ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MẪN TUYẾT (MIN XUE) TÌM HIỂU QUAN HỆ GIỮA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VÙNG BIÊN GIỚI TRUNG VIỆT QUA QUÁ TRÌNH GIAO LƢU VĂN HÓA (KHU VỰC VÂ[.]
Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia đa dân tộc, nơi các dân tộc anh em cùng chung sống, đặc biệt là ở các vùng núi cao Vùng biên giới Việt – Trung có sự hiện diện của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó nhiều dân tộc có nguồn gốc chung Các dân tộc không chỉ giao lưu với nhau trong nước mà còn kết nối với bà con cùng dân tộc ở quốc gia láng giềng Mối quan hệ giữa dân tộc và bản sắc văn hóa là rất chặt chẽ; mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, và quá trình giao thoa văn hóa đã tạo ra sự phong phú, đa dạng mà không làm mất đi bản sắc độc đáo của từng dân tộc.
Các dân tộc xuyên biên giới thường sinh sống tại vùng núi cao, đóng vai trò chiến lược quan trọng cho quốc gia Quan hệ giữa các dân tộc này có nhiều giai đoạn ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều nước Dù trải qua lịch sử, quan hệ của các dân tộc ít người ở biên giới Trung-Việt vẫn duy trì hòa bình và hữu nghị, mặc dù có những thời kỳ chính phủ không bình thường và bất đồng Đồng bào dân tộc xuyên biên giới Trung-Việt có tình cảm gắn bó, nhưng mối quan hệ và phương thức giao lưu giữa họ chịu ảnh hưởng bởi trình độ phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa của hai nước.
Người biên giới là những người yêu biên giới nhất, vì vậy cả hai nước hiện nay đều chú trọng phát triển kinh tế vùng biên Mục tiêu là tạo dựng cuộc sống ấm no, hài hòa cho bà con dân tộc thiểu số tại khu vực này Việc tìm hiểu quan hệ giữa các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới Trung-Việt, đặc biệt là khu vực Vân, là rất quan trọng.
Luận văn nghiên cứu quá trình giao lưu văn hóa giữa Nam, Lào Cai và Hà Giang nhằm tìm ra những yếu tố văn hóa tương đồng và khác biệt của các dân tộc ở hai nước Tác phẩm tập trung vào các yếu tố tinh thần góp phần vào việc xây dựng xã hội thịnh vượng tại Trung Quốc và chương trình 135 ở Việt Nam Mục tiêu chung là phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho các dân tộc vùng biên giới, đồng thời duy trì và phát triển quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam trong tương lai.
Chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới Trung-Việt, đặc biệt qua quá trình giao lưu văn hóa tại khu vực Vân Nam và Lào Cai.
Hà Giang) làm đề tài của luận văn
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích sự đa dạng dân tộc trên toàn cầu, nơi mà mỗi quốc gia thường được hình thành từ nhiều dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng, dẫn đến việc tồn tại các vấn đề dân tộc trong nhiều quốc gia Đặc biệt, những dân tộc có nguồn gốc chung nhưng sống ở biên giới giữa các quốc gia đã tạo ra hiện tượng vấn đề dân tộc xuyên biên giới, điều này đang thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều từ các quốc gia trong những năm gần đây.
Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia đa dân tộc với mối quan hệ chặt chẽ từ lâu đời Trung Quốc giáp với Việt Nam qua hai tỉnh Quang Tây và Vân Nam, với tổng chiều dài biên giới lục địa khoảng 1.400 km.
Việt Nam có 26 dân tộc sinh sống ở vùng biên giới, tất cả đều có nguồn gốc chung, tạo thành các dân tộc xuyên biên giới Đồng bào các dân tộc không chỉ giao lưu với nhau trong nước mà còn kết nối với bà con cùng dân tộc ở các quốc gia láng giềng Các làng bản ở khu vực biên giới thường chỉ cách nhau vài cây số, với những làng mang cùng tên, một phần ở Trung Quốc và một phần ở Việt Nam Trong các dịp lễ, đám cưới hay đám ma, người dân hai bên thường xuyên thăm hỏi và hỗ trợ lẫn nhau.
Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam tôn trọng phong tục tập quán và phương thức đi lại của các dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới, đồng thời chú trọng đến an ninh quốc gia và phát triển vùng biên Nghiên cứu mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số ở Vân Nam, Lào Cai, và Hà Giang nhằm khám phá các yếu tố văn hóa tương đồng và khác biệt, dựa trên các hoạt động giao lưu văn hóa tại khu vực biên giới.
Luận văn này tổng hợp và phân tích tư liệu về quan hệ dân tộc xuyên biên giới giữa tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và các tỉnh Hà Giang, Lào Cai của Việt Nam Nó đưa ra nhận định về ý nghĩa hợp tác và khả năng khai thác tài nguyên du lịch ở vùng biên, trong khuôn khổ hợp tác "Hai hành lang một vành đai kinh tế" Bên cạnh đó, luận văn cũng dự đoán các xu hướng mối quan hệ giữa các dân tộc ở khu vực biên giới Trung-Việt, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Năm 1979, Trung Quốc đã tổ chức hội nghị quy hoạch công việc nghiên cứu dân tộc toàn quốc tại Côn Minh, Vân Nam, đánh dấu sự chính thức đưa nghiên cứu dân tộc vào quy hoạch nhà nước Sau hội nghị này, nghiên cứu dân tộc xuyên quốc gia của Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới Năm 1982, Giáo sư Phạm Hồng Quý đã giới thiệu khái niệm "Dân tộc xuyên biên giới" trong bài viết về mối quan hệ giữa dân tộc Nùng, Tày Việt Nam và dân tộc Choang Trung Quốc, đồng thời tiếp tục nghiên cứu về dân tộc xuyên biên cảnh giữa hai nước Trung-Việt.
Trong luận văn "Nghiên cứu dân tộc xuyên biên giới" (học báo học viện dân tộc Trung Nam, 1994), tác giả Hồ Khởi Vọng đã trình bày và giải thích khái niệm dân tộc xuyên biên giới một cách rõ ràng Bên cạnh đó, các tác phẩm nghiên cứu khác như "Nghiên cứu dân tộc xuyên biên giới của miền Nam Trung Quốc" của Vĩnh Hưng (học báo học viện dân tộc Quảng Đông, 1988) và "Dân tộc Hà Nhì xuyên biên giới" của Thi Vĩnh Hoa (học báo đại học sư phạm Vân Nam, 1993) cũng đóng góp vào lĩnh vực này Ngoài ra, Hồ Khởi Vọng tiếp tục nghiên cứu với tác phẩm "Nghiên cứu dân tộc xuyên biên giới" (học báo học viện dân tộc Trung Nam, 1994) và Hoàng Huệ Côn với "Nghiên cứu dân tộc xuyên biên giới" (Học báo đại học dân tộc Vân Nam, 1997) cũng đã làm phong phú thêm tài liệu về chủ đề này.
Các nghiên cứu về dân tộc xuyên biên giới ở Đông Nam Á và Tây Nam Trung Quốc đã được thực hiện bởi nhiều tác giả, bao gồm Vu và Thân Húc với tác phẩm "Dân tộc xuyên biên giới Đông Nam Á và Tây Nam Trung Quốc" (1988), Triệu Kế Quang với "Nghiên cứu vấn đề dân tộc xuyên biên giới Trung Quốc", và La Bỉnh Sâm trong "Nghiên cứu vấn đề an ninh quốc gia và dân tộc xuyên biên giới Vân Nam" (2002) Ngoài ra, Chu Kiến Tân đã nghiên cứu "Quan hệ dân tộc xuyên biên giới Trung-Việt, Trung-Lào" (2002), trong khi Quách Gia Kí tập trung vào "Điều tra quan hệ dân tộc thiểu số Vân Nam" (2010) Phạm Quý Hồng cũng đã đóng góp với bài viết "Nguồn gốc dân tộc biên giới Trung-Việt" trên báo Dân tộc Trung Quốc.
Nghiên cứu về vấn đề buôn bán biên giới tại Việt Nam đã được thực hiện qua nhiều công trình, bao gồm "Con đường buôn bán biên giới với sự hình thành, phát triển các đô thị vùng biên Lào Cai-Vân Nam và sự tác động đến không gian văn hóa, không gian dân số học tộc người" của TS Trần Hữu Sơn (Nghiên cứu Trung Quốc số 10, 2009) Ngoài ra, GS.TS Đỗ Quang Hưng từ Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN cũng đã nghiên cứu về "Tôn giáo tín ngưỡng trong các dân tộc thiểu số dọc biên giới Việt-Trung" Thêm vào đó, công trình "Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)" của Viện Dân Tộc Học, NXB Khoa Học Xã Hội (tái bản năm 2014) cũng đóng góp vào việc hiểu biết về các dân tộc thiểu số tại khu vực này.
Các dân tộc ở Hà Giang được nghiên cứu trong tác phẩm của Lê Duy Đại và Triệu Đức Thanh, xuất bản bởi NXB Thế Giới Bên cạnh đó, TS Nguyễn Văn Căn đã phân tích quan hệ văn hóa Việt – Trung trong giai đoạn 1993-2010 qua bài viết trên tạp chí Mặt trận số 84 tháng 10 năm 2010 Ngoài ra, TS Đinh Văn Ngữ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giao lưu văn hóa giữa các dân tộc vùng biên, góp phần tăng cường đoàn kết và hỗ trợ nhau trong phát triển.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này áp dụng phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm nhằm nghiên cứu và đánh giá các thành quả thực tiễn trong quá khứ, từ đó rút ra những kết luận có giá trị cho thực tiễn và khoa học.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết giúp nghiên cứu sâu sắc quan hệ dân tộc ở vùng biên Trung-Việt Bằng cách phân tích các tài liệu và lý luận khác nhau thành từng bộ phận, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về mối quan hệ này Việc tổng hợp và liên kết thông tin đã phân tích tạo ra một hệ thống đầy đủ và sâu sắc về quan hệ dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới.
Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết giúp sắp xếp tài liệu khoa học theo từng lĩnh vực và vấn đề có chung đặc điểm, từ đó tạo ra một hệ thống dựa trên mô hình lý thuyết Điều này làm tăng cường sự hiểu biết về quan hệ dân tộc thiểu số ở vùng biên giới Trung-Việt Bên cạnh đó, phương pháp giả thuyết cung cấp các dự đoán về xu thế quan hệ dân tộc thiểu số trong khu vực này.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được chia làm 3 chương
Khái quát về các tộc người ở vùng biên giới Trung-Việt thuộc địa bàn các tỉnh Lào Cai, Hà Giang và Vân Nam
Quan hệ dân tộc và văn hóa truyền thống trong quan hệ dân tộc Chương 3:
Vài nét về các xu hướng trong quan hệ dân tộc
KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VÙNG BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT THUỘC ĐỊA BÀN CÁC TỈNH VÂN NAM, LÀO CAI VÀ HÀ GIANG
Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam
1.1.1 Tình hình chung Vân Nam
Vân Nam là một tỉnh miền núi biên cương của Trung Quốc, với tổng diện tích khoảng 390 nghìn km², chiếm 4.11% diện tích toàn quốc Tỉnh có khí hậu đa dạng với 7 đới khí hậu khác nhau, bao gồm nhiệt đới Bắc, nhiệt đới Nam Á, nhiệt đới Trung Á, ôn đới nóng, ôn đới ấm và khí hậu cao nguyên Vân Nam là nơi sinh sống của 26 dân tộc ít người, với dân số từ 5 nghìn người trở lên, là tỉnh có nhiều dân tộc ít người nhất tại Trung Quốc Nằm ở cực Tây Nam, Vân Nam giáp với khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và tỉnh Quý Châu ở phía Đông, tỉnh Tứ Xuyên ở phía Bắc, và khu tự trị Tây Tạng ở phía Tây Bắc, đồng thời còn tiếp giáp với ba nước Đông Nam Á.
Myanmar, Lào và Việt Nam có đường biên giới dài 4.061 km Vùng núi chiếm 94% diện tích tỉnh, trong khi thung lũng sông và đồng bằng chỉ chiếm 6% Trong suốt lịch sử phát triển, các dân tộc tỉnh Vân Nam đã tạo ra một nền văn hóa phong phú và đa dạng, hình thành mối quan hệ dân tộc hài hòa không chỉ với các dân tộc Trung Quốc mà còn mang đậm bản sắc riêng của Vân Nam.
Vân Nam, nằm ở vùng biên phía Tây Nam Trung Quốc, là nơi có nhiều dòng sông lớn như Ayeyarwaddy, Nộ, Hồng, và Đà, chảy qua các nước ở bán đảo Trung Nam Đặc điểm địa lý này khiến Vân Nam trở thành điểm giao lưu quan trọng với các nước Đông Nam Á Thời kỳ cổ xưa, tổ tiên các dân tộc Vân Nam đã mở nhiều thông đạo đối ngoại, biến Vân Nam thành trung tâm giao lưu văn hóa và kinh tế.
1.1.2 Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam
Tỉnh Vân Nam, với lịch sử hòa hợp và di cư giữa các dân tộc, hiện có 26 dân tộc anh em sinh sống Dân số tại đây thường tập trung thành các khu vực lớn hoặc nhỏ, trong đó tộc Hán chủ yếu cư trú ở các thành phố, đồng bằng và vùng núi thoai thoải Dân tộc Di là nhóm thiểu số đông nhất và phân bố rộng rãi nhất tại Vân Nam, với sự hiện diện ở hầu hết các huyện Các khu vực như châu Sở Hùng, châu Hồng Hà, núi Ai Lao và vùng núi Ô Mông, Tiểu Lạng Sơn là nơi có đông dân tộc Di sinh sống.
1 郭嘉骥, 云南民族关系骥骥研究, 中国社会科学出版社, 104 骥
Tộc Bạch chủ yếu cư trú tại các huyện xung quanh Nhĩ Hải châu Đại Lý, trong khi dân tộc Hà Nhì sống ở vùng núi giữa sông Hồng Hà và sông Lan Thương Tộc Thái tập trung tại các khu vực giáp Mian-mar như Tây Song Bản Nạp và huyện Canh Mã Dân tộc Choang chủ yếu ở châu Văn Sơn, còn dân tộc Miêu phân bố tại hai châu tự trị chân Văn Sơn và châu Hồng Hà Dân tộc Lật Túc sống ở châu Nộ Giang và châu Đich Khánh, trong khi tộc Hồi có mặt rộng rãi tại 129 huyện của tỉnh Vân Nam Dân tộc La Hù tập trung ở hai thành phố Phổ Nhĩ và Lâm Thương, còn dân tộc Ngõa chủ yếu sống ở các huyện Tây Mông và Thương Nguyên Dân tộc Nạp Tây sinh sống tại huyện Ngọc Long và các huyện lân cận, trong khi dân tộc Dao phân bố ở phía Đông Nam Vân Nam Dân tộc Cảnh Pha chủ yếu cư trú tại vùng biên giữa phía Tây Vân Nam và Mian-mar, và dân tộc Tạng tập trung tại châu Đich Khánh Cuối cùng, dân tộc Bố Lãng và Bố Y sống tại các huyện như Mạnh Hải và La Bình.
Mễ chủ yếu sống ở vùng núi cao quanh năm giá rét của các huyện phía Tây Bắc Vân Nam như Lan Bình và Ninh Lang Dân tộc Nộ tập trung tại các huyện Lư Thủy, Phúc Cống, Cống Sơn và làng Thố Nga Dân tộc A Xương và Đức Ngang cư trú tại các huyện của châu Đức Hồng như Long Xuyên và Lương Hà, cũng như một phần nhỏ tại thành phố Bảo Sơn và Lâm Thương Dân tộc Cơ Nặc chủ yếu sống ở miền núi Cơ Nặc của thành phố Cảnh Hồng Dân tộc Mông Cổ cư trú tại huyện Mã Quan và huyện Thông Hải, trong khi dân tộc Thủy sống ở huyện Phú Nguyên và trấn Hoàng Nê Hà Dân tộc Mãn phân bố rải rác tại thành phố Côn Minh, Đại Lý và Khúc Tịnh Dân tộc Độc Long tụ cư dọc bờ sông Độc Long ở huyện Cống Sơn Ngoài các dân tộc chính, Vân Nam còn có nhiều nhóm dân tộc ít người khác như Cơ Lao, Thổ, Thổ Gia và Đồng, nhưng dân số của họ không vượt quá 5000 người Một số tộc người chưa được xác định như người Khơ-mú và người Mảng cũng tồn tại tại Trung Quốc.
Theo tình hình thực tế cho thấy, sự phấn bố chính của các dân tộc thiểu số Vân Nam có hai đặc trưng rõ rệt:
Vùng biên cương của Vân Nam, với địa hình bằng phẳng, là khu vực phân bố chính của 8 châu tự trị, chiếm 50,98% diện tích tỉnh Năm 2006, dân số tại đây chiếm 39,8%, trong đó 59,51% là dân tộc thiểu số Các dân tộc thiểu số sống tại 25 huyện, thị trấn giáp ranh với nước ngoài chiếm 14,32% tổng dân số tỉnh, nhưng lại chiếm 60,44% dân số vùng biên giới và 25,56% tổng dân số các dân tộc thiểu số Đặc biệt, phần lớn dân tộc thiểu số Vân Nam cư trú tại các huyện thuộc biên giới Trung Quốc với Mianmar, Lào, và Việt Nam, với 16 dân tộc có nguồn gốc chung, duy trì mối quan hệ văn hóa, kinh tế và thân tộc lâu dài.
Vùng núi Vân Nam được chia thành ba khu vực chính: vùng gò đồi, vùng núi thấp và vùng núi cao Tại vùng gò đồi, có khoảng 4,5 triệu người thuộc 10 dân tộc như Hồi, Mản, Bạch, Nạp Tây, Mông Cổ, Choang, Thái, A Xương, Bố Y, Thủy Vùng núi thấp là nơi sinh sống của khoảng 6 triệu người thuộc các dân tộc như Hà Nhi, Dao, La Hù, Ngõa, Bố Lãng, Đức Ngang, Cờ Nặc và một số tộc Di Cuối cùng, vùng núi cao chủ yếu cư trú của 6 dân tộc, bao gồm Miêu, Lật Túc, Tạng, Phổ Mễ, Nộ, Độc Long, với dân số khoảng 4,5 triệu người.
1-1 Dân số của các dân tộc tỉnh Vân Nam(điều tra năm 2013) Đơn vị:10 nghìn ;%
Dân tộc Dân số Tỷ lệ Dân tộc Dân số Tỷ lệ
(số liệu nguồn gốc: niên giám thống kê tỉnh Vân Nam năm 2014)
2 郭嘉骥, 云南民族关系骥骥研究, 中国社会科学出版社〃126 骥
1.1.3 Kinh tế Vân Nam hiện nay
* Vài nét về kinh tế vùng biên
Vân Nam là một tỉnh trong chương trình "Đại khai phát miền Tây" của Trung Quốc, nhằm hỗ trợ các tỉnh kém phát triển Tỉnh này có tỷ lệ dân số nghèo cao hơn so với các tỉnh khác, với khoảng 7 triệu người sống dưới mức nghèo khổ vào năm 1994, thu nhập bình quân hàng năm chỉ đạt dưới 300 nhân dân tệ mỗi người.
Trong tỉnh, người dân chủ yếu sống nhờ vào hỗ trợ tài chính từ chính quyền trung ương, được phân bổ tại 73 huyện Nhờ vào khoản trợ cấp 3,15 tỷ nhân dân tệ (NDT) vào năm 2002, số lượng dân số nông thôn nghèo đã giảm từ 4,05 triệu vào năm 2000 xuống còn 2,86 triệu.
Theo báo cáo phát triển kinh tế năm 2014 của cục thống kê tỉnh Vân Nam, tỉnh này đã kiên trì duy trì sự ổn định để phát triển, tập trung vào quy hoạch các công việc như tăng cường ổn định, điều chỉnh kết cấu, thúc đẩy cải cách và tạo lợi ích cho dân sinh Mặc dù kinh tế Trung Quốc đối mặt với nhiều thách thức trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Vân Nam vẫn giữ được sự ổn định tổng thể.
Theo thống kê sơ bộ, GDP của tỉnh Vân Nam năm 2014 đạt 1281,459 tỷ NDT, tăng 8,1% so với năm trước, xếp thứ 23 toàn quốc Ngành sản nghiệp thứ nhất tăng 199,117 tỷ NDT (6,2%), ngành sản nghiệp thứ hai tăng 528,182 tỷ NDT (9,1%), trong đó giá trị ngành công nghiệp tăng 389,897 tỷ NDT (7,2%) và ngành kiến trúc tăng 138,966 tỷ NDT Ngành sản nghiệp thứ ba cũng ghi nhận mức tăng 554,16 tỷ NDT (7,4%) GDP bình quân đầu người đạt 27.264 NDT, tăng 2.181 NDT so với năm trước, tương ứng với mức tăng 7,5%.
Ngành nông nghiệp đã có sự phát triển ổn định, với tổng giá trị sản xuất của nông, lâm, thủy sản và chăn nuôi đạt 326,1 tỷ đồng, tăng trưởng 6,1% so với năm trước.
Năm 2013, ngành công nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì hoạt động ổn định Theo thống kê sơ bộ, công nghiệp quy mô cấp tỉnh trở lên của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực.
Vân Nam giá trị thực hiện tăng 354,541 tỷ NDT, tăng 7,3%
*Sự phát triển kinh tế hiện nay của vùng biên Vân Nam
Kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đặc biệt là từ thời kỳ cải cách mở cửa đến nay, khu vực dân tộc vùng biên Vân Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế to lớn.
Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai và tỉnh Hà Giang
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng núi và cao nguyên Các dân tộc ít người đông nhất tập trung tại vùng núi phía Bắc, bao gồm Dao, Mông, Thái, Mường, Tày, với Lào Cai và Hà Giang là hai tỉnh có sự đa dạng dân tộc lớn Tại Lào Cai, có 27 nhóm dân tộc sinh sống, trong đó có Hmông, Tày, Dao, Thái, cùng với 11 dân tộc có số dân ít dưới 70 người như Sán Chay, Sán Dìu, Khơ Me Hà Giang cũng có 22 tộc người cư trú, bao gồm Hmông, Dao, Pà Thẻn, Tày, Nùng, và Giáy.
Cờ Lao, Phu Péo, Lô Lô, Phù Lá và dân tộc Kinh cùng chung sống, tạo nên một bức tranh văn hóa độc đáo cho Lào Cai và Hà Giang Sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc đã hình thành nên nét đặc trưng riêng, góp phần làm phong phú thêm đời sống cộng đồng.
1.2.1 Các dân tộc ở Lào Cai
+ Tình hình chung Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, có chiều dài đường biên 203 km Tỉnh nằm ở vị trí "đệm" giữa khu vực Việt Bắc và Tây Bắc Theo niên giám thống kê năm 2009, Lào Cai có dân số 615.620 người, chiếm 5,5% dân số vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và 0,7% dân số cả nước Tốc độ tăng trưởng dân số giai đoạn 2005-2009 đạt 1,41%/năm, giảm so với 1,83%/năm trong giai đoạn 2000-2005 Hành chính tỉnh Lào Cai bao gồm 1 thành phố Lào Cai và 8 huyện: Sa Pa, Bát Xát, Bảo Yên, Bảo Thắng, Si Ma Cai, Văn Bàn, Mường Khương, Bắc Hà, với tổng cộng 164 xã và thị trấn.
+ Dân số và sự phân bố
Mật độ dân số bình quân của tỉnh Lào Cai là 96 người/km², tương đương 83% mật độ trung bình của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và 37% so với mức trung bình toàn quốc Tỉnh Lào Cai có 25 nhóm ngành dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 64,09% tổng dân số Cụ thể, dân tộc Kinh chiếm 35,9%, dân tộc Mông 22,21%, dân tộc Tày 15,84%, dân tộc Dao 14,05%, dân tộc Giáy 4,7%, dân tộc Nùng 4,4%, và còn lại là các dân tộc đặc biệt ít người như Phù Lá, Sán Chay, Hà Nhì, La Chí, v.v.
Huyện Sapa, nằm ở phía Tây tỉnh Lào Cai, có diện tích 683,29 km² và bao gồm một thị trấn cùng 17 xã Đây là nơi sinh sống của 6 dân tộc, với tỷ lệ dân số cụ thể như sau: Dao 23,04%, Kinh 17,91%, Tày 4,74%, Dáy 1,36%, Phó 1,06%, và tộc Hoa cùng các dân tộc khác chiếm 0,23%.
Huyện Bắc Hà có diện tích 686,78 km² và là nơi sinh sống của 14 dân tộc anh em, trong đó dân tộc H'Mông chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 47% dân số toàn huyện Ngoài H'Mông, các dân tộc khác bao gồm Dao, Tày, Nùng, Kinh, Dao tuyển (Mán đen), Phù Lá, Hoa, và nhiều dân tộc khác.
Huyện Bát Xát, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Lào Cai, có diện tích tự nhiên 1.061,89 km², trong đó hơn 70% là đồi núi Cư dân tại huyện chủ yếu là người dân tộc thiểu số, tạo nên sự đa dạng văn hóa đặc sắc của vùng cao biên giới này.
7 tộc người chung sống là Mông, Dao đỏ và Dao tuyển, Giáy, Hà Nhì, Hán, Tày và Kinh, dân tộc thiểu số chiếm 82%
Huyện Si Ma Cai, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lào Cai, giáp với huyện Mã Quan thuộc Châu tự trị dân tộc Choang - Miêu Văn Sơn, Vân Nam, Trung Quốc, là nơi sinh sống của 11 dân tộc trong 97 thôn bản Trong đó, người H’Mông chiếm tỷ lệ cao nhất với 82,52%, tiếp theo là người Nùng với 12,25%, người La Chí 0,75%, người Thu Lao (thuộc dân tộc Tày) 3,98%, người Phù Lá 0,09% và người Kinh 0,28%.
Huyện Bảo Yên, tọa lạc ở phía Đông Nam tỉnh Lào Cai, có diện tích 820 km² và dân số trên 80.000 người (năm 2013) Cộng đồng dân cư tại đây đa dạng với 15 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 32,56%, dân tộc Tày chiếm 31,93%, và dân tộc Dao cũng có sự hiện diện đáng kể.
22,16 % - Dân tộc Mông chiếm 8,61 % - Dân tộc Nùng chiếm 1,96 - Dân tộc Phù Lá 1,1 % - Dân tộc Giáy chiếm 1,09 % - Các dân tộc khác chiếm 0,69 %
Huyện Bảo Thắng, nằm ở phía Bắc giáp huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với 7km đường biên, có diện tích 691,55 km² và dân số 100.577 người, là huyện đông dân nhất tỉnh Lào Cai Tại đây, có 13 cộng đồng dân tộc sinh sống xen kẽ, trong đó các dân tộc Kinh, Dao và Tày là đông đảo nhất.
Huyện Văn Bàn Nằm là huyện vùng cao, có diện tích lớn thứ 2 trong tỉnh, gồm
12 dân tộc: Kinh, Tày, Mông, Dao, Giáy, Thái, Nùng, Mường, Hoa, Phù Lá, Sán Chay,
Hà Nhì là một trong những dân tộc tại tỉnh Lào Cai, trong đó dân tộc Tày chiếm hơn 50% Văn Bàn là nơi duy nhất có dân tộc Mông Xanh, một nhánh của dân tộc H’Mông Huyện Mường Khương giáp với huyện Mã Quan và Hà Khẩu tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), với đường biên giới dài 86,5 km, trong đó có 55 km đất liền và hai cửa khẩu quốc gia Sín Tẻn và Pha Long Dân số huyện Mường Khương trên 50 nghìn người, bao gồm 14 dân tộc khác nhau Theo điều tra tháng 4 năm 2009, dân số toàn huyện là 52.030 người, trong đó dân tộc H'Mông chiếm 41,78%, Nùng 26,8%, Dao 5,75%, Giáy 3,74%, Bố Y 2,59%, và Kinh (Việt) 11,98% Ngoài ra, còn có một số dân tộc ít người như Phù Lá, Mường, Lô Lô chiếm 6,8%.
1.2.2 Các dân tộc ở Hà Giang + Tình hình chung Hà Giang
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc Việt Nam, có vị trí chiến lược quan trọng Tỉnh này giáp với Trung Quốc ở phía Bắc và Tây, với đường biên giới dài 274 km, và tiếp giáp với các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai và Yên Bái Hà Giang có diện tích tự nhiên 7.884,37 km², bao gồm 1 thành phố, 10 huyện, 5 phường, 13 thị trấn và 177 xã Thành phố Hà Giang có 5 phường và 3 xã.
Mê 1 thị trấn và 12 xã, Huyện Bắc Quang 2 thị trấn và 21 xã, huyện Đồng Văn 2 thị trấn và 17 xã, huyện Hoàng Su Phì 1 thị trấn và 24 xã, huyện Mèo Vạc 1 thị trấn và 17 xã, huyện Quản Bạ 1 thị trấn và 12 xã, huyện Quang Bình 1 thị trấn và 14 xã, huyện Vị Xuyên 2 thị trấn và 22 xã, huyện Xín Mần 1 thị trấn và 18 xã, huyện Yên Minh 1 thị trấn và 17 xã
+Dân số và sự phân bố dân số
Theo điều tra dân số tháng 4 năm 2009, tỉnh Hà Giang có tổng dân số là 724.537 người, trong đó dân số thành thị đạt 84.338 người Các dân tộc chủ yếu tại đây bao gồm Mông (32,0%), Tày (23,3%), Dao (15,1%), Việt (13,3%) và Nùng (9,9%) Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố, 10 huyện, 5 phường, 13 thị trấn và 177 xã.
Huyện Bắc Mê có diện tích 844,30 km² và dân số 56.593 người (theo điều tra năm 2009) Huyện bao gồm 12 xã và 1 thị trấn, với sự hiện diện của 13 dân tộc khác nhau Trong đó, dân tộc Dao chiếm 37,86%, dân tộc Tày 22,34%, và dân tộc HMông 22,21%, còn lại là các dân tộc khác.
Một số yếu tố có tác động đến quan hệ dân tộc
Trong sự phát triển của các địa phương, đặc biệt là vùng biên giới, quan hệ giao lưu giữa các tộc người phụ thuộc vào vị thế địa - chính trị và địa - văn hóa Vùng biên giới Việt – Trung nổi bật với sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các tộc người, nhiều trong số đó có đồng tộc sinh sống bên kia biên giới Biên giới đóng vai trò là "cửa ngõ" quan trọng, thường xuyên tiếp nhận giao lưu văn hóa giữa các tộc người của các quốc gia.
Biên giới tộc người thường không trùng với biên giới quốc gia, dẫn đến mối quan hệ đồng tộc có thể vượt qua biên giới để kết nối với những người cùng họ, cùng dân tộc Đường biên giới Trung-Việt dài 1449 km, trong đó đoạn Vân Nam và Lào Cai dài 203 km, và Vân Nam với Hà Giang dài 274 km Sự dài dằng dặc của biên giới tạo điều kiện cho nhiều cửa khẩu và lối mòn được sử dụng Tỉnh Lào Cai có các tuyến đường như QL 70, QL 279, QL 4D cùng nhiều con đường hiểm trở dọc biên giới, với các cửa khẩu quốc gia và cấp tỉnh Cặp cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu - Lào Cai (đường ô-tô và đường sắt) là một trong ba cửa khẩu quan trọng cho giao lưu kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, nằm ngay trong trung tâm thành phố Lào Cai.
8 http://duan600.vn/huyen-ngheo/Huyen-Yen-Minh-Ha-Giang-29/
(Cửa khẩu Lào Cai- Hà Khẩu)
Ngoài các cửa khẩu quốc gia như Tung Chung Phố - Mường Khương và cửa khẩu quốc tế đường bộ Kim Thành tại thành phố Lào Cai, còn có cửa khẩu Bản Vược (Bát Xát) cùng với hơn 80 đường mòn thông dụng, trong đó có lối mở Bản Quẩn (Bảo Thắng).
Tỉnh Vân Nam và tỉnh Hà Giang có tổng cộng 1 cửa khẩu cấp Quốc gia, 2 cửa khẩu cấp tỉnh, 19 chợ biên giới và 108 lối mòn thông dụng.
Tên cửa khẩu TQ Tên cửa khẩu VN Cấp
Thiêm Bảo Thanh Thủy Cấp Quốc gia Điền Bồng Thương Bồng Cấp Quốc gia Đô Long Xín Mần Cấp tỉnh Đổng Can Phổ Bổng Cấp tỉnh
Tiểu Bá Tử Mã Quang HoaTrúcBằng Phố Mã Mới Lối mòn thông dụng Kim Xưởng Mã Quang Kê Ca Xín Mần Lối mòn thông dụng Đường Bảo Lương Mã
Mạn Mỹ Hoàng Su Phì Lối mòn thông dụng
Mãnh Đồng Ma Lật Pha Nam Đinh Hoàng Su Phì Lối mòn thông dụng
Bá Bố Ma Lật Pha Nghĩa Thuận Quản Bạ Lối mòn thông dụng Dương Vạn Ma Lật Pha Bạch Đức Yên Minh Lối mòn thông dụng
Mã Lâm Ma Lật Pha Cô Long Đồng Văn Lối mòn thông dụng Hòa Bình Phú Ninh Đường Mới Mèo Vạc Lối mòn thông dụng
1-3 (Do lối mòn thông dụng nhiều nên chỉ thống kê những lối mòn chủ yếu, được người dân 2 nước sử dụng nhiều) 9
The article titled "An Investigation of the Cross-Border Relations between the Zhuang and Dai Ethnic Groups along the Yunnan-Vietnam Corridor" was published in 2007 by the Wenshan Institute of Higher Education.
Mặc dù có nhiều cửa khẩu quốc gia và tỉnh dọc biên giới Việt - Trung, nhưng do chiều dài biên giới và sự tương đồng về nguồn gốc, tâm lý của các dân tộc thiểu số, việc hình thành các lối mòn giao lưu là điều tự nhiên Các cơ quan quản lý có thể nhận biết các lối mòn trên thực địa, nhưng không thể kiểm soát những "đường mòn" trong tâm thức của người dân nơi đây Những lối mòn này giúp bà con thuận tiện trong việc giao lưu, cùng chia sẻ nguồn nước, kiếm củi và tham gia chợ búa.
Trong thời kỳ Nhật xâm chiếm Trung Quốc, nhiều người dân ở vùng biên giới đã chạy sang Việt Nam tị nạn Vào đầu thế kỷ 19, Lưu Vĩnh Phúc đã tổ chức các dân tộc biên giới như Hán và Choang thành lập "Quân cờ đen" để hỗ trợ Việt Nam chống Pháp, đạt được nhiều thắng lợi Sau khi "Quân cờ đen" trở về Trung Quốc, một số người đã ở lại Việt Nam và trở thành một phần của dân tộc Nùng Năm 1886, các dân tộc biên giới như Kinh, Tày, Nùng ở các tỉnh Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng đã tích cực tham gia chống thực dân Pháp nhưng bị đàn áp mạnh mẽ, dẫn đến một bộ phận người Việt phải chạy sang Đông Hưng, Trung Quốc Từ năm 1958 đến 1961, kế hoạch
Trong bối cảnh "đại nhảy vọt" không đạt được kết quả như mong đợi, Trung Quốc đã phải đối mặt với tình trạng thiếu ăn nghiêm trọng Nhiều người dân ở vùng biên Trung-Việt đã chạy sang Việt Nam để nhờ họ hàng hoặc bạn bè mua lương thực nhằm giải quyết tạm thời vấn đề này Thời kỳ Việt Nam chống Pháp và chống Mỹ cũng chứng kiến sự di cư của một bộ phận nhân dân trong bối cảnh khó khăn.
The Zhuang ethnic group, closely related to the Dai, Giay, La Chi, Bru, and San Diu tribes in Vietnam, is a significant part of the cultural landscape in Guangxi.
Vào năm 2005, người dân gần biên giới đã chạy sang các tỉnh lân cận của Trung Quốc để tị nạn, và chính quyền địa phương cùng quần chúng đã tích cực hỗ trợ cả về tinh thần lẫn vật chất Điều này cho thấy, nếu quan hệ giữa hai quốc gia bình thường, thì mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số sống tại khu vực biên giới sẽ có điều kiện phát triển thuận lợi hơn.
Trong thập niên 70-80, quan hệ Trung-Việt gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vào năm 1978 khi biên giới bị đóng cửa Mặc dù vậy, người dân vùng biên vẫn duy trì mối quan hệ với đồng bào bên kia biên giới, sử dụng các lối mòn bí mật để thăm bà con và bạn bè Theo điều tra của Hàn Na, trong thời kỳ căng thẳng, một số nơi vẫn có sự đi lại giữa hai bên Người dân biên giới tiếp tục giao dịch, với nhiều người Việt Nam bất chấp nguy hiểm để tìm lối mòn mới sang Trung Quốc mua sắm hàng hóa thiết yếu Điều này dẫn đến sự hình thành các phiên chợ giao dịch dân gian như "Phố Bí Thảo" Ngay cả trong năm 1979, hoạt động giao dịch vẫn diễn ra, với người Trung Quốc trao đổi hàng hóa như vải, đèn pin và dép lấy trái cây, rau xanh từ người Việt Chính quyền Việt Nam cũng đã có những biện pháp ngăn chặn, như quy định giấy thông hành khi vào vùng biên giới.
Biến đổi xã hội tại biên giới Trung-Việt đang diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến ý thức quốc gia của người dân Nghiên cứu về người vùng biên cho thấy sự giao dịch xuyên quốc gia đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách họ nhận thức về bản thân và cộng đồng Hàn Na đã chỉ ra rằng những yếu tố này không chỉ tác động đến đời sống kinh tế mà còn định hình lại các giá trị văn hóa và xã hội trong khu vực.
Năm 1994, chủ tịch và bí thư địa phương đã phê duyệt và ký tên vào tài liệu liên quan đến hoạt động giao dịch tại vùng biên giới Mặc dù có quy định phạt tiền hoặc cải tạo lao động cho những vi phạm, nhưng hoạt động giao dịch không những không bị hạn chế mà còn ngày càng mở rộng Thực tế cho thấy, chính quyền Trung-Việt đã dần dần ngầm thừa nhận những giao dịch này.
Vào ngày 19 tháng 11 năm 1988, Nghị quyết số 118 đã chính thức cho phép việc thăm hỏi người thân và giao dịch hàng hóa theo nhu cầu Trong giai đoạn này, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã hình thành một cục diện trái ngược, với sự tồn tại của cả quan thù địch và dân hữu hảo.
Người dân vùng biên giữa các quốc gia, dù trong bối cảnh quan hệ hai nước có ổn định hay không, vẫn duy trì mối quan hệ và trao đổi liên tục Sự khác biệt chỉ nằm ở mức độ công khai hay bí mật, cũng như tần suất đi lại của họ.