1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Quan Hệ Quốc Tế, Di Cư Quốc Tế, Người Hmông, Tây Bắc Việt Nam.pdf

93 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Di Cư Quốc Tế Của Người Hmông Ở Tây Bắc Việt Nam Từ Năm 1991 Đến Nay
Tác giả Đinh Văn Nhạc
Người hướng dẫn TS Đậu Tuấn Nam
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH VĂN NHẠC VẤN ĐỀ DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở TÂY BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH VĂN NHẠC

VẤN ĐỀ DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở TÂY BẮC VIỆT NAM

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH VĂN NHẠC

VẤN ĐỀ DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở TÂY BẮC VIỆT NAM

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

Người hướng dẫn khoa học:

TS Đậu Tuấn Nam

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Kết cấu của luận văn 11

Chương 1: QUÁ TRÌNH DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 12

1.1 Khái niệm 12

1.2 Quá trình di cư của người Hmông trong lịch sử 13

1.2.1 Lịch sử tộc người và quá trình di cư của người Hmông 13

1.2.2 Quá trình di cư của người Hmông đến Việt Nam và phân bố dân cư 19

1.3 Các nhân tố tác động đến di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam 22

1.3.1 Ở cấp độ quốc tế và khu vực 22

1.3.2 Ở cấp độ trong nước 24

1.3.3 Các nhân tố từ đời sống văn hoá - xã hội tộc người 32

1.3 Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: TÌNH HÌNH DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở TÂY BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 39

2.1 Khái quát tình hình di cư ở Việt Nam 39

2.2 Tình hình di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc từ 1991 đến nay 46 2.2.1 Tình hình xuất cư 48

2.2.2 Tình hình nhập cư 54

2.3 Tiểu kết chương 2 56

Trang 4

Chương 3: NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

3.1 Những tác động từ di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc từ 1991 đến nay 58

3.1.1 Đối với nơi nhập cư 58

3.1.2 Đối với nơi xuất cư 70

3.1.3 Đối với người Hmông di cư 72

3.1.4 Đối với quan hệ quốc tế giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư 75

3.2 Một số khuyến nghị giải pháp quản lý vấn đề di cư quốc tế của người Hmông 80

3.2.1 Một số dự báo 80

3.2.2 Một số khuyến nghị giải pháp về chính sách của Việt Nam đối với vấn đề di cư 81

3.3 Tiểu kết chương 3 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tây Bắc là vùng lãnh thổ Việt Nam tiếp giáp với các tỉnh Bắc Lào và Nam Trung Quốc Vùng đất này có trên 20 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, trong đó có những tộc người có mặt ở cả 2, thậm chí 3 quốc gia Do đó, trong lịch sử, vùng đất này vẫn thường diễn ra hoạt động xuất, nhập cư qua biên giới của các tộc người thiểu số như: Thái, Khơ mú, Hmông, Hà Nhì Trong

đó nổi lên hoạt động di cư đa chiều, phức tạp của người Hmông cả trong lịch

sử cũng như hiện nay Vấn đề di cư của người Hmông không chỉ diễn ra với các quốc gia láng giềng có chung đường biên giới, mà còn xuyên/liên biên giới với nhiều quốc gia, không chỉ ở khu vực Đông Nam Á (Lào, Thái Lan, Campuchia, Mianmar ) mà cả với nhiều quốc gia khác trên thế giới (Mỹ, Pháp, Australia )

Hoạt động di cư quốc tế của người Hmông không những tác động tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội tộc người, mà còn tác động đến các mối quan hệ quốc tế, hợp tác phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia Như vậy, có thể nói di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam là vấn đề khá nhạy cảm cần được nghiên cứu, nhằm làm rõ thực trạng và những tác động của nó đối với cả nơi xuất cư và nhập cư, nguyên nhân của di cư xuyên biên giới; trên cơ sở đó gợi ý giải pháp khả thi cho công tác quản lý đối với vấn đề di cư quốc tế của người Hmông, hạn chế đến mức thấp nhất tác động của di cư phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đoàn kết

và hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia, dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Xuất phát từ nhận thức trên cho thấy nghiên cứu “Vấn đề di cư quốc tế

của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam từ năm 1991 đến nay” là một yêu cầu

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Di cư quốc tế là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành

khoa học: kinh tế học lao động, nhân học, quốc tế học, khu vực học, quan hệ

quốc tế Tuy nhiên, mỗi khoa học tiếp cận và giải quyết vấn đề di cư quốc tế

theo quan điểm chuyên ngành và tuỳ thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia, hay phạm vi quốc tế

2.1 Các nghiên cứu của nước ngoài

Một là, những công trình bàn về lý thuyết di cư với ý nghĩa tạo khung

lý thuyết cho nghiên cứu di cư nói chung và di cư quốc tế nói riêng Người

mở đầu cho xây dựng lý thuyết xã hội học di dân là Ravenstein E.G (1985),

The Laws of Migration (Quy luật của di cư), công trình này đã rút ra 6 quy luật của di cư Tiếp đến là Evertt S Lee (1966), A Theory of Migration (Lý

thuyết di cư) đã xây dựng lý thuyết lực hút, lực đẩy khi giải thích nguyên nhân

di cư cũng như phân loại các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dịch chuyển dân cư

Hai là, những nghiên cứu về lịch sử di cư Qua đó cho thấy các hình

thái di cư quốc tế (cả di cư giữa các lãnh địa tộc người thời kỳ tiền nhà nước

và di cư xuyên biên giới thời kỳ có nhà nước) diễn tiến cùng quá trình sinh tồn và phát triển của con người, chịu tác động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như áp lực tăng trưởng dân số trước giới hạn của không gian sinh tồn, tình trạng khan hiếm lương thực - thực phẩm, bất ổn sinh kế, biến đổi môi trường hoặc xung đột xã hội… Trong nhóm này, trước hết phải kể đến các

nghiên cứu về di cư của người Hmông, ở nhóm này có François Marie Savina

(1924), Histoire des Miao (Lịch sử người Mèo) Nhất là nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc gồm có: Dương Phúc Tuyền, Đoàn Ngọc Minh,

Quá Tịnh (1999), Vân Nam thiểu số dân tộc khái lãm; Hùng Ngọc Hữu

Trang 7

(2003), Miêu tộc văn hóa sử; Vương Văn Quang (2001), Trung Quốc nam

phương dân tộc sử; Hà Bình (2004), Nguồn gốc các dân tộc Miêu – Dao, sự

thiên di và phát tiển đến khu vực bán đảo Trung Nam, Luận văn tập; Vưu

Trung (1998), Miêu, Dao tộc cổ đại sử tự lược, Tây Nam dân tộc nghiên cứu

Các nghiên cứu này bàn về nguồn gốc người Hmông, quá trình lịch sử di cư của người Hmông qua các thời kỳ, mà ở đó, nó gắn với các triều đại phong kiến phương Bắc

Ba là, các nghiên cứu về toàn cầu hóa, trong đó có nêu vấn đề di cư

quốc tế, quản lý xuất cư và nhập cư trên bình diện quốc tế, hợp tác giữa các

nước về quản lý di cư quốc tế, tác động thuận và nghịch của di cư quốc tế đối

với phát triển Thuộc nhóm này có các nghiên cứu về quan hệ quốc tế nảy

sinh từ quá trình di cư quốc tế, chính sách của các chính phủ trong việc can thiệp vào di cư để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực Các nghiên

cứu của Manolo Abella (2004), Cooperation in managing labour migration in

a globalizing world (Hợp tác quản lý di cư lao động trong một thế giới toàn

cầu hóa); International Organization for Migration (2003), Labour migration

in Asia: Trends, challenges and policy responses in countries of origin (Di cư

lao động châu Á: Những xu hướng, thách thức và phản ứng chính sách của

các quốc gia có người xuất cư) đã chỉ ra nhu cầu quản trị toàn cầu, đặc biệt

vai trò của các định chế quốc tế như Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) hoặc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)… Ngoài vai trò của các định chế quốc tế, các

nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến sự cần thiết hợp tác giữa các nước trong

quản lý người xuất cư và nhập cư, đặc biệt là kiểm soát tình trạng buôn bán

người xuyên biên giới Những nội dung này gợi mở nhiều điều bổ ích cho quản lý di cư ở Việt Nam, nhất là phối hợp giữa các nước, giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế về vấn đề di cư, không ngừng hoàn thiện năng lực hoạch định và thực thi các chính sách can thiệp vào di cư quốc tế

Trang 8

Bốn là, các nghiên cứu đề cập trực tiếp về di cư từ Việt Nam ra nước

ngoài trong lịch sử, di cư hôn nhân của các tộc người thiểu số vùng biên giới

Trước hết là những nghiên cứu chung về lịch sử di dân Việt Nam, tình trạng

hôn nhân liên tộc người… Điển hình là công trình của M Giovanna Merli

(1997), Estimation of International Migration for Vietnam, 1979-1989 (Ước

lượng về di cư quốc tế ở Việt Nam, 1979-1989); The Human Rights

Solidarity for Women and Migration (2001), Migrant Women and Inter-ethnic

Marriage (Phụ nữ di cư và hôn nhân liên tộc người) bàn về vai trò của di cư

với phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa hoặc hình thành quan hệ tộc người mới thông qua hôn nhân

Năm là, các nghiên cứu về tình hình nhập cư từ nước ngoài vào Việt

Nam, bao gồm cả nhập cư lao động, nhập cư truyền giáo… và di cư xuyên

biên giới của những người đồng tộc sống giáp ranh giữa Việt Nam với Lào, Campuchia, Trung Quốc Có thể nói, giai đoạn từ 1991 đến nay, người nước

ngoài nhập cư Việt Nam ít hơn người Việt Nam xuất cư ra nước ngoài, nên cũng ít thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu nước ngoài Chiếm số lượng nhiều nhất là các bài báo, chuyên khảo đề cập đến quá trình di cư xuyên biên giới của các nhóm cư dân thiểu số sống dọc biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Trung Quốc

Di cư tự do xuyên biên giới của những người đồng tộc là vấn đề rất

phức tạp trong quản lý dân cư ở vùng biên giới hiện nay Về tình hình di dân

tự do xuyên biên giới giữa Việt Nam với Lào, Campuchia có nghiên cứu của

Skeldon Ronald (2010), Di cư bất hợp pháp trong tiểu vùng Mê Kông Một trong những tộc người di dân với số lượng lớn là người Hmông…

2.2 Nghiên cứu ở trong nước

Trong phạm vi này, vấn đề di cư quốc tế chỉ được đề cập khiêm tốn,

song có thể tìm thấy ở những nhóm sau:

Trang 9

Một là, các nghiên cứu về toàn cầu hóa, trong đó có đề cập đến di cư

lao động quốc tế, di cư hôn nhân quốc tế, di cư học tập quốc tế gắn với quá trình dịch chuyển tư bản, lao động, hàng hóa – dịch vụ, chuyển giao công nghệ trên phạm vi toàn cầu Ở phần này, điển hình là chuyên khảo của Ủy ban

Dân tộc (2008), Cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số khi Việt

Nam gia nhập WTO đã cảnh báo những khó khăn thách thức đối với các dân

tộc ở vùng sâu, vùng xa, nếu không được khắc phục sẽ có nguy cơ tạo lực đẩy tiếp tục di cư nội địa và di cư xuyên biên giới, đặc biệt đối với các tộc người sống ở biên giới, rẻo cao

Hai là, các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ dân số học, lịch sử và lý

thuyết di dân, trong đó có đề cập đến tác động của di dân quốc tế đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nước ta thời kỳ hội nhập Phần này có

nghiên cứu của Ngọc Thời Giai (2008), Di cư của người Dao xuống biên giới

Tây Nam Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á trong thời kỳ Minh Đối

với công trình của Vương Duy Quang (2005), Văn hóa tâm linh của người

Hmông ở Việt Nam – Truyền thống và hiện đại, dù cắt nghĩa dưới chiều cạnh

văn hóa, nhưng nó cho thấy những hình dung nhất định về nguồn gốc, quá

trình di cư của người Hmông vào Việt Nam, tình trạng di cư xuyên biên giới

của tộc người này hiện nay với cả nguyên nhân kinh tế, xã hội và lịch sử

Luận văn thạc sỹ của Nghiêm Tuấn Hùng (2010), Vấn đề di cư trong quan hệ

quốc tế sau Chiến tranh Lạnh, trong khi đề cập trên bình diện chung về di cư

trong quan hệ quốc tế cũng có điểm qua tình hình Việt Nam và tác động của

nó đối với hoạt động đối ngoại

Ba là, các nghiên cứu về tình hình di cư tự do xuyên biên giới của một

số nhóm tộc người thiểu số; sự can thiệp của Chính phủ đối với các loại hình

di cư quốc tế Di cư tự do xuyên biên giới là vấn đề được đề cập trong các công trình nghiên cứu về phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, các

Trang 10

tuyến biên giới, được tiếp cận từ góc độ nhân học xã hội hoặc xã hội học di

dân Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này là đề tài khoa học cấp nhà nước

của Doãn Hùng (2010) (chủ nhiệm), Chính sách phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên,

Tây Nam Bộ - Cơ sở lý luận và thực tiễn đã xem di dân tự do xuyên biên giới của một số tộc người sống vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc,

Việt Nam – Lào, Việt Nam – Campuchia không chỉ đe dọa đến an ninh biên giới mà cả quản lý phát triển xã hội Nghiên cứu của Đậu Tuấn Nam,

Di cư tự do của người Hmông ở miền Tây Nghệ An (Thực trạng và những

vấn đề đặt ra) (2005); “Đặc điểm di dân tự do của người Hmông ở miền

Tây Thanh Hóa, Nghệ An” (2009) dù chỉ chọn mẫu nghiên cứu là hai tỉnh

Nghệ An và Thanh Hóa, nhưng đã cho thấy diễn biến phức tạp và rất khó khăn trong quản lý di cư tự do của người Hmông, trong đó có cả di dân từ Trung Quốc, từ Lào vào Thanh Hóa và Nghệ An Chuyên khảo của Thào

Xuân Sùng (chủ biên) (2009), Dân tộc Mông ở Sơn La với việc giải quyết

vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay không chỉ đề cập đến di cư ở người Hmông ở Sơn La, mà còn cho thấy tác động của di dân trên các mặt biến

đổi đức tin tôn giáo, tín ngưỡng; phá vỡ môi trường sinh thái; ảnh hưởng đến quyền tiếp cận tài nguyên đất đai và rừng; đảo lộn cơ cấu xã hội và quan hệ tộc người, thậm chí gây nên cả xung đột xã hội Về tác động của di

cư đối với tài nguyên, môi trường, Hoàng Hữu Bình (2006), Những tác

động của yếu tố văn hóa – xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chỉ

ra hậu quả di cư với khai thác cạn kiệt rừng đầu nguồn, ảnh hưởng môi trường dân cư hạ nguồn các dòng sông, gây khó khăn cho quy hoạch quản

lý đất đai và phân bố lại dân cư Nghiên cứu của Vông Pha Chăn VILAYHOM - Đinh Văn Nhạc (2013), Hợp tác Việt Nam – Lào về quản trị

Trang 11

biến đổi xã hội, Quản trị biến đổi xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa và

Bunthat LATHIPANYA - Đinh Văn Nhạc (2014), Hợp tác Việt Nam – Lào

về an sinh xã hội, Chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh khủng hoảng

kinh tế đã phân tích, đánh giá kết quả hợp tác giữa hai nước về nhiều chiều

cạnh, trong đó nhấn mạnh các giải pháp hợp tác nhằm quản trị biến đổi xã hội, an sinh xã hội, trong đó là hợp tác giải quyết các vấn đề về di cư và

quốc tịch

Bốn là, các nghiên cứu về vấn đề hôn nhân xuyên biên giới và quản lý

hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã nghiên cứu đặc điểm, thực trạng về hôn nhân xuyên biên giới, hôn nhân có yếu tố nước ngoài của các tộc người, trong đó nổi bật là vấn đề hôn nhân xuyên biên giới gắn với di cư quốc

tế của các tộc người thiểu số Ở nhóm này có nghiên cứu của Lê Ngọc Lân

(2015), Nhận diện một số đặc điểm hôn nhân ở vùng biên giới, Nghiên cứu

gia đình và giới, quyển 25 (số 5), tr.40-54 trên cơ sở khảo sát 1.536 đại diện

hộ gia đình, thảo luận với các cấp quản lý và người dân tại một số địa phương, nghiên cứu đã phân tích một số đặc điểm về hôn nhân hiện nay của người dân các dân tộc vùng biên giới miền Bắc và miền Trung; nghiên cứu

của Nguyễn Hữu Minh, Đặng Thị Hoa, Trần Thị Hồng (2015), Quản lý vấn

đề hôn nhân xuyên biên giới ở Việt Nam hiện nay: Chính sách và thực tiễn,

Nghiên cứu gia đình và giới, quyển 25 (số 5), tr.15-27 đã đánh giá và khái

quát những chính sách quản lý của Việt Nam nhằm ổn định và phát triển vùng biên giới và những vấn đề đặt ra

Trang 12

Hmông ở Tây Bắc Việt Nam nói riêng từ đổi mới, nhất là từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay

- Đánh giá những tác động từ di cư quốc tế của người Hmông đối với đời sống xã hội tộc người và những tác động liên quan đến mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia có liên quan

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hợp tác có hiệu quả giữa Việt Nam

và các nước nhằm kiểm soát hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực từ vấn đề

di cư quốc tế của người Hmông đối với quá trình ổn định và phát triển của Tây Bắc nói riêng, Việt Nam nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn là hoạt động di cư quốc tế

của người Hmông Ngoài ra, các chính sách di cư và phát triển, những yếu tố

tác động đến di cư quốc tế cũng được thu hút vào nghiên cứu này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu của luận văn là Tây Bắc của Việt

Nam, trong địa bàn khảo sát chủ yếu là các tỉnh như: Sơn La, Điện Biên, Lào

Cai, miền Tây Thanh Hóa, miền Tây Nghệ An[1] là những địa phương có nhiều người di cư xuyên biên giới sang Lào và Trung Quốc

- Phạm vi thời gian được xác định từ năm 1991 đến 2013 Bởi lẽ, thời

kỳ này là dấu mốc kết thúc của Chiến tranh Lạnh, cục diện trong quan hệ quốc tế thay đổi, có những nhân tố mới nảy sinh, trong đó có vấn đề về di cư quốc tế đa chiều, phức tạp cần nghiên cứu

1 Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng, miền Tây Thanh Hóa, miền Tây Nghệ An cũng thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, hơn nữa, đây là hai khu vực tiếp giáp Bắc Lào, có các hoạt động di cư xuyên biên giới phức

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành, trong đó tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu về khu vực học, nhân học, nhân học xã hội, dân tộc học… Trong đó, phương pháp chuyên ngành

của khoa học Quan hệ quốc tế kết hợp với Nhân học; phương pháp phân tích,

so sách, thống kê cũng được sử dụng phục vụ quá trình nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Quá trình di cư quốc tế của người Hmông và những nhân tố tác động

Chương 2: Tình hình di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam từ năm 1991 đến nay

Chương 3: Những tác động và khuyến nghị

Trang 14

Chương 1 QUÁ TRÌNH DI CƯ QUỐC TẾ CỦA NGƯỜI HMÔNG

VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

1.1 Khái niệm

Luật di cư quốc tế (2011) giải thích: “di cư quốc tế là sự di chuyển của

những người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài Vì thế họ phải vượt qua

một biên giới quốc gia”

Liên hợp quốc định nghĩa “người di cư” là một cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể người đó di cư tự nguyện hay không, hay theo cách được phép hay trái phép Với một định nghĩa như vậy, những người đi lại với thời gian ngắn hơn như khách du lịch, thương nhân không được coi là người di cư Tuy nhiên, cách sử dụng chung bao gồm cả những nhóm nhất định chỉ những người di cư ngắn hạn như người lao động nông nghiệp theo thời vụ, những người đi lại trong những thời gian ngắn để trồng trọt và thu hoạch nông sản Cũng theo định nghĩa của Liên hợp quốc, di cư là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là qua một địa giới hành chính (hoặc là sự dịch chuyển theo một khoảng cách xác định nào đó) thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú Sự thay đổi chỗ ở thể hiện ở hai khái niệm:

- Xuất cư là nói về đầu đi, về nơi chuyển cư, chuyển từ nơi này sang nơi khác (trong phạm vi một quốc gia, hay sang một quốc gia khác) để sinh

sống tạm thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hay dài

- Nhập cư là nói về đầu đến, về nơi chuyển đến, có thể là đến địa bàn khác cùng một vùng, lãnh thổ của một quốc gia, hay một quốc gia khác

Như vậy, định nghĩa của Liên hợp quốc đã loại ra được những người

Trang 15

hàng ngày) Trên quan điểm thống kê, không phải tất cả những hành động di cư như: di cư theo mùa và di cư kiểu con lắc có thể xếp vào sự di chuyển của dân

cư - tức di dân Trong điều tra dân số ở các nước cũng như ở Việt Nam, di dân được xác định là người thay đổi chỗ ở thường xuyên từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác Tuy nhiên, trong định nghĩa của Liên hợp quốc cũng như trong điều tra dân số của mỗi nước, việc tổ chức hành chính không giống nhau ở mỗi nước, do đó ranh giới hành chính c ũng có những quan niệm khác nhau Vì vậy cần phải xác định rõ ranh giới hành chính nên ở cấp nào, cũng như phải xác định thời gian định cư trong bao lâu thì được coi là di cư

Các đặc điểm cơ bản của di cư:

- Người chuyển khỏi nơi cư trú đến một nơi nào đó sinh sống Khoảng cách giữa nơi đi và nơi đến – có thể là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (độ dài di chuyển) là tiêu chí xác định di cư và quá trình di cư

- Người di chuyển bao giờ cũng có mục đích, họ rời nơi cũ để đến một nơi khác định cư trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thực hiện mục đích của mình Mục đích của sự thay đổi nơi cư trú là một trong những nguyên nhân dẫn đến di dân

- Thời gian cư trú ở nơi ở mới (dài hay ngắn) cũng là một đặc điểm quan trọng của di dân

Ngoài ra có thể nhận biết di dân qua một số đặc điểm: sự thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp và hoạt động sống hàng ngày

1.2 Quá trình di cư của người Hmông trong lịch sử

1.2.1 Lịch sử tộc người và quá trình di cư của người Hmông

Trong cuốn sách Lịch sử người Mèo (Histoire des Miao, xuất bản tại

Hồng Kông năm 1924), trên cơ sở của những truyền thuyết được François Marie Savina sưu tầm đã cho rằng, quá khứ cổ đại của người Hmông là một trong những bộ lạc cư trú ở vùng Xibêri nước Nga đầy băng tuyết Từ đây, họ

Trang 16

đi xuống theo hướng Đông Nam và đến vùng Hồ Nam của Trung Quốc vào khoảng 2.500 năm trước công nguyên Tuy nhiên, chính François cũng tự đánh giá, đây là ý kiến còn chưa chắc chắn, bởi chưa đủ những cứ liệu để minh chứng [14] Quan điểm trên đây của François cũng chưa nhận được sự ủng hộ của đa số các nhà Hmông học trên thế giới, thậm chí còn có nhiều ý kiến trái chiều Nhóm tác giả Cư Hòa Vần và Hoàng Nam cho biết, các nhiên cứu nhân chủng học về người Hmông ở Trung Quốc cho thấy, có những bằng chứng nói lên nguồn gốc người Mônggôlôit của họ; kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở vùng Nam Kinh – Động Đình cũng đã chỉ ra rằng, các bộ lạc tổ tiên của người Hmông đã xuất hiện ở đây vào khoảng thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên [45] Theo Gary Lee và Nick Tapp, François đã không đúng khi dựa trên cơ sở của những tư liệu trong truyền thuyết và những tư liệu đầy chất thơ theo kiểu nghi lễ của người Hmông Căn cứ vào sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của người Hmông và người Hán, hai ông cho rằng, gốc của người Hmông có thể ở đâu đó quanh vùng sông Hoàng Hà ở Trung Quốc [15, tr.61]

Theo quan điểm của giới nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, về cội nguồn,

tổ tiên xa xưa của các tộc người Hmông – Dao có quan hệ với một liên minh

bộ lạc xuất hiện tương đối sớm vào thời cổ đại, được sử cũ chép là Cửu Lê Thủ lĩnh của Cửu Lê là Suy Vưu chống lại Hoàng Đế, nhưng kết cục đã không

giành được phần thắng, do đó, một bộ phận Cửu Lê không chịu khuất phục đã

rút về lưu vực Giang Hán phương Nam và lập liên minh bộ lạc Tam Miêu

Theo các nhà nghiên cứu, đến thời kỳ vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, liên minh bộ lạc Tam Miêu phát triển khá hùng mạnh và đây chính là tiền nhân trực tiếp của các dân tộc Hmông – Dao [41, tr.253-254; 19, tr.23-24]

Đến thời Xuân Thu (770-476 tr.CN), trong liên minh bộ lạc Tam Miêu

có một bộ phận đã phát triển đến trình độ cao và hình thành nên dân tộc Sở, chủ nhân của nước Sở hùng mạnh [28, tr.49-51] đã từng có ý chí và hành

Trang 17

động nhằm bá chủ thiên hạ Tuy nhiên, sang thời Chiến Quốc (306-251 tr.CN), khi nước Sở bị nhà Tần thôn tính, một bộ phận cư dân nước Sở, trong

đó có những người thuộc Tam Miêu đã hòa nhập cùng với dân tộc Hoa Hạ ở Trung Nguyên và dần trở thành người Hán Bộ phận còn lại di chuyển đến vùng núi khu vực Tây Tương – Đông Kiềm (ở phía Tây Hồ Nam và phía Đông Quý Châu ngày nay), trở thành nhóm bộ lạc tổ tiên của dân tộc Miêu (trong đó có một bộ phận được gọi là Hmông) và dân tộc Dao [4, tr.288]

Khi nhà Tây Hán thay thế nhà Tần thống trị Trung Quốc, khu vực cư trú của tổ tiên các tộc người Miêu – Dao được đổi thành quận Vũ Lăng và vì

vậy, họ được gọi là Vũ Lăng Man Sang thời kỳ Đông Hán, các cuộc nổi dậy

của tổ tiên người Miêu – Dao trong quận Vũ Lăng và vùng phụ cận liên tục xảy ra, song hầu hết các cuộc nổi dậy này đều bị nhà Đông Hán trấn áp Các

bộ lạc Vũ Lăng Man bị dồn từ vùng trung tâm vào khu vực miền núi phía Tây

và họ có mặt ngày càng nhiều ở khu vực cao nguyên Vân – Quý (thuộc phạm

vi hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu, Trung Quốc ngày nay) và phân hóa thành các tộc Miêu và Dao [38, tr.26-44]

Quá trình phân hóa từ các liên minh bộ lạc hay các siêu tộc cổ đại thành các tộc Miêu – Dao đã diễn ra như thế nào, nó kéo dài bao lâu, các học giả Trung Quốc cho rằng, thời kỳ Nam – Bắc triều (420-528), liên minh bộ lạc

Vũ Lăng Man bắt đầu tách ra thành các tộc người Miêu – Dao và cư trú ở vùng Hồ Nam, Hà Nam, Trùng Khánh, Tứ Xuyên và Hồ Bắc ngày nay Đến cuối thời Tây Tấn, thời đầu Tốngdân tộc Dao tách khỏi Miêu – Dao, gọi là Mạc Dao (Mò Yao) hay Yao (Dao)

Đến thời nhà Tùy (581-618), khu vực cư trú của người Miêu ngoài hai tỉnh Hồ Nam và Quý Châu, còn mở rộng ra các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tây, Vân Nam; trong đó một bộ phận người Miêu đi về phía Đông và dung hợp vào dân tộc Hán, bộ phận đi về phía Tây vẫn lưu truyền được đặc điểm sinh hoạt văn

Trang 18

hóa, kinh tế vốn có của tộc người và họ chính là tiền nhân của Miêu tộc ( bao gồm cả người Hmông và người Hmu) hiện nay [4, tr.290]

Từ thời nhà Đường đến Ngũ đại thập quốc, một bộ phận người Miêu đã chịu ảnh hưởng tương đối sâu sắc của văn hóa Hán và phân bố ở vùng nối tiếp Xuyên (Tứ Xuyên), Kiềm (Quý Châu), Tương (Hồ Nam), Ngạc (Hồ Bắc) Về mặt xã hội, người Miêu đã có sự phân hóa giai cấp Các triều đình phong kiến thường lập các châu cho người Miêu và bổ nhiệm thủ lĩnh của họ là Thứ sử châu “kimi” để thống trị, nhưng đây cũng không phải là các tiểu quốc tự trị của người Hmông Đến thời Nam Tống (960-1279), người Miêu di chuyển về phía Tây Nam, phân bố kín miền Trung, đến miền Tây Quý Châu ngày nay Khu vực cư trú của dân tộc Miêu phía Đông tập trung ở vùng Đông Bắc Quý Châu và Tây Bắc Hồ Nam

Thời Nguyên (1271-1368) và Minh (1368-1644), người Miêu đã mở rộng địa bàn cư trú đến phía Tây Quý Châu và Đông Nam Vân Nam Tại đây,

họ thường phải cư trú xen kẽ với các dân tộc bản địa ở Tây Quý Châu, Đông Nam Vân Nam, Hồ Nam

Từ thời Thanh, (1644-1911), về cơ bản, người Miêu đã phân bố ở những địa bàn mà hiện nay họ đang có mặt ở Trung Quốc Trong đó, một bộ phận khá đông dân tộc Miêu đã tập trung ở tỉnh Quý Châu và hầu hết ở các châu, huyện của tỉnh này đều có người Miêu sinh sống Bên cạnh đó, họ còn phân bố ở Vân Nam, phía Tây Hồ Nam, các huyện Hoài Viễn, Toàn Châu của tỉnh Quảng Tây; phía Nam và Đông Nam Tứ Xuyên Những bộ phận nhỏ khác cũng xuất hiện ở tỉnh Hồ Bắc, Quảng Đông và Hải Nam [28, tr.302-

303].Cũng thời kỳ này, nhà Mãn Thanh bỏ chế độ Thổ Quan và thay bằng chế

độ Lưu quan, người Hmông không chấp nhận điều này và đã liên tục nổi dậy

chống lại triều đình Tuy nhiên, với kết cục của cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc đã đẩy người Hmông thành tha hương ly tán Một bộ phận người

Trang 19

Hmông tiếp tục di cư về vùng Vân Nam và cuối cùng là vùng núi phía Bắc Việt Nam, Lào, Mianmar và Đông Bắc Thái Lan, họ sống rải rác thành các nhóm lớn nhỏ ở các vùng núi cao thuộc biên giới của các nước này Quá trình thiên di của người Hmông vào Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng thể hiện niềm khát khao về một vùng đất lành để sinh sống và họ đã coi những vùng đất này là quê hương mới của mình

Như vậy, từ một nhóm liên minh bộ lạc có tên gọi là Cửu Lê, sống tập trung ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu), tổ tiên người Miêu – Dao đã không ngừng phát triển thành liên minh bộ lạc Tam Miêu, rồi Kinh Man, Vũ Lăng Man và cuối cùng phân hóa thành các tộc Miêu – Dao Quá trình phát triển thành các tộc người Miêu – Dao riêng biệt vừa có yếu tố tự thân, vừa chịu sự tác động của các quá trình lịch sử khu vực Trong quá trình phát triển đó, các tộc người Miêu – Dao đã không ngừng mở rộng địa bàn cư trú, từ lưu vực hồ Động Đình, họ đã có mặt ở hầu khắp các địa phương của vùng Hoa Nam và nhiều quốc gia lân cận

Cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc (năm 1975), Vàng Pao cùng các quan chức, binh sĩ người Hmông ở Lào đã di tản từ Loong Chẹng (Lào) sang Thái Lan, sau đó tiếp tục đi sang các nước khác như Australia, Pháp, Canada, Mỹ, Argentina, Guyana, Nam Phi – mở đầu cho cuộc đại di cư lớn nhất trong lịch sử của người Hmông ở Đông Nam Á vào thế kỷ XX Cũng

từ đây, bắt đầu hình thành nên các cộng đồng người Hmông ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra chính thức nào về dân số người Hmông trên thế giới, do đó, những thông tin về dân số của người Hmông ở các nước chỉ là những con số dự đoán Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, hiện nay người Hmông có mặt ở 15 quốc gia trên thế giới Cuộc điều tra dân số năm 1990 của Trung Quốc cho thấy,

Trang 20

tại đất nước có đông người Hmông nhất thế giới này có 7.383.622 người tự nhận là người Miao/Miêu[2]

(chiếm 0,65% dân số toàn Trung Quốc lúc đó) Người Miao/Miêu chủ yếu cư trú ở phía Nam Trung Quốc: Vân Nam (895.704 người), Tứ Xuyên (533.860 người), Quý Châu (3.666.701 người),

Hồ Nam (1.568.951 người), Quảng Tây (426.413 người), Hồ Bắc (200.764 người), Hải Nam (51.676 người), Quảng Đông (5.988 người) và 33.515 người ở các tỉnh khác Theo dự đoán của Gary Lee và Nick Tapp (2002), tổng dân số của người Miao/Miêu ở Trung Quốc vào khoảng 9 triệu người

Ở Lào, theo điều tra dân số năm 1995, có 315.465 người Hmông, chiếm 9,6% dân số, họ được gọi là người Mẹo, một bộ tộc trong nhóm Lào Sủng,

cư trú chủ yếu ở hầu khắp Bắc Lào, song tập trung đông nhất ở Xiêng Khoảng và Đặc khu Xay Xổm Bun Ở Thái Lan, theo số liệu thống kê của

Vụ Phúc lợi công cộng Thái Lan, đến năm 1998, dân số người Hmông có 126.300 người, chiếm 0,21% dân số toàn quốc, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Thái Lan, tập trung đông nhất ở các tỉnh: Chiang Rai, Chiang Mai, Tak, Nan Ở Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số và nhà

ở năm 2009, người Hmông có dân số 1.068.189 người, đứng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số

63 tỉnh, thành phố Người Hmông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân

số toàn tỉnh và 16,0% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Sơn

La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Lai Châu (83.324 người), Yên Bái (81.921 người), Cao Bằng (51.373 người), Nghệ

2

Trang 21

An (28.992 người), Đăk Lăk (22.760 người), Đăk Nông (21.952 người), Bắc Kạn (17.470 người), Tuyên Quang (16.974 người), Thanh Hóa (14.799 người) [2, tr.134-225]

Cũng theo dự đoán của Gary Lee Nick Tapp, ngoài khu vực châu Á, còn có khoảng 190.000 người Hmông định cư ở một số nước như: Mỹ (170.000 người), Pháp (15.000 người), Canada (1.200 người), Australia (1.600 người), Guyana thuộc Pháp (1.800 người), Argentina (250 người) và NewZealand (150 người)[66].

Theo thống kê của Trung tâm hành động nguồn lực Đông Nam Á, (SEARAC), đến năm 2000, người Hmông ở Mỹ

có 186.310 người, chiếm 0,9% dân số toàn quốc, sống ở 50/51 bang Người Hmông ở Mỹ thành lập nhiều hội nhóm, tổ chức xã hội, có tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và để tăng cường mối quan hệ với thân nhân, dòng họ

và cộng đồng người Hmông ở khu vực Đông Nam Á, nhất là người Hmông

ở Lào và Việt Nam Các sinh hoạt văn hóa dân tộc, các biến động trong cộng đồng người Hmông ở Mỹ đều được thông tin, trưng cầu ý kiến của giới trí thức và những người Hmông ở Lào, Việt Nam

1.2.2 Quá trình di cư của người Hmông đến Việt Nam và phân bố dân cư

Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà Hmông học trên thế giới và trong nước đều cho thấy, người Hmông ở Việt Nam có quan hệ tộc thuộc với

cộng đồng người Hmông trong Miêu tộc (Miao zu) hiện đang sinh sống ở

Trung Quốc Theo ghi chép của các nhà sử học Trung Quốc, ngay từ thế kỷ

IX, ở phần đất hiện nay thuộc các châu Hồng Hà và Văn Sơn (Vân Nam, Trung Quốc) đã có một bộ phận người Miêu, trong đó có người Hmông áp sát vùng biên giới Việt – Trung Tuy nhiên, người Hmông có mặt ở Việt Nam từ khi nào và họ đến đây theo những con đường nào thì những căn cứ thư tịch hiện có còn chưa đủ sức thuyết phục

Trang 22

Theo nghiên cứu của các nhà nhân học/dân tộc học trong nước cho thấy, người Hmông ở Việt Nam phần lớn đến từ các tỉnh Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), một bộ phận người Hmông có mặt ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An di cư từ Lào sang Quá trình di cư của dân tộc này vào Việt Nam cũng được chia làm ba đợt chính[3]

:

- Đợt thiên di thứ nhất, diễn ra vào khoảng từ thế kỷ XVII đến đầu thế

kỷ XVIII, chủ yếu là người Hmông thuộc các dòng họ Lù và họ Giàng sinh sống ở tỉnh Quý Châu (Trung Quốc), do phản đối chính sách “cải thổ quy lưu” (xóa bỏ chế độ thổ quan, cắt cử lưu quan cai trị) không thành công đã phải bỏ xứ di cư đến huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, hậu duệ của nhóm này

di cư đến Việt Nam tính đến những năm 60 của thế kỷ XX được 14 – 15 đời (khoảng 300 năm)

- Đợt thiên di thứ hai, diễn ra vào những năm 1796-1820, chủ yếu là

người Hmông đến từ tỉnh Quý Châu, một bộ phận đến từ Vân Nam, Quảng Tây do bị thất bại trong cuộc đấu tranh chống lại vua nhà Thanh Lần này, người Hmông đến Việt Nam bằng hai đường: một đường của hơn 100 gia đình các dòng họ: Hoàng, Lý, Vương đến Đồng Văn, sau đó một bộ phận trong số này đến Hoàng Su Phì (Già Giang); một đường khác gồm 80 gia đình các dòng họ: Hoàng, Lục, Vù, Châu và Giàng đến tỉnh Lào Cai, về sau có 30 gia đình của các dòng họ Vù, Sùng, Giàng rời đến vùng Tây Bắc

- Đợt thiên di thứ ba, diễn ra sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên

quốc thất bại Để tránh bị trả thù, một bộ phận khá lớn người Hmông tham gia cuộc khởi nghĩa này đã buộc phải rời bỏ quê hương đi về phương Nam, đến các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang của Việt Nam nhằm tránh sự truy bức của triều đình nhà Mãn Thanh Do đó, có thể nói, đây là đợt thiên di lớn nhất

Trang 23

trong lịch sử di cư của người Hmông từ Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam

Số lượng người di cư có thể lên tới trên 10 nghìn người Phần lớn trong số họ

là người Hmông đến từ tỉnh Quý Châu, có một số đến từ hai tỉnh Quảng Tây

và Vân Nam

Ngoài các đợt thiên di nói trên, thì sau đó cứ hàng năm vẫn có một số nhóm người Hmông di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam với số lượng nhỏ lẻ Con đường di chuyển của người Hmông đến Việt Nam những lần này vẫn theo hướng cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), từ đó xuống vùng Tuyên Quang

Ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số bình quân của người Hmông thuộc loại cao so với các dân tộc khác Theo kết quả tổng điều tra dân số lần thứ nhất năm 1979, dân số dân tộc Hmông là 411.074 người; đến đợt tổng điều tra dân

số lần thứ hai năm 1989, dân số dân tộc Hmông là 558.053 người Như vậy, sau 10 năm dân số dân tộc Hmông tăng thêm 146.979 người, tỷ lệ tăng hằng năm là 3,2% Đến đợt tổng điều tra dân số năm 1999, dân số dân tộc Hmông

là 787.604 người, sau 10 năm tăng thêm 229.551 người, tỷ lệ tăng bình quân hằng năm là 3,4% Theo tổng điều tra dân số năm 2009, dân số dân tộc Hmông lên tới 1.068.189 người, sau 10 năm tăng thêm 280.585 người, đứng thứ năm về số dân trong các dân tộc thiểu số (Tày: 1.626.392 người, Thái: 1.550.423 người, Mường: 1.268.963 người, Khmer: 1.260.640 người) Người Hmông là dân tộc có tỷ lệ phát triển dân số nhanh và có tốc độ di chuyển dân

cư rất lớn Năm 1960, số xã có người Hmông cư trú là 398, năm 1979 là 677, năm 1989 là 802, năm 1999 khoảng trên 1.000 xã; đến năm 2009 là 1.331 xã Hiện nay, ở Việt Nam người Hmông không chỉ cư trú ở các tỉnh phía Bắc mà

đã di chuyển vào nhiều tỉnh phía Nam, nhiều nhất là các tỉnh Tây Nguyên (xem bảng 1.1 [26])

Trang 24

Bảng 1.1: Nơi cư trú và dân số dân tộc Hmông năm 2009

Có người Hmông

Chỉ có người Hmông

Hà Giang 38.914 231.464 195 14 2.068 555 Điện Biên 21.197 170.648 106 14 637 458 Lào Cai 22.727 146.147 164 23 2.103 380 Sơn La 13.780 157.253 303 9 2.974 464 Lai Châu 12.514 53.324 63 7 363 261 Yên Bái 11.899 81.921 56 19 32 222 Cao Bằng 7.903 51.373 64 1 390 165 Nghệ An 4.075 28.992 20 5 92 88 Đắk Nông 3.043 21.952 14 - 45 23 Đắk Lắk 2.926 22.760 - - 26 14 Bắc Kạn 2.898 17.470 76 - 766 50 Tuyên Quang 2.715 16.974 140 - 135 19 Thanh Hóa 2.212 14.799 36 - 45 43 Thái Nguyên 1.116 7.230 75 - 41 12 Hòa Bình 863 5.296 2 - 10 8 Lâm Đồng 337 2.894 10 - 10 3 Lạng Sơn 209 1.224 7 - 17 6 Gia Lai 115 1.245 - - 4 2

Trang 25

Như trên đã nêu, việc di cư của người Hmông có nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chính sách của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mà đặc biệt

là chính sách thay đổi chế độ thổ quan sang lưu quan, việc người Hmông đến

Việt Nam chủ yếu là để lánh nạn “bành trướng” Đại Hán

Trong cuộc đại thiên di của người Hmông thế kỷ XX có nguyên nhân chiến tranh khu vực Cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc (năm 1975), các quan chức, binh sĩ người Hmông ở Lào, đứng đầu là Vàng Pao đã di tản sang Thái Lan, để rồi từ đây, họ tiếp tục hành trình tìm vùng đất mới Trong quá trình tồn tại, xây dựng và thích ứng với nơi định cư mới, họ tiếp tục có liên hệ với người Hmông ở Việt Nam nói chung, Tây Bắc Việt Nam nói riêng thúc đẩy các hoạt động, trong đó có hoạt động di cư

Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, từ thời kỳ kết thúc Chiến tranh Đông Dương (1954) đến thời kỳ chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1991), một số quốc gia Đông Nam Á đã giành được chính quyền (dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản: Việt Nam, Lào) Tuy nhiên, các nước này sau đó cũng bị ảnh hưởng bởi sự chia rẽ/bất đồng trong mối quan hệ Trung - Xô

Cuộc Chiến tranh Lạnh trở nên gay gắt hơn từ khi Liên xô đưa quân vào Afghanistan năm 1979 cho tới năm 1985 trước khi Mikhail Gorbachev trở thành lãnh đạo Liên xô, giai đoạn này đôi lúc còn được gọi là cuộc "Chiến tranh Lạnh thứ hai"[49, pg2e] vì sự gia tăng căng thẳng Mỹ-Xô và một thay đổi trong chính sách của phương Tây từ hòa hoãn mong manh sang đối đầu gia tăng với Liên xô Giai đoạn 1985 tới 1991, với việc Mikhail Gorbachev chèo lái Liên xô, những thành tựu xã hội chủ nghĩa Liên Xô xây dựng đã sụp đổ, Chiến tranh Lạnh kết thúc, từ bối cảnh này, hệ thống trong quan hệ quốc tế

không còn là hai cực mà đã dần xuất hiện và tồn tại nhiều hệ thống, trong đó phải kể đến hệ thống kiểu nhất siêu đa cường, hệ thống đa cực hay thế giới

phẳng Trong giai đoạn này, vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền cũng trở

Trang 26

thành một trong những nội dung quan trọng để các nước phương Tây đưa vào bàn đám phán về chính trị, kinh tế ; từ đó, việc di chuyển, đi lại giữa các lãnh thổ quốc gia của công dân các nước có những thuận lợi hơn, trong đó có việc di

cư quốc tế của người HMông ở Tây Bắc Việt Nam với nhiều nguyên nhân khác nhau

1.3.2 Ở cấp độ trong nước

Từ sau năm 1991, với việc Việt Nam lần lượt bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ và thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới; Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, theo đó, các vấn đề trong đời sống xã hội ở Việt Nam cũng thay đổi, trong đó có những tác nhân liên quan đến việc di cư của người Hmông

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam tác động đến di

cư quốc tế của người Hmông vùng Tây Bắc, gồm các nhóm yếu tố: kinh tế -

Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư cho phát triển vùng miền núi, dân tộc thiểu số Nhờ đó, đời sống của đồng bào các dân tộc về cơ bản được cải thiện hơn trước Tuy nhiên, cuộc sống của một

số dân tộc, trong đó có người Hmông, chủ yếu vẫn dựa vào nền kinh tế tự cấp,

tự túc, lấy canh tác nương rẫy làm chính (kết hợp với săn bắn, khai thác các nguồn lợi từ rừng) Do đó, đời sống của phần lớn người Hmông nhìn chung vẫn còn đang ở trong tình trạng đói nghèo

Trang 27

Kết quả điều tra năm 2006 đối với 415 hộ người Hmông di cư tự do ở

10 huyện của tỉnh Sơn La cho thấy, đời sống của đồng bào Hmông tỉnh Sơn

La còn rất khó khăn Thu nhập bình quân chỉ đạt 1 triệu đồng/người/năm (bằng 42% so với bình quân định mức tiêu chí hộ nghèo - trên 200.000 đồng/người/tháng) Số hộ thiếu ăn ở cộng đồng dân tộc Hmông khá phổ biến (241/415 hộ, chiếm 61,6%) Trong đó, số thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng là 162/145

hộ, chiếm 39%; số hộ thiếu ăn từ 3 đến 5 tháng là 69/415 hộ, chiếm 17%; số thiếu ăn thường xuyên là 10/415 hộ, chiếm 2%); số có kinh tế dôi dư và có tích lũy là 17/415 hộ, chiếm 4% [26, tr.87]

Như vậy có thể khẳng định, đói nghèo là nhân tố đầu tiên dẫn đến tình trạng di cư của người Hmông ở Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng Để hạn chế việc di cư của đồng bào Hmông, đồng nghĩa với việc phải đưa ra các giải pháp để giảm thiểu, tiến tới triệt tiêu đói nghèo trong đồng bào

- Thứ hai, thiếu đất sản xuất

Từ xa xưa, đất đai canh tác là tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội loài người Trong giai đoạn hiện nay, tư liệu này vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với hầu hết các tộc người thiểu số, trong đó có người Hmông, đất sản xuất như là một nguồn lực chính trong việc duy trì sự sống của họ Bởi vậy, một trong những nhân tố dẫn đến đời sống khó khăn, cuộc sống đói nghèo của người Hmông hiện nay là do thiếu đất canh tác Thực tế cho thấy, không riêng người Hmông ở Tây Bắc, mà người Hmông ở nhiều nơi ở Việt Nam cũng trong tình trạng thiếu đất có khả năng canh tác

Thiếu đất canh tác là do điều kiện tự nhiên và địa hình không thuận lợi

là một trong những khó khăn có tính lâu dài đối với nhiều địa phương ở miền núi phía Bắc Sơn La là tỉnh có diện tích 14.125 km², chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố Tuy nhiên, theo số liệu của Ban Dân tộc tỉnh Sơn La, một trong những nhân tố tạo ra lực đẩy người

Trang 28

Hmông di cư trong nhiều năm qua là do thiếu đất sản xuất, hoặc đất sản xuất

đã bạc màu không thể canh tác được hoặc canh tác kém hiệu quả Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, có tới 193/415 hộ người Hmông di cư là do thiếu đất sản xuất; 186/415 hộ sản xuất trên nền đất đã bạc màu[26,91] Như vậy, có thể nói, với lối canh tác nông nghiệp chủ yếu theo phương thức đốt nương, làm rãy và không có thói quen dùng phân bón cho cây trồng, làm cho đất trồng ngày càng bạc màu, cho năng suất rất thấp Vì vậy, tình trạng thiếu ăn nhiều tháng trong năm ở vùng dân tộc Hmông ở Tây Bắc là khá phổ biến, dẫn đến tình trạng một bộ phận trong số họ phải rời bỏ nơi ở cũ đến nơi có đất đai màu mỡ hơn để mưu sinh

- Thứ ba, điều kiện dịch vụ xã hội kém

Sự đáp ứng không đầy đủ các dịch vụ xã hội cần thiết cho cuộc sống như giáo dục, giao thông, y tế, nước sinh hoạt, dịch vụ, phát thanh, truyền hình là một trong những nhân tố dẫn đến di cư tự do ở người Hmông trong những năm gần đây Theo kết quả tìm hiểu về tình hình học tập của trẻ em người Hmông trong các gia đình di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến miền Tây Thanh Hóa cho thấy, khi còn ở miền núi phía Bắc, phần lớn trẻ

em trong độ tuổi đến trường không được đi học Lý do chủ yếu được người Hmông đưa ra là ở quê cũ, trường học cách nhà quá xa, kinh tế gia đình khó khăn, thiếu người làm việc nhà, do đó tâm lý chung của các gia đình là không muốn cho con đi học, nhất là ở các bậc học cao hơn (như trung học

cơ sở, trung học phổ thông…) Hiện nay, khi đến nơi ở mới (Mường Lát, Thanh Hóa), phần lớn các bản của người Hmông (kể cả các bản của người Hmông di cư từ miền núi phía Bắc đến) đều đã có lớp tiểu học, nhiều gia đình cũng muốn cho con đi học để biết chữ và mở mang kiến thức, nhưng phần lớn trẻ em cũng không muốn đi học, do đó tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường chưa cao

Trang 29

Cùng với giáo dục, sự yếu kém trong việc đáp ứng các dịch vụ y tế

và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cũng được xem là một trong những nhân

tố góp phần thúc đẩy người Hmông di cư Trước đây, người Hmông các tỉnh miền núi phía Bắc sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa nên không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế và kế hoạch hóa gia đình Khi ốm đau, họ thường tự chữa trị tại gia đình bằng các cây thuốc có ở rừng hoặc nhờ cậy thầy cúng Theo kết quả điều tra xã hội ở 60 người Hmông di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến Mường Lát (Thanh Hóa) cho thấy, trước kia khi ốm đau, người Hmông không đến chữa trị tại các cơ sở y tế Theo thói quen, phần lớn đồng bào tự chữa bệnh tại gia đình bằng các loại cây thuốc lấy từ rừng (47,6%), nếu không chữa khỏi bệnh, họ nhờ đến thầy cúng (42,9%), chỉ có 9,5% đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Hiện nay, phần lớn người Hmông ở những mức độ khác nhau đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia (nhưng không được thường xuyên); họ đã bắt đầu hình thành thói quen đến khám

và chữa bệnh tại y tế thôn bản khi ốm đau Song khả năng đáp ứng dịch vụ

y tế cho đồng bào Hmông ở đây còn rất hạn chế; đặc biệt là thuốc chữa bệnh còn thiếu, cán bộ y tế thôn bản (năm 2009) mới chỉ có ở 25 thôn bản, chiếm 56,8% Do đó, số người được hưởng lợi từ các dịch vụ y tế công là

không nhiều [26,tr.99]

Ngoài ra, giao thông đi lại khó khăn; thương mại - dịch vụ kém phát triển; điện, nước sinh hoạt vùng dân tộc Hmông còn thiếu là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến việc di cư của đồng bào trong thời gian gần đây Kết quả điều tra năm 2006 tại tỉnh Sơn La cho thấy, có 36% số hộ được hỏi khẳng định họ sống ở nơi chưa có đường ô tô, xe máy; 28,4% số

hộ cho biết chưa được sử dụng nước sạch trong sinh hoạt; 44,5% số hộ trả lời chưa có điện thắp sáng; trong số 415 hộ được điều tra, chỉ có 1 hộ có

Trang 30

làm thêm nghề thương mại dịch vụ; 732/3.500 người (chiếm 21%) được nghe đài [26, tr.100]

và phong kiến cố tình phá hoại tình đoàn kết và sự bình đẳng giữa các dân

tộc, gây thù hằn giữa các dân tộc, thi hành chính sách chia để trị " [24, tr.579-597] Đến ngày 07/5/1955, nhân kỷ niệm một năm ngày giải phóng

Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào Khu tự trị Thái – Mèo: "Từ một năm nay, vùng Tây – Bắc ta được hoàn toàn giải phóng, đó là do các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, hăng hái kháng chiến; do bộ đội ta anh dũng đánh giặc; do Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo sáng suốt"

[23, tr 543-544] Cũng theo Hồ Chủ tịch: “Phải đoàn kết các dân tộc anh

em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”[4]

.Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng là thời kỳ Việt Nam đã và đang tiến hành công cuộc “Đổi mới”, ban hành nhiều chính sách nhằm giúp đồng bào dân tộc thiểu số nói chung Riêng đối với đồng bào Hmông, có Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 23/9/1994 của Ban Chấp hành Trung ương về một số công tác ở vùng dân tộc Hmông Theo đó, Chỉ thị đã xác định thực trạng về tình hình đời sống xã hội đồng bào Hmông, yêu cầu tăng cường các hoạt động nhằm tháo gỡ khó khăn về kinh tế - xã hội; tăng cường giáo

Trang 31

dục, tuyên truyền giúp bà con ổn định cuộc sống, nhất là về công tác định canh, định cư, loại dần những tập quán cũ như trồng cây thuốc phiện và các vấn đề về tôn giáo không phù hợp Quyết định số 135/1998-QĐ-TTg ngày

31/7/1998 (còn gọi là Chương trình 135) phê duyệt Chương trình phát triển

kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, trong đó ở Tây Bắc có số lượng lớn các xã đặc biệt khó khăn (xem bảng 1.2) [33]

Bảng số 1.2: Các tỉnh Tây Bắc có các xã đặc biệt khó khăn

Trang 32

Tên tỉnh Tên huyện Số xã Số hộ Số khẩu

Và danh mục các tỉnh có các huyện trọng điểm đặc biệt khó khăn, thì ở Tây Bắc có 2 tỉnh: Yên Bái và Hòa Bình, trong đó Yên Bái có 2 huyện, 24 xã, 6.034 hộ, 44.472 nhân khẩu; Hòa Bình có 2 huyện, 24 xã, 7.721 hộ và 49.599nhân khẩu (xem bảng 1.3) [33]

Bảng 1.3: Các tỉnh Tây Bắc có các huyện trọng điểm đặc biệt khó khăn

STT Tên tỉnh Tên huyện Số xã Số hộ Số nhân khẩu

Trang 33

TTg (còn gọi là Chương trình 134) về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn Trong đó, về nguyên tắc quy định: a) Hỗ trợ đất sản xuất, đất

ở và nhà ở, nước sinh hoạt trực tiếp đến hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; b) Bảo đảm công khai, công bằng đến từng hộ, buôn, làng trên cơ sở pháp luật

và chính sách của Nhà nước; c) Phù hợp với phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, vùng, miền, bảo tồn bản sắc văn hoá của từng dân tộc; phù hợp với điều kiện thực tiễn và gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; d) Các hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nhà ở, nước sinh hoạt phải trực tiếp quản lý và sử dụng để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo Trường hợp đặc biệt, khi hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở có nhu cầu di chuyển đến nơi khác thì phải ưu tiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất và đất ở cho chính quyền địa phương để giao lại cho hộ đồng bào dân tộc nghèo khác Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không theo quy định này, Nhà nước sẽ thu hồi không bồi hoàn để giao cho hộ đồng bào dân tộc chưa có đất hoặc thiếu đất [34] Trong Chương trình này, vấn đề định canh, định cư của đồng bào các dân tộc rất được quan tâm

Ngoài ra, còn nhiều chính sách, chương trình ở tầm vĩ mô cũng như vi

mô, tuy nhiên việc thực hiện chính sách còn gặp nhiều bất cập Tại buổi giải trình trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều ngày 13/3/2015, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Giàng Seo Phử cho biết về công tác xóa đói giảm nghèo theo các chương trình, chính sách của Nhà nước: "Tỷ lệ nghèo chung của cả nước chỉ 8% thì tỷ lệ nghèo ở vùng sâu, vùng cao đã hơn 30% vùng dân tộc là lõi nghèo của quốc gia"; đồng thời, khi trả lời về tình trạng dân di

cư từ nơi này đến nơi khác (trong đó có vấn đề di cư quốc tế), Bộ trưởng cũng

nêu quan điểm: “Nếu nặng về phê phán, bắt rồi xử lý thì đó chỉ là phần ngọn,

Trang 34

chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân họ đi Có thể là nước vùng đấy không dùng được, đất đã hết màu mỡ Vậy nên chăng, khi chúng ta đang thừa gạo, nhà nước hãy cung cấp gạo cho dân rồi yêu cầu họ trồng rừng và bảo vệ biên

giới? Như vậy họ có cái ăn, ổn định cuộc sống, sẽ chống được việc di cư" và

ông trả lời câu hỏi về giải pháp đột phá cho chương trình 135: "Tôi không thể

có giải pháp đột phá gì được vì tăng hay giảm tiền đầu tư là thuộc thẩm quyền Quốc hội"[5]

Công tác xây dựng chính sách và thực thi chính sách về đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Hmông nói riêng đã chưa giảm thiểu, hướng tới triệt tiêu được vấn đề di cư của đồng bào Có thể nói, chính sách

đã phản ánh được tính nhân văn, tầm chiến lược của các cấp, các ngành; tuy nhiên, việc thực thi chính sách còn nhiều bất cập Về chính sách đối với người Hmông, Ngài Andrej Mortyl, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang

Thụy Sĩ tại Hà Nội cho rằng: Nếu chúng ta muốn người Hmông thực sự trở

thành người bạn có trách nhiệm, chúng ta không thể để tình trạng đường

ngoài lề, nhưng rất có giá trị đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách Và bởi vậy, có thể cho rằng yếu tố chính sách cũng là một trong những nguyên nhân trong các hoạt động di cư, trong đó có di cư quốc tế của người Hmông

1.3.3 Các nhân tố từ đời sống văn hoá - xã hội tộc người

Ngoài các nhân tố khách quan về bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình trong nước, việc di cư của người Hmông còn xuất phát từ các yếu tố tự thân như văn hóa tộc người, tôn giáo tín ngưỡng, nhận thức về chủ quyền lãnh thổ quốc

gia còn hạn chế

5 http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-truong-giang-seo-phu-toi-khong-the-co-giai-phap-dot-pha-3157226 html ngày 13/3/2015.

6

Trang 35

a) Nhân tố văn hóa tộc người Một là, phải nói đến tập quán du canh du cư Đây vốn là phương

thức sản xuất kinh tế của nhiều tộc người thiểu số sống ở vùng núi Việt Nam, trong đó có người Hmông Khi rừng còn nhiều, dân cư thưa thớt, tập quán canh tác này vẫn mang lại những hiệu quả nhất định cho đồng bào Nhưng khi rừng ngày càng tỷ lệ ngịch với dân số ngày càng gia tăng, hoạt động canh tác này không còn phù hợp Với đặc thù miền núi cao, thường

có độ dốc lớn, trước sức ép về nhu cầu lương thực, rừng sẽ bị chặt phá nhiều hơn, khả năng giữ đất không còn, đất đai canh tác bị xói mòn dẫn đến bạc màu, khó hoặc không thể tái canh tác Vì cuộc sống mưu sinh, họ lại tiếp tục tìm vùng đất mới có khả năng canh tác theo cách của họ Theo kết quả điều tra tại Sơn La năm 2006 cho thấy, nhiều người Hmông trả lời,

họ di cư là muốn được khai phá vùng đất mới, nơi còn có rừng để canh tác nương rẫy (96/415 người) và một phần là do thói quen thích được săn bắn, hái lượm (93/415 người) [26,tr 101]

Hai là, vấn đề quan hệ gia đình, dòng tộc, tộc người Nhìn chung,

người Hmông rất coi trọng và đề cao vai trò của cộng đồng, đặc biệt là vai trò của gia đình, dòng họ, đồng tộc Trong cuộc sống, quan hệ đồng tộc của người Hmông thể hiện ở cách ứng xử của họ qua câu nói “người Hmông ta” Theo họ, các dòng họ người Hmông được sinh ra từ một ông tổ chung, và

cái lý của họ là những người cùng chung tổ tiên phải có trách nhiệm đùm

bọc, giúp đỡ và cưu mang nhau Đây cũng là lý do mà người Hmông ở Việt Nam, người Hmông ở Lào hay Trung Quốc và thậm chí ở khắp nơi trên thế giới không có sự phân biệt quá rạch ròi Xét về ý thức dân tộc - tộc người

(theo nghĩa ethnic) đối với người Hmông, nhiều lúc còn lấn át vấn đề dân

tộc - quốc gia (theo nghĩa nation) Họ ít quan tâm đến vấn đề biên giới lãnh

thổ quốc gia theo các quy định hay thông lệ quốc tế, họ chỉ phân biệt về vấn

Trang 36

đề cùng dòng họ (cùng ma) như họ Sùng với họ Giàng hay họ Thào Và vì vậy, trong quan hệ thân tộc, nếu đã cùng một dòng họ, người Hmông ý thức

là phải đùm bọc, giúp đỡ nhau; sẵn sàng bao che cho nhau, thậm chí là những hành vi vi phạm pháp luật Trong mỗi dòng họ, lại có những tập quán, nghi thức thờ cúng khác nhau Do đó, người Hmông luôn mong muốn được sống quần tụ với những người cùng dòng họ, không thích sống cùng những người khác dòng họ Đặc biệt, họ không thích sống với tộc người khác trong cùng một bản Thể hiện trong di cư, người Hmông thường di

chuyển đến nơi có người cùng họ (nội tộc) hoặc ít nhất là những người đồng tộc (cùng là người Hmông), kể cả việc di cư này phải vượt qua biên giới

quốc gia Có thể dễ dàng nhận thấy phần lớn người Hmông ở hai bên biên

giới Việt – Lào đều có quan hệ thân tộc và quan hệ tộc người khá chặt chẽ Trong nhiều thập kỷ qua, tại vùng biên giới này đã luôn diễn ra hai luồng di

cư đan xen phức tạp liên quan tới các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An và các tỉnh Hủa Phăn, Luông Pha Bang, Phông Sa Lỳ, Xiêng Khoảng và Bourikhamxay của Lào Như một hệ quả tất yếu, việc di chuyển của những người Hmông trong những vùng đất này đã tạo ra sự liên quan mật thiết hơn trong dòng họ, tộc người qua quan hệ hôn phối, từ đây lại

sinh ra những thế hệ kế tiếp có quan hệ gắn kết hơn và lại là cái lý để người

Hmông di cư Có thể nói rằng, một trong những nguyên nhân di cư của họ là

để đoàn tụ gia đình, dòng tộc

Kết quả điều tra của tỉnh Sơn La năm 2006 cho thấy, có 24,4% người Hmông di cư là để đoàn tụ gia đình [26, tr 104] Người Hmông di cư cũng không có cơ sở, trước mỗi đợt di cư, họ thường có người đi để tìm hiểu, sau khi chuẩn bị các điều kiện cần thiết như đất đai, nương rẫy, giống cây trồng, vật nuôi và những yếu tố liên quan đến họ, tộc như có người Hmông đã ở hay chưa

Trang 37

Mâu thuẫn gia đình, dòng họ, cộng đồng tộc người cũng là nguyên nhân người Hmông di cư Họ thường kiên quyết tìm mọi cách để giải quyết những mâu thuẫn hay thù hằn dân tộc, thậm chí bản thân không giải quyết được, họ sẽ truyền lại cho con cháu đời sau tiếp tục giải quyết Bởi vậy, mâu thuẫn trong các dòng họ, tộc người của người Hmông thường rất khó giải quyết dứt điểm, thậm chí không thể giải quyết Trong những trường hợp như

vậy, thường thì họ tìm đến cách giải quyết rất tiêu cực, đó là ăn lá ngón để

tìm đến cái chết hoặc phản ứng bằng cách di chuyển đến một nơi khác để sinh sống và không bao giờ quay về quê cũ Trong thực tế, có một số gia đình, thậm chí cả nhánh họ phải di cư vì mâu thuẫn không thể giải quyết như trường hợp 54 nhân khẩu thuộc 12 hộ người Hmông ở xã Thèng Phàng, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang di cư vào huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa năm 1996 do tranh chấp đất đai nhưng giải quyết không kịp thời

Ba là, phong tục, tập quán của người Hmông còn lưu giữ khá nhiều

nghi lễ rườm rà, phức tạp, nặng về lễ tục, nhất là trong tang ma, cưới hỏi đã ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của người dân vốn nhiều khó khăn Nhiều người trẻ có tư tưởng thoát khỏi sự chi phối của những quy định khắt khe

(không còn phù hợp với đời sống xã hội hiện nay), nên họ tìm cách di cư đi

nơi khác Trong số những người Hmông di cư tự do, số đông thuộc lớp người trong độ tuổi lao động hoặc chưa đến tuổi lao động Theo kết quả khảo sát ở huyện Mường Lát (Thanh Hóa) và Kỳ Sơn (Nghệ An), có đến 58,8% số người Hmông di cư trong độ tuổi lao động, 40,4% số người di cư chưa đến tuổi lao động, chỉ khoảng 1,3% số người hết tuổi lao động [26, tr 105]

Cũng theo tập quán người Hmông, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình,

Trang 38

của phụ nữ Trong quan hệ xã hội, người phụ nữ thường khép kín, ít được giao lưu, nhất là với người khác tộc Theo kết quả khảo sát 60 cặp vợ chồng người Hmông ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) di cư sang Lào trở về cho thấy, việc di cư của người Hmông chủ yếu do người chồng quyết định; có tới 54/60 người vợ (10%) trả lời khi sang Lào rồi còn không biết chồng mình đưa đi đâu [26, tr 107]

b) Đạo Tin Lành và vấn đề di cư của người Hmông

Tìm hiểu nhân tố tác động đến di cư của người Hmông không thể không nói đến vấn để cải đạo và hoạt động truyền đạo Tin Lành trong hơn hai thập kỷ qua ở các tỉnh Tây Bắc

Trong đời sống tinh thần của người Hmông, có rất nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhưng chủ yếu là tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh vốn tồn tại phổ biến ở hầu hết các tộc người thiểu số sống ở miền núi Việt Nam Tín ngưỡng truyền thống của người Hmông tuy đơn giản về niềm tin, nhưng có nhiều nghi lễ rườm rà, phức tạp, thậm chí có những nghi lễ trên thực tế không còn phù hợp với xã hội mới và thậm chí gây tốn kém về kinh tế Trong bối cảnh đó, đạo Tin Lành với nghi lễ đơn giản, sẵn sàng đổi mới, được cho thích nghi với mọi nền văn hóa đã xâm nhập vào vùng dân tộc thiểu số Việt Nam và một bộ phận người Hmông đã tin và theo đạo Tin Lành với hy vọng tôn giáo này sẽ mang đến cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn, giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc của những phong tục, tập quán truyền thống

Trong những năm gần đây, người Hmông di cư còn do một số người truyền đạo trong các tổ chức Tin Lành tuyên truyền, lôi kéo Việc phát triển tôn giáo trái pháp luật được bắt đầu từ năm 1986 ở vùng người Hmông huyện Sông Mã (tỉnh Sơn La); năm 1987, phát triển ở huyện Điện

Trang 39

Biên (tỉnh Điện Biên) Năm 2002, Ban Trị sự Tổng hội thánh Tin Lành đã chính thức công nhận 255 Hội thánh với 40.000 người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La Hoạt động phục hồi phát triển đạo trái pháp luật đã làm tăng thêm tính chất phức tạp của vấn đề di, dịch cư tự do Qua khảo sát cho thấy, phần lớn đồng bào di, dịch cư là do tác động trực tiếp của đối tượng cốt cán truyền đạo với luận điệu cho rằng di cư vào Tây Nguyên vì ở đó đạo Tin Lành phát triển khắp các buôn làng, nơi nào cũng

có nhà thờ và tín đồ đa phần cũng là người dân tộc thiểu số, đất đai lại có nhiều và màu mỡ, thuận lợi cho việc làm ăn sinh sống, nếu di cư vào Tây Nguyên sẽ được tự do theo đạo và có nhiều đất tốt để sản xuất

1.3 Tiểu kết chương 1

Kết quả nghiên cứu ở chương 1 nhằm trả lời cho những câu hỏi: Thế

nào là di cư quốc tế? người Hmông là ai, họ từ đâu đến? quá trình di cư của

người Hmông trong lịch sử cũng như các nhân tố tác động đến di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu, có thể khẳng định:

- Về khái niệm, “di cư quốc tế là sự di chuyển của những người rời nước

gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể

cả tạm thời hoặc lâu dài Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc gia”

- Về lịch sử tộc người, người Hmông là hậu duệ của những người thuộc liên minh bộ tộc Cửu Lê Trải qua những diễn biến lịch sử, họ mang những tên gọi khác nhau: Tam Miêu, Vũ Lăng Man, Miêu – Dao…

- Về quá trình di cư quốc tế của người Hmông, với tinh thần thượng võ,

người Hmông không chịu khuất phục trước những tiểu quốc phương Bắc, tuy nhiên, các cuộc đấu tranh của họ đều thất bại Để tồn tại và phát triển, họ đã tiếp tục di chuyển đến những vùng đất mới Các cuộc di cư ban đầu chủ yếu theo chiều Bắc – Nam; và các tỉnh cực Nam của Trung Quốc là điểm chuyển

Trang 40

tiếp cuối cùng của người Hmông từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Mianmar Ở thời kỳ này, hoạt động di cư của người Hmông đã thực sự là những cuộc di cư xuyên biên giới, liên quan tới

nhiều quốc gia hay còn được gọi là di cư quốc tế

- Về những yếu tố tác động đến di cư quốc tế của người Hmông, ngoài

các tác động trên bình diện quốc tế và khu vực, trong đó, phải kể đến bối cảnh kết thúc Chiến tranh Lạnh, thế giới chuyển từ quan hệ hai cực sang đa cực, đây là các nhân tố khách quan; thì yếu tố tự thân cũng là một trong những nguyên nhân chính tác động đến việc di cư và di cư quốc tế của tộc người

này, trong đó chủ yếu là kinh tế, phong tục, tập quán và quan hệ gia đình,

dòng tộc [7]

7

Ngày đăng: 27/06/2023, 10:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w