-2010, PV Drilling chỉ thuê giàn khoan của Vantage Drilling tại UAE hai lần thông qua Premier Oil Premier Oil cũng hợp tác khai thác chia sản phẩm với Thăng Long JOC tại mỏ Rồng, nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều sản phẩm được phát triển.

Tuy nhiên theo đánh giá, Premier Oil đang có nhiều tiềm năng phát triên khi mà

BP đang chịu lệnh cấm vận từ chính phủ Mỹ và gặp phải nhiều hạn chế trong hoạt động tại Việt Nam, trong khi Shell vẫn đang gặp khó khăn trong các lĩnh vực kinh doanh dầu nhờn của mình.

+ Hợp tác với Royal Dutch Shell

Royal Dutch Shell, hay còn gọi là Shell, là một công ty dầu khí đa quốc gia có liên kết giữa Hà Lan và Anh Đây là tập đoàn năng lượng tư nhân lớn thứ hai trên thế giới.

25 Website BP Corporation, http://www.bp.com/en/global/corporate/about-bp.html, truy cập ngày 8 tháng 5 năm

Footer Page 51 of 107. trên thế giới Trụ sở của công ty đặt tại The Hague, Hà Lan và trụ sở đăng kí đặt tại London

Hiện nay, Shell đã chuyển hướng đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực kinh doanh dầu nhờn, trong khi hoạt động dầu khí giảm sút Công ty chủ yếu hợp tác với Nhà máy lọc dầu Dung Quất để sản xuất các chế phẩm khác ngoài xăng Đồng thời, PV Drilling hiện chỉ cung cấp dịch vụ sửa chữa thiết bị vận hành lọc dầu cho Shell tại Vũng Tàu.

Nhà thầu khoan Transocean, một công ty Thụy Sĩ được thành lập vào những năm 1920, chuyên cung cấp dịch vụ khoan và giải pháp công nghệ về khoan dầu khí Từ năm 1954, Transocean đã sở hữu giàn khoan biển tự nâng đầu tiên và đã hoạt động hơn 50 năm trong lĩnh vực này Với tầm nhìn mang đến dịch vụ khoan tốt nhất và an toàn tuyệt đối, Transocean đã xây dựng hình ảnh là nhà thầu khoan nổi tiếng thế giới Tính đến năm 2013, tổng tài sản của Transocean đạt 32.546 triệu USD, với doanh thu hoạt động đạt 9.484 triệu USD Công ty sở hữu 98 giàn khoan, trong đó 65 giàn đang trong chiến dịch khoan, chiếm 66,3% số lượng giàn khoan tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương Transocean tập trung vào giàn khoan sâu và cực sâu, với 49 giàn khoan nửa nổi nửa chìm và 31 tàu khoan, chiếm tỷ trọng lớn trên toàn thế giới.

Đối với lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực

2.3.1 Hợp tác với Hoa Kỳ

Công ty Cổ Phần Đào Tạo Kỹ Thuật PVD (PVD Training) được thành lập vào năm 2007, chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo và cấp chứng chỉ, giải pháp nhân sự, và các dịch vụ kỹ thuật cho ngành công nghiệp Dầu khí và các ngành công nghiệp nặng Với tầm nhìn trở thành nhà cung cấp uy tín hàng đầu, PVD Training cam kết mang đến các giải pháp đào tạo, nhân lực và kỹ thuật tối ưu, thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm Công ty hiện là thành viên và được cấp phép bởi các tổ chức đăng kiểm quốc tế như OPITO, DNV, Lloyd, AWS, IFE, đảm bảo chất lượng dịch vụ và sản phẩm an toàn cho khách hàng.

Tháng 6 năm 2008, PVD Training đặt mối quan hệ hợp tác song phương đầu tiên với Tập Đoàn MODEC, một trong những nhà thầu khoan, cũng như nhà đào tạo ngành khoan lớn nhất của thế giới Kết quả của quá trình hợp tác này là cuối năm

2008, PVD Training đã đạt đủ tiêu chuẩn để cấp chứng chỉ đào tạo MODEC -1,

MODEC cung cấp chứng chỉ an toàn cho các kỹ sư trên giàn PVD 1, được công nhận toàn cầu nhờ uy tín hàng đầu của Tập Đoàn MODEC.

Năm 2009, PVD Training đã ký hợp đồng hợp tác với Institution of Fire Engineers, một đối tác đào tạo hàng đầu trong ngành cứu hỏa của Hoa Kỳ, nhằm cung cấp các khóa học và chứng chỉ về an toàn chống cháy nổ cho các nhà thầu khoan tại Đông Nam Á Để mở rộng hơn nữa, PVD Training đã hợp tác với Lloyd’s Hoa Kỳ, trở thành nhà tư vấn cung cấp các giải pháp chống cháy nổ đạt tiêu chuẩn quốc tế trên giàn.

Vào năm 2010, PVD Training đã nhận được giấy phép đào tạo từ Tổ chức OPITO Hoa Kỳ cho ba khóa học quan trọng: Hệ thống Hô hấp Khẩn cấp, Đào tạo An toàn Cơ bản Offshore & Khẩn cấp, và HUET Nhiệt đới Đây là ba chứng chỉ bắt buộc cho các kỹ sư Trainee muốn trở thành kỹ sư khoan chuyên nghiệp, có giá trị toàn cầu Với việc cấp ba chứng chỉ này cùng với các chứng chỉ quan trọng khác như BOSIET, HUET Advance, và Đào tạo Khẩn cấp Cháy Cơ bản, PVD Training đang hướng tới việc trở thành một trong những nhà đào tạo hàng đầu tại Đông Nam Á Hiện tại, 100% kỹ sư khoan của PV Drilling đều được nâng cao tay nghề tại PVD Training, và các kỹ sư nước ngoài cũng đánh giá cao các khóa học tại đây, tham gia nghiêm túc khi có yêu cầu từ Ban Lãnh Đạo PV Drilling.

PVD Training is currently a member of three major global associations: the International Marine Contractors Association (IMCA), the American Welding Society (AWS), and the International Association of Drilling Contractors (IADC).

Hiện nay, có đến gần 20 nhà thầu khoan trên toàn thế giới có hợp tác đào tạo với PVD Training bao gồm: ENI, Santos, UMW, Maersk, SeaDrill, Exxon Mobile,

Transocean, Salamander Energy, Halliburton, BP, Petronas, Chevron, KS Drilling, Shelf Drilling, Vietgazprom JOC, MODEC, Mitra…

2.3.2 Hợp tác với Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia phát triển vượt bậc, đặc biệt trong ngành dầu khí PV Drilling duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các công ty dầu khí Nhật Bản thông qua liên doanh JVPC, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo kỹ thuật khoan.

PV Drilling, thông qua PVD Training, đã hợp tác chặt chẽ với các đối tác Nhật Bản, đặc biệt là JX Nippon Oil and Gas Exploration, để triển khai nhiều chương trình đào tạo cho kỹ sư về các chuyên môn khoan kỹ thuật cao như Well Control và HSEQ Nhật Bản, với địa hình khó khăn và tài nguyên hạn chế, đã phát triển kỹ thuật "khoan xiên", một phương pháp khoan phức tạp Là nhà thầu khoan hàng đầu tại Việt Nam, PV Drilling đã nỗ lực tiếp thu kỹ thuật này và đã khoan thành công hơn 20 giếng khoan xiên, giúp tiết kiệm hàng trăm triệu đô la cho các nhà thầu mỏ và nhà thầu phụ.

Nhật Bản đã cung cấp cho PVD Training nhiều mô hình và dụng cụ chuyên môn để đào tạo các kỹ thuật cứu hộ và chống tràn dầu, đáp ứng các yêu cầu khắt khe của các nhà thầu quốc tế với trình độ kỹ thuật cao.

Hình 2.1 Mô hình tháp khoan tại PVD Training

(Nguồn: Website PVD Training: http://www.pvdtraining.com.vn/vn/ )

Trong hình là mô hình tháp khoan được xây dựng với sự hỗ trợ của Nhật Bản nhằm đào tạo cho các chức danh như Derrick Man, Toolsbusher…

Trong tương lai, PVD Training đang thương thảo với Nhật Bản để triển khai các khóa học cấp bằng trực tuyến cho các chứng chỉ ngắn hạn như HUET và Radio Test.

2.3.3 Hợp tác với các nước trong tổ chức ASEAN Ở khu vực ASEAN, PV Drilling tập trung hợp tác với các cường quốc dầu khí có các nhà khầu khoan lớn như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines Trong số này, Singapore là đối tác lớn hơn cả 4 trong 5 giàn khoan PV Drilling đang sở hữu hiện nay đều được đóng ở Singapore, cụ thể là tập đoàn Keppel Fels, một trong những tập đoàn đa ngành lớn nhất Singapore và là một người khổng lồ của ngành công nghiệp đóng giàn của thế giới

Singapore đang là nơi tập trung hợp tác mạnh mẽ nhất của PV Drilling từ năm

Từ năm 2007 đến nay, nhờ vào vị trí địa lý gần gũi, văn hóa tương đồng và múi giờ chỉ chênh lệch 1 giờ GMT, các mảng kỹ thuật quan trọng của PV Drilling đã được chuyển giao cho các đối tác tại Singapore để quản lý.

Vào năm 2007, Keppel Fels đã hoàn thành giàn khoan PVD 1, giàn khoan đầu tiên của PV Drilling và cũng là giàn khoan Jack up đầu tiên hoàn toàn thuộc sở hữu của người Việt Nam Đây là một bước tiến quan trọng giúp PV Drilling khẳng định vị thế của mình trong ngành khoan dầu khí toàn cầu Giàn PVD 1 đã được đưa vào sử dụng và liên tục đạt được thành tích LTI hàng năm, nhờ vào công nghệ được nâng cấp và bảo trì thường xuyên.

Vào năm 2009, hai giàn Jack-up PVD 2 và PVD 3 đã được đóng mới với công nghệ tiên tiến nhất, sở hữu sức chứa và khả năng hoạt động vượt trội hơn so với giàn PVD 1.

Năm 2010, giàn khoan TAD PVD 5 được khởi động, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong quan hệ hợp tác giữa PV Drilling và Keppel Fels, với khả năng hoạt động tại các khu vực nước sâu.

Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ

2.4.1 Chính sách ƣu đãi của Việt Nam

Các quy định về xuất nhập khẩu và thuế quan sẽ áp dụng cho giàn khoan cùng với các thiết bị và phụ tùng phục vụ sửa chữa, bảo trì Mặc dù mỗi quốc gia có quy định cụ thể khác nhau, nhưng vẫn tồn tại những điểm chung trong các quy định này.

Khi giàn khoan được kéo vào lãnh hải của một quốc gia, chủ giàn khoan phải liên hệ với hải quan và hải quân để xin phép nhập cảnh Việc này chỉ được thực hiện giữa hai nước có quan hệ hợp tác và không tranh chấp Hải quan sẽ xem xét và thực hiện thủ tục nhập cảnh dựa trên hồ sơ khai báo của chủ giàn khoan, trong đó có yêu cầu riêng từ một số quốc gia như Malaysia yêu cầu giấy chứng nhận phun trùng Thời gian thực hiện thủ tục nhập cảnh mất khoảng 1 tháng Mỗi quốc gia có danh mục hàng hóa cấm hoặc yêu cầu giấy phép nhập khẩu, ví dụ như Việt Nam cấm nhập khẩu pháo sáng và yêu cầu giấy phép cho thuốc và dụng cụ y tế Giàn khoan biển sẽ phải chịu các loại thuế như thuế nhập khẩu, thuế môi trường và thuế nhà thầu, trong khi thiết bị và vật tư cũng phải chịu thuế nhập khẩu, thuế môi trường và thuế giá trị gia tăng.

PV Drilling hiện chưa có giàn khoan biển nào hoạt động tại thị trường ngoài khu vực Châu Á Thái Bình Dương, điều này tạo ra thách thức lớn cho công ty Các chính sách xuất nhập khẩu và thuế quan tại thị trường này rất phức tạp, trong khi PV Drilling lại thiếu kinh nghiệm và chưa nắm rõ các quy định Hơn nữa, giàn khoan biển của PV Drilling chưa từng được đưa đến vùng hải lãnh của các quốc gia trong khu vực.

Theo chính sách khai thác dầu khí, các công ty cung cấp dịch vụ giàn khoan biển không thể hoạt động độc lập trong vùng biển đặc quyền kinh tế của các quốc gia Thay vào đó, họ cần phải liên doanh hoặc liên kết với các công ty dầu khí thuộc Tập Đoàn Dầu khí để đảm bảo tuân thủ quy định và tối ưu hóa hoạt động khai thác.

33 Báo cáo thường niên PV Drilling năm 2011, trang 38

34 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, 2006

Nhà nước và Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã nỗ lực mở rộng mối quan hệ để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị con thực hiện liên doanh, liên kết trong lĩnh vực dầu khí Năm 2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thăm Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia Malaysia (Petronas) và đề xuất tăng cường hợp tác trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí Đến ngày 4/4/2014, Việt Nam và Malaysia đã nhất trí nâng quan hệ lên đối tác chiến lược, bao gồm cả lĩnh vực dầu khí Ngoài ra, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã thúc đẩy mối quan hệ về dầu khí với Singapore trong cùng năm.

Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, đặc biệt tại Hội nghị và Triển lãm Dầu khí Đông Nam Á ASCOPE lần thứ 10 Tổng Giám đốc PVN, Đỗ Văn Hậu, đã tiến hành các cuộc họp song phương với Tổng Giám đốc các Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia từ Indonesia, Brunei, Thái Lan, Malaysia, nhằm củng cố mối quan hệ và hợp tác giữa các bên.

PV Drilling đã nỗ lực tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, tạo cơ hội cho các hoạt động liên doanh với các công ty Dầu khí thuộc Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia trong khu vực Điều này giúp PV Drilling gia nhập thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ giàn khoan biển tại Châu Á Thái Bình Dương.

2.4.2 Chiến lƣợc của PV Drilling

Hoa Kỳ là quốc gia hàng đầu thế giới về khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực khoan PV Drilling thường xuyên tổ chức các chuyến công tác sang Hoa Kỳ hàng năm để tìm kiếm các khóa huấn luyện và cập nhật công nghệ mới.

35 VOV, Việt Nam-Malaysia đẩy mạnh hợp tác dầu khí, http://www.tienphong.vn/xa-hoi/viet-nammalaysia-day- manh-hop-tac-dau-khi-553432.tpo, cập nhật ngày 30/9/2011

Việt Nam và Malaysia đã nhất trí nâng quan hệ lên đối tác chiến lược, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong mối quan hệ giữa hai quốc gia Sự hợp tác này không chỉ củng cố mối quan hệ chính trị mà còn mở ra nhiều cơ hội trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư Thông tin này được cập nhật trên báo Tiền Phong vào ngày 5 tháng 4 năm 2014.

37 Việt Nam-Singapore tăng cường hợp tác nhiều mặt, http://www.tienphong.vn/xa-hoi/viet-nam-singapore-tang- cuong-hop-tac-nhieu-mat-553076.tpo, cập nhật ngày 27/9/2011

Vào năm 2010, trước khi hoàn thành giàn TAD PVD 5, PV Drilling đã đầu tư hơn 20 triệu USD để mua các công nghệ tiên tiến từ ExxonMobile, tập đoàn dầu khí lớn thứ hai thế giới, nhằm áp dụng vào việc vận hành giàn khoan của mình.

Trung Quốc, quốc gia láng giềng quyền lực của Việt Nam, sở hữu giàn khoan dầu khí với công nghệ tiên tiến và hiện đại nhất Nhiều công nghệ mà Hoa Kỳ chưa áp dụng đã được Trung Quốc triển khai trên các giàn khoan của mình.

Singapore là quốc gia thứ ba mà PV Drilling thiết lập quan hệ hợp tác để tiếp cận công nghệ hiện đại Hiện tại, Singapore là một trong những nước có ngành công nghiệp đóng giàn khoan phát triển hàng đầu thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.

2.4.2.1 Các chính sách của PV Drilling trong việc đi tắt đón đầu các công nghệ tiên tiến và tăng cường khả năng vận hành hiệu quả của các giàn khoan

PV Drilling áp dụng chính sách tiên tiến bằng cách đầu tư vào thiết bị hiện đại và yêu cầu nhà cung cấp cử kỹ sư đến hướng dẫn sử dụng Mặc dù thiết bị có thể chưa được sử dụng ngay, nhưng các kỹ sư Việt Nam đã học hỏi và phát triển kỹ năng từ những bài học vận hành của các chuyên gia Những thiết bị này sau đó được chuyển về PVD Training để phục vụ cho việc đào tạo các khóa chuyên môn cao cấp, với giảng viên là những kỹ sư Việt Nam đã được đào tạo bài bản từ nhà cung cấp.

PV Drilling có thể thu hút nhân tài từ các nhà thầu khoan quốc tế để tiếp thu những bài học mới Các kỹ sư cao cấp nước ngoài thường có mối quan hệ rộng rãi với các nhà khoa học và chuyên gia đào tạo trong ngành khoan toàn cầu Nhờ đó, khi có công nghệ mới, họ sẽ nhanh chóng cập nhật và mang về cho PV Drilling.

TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUÁ TRÌNH HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PV DRILLING

Ngày đăng: 27/06/2023, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Học viện Quan hệ Quốc tế (2002), Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, quyển 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam
Tác giả: Học viện Quan hệ Quốc tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
15. Học viện Quan hệ Quốc tế (2002), Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, quyển 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam
Tác giả: Học viện Quan hệ Quốc tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
16. Hà Mỹ Hương (2006), Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo, Tạp chí Cộng Sản, số 10, (756) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Nhà XB: Tạp chí Cộng Sản
Năm: 2006
17. Thông tấn xã Việt Nam (2006), Trung Quốc, chiến lược an ninh năng lượng, Tài liệu tham khảo, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc, chiến lược an ninh năng lượng
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Tài liệu tham khảo
Năm: 2006
18. Thông tấn xã Việt Nam (2006), Chiến lược dầu mỏ của Mỹ gặp khó khăn, Tin Tham khảo thế giới, số 42, ngày 25/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược dầu mỏ của Mỹ gặp khó khăn
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Tin Tham khảo thế giới
Năm: 2006
19. Thông tấn xã Việt Nam (2006), Chiến lược dầu mỏ toàn cầu của Trung Quốc, Tin Tham Khảo thế giới, số 42, ngày 25/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược dầu mỏ toàn cầu của Trung Quốc
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Tin Tham Khảo thế giới
Năm: 2006
20. Trầm Trọng (2005), Dầu mỏ và những biến động trong quan hệ quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 13 (86) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu mỏ và những biến động trong quan hệ quốc tế
Tác giả: Trầm Trọng
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2005
21. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2001), Trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh, phân tích và dự báo, tập I, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh, phân tích và dự báo, tập I
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Viện Khoa học Xã hội
Năm: 2001
22. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2001), Trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh, phân tích và dự báo, tập II, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh, phân tích và dự báo
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Viện Khoa học Xã hội
Năm: 2001
23. Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010)
Tác giả: Tập đoàn dầu khí Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật
Năm: 2011
24. Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 2, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010)
Tác giả: Tập đoàn dầu khí Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật
Năm: 2011
25. Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 3, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010)
Tác giả: Tập đoàn dầu khí Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật
Năm: 2011
26. PV Drilling (2006), Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2006
Tác giả: PV Drilling
Năm: 2006
27. PV Drilling (2007), Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2007
Tác giả: PV Drilling
Năm: 2007
28. PV Drilling (2008), Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2008
Tác giả: PV Drilling
Năm: 2008
29. PV Drilling (2009), Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2009
Tác giả: PV Drilling
Năm: 2009
30. PV Drilling (2010), Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2010.2. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí năm 2010
Tác giả: PV Drilling
Năm: 2010
31. Energy Information Administration (2001), International Energy Outlook 2001, DOE/EIA -0484-March Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Energy Outlook 2001
Tác giả: Energy Information Administration
Nhà XB: DOE/EIA
Năm: 2001
32. Energy Information Administration (2002), International Energy Outlook 2002, DOE/EIA – 0484-March Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Energy Outlook 2002
Tác giả: Energy Information Administration
Nhà XB: DOE/EIA
Năm: 2002
33. Engery Information Administration (2003), International Energy Outlook 2003, DOE/EIA -0484-May Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Energy Outlook 2003
Tác giả: Engery Information Administration
Nhà XB: DOE/EIA
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w