Ọ U N TRƢ N Ọ O Ọ V N N V N =========== NGUYỄN THỊ QUYÊN ẢNG B TỈNH QUẢN N N L N O PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ N N TỪ N M 1991 ẾN N M 2005 LUẬN VĂN T SĨ LỊCH SỬ Hà Nội 2015 Header Page 1 of 107 Footer Page[.]
Trang 2Ọ QU N TRƢ N Ọ O Ọ V N N V N
Trang 3L M O N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Lương Diệu – Trường ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về nội dung Luận văn này của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Quyên
Trang 4BẢN D N MỤ TỪ V ẾT TẮT
GDP Gross Domestic Product /Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 5D N MỤ BẢN , B ỂU
1
Biểu đồ 1.1: Giá trị sản xuất CN ngoài quốc doanh
2
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo
thành phần kinh tế của tỉnh Quảng Ninh qua một số năm: 1995, 1996, 1999, 2000
35
3
Bảng 1.3: Số lượng kinh tế tư nhân giai đoạn
4
Biểu đồ 2.1: Sự phát triển số lượng DN từ năm 2001
5
Biểu đồ 2.2: ơ cấu giá trị sản xuất CN ngoài quốc
doanh năm 2002 ở tỉnh Quảng Ninh
63
6
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo
Trang 6Nguồn: [107]
Trang 7MỤ LỤ
MỞ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 óng góp mới của đề tài 9
7 Bố cục của Luận văn 9
hương 1: CHỦ ƯƠN V SỰ CHỈ O PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ N N CỦ ẢNG B TỈNH QUẢNG NINH TỪ N M 1991 ẾN N M 2000 10
1.1 Các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh 10
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 10
1.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam 13
1.1.3 Thực trạng kinh tế tư nhân của tỉnh Quảng Ninh trước năm 1991 18
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2000 23
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh 23
1.2.2 Sự chỉ đạo thực hiện 31
1.2.2.1 Chỉ đạo phát triển về ngành nghề, về số lượng, về vốn 31
1.2.2.2 Chỉ đạo hoạt động khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân 44
1.2.2.3 Chỉ đạo phát triển Đảng, công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn 46
Tiểu kết Chương 1 48
Chương 2: ẢNG B TỈNH QUẢN N N L N O PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ N N TỪ N M 2001 ẾN N M 2005 51
2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh 51
2.1.1 Bối cảnh và yêu cầu mới 51
Trang 82.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
(2001-2005) 55
2.2 Sự chỉ đạo thực hiện 58
2.2.1 Chỉ đạo phát triển về số lượng, về ngành nghề, về vốn 58
2.2.2 Chỉ đạo hoạt động cổ vũ, biểu dương, khuyến khích doanh nhân, DN có thành tích xuất sắc trong hoạt động SXKD 82
2.2.3 Chỉ đạo công tác phát triển Đảng, xây dựng công đoàn cơ sở 85
Tiểu kết Chương 2 87
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 90
3.1 Nhận xét 90
3.1.1 Về ưu điểm 90
3.1.2 Về hạn chế 96
3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 102
3.2.1 Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với kinh tế tư nhân, không ngừng đổi mới về tư duy trong suốt quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân 102
3.2.2 Tiến hành tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho thành phần kinh tế tư nhân hoạt động, không ngừng sáng tạo, đổi mới và phát triển 105
3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về kinh tế của tỉnh Quảng Ninh về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như thái độ làm việc để tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế tư nhân 107
Tiểu kết Chương 3 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 125
Trang 9MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế tư nhân là một khu vực rộng lớn trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Ở Việt Nam, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau và chưa thống nhất về khái niệm kinh tế tư nhân, có ý kiến cho rằng kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế, có ý kiến khác là một thành phần kinh tế Trên những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, Luận văn sử dụng khái niệm “kinh tế tư nhân” dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm 3 thành phần kinh tế: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân1
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tạo ra động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất; hình thành, duy trì và phát triển sự cạnh tranh trong nền kinh tế để tạo nên một nền kinh tế năng động, hiệu quả cao hơn; tiến hành khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực, thu hút lao động và tạo thêm nhiều việc làm mới ở cả thành thị và nông thôn ối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, phát triển kinh tế tư nhân chính là chìa khóa thúc đẩy nền kinh tế hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ hơn
Kinh tế tư nhân có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự phát triển chung của mỗi dân tộc Tuy nhiên, ở Việt Nam, có một thời kỳ trong lịch sử ảng đã nóng vội muốn xóa bỏ, cải tạo thành phần kinh tế này Nhận thức của ảng về kinh tế tư nhân dần có sự thay đổi, trong đó dấu mốc quan trọng và ảnh hưởng nhất phải từ ại hội VI (1986) của ảng Từ việc coi đây là thành phần kinh tế cần cải tạo trong con đường đi lên xã hội
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động, không có thuê mướn công nhân làm thuê Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có sử dụng lao động làm thuê và kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các công ty TN , DN tư nhân và công ty cổ phần được thành lập theo Luật DN tư nhân và Luật Công ty
Trang 10chủ nghĩa đến việc thừa nhận là một thành phần kinh tế, coi trọng và tạo mọi điều kiện để phát triển Kinh tế tư nhân ngày càng có những đóng góp
to lớn vào nền kinh tế của đất nước, đặc biệt trong những năm gần đây Tuy nhiên, sự lãnh đạo của ảng với kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được vai trò, vị trí cũng như thực lực để kinh tế tư nhân tham gia ngày càng hiệu quả vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Thực hiện những chủ trương, đường lối lãnh đạo của ảng trong phát triển kinh tế tư nhân, ảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã chú trọng và tiến hành lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân Sự tiến triển về mặt nhận thức của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh không phải trong một thời gian ngắn mà trải qua nhiều giai đoạn với thời gian lâu dài Những nhận thức này ngày càng hoàn thiện, đầy đủ và phù hợp với yêu cầu của đất nước hơn ua quá trình phát triển của kinh tế tư nhân ở Quảng Ninh, có thể khẳng định những chủ trương, chỉ đạo của ảng bộ ngày càng được hoàn thiện, phát triển và có nhiều đóng góp quan trọng với địa phương cũng như đất nước Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, ảng bộ vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế trong nhận thức cũng như chỉ đạo Kinh tế tư nhân vẫn chưa được coi trọng phát triển đúng, xứng đáng với tiềm năng cũng như lợi thế của tỉnh Quảng Ninh
Nghiên cứu sự lãnh đạo của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh phát triển kinh tế tư nhân, nhất là thời kỳ 1991-2005 vừa là tìm hiểu một nguyên nhân thành công cũng như hạn chế của quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân, đánh giá về vị trí, vai trò, xu hướng phát triển để kinh tế tư nhân tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình hình thành và phát triển của kinh tế Quảng Ninh, vừa có thể rút ra những kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn nữa chủ trương cũng như sự chỉ đạo thực hiện của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh ồng thời, đóng góp một phần nhỏ để làm rõ thêm bức tranh toàn cảnh của lịch sử kinh tế tư nhân uảng Ninh trong những năm 1991-2005
Trang 11Vì những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005”
làm Luận văn tốt nghiệp, chuyên ngành Lịch sử ảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu về kinh tế tư nhân là vấn đề hay, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nên đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Có thể chia các công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân thành 2 nhóm như sau:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân
Trong nhóm nghiên cứu này có một số công trình tiêu biểu như: Thành phần kinh tế: Cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân – lý luận và chính sách [77], Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay [95], Tìm hiểu đường lối kinh tế trong Nghị quyết ại hội
IX của ảng [60], Về đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ ngoài quốc doanh hiện nay [74], Quản lý nhà nước đối với kinh tế
tư nhân ở nước ta hiện nay [79], ổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân ở Việt Nam [42], ảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005 [18]
“Thành phần kinh tế: Cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân - ý luận và chính sách” [77] của tác giả à uy Thành đã đưa ra vấn đề lý luận về thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân Tổng quan thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời kì đổi mới bằng việc đưa ra sự phát triển về số lượng của các hình thức kinh tế, ngành nghề SXKD, đặc điểm về vốn, lao động… Từ đó, đưa ra những kết quả đạt được và những tồn tại, yếu kém của khu vực kinh tế tư nhân cũng như những quan điểm, chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ây là công trình có ý nghĩa lý luận và thực
Trang 12tiễn lớn, đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở Việt Nam
“Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước
ta hiện nay” [95], tác giả Hồ Văn Vĩnh đã nghiên cứu lý luận chung, nêu bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần Tác giả đã tổng kết vai trò to lớn của kinh tế tư nhân, phân tích thực trạng hoạt động và mô hình quản lý của Nhà nước Từ đó nêu ra những định hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước với phát triển kinh tế
tư nhân
“Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay” [79], Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Hữu Thắng Tác giả đã nghiên cứu về quan điểm, vai trò, ưu thế, hạn chế, đặc điểm kinh tế tư nhân ở Việt Nam Nội dung, phương thức tác động quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân, kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trên thế giới Từ đó, đánh giá tình hình từ chiến lược, chính sách, kế hoạch và đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Một trong những công trình nghiên cứu nổi bật về vấn đề này là:
“ ảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005” [18], Luận án Tiến sĩ thuộc chuyên ngành lịch sử ảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Phạm Thị Lương Diệu đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tư duy của ảng về vai trò, vị trí của kinh tế
tư nhân của ảng Cộng sản Việt Nam trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới (1986 - 2005) Trình bày sự tiến triển về quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển, tổ chức thực hiện thông qua 3 giai đoạn: Thừa nhận
và cho phép kinh tế tư nhân phát triển trong những năm 1986-1989; Lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1990 đến năm 1999; ẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trong những năm 2000-2005 Bên cạnh đó, tác giả
Trang 13luận án đã đưa ra nhận xét về ưu điểm cũng như hạn chế về sự lãnh đạo của ảng với kinh tế tư nhân, lý giải nguyên nhân; rút ra một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo của ảng đối với thành phần kinh tế năng động này
Nhóm 2: Các công trình, bài viết về kinh tế tư nhân
ổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam – Thực trạng và giải pháp [84], Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập [45], Kinh tế
tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới – Thực trạng và những vấn đề đặt ra [81], Phát triển kinh tế cá thể ở Việt Nam [40], Thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [90], Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam [91], Phát triển và quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường [86], Trang trại gia đình – Bước phát triển mới của kinh tế hộ nông dân [37], ảng viên làm kinh tế tư nhân thực trạng và giải pháp [89], Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường [55], Về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [41], Phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [9],Kinh tế tư nhân ở Việt Nam từ 1986 đến 1995 [56]
Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới – Thực trạng và những vấn đề đặt ra (2005) [81], tác giả inh Thị Thơm đã thu thập và hệ
thống các bài viết về kinh tế tư nhân từ ại hội VI, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp đúc kết trong những công trình nghiên cứu vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển, hạn chế cũng như triển vọng phát triển của kinh tế tư nhân
ào Thị Phương Liên (1995) với Luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế Sự
phát triển của kinh tế tư nhân trong quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường [55] Tác giả đã trình bày sự phát triển của kinh tế
Trang 14tư nhân và từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tư nhân, đẩy nhanh quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Nguyễn ức Chính (2011), Phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [9], Luận án Tiến sĩ Kinh tế Tác
giả đã nghiên cứu quá trình tăng trưởng và phát triển của kinh tế tư nhân,
sự tương tác giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế tư nhân
Luận án Phó Tiến sĩ của Hồ Sỹ Lộc (1996), Kinh tế tư nhân ở Việt
Nam từ 1986 đến 1995 [56], tác giả đã khái quát tình hình phát triển kinh tế
tư nhân ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (1954-1985) với các bước thăng trầm từ khôi phục, phát triển đến cải tạo kinh tế tư nhân và đặc biệt nghiên cứu sự phát triển kinh tế tư nhân một cách đầy đủ từ khi đổi mới năm 1986 đến năm 1995
Ngoài ra, khi nghiên cứu về sự lãnh đạo của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh về vấn đề kinh tế - xã hội còn có một số công trình, bài viết cũng đề cập đến ác công trình đã góp phần quan trọng làm sáng rõ bức tranh kinh
tế chung từ khi đổi mới đất nước đến nay
Tựu chung lại, kết quả quan trọng mà các công trình nghiên cứu cả 2 nhóm về kinh tế tư nhân đã đạt được: Các tác giả đã hệ thống hóa chủ trương, chính sách của ảng và Nhà nước đối với kinh tế tư nhân (đặc biệt
từ ại hội VI của ảng Cộng sản Việt Nam), tiến hành phân tích vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay Trình bày, phân tích quá trình phát triển để từ đó đưa ra cácưu điểm, hạn chế, khó khăn, giải pháp
và kinh nghiệm để đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân hơn nữa
Những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đạt được đã là nguồn tư liệu quý giá để tác giả tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu những chủ trương
Trang 15chung của ảng về lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân Từ đây, là cơ sở để khảo sát sự phát triển kinh tế tư nhân ở Quảng Ninh một cách rõ nét và đầy
đủ hơn, vừa phù hợp với đường lối chung, vừa có những nét riêng biệt để phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Quảng Ninh
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005 Vì những lý
do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005” làm đề tài nghiên cứu Luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của Luận văn: Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005,
từ đó nhận xét về ưu điểm cũng như hạn chế trong sự lãnh đạo, rút ra một
số kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
- Luận văn có nhiệm vụ:
+ Khái quát các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
+ Trình bày chủ trương, đường lối và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005 Trong đó, đề cập nhiều đến kinh tế tư bản tư nhân
+ Nhận xét ưu điểm, hạn chế; rút ra các kinh nghiệm chủ yếu trong chủ trương lãnh đạo và quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
4 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo của ảng bộ tỉnh
Quảng Ninh với phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 16+ Về mặt nội dung: Trình bày sự lãnh đạo của ảng bộ tỉnh Quảng
Ninh trong phát triển kinh tế tư nhân trên cả 3 bộ phận kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
+ Về mặt thời gian: là từ năm 1991 đến năm 2005 Mốc bắt đầu
nghiên cứu là năm 1991 - ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X đã diễn ra với việc bắt đầu đưa ra nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến kinh tế tư nhân, đánh dấu bước phát triển mới so với giai đoạn trước (1986-1991) Mốc kết thúc công trình nghiên cứu là năm 2005, giai đoạn chuẩn bị cho ại hội ảng bộ tỉnh lần thứ XII với nhiều kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế tư nhân Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến một số năm trước và sau mốc thời gian nghiên cứu để thấy rõ hơn bức tranh phát triển của thành phần kinh tế này dưới sự lãnh đạo của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
+ Về không gian: nghiên cứu vấn đề trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Luận văn dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau
+ Văn kiện của ảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới có liên quan đến phát triển kinh tế, kinh tế tư nhân
+ Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005
+ Tài liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005
+ Các sách báo, tạp chí, luận văn, luận án và các tư liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp,so sánh, thống kê… nhằm xây dựng và tái hiện lại quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1991-2005
Trang 176 óng góp mới của đề tài
Luận văn có những đóng góp sau:
- Khái quát các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
- Trình bày chủ trương, đường lối và quá trình chỉ đạo phát triển kinh
tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005 qua 2 giai đoạn: 1991-2000; 2001-2005
- ánh giá những ưu điểm, hạn chế, lý giải nguyên nhân trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1991-2005; từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn về vấn đề này nhằm tăng cường, nâng cao vai trò lãnh đạo của ảng bộ, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường hiện nay
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân
của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2000
Chương 2: ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế
tư nhân từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 181.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Quảng Ninh là một vùng đất đã có lịch sử từ lâu đời Trải qua thời đại từ các Vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến, Quảng Ninh
đã được gọi dưới nhiều tên khác nhau như Lục Hải, Hải Ninh, Ninh Hải, Châu Hoàng, Lục Châu, Hải ông Với bề dày lịch sử lâu đời như vậy, Quảng Ninh đã có nhiều di tích nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch ằng, Thương cảng Vân ồn, Khu quần thể các lăng vua Trần ở ông Triều, núi Yên Tử… đi vào lịch sử và trường tồn cùng thời gian
Ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa ) đã nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành Quảng Ninh Tên gọi Quảng Ninh là ghép hai chữ cuối của Hồng Quảng và Hải Ninh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, “ uảng” có nghĩa là rộng lớn, “Ninh” có nghĩa là yên ổn, bền vững Như vậy, tên gọi Quảng Ninh chính thức có hiệu lực từ năm 1963 với ý nghĩa là một vùng đất rộng lớn và bền vững
Về vị trí địa lý, Quảng Ninh nằm ở phía ông Bắc, phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn và Trung uốc, phía Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng và Hải Dương, phía Nam và phía ông giáp biển Vị trí này rất thuận lợi cho các hoạt động trao đổi, tiếp xúc kinh tế với các tỉnh lân cận và Trung Quốc – nơi có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển, có mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển
Trang 19phát triển và đang được mở rộng ồng thời là cửa ngõ thông ra biển cho nhiều tỉnh ở phía Bắc, các hoạt động vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế với các tỉnh và thiết lập mối quan hệ không chỉ bằng đường bộ mà còn bằng đường biển với các nước trong khu vực, quốc tế được diễn ra sôi nổi, năng động
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là 6.110.813 km2 đất liền, 6.000 km2 đường biển Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải, hơn 80% đất đai là đồi núi, hơn 2.000 hòn đảo nổi trải dài theo đường ven biển dài hơn 250 km [97, tr 9] Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh và ít mưa Nguồn đất đai và khí hậu thích hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản), đặc biệt là phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn
Tính đến ngày 01/04/2009, dân số Quảng Ninh là 1.144.381 người, mật độ dân số trung bình là 187 người/km2 Tỷ lệ dân số sống ở thành thị là 50,3%, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn trong tỉnh Quảng Ninh [97, tr 11] Nguồn dân số đông, phân bố tương đối đồng đều giữa thành thị
và nông thôn đã cung cấp nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các hoạt động kinh tế của tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là nơi cư trú 22 tộc người, với lịch sử hình thành lâu đời
đã tạo nên những cộng đồng người có ngôn ngữ, bản sắc dân tộc rõ rệt như Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, oa… [97, tr 11] Trong đó, người Kinh có số lượng đông đảo nhất chiếm tới 89,23% Hiện nay, trình độ phát triển kinh
tế - xã hội giữa các tộc người vẫn có sự chênh lệch lớn, tập trung phát triển chủ yếu ở cộng đồng người Kinh vùng đồng bằng, đô thị, ven biển, còn những tộc người khác cư trú ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn lạc hậu, nghèo nàn, kinh tế hết sức khó khăn
Trang 20Về tài nguyên, Quảng Ninh nổi tiếng với những tài nguyên du lịch như: Vịnh Hạ Long, Bãy Cháy, Tuần hâu… Khu du lịch này không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà còn nổi tiếng với du khách nước ngoài àng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm Bên cạnh đó là những tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với trữ lượng lớn như than đá, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Tuy nhiên, giàu có và nổi tiếng bậc nhất là phải kể đến than đá, không một địa phương nào có được nguồn than
đá dồi dào đến như vậy ây cũng chính là thế mạnh của Quảng Ninh trong việc phát triển ngành CN khai khoáng nói riêng và phát triển kinh tế nói chung
Phân chia đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và
8 huyện: Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; Thị xã Quảng Yên, ông Triều; Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, ô Tô, Vân ồn, Hoành Bồ, ầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch hết sức phong phú, đa dạng là một trong những nguồn lực để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng Khai thác và sử dụng có hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phần kinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân Sự góp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tận dụng, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện, cơ sở thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Vai trò lãnh đạo của ảng bộ trong việc đưa
ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõ nét, nổi bật hơn Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh trở thành một trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), uảng Ninh bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh Năm
1979, chiến tranh biên giới nổ ra, nhân dân Quảng Ninh lại phải tiếp tục
Trang 21đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thêm một lần nữa Khắc phục hậu quả và chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu hàng đầu của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những ngày đầu thống nhất đất nước
Năm 1986, dưới sự lãnh đạo của ảng Cộng sản Việt Nam, đất nước
đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, ảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực Mặc dù con đường đổi mới còn nhiều thách thức nhưng với tinh thần và sự quyết tâm thì ảng bộ
và nhân dân Quảng Ninh đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, phấn đấu xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh
1.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Có một thời gian dài trong lịch sử, kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ tồn tại 2 thành phần kinh tế chính: Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, kinh tế gia đình và tiểu chủ phụ thuộc vào kinh tế nhà nước
và tập thể Kinh tế tư bản tư nhân chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hay công ty hợp doanh
Trước năm 1986, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương ảng khóa IV (tháng 8/1979) được coi là bước tiến đầu tiên trong thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất, đánh dấu sự nghiệp đổi mới bắt đầu Hội nghị đã thừa nhận
sự tồn tại của một nền kinh tế thị trường ến ại hội V (1982) chuyển từ chế độ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế Như thế, từ việc coi kinh tế tư nhân là thành phần cần cải tạo và xóa bỏ, ảng đã có sự thay đổi nhận thức
Trang 22bằng việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia
Năm 1986, ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ảng với chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ
ại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nếu như ại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là một bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì đến ại hội VII kinh tế tư nhân đã thực sự được phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã thể hiện rất rõ quan điểm của ảng trong việc nhìn nhận lại về kinh tế tư nhân “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh
tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định” [25, tr 230]
ương lĩnh đã thể hiện thái độ thừa nhận của Nhà nước với thành phần kinh tế tư nhân bằng một chính sách thông thoáng khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế này: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không
Trang 23tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa tư liệu sản xuất, không
áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc
kế dân sinh” [25, tr 344]
Với đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của ảng đã góp phần to lớn giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, kinh tế tư nhân đã được chính thức thừa nhận, được quan tâm và tạo mọi điều kiện để phát triển Phát huy vị trí, vai trò quan trọng của mình, kinh tế tư nhân đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước
ại hội VIII (tháng 6/1996) đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh CN hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Văn kiện ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V đã tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài Giúp
đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm ướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các DN nhà nước hay HTX Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc
kế dân sinh” [25, tr 347]
Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000 nhấn mạnh: “Kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn, không bị hạn chế việc mở rộng kinh doanh, có thể tồn tại độc lập, tham gia các loại hình HTX, liên kết với các DN lớn bằng nhiều hình thức Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển
Trang 24không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề
mà pháp luật không cấm Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại DN thuộc thành phần tư bản nhà nước Kinh tế gia đình không là một thành phần kinh tế độc lập nhưng được khuyến khích phát triển mạnh Các DN thuộc các thành phần kinh tế có thể liên kết thành các liên hiệp hoặc tập đoàn kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và cùng có lợi Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa tư liệu sản xuất, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động
có lợi cho quốc kế dân sinh” [25, tr 249]
Thể chế hóa ương lĩnh và các Văn kiện ại hội ảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật cùng nhiều chính sách khuyến khích định hướng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân trong chiến lược phát triển kinh tế chung Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua hai bộ luật về DN tư nhân: Luật DN tư nhân
và Luật Công ty nhằm tạo cơ sở pháp lý để kinh tế tư nhân được bình đẳng với mọi thành phần kinh tế khác Hai bộ luật đã đánh dấu bước pháp lý đầu tiên để kinh tế tư nhân ra đời và phát triển, khẳng định sự tồn tại của kinh tế
tư nhân ở Việt Nam
Một bước tiến nữa là sự ra đời của Hiến pháp (1992), nền kinh tế Việt Nam chính thức được thừa nhận là nền kinh tế nhiều thành phần Hiến pháp đã ghi nhận sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân Sự ra đời của Hiến pháp đã đáp ứng được nguyện vọng của người dân và DN Một đặc điểm nổi bật của Hiến pháp được thể hiện tại iều 15: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa iến pháp đã đảm bảo cơ
sở pháp lý cho việc phát triển và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Trang 25Tháng 6/1994, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội khóa IX thông qua gồm 7 chương và 24 điều khoản đã tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác để phát triển kinh
tế Luật đã khắc phục những hạn chế của Luật DN tư nhân và Luật Công ty, tạo môi trường bình đẳng cho các DN Ngày 29/05/1995, Chính phủ ban hành Nghị định 29/N – P quy định đối tượng khuyến khích đầu tư là các thành phần kinh tế, bao gồm có DN tư nhân và kinh tế tư nhân oạt động đầu tư được mở rộng, các DN được tham gia vào tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm Khu vực kinh tế tư nhân được ưu đãi đầu tư trong các
dự án, thời gian nhận cũng đã rút ngắn lại so với Luật Công ty và Luật DN
tư nhân Nhờ đó các nhà đầu tư đã giảm được chi phí, thời gian, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng nhằm thúc đẩy các hoạt động SXKD phát triển
Một bước đột phá hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế tư nhân phải là sự ra đời của Luật DN (1999) với 10 chương và 124 điều Luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc huy động và tập trung vốn, bảo đảm
sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của DN Một môi trường kinh doanh thuận lợi và thông thông thoáng được thành lập, gây dựng lòng tin của nhà đầu tư trong việc thành lập DN và hoạt động kinh doanh
Sự ra đời nối tiếp của các bộ Luật nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện môi trường kinh doanh, khắc phục những nhược điểm và tạo những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, góp phần quan trọng phục vụ sự nghiệp CN hóa, hiện đại hóa, đảm bảo quyền bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là đường lối có tính chiến lược lâu dài, điều này đã được thể hiện trong các Nghị quyết ại hội ảng toàn
Trang 26quốc lần thứ VI, VII, VIII Theo tiến trình thời gian, những chính sách của ảng và Nhà nước đã có sự bổ sung, sửa đổi toàn diện nhằm tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân đã và đang có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế đất nước
Như vậy, nhận thức về kinh tế tư nhân của ảng đã có những bước thay đổi, chuyển biến rõ rệt Từ việc, cấm đoán và phải tiến hành cải tạo theo hướng xóa bỏ thành phần kinh tế này trước năm 1986 ến ại hội
VI, kinh tế tư nhân đã được nhìn nhận, xem xét lại sự tồn tại của mình theo hướng cải tạo để dùng, chứ không phải xóa bỏ, triệt tiêu như trước nữa Ở các Hội nghị và ại hội tiếp theo, kinh tế tư nhân đã được ảng quan tâm
và chú trọng phát triển, Nhà nước tạo mọi điều kiện để khuyến khích, thúc đẩy phát triển Những thay đổi trong nhận thức, chủ trương, chính sách đã tạo nên bước chuyển biến quan trọng cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh
mẽ hơn Tuy còn nhiều hạn chế, khó khăn nhưng chắc chắn sẽ ngày một hoàn thiện và tạo động lực cho giai đoạn sau phát triển mạnh mẽ hơn
1.1.3 Thực trạng kinh tế tư nhân của tỉnh Quảng Ninh trước năm 1991
Bức tranh toàn cảnh Quảng Ninh vào những năm 80 “Tình hình khan hiếm lương thực đã diễn ra trên diện rộng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi tầng lớp nhân dân ông nhân lao động hết gạo phải ăn cháo, sắn; bán
đồ dùng lấy tiền đong gạo, chạy ăn từng bữa” [5, tr 3] Dù đời sống khó khăn như vậy nhưng nhân dân vẫn luôn kiên định, tin tưởng vào con đường đổi mới của ảng và Nhà nước
Thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết ại hội VI của ảng, từ ngày 15-20/10/1986 ại hội đại biểu ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ V đã diễn ra tại Hòn Gai với sự tham gia của 489 đồng chí
ại hội được tiến hành trong bối cảnh quốc tế và Việt Nam có những diễn biến phức tạp đã tác động bất lợi đến tình hình của tỉnh Quảng Ninh ảng
Trang 27bộ tỉnh Quảng Ninh với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, đã từng bước đổi mới trong cả nếp nghĩ và cách làm nhằm tháo gỡ những khó khăn, vượt qua giai đoạn chuyển đổi từ nền cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành đổi mới trên các lĩnh vực mạnh dạn hơn nữa theo tinh thần của ảng đề ra
Tháng 11/1986, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị mở rộng
bàn về Một số biện pháp cấp bách giải quyết tình hình đời sống với nội
dung:
- ộng viên toàn thể công nhân, cán bộ và nhân dân trong tỉnh thi đua sản xuất, tiết kiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước ẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
- Khuyến khích nhân dân chăn nuôi lợn và làm kinh tế gia đình ể duy trì đàn lợn, tỉnh trích một phần ngoại tệ (khoảng 1 triệu Rúp đô la) mua lương thực và thức ăn gia súc hỗ trợ chăn nuôi iải quyết đồng bộ cơ chế giá, tổ chức thu mua, giết mổ, phân phối bán lẻ, củng cố và tăng cường mạng lưới thương nghiệp quốc doanh, HTX, mua bán phường xã
- ảm bảo 6 mặt hàng thiết yếu là gạo, thịt đủ cung cấp đủ, đúng tiêu chuẩn định lượng cho cán bộ công nhân viên chức đương chức về hưu, lực lượng vũ trang Rau xanh tuy không nằm trong 6 mặt hàng thiết yếu nhưng với tỉnh Quảng Ninh là rất quan trọng Các Sở Nông nghiệp, Thương mại, UBND các thị xã xử lý, điều hành tốt sản xuất và cung cấp
- ối với 25 mặt hàng giá ổn định và 13 mặt hàng xã hội, có phương thức phân phối đến cơ quan, xí nghiệp, người tiêu dùng, đồng thời dành một phần quỹ hàng hóa để đối lưu với nông dân, thu mua nông sản thực phẩm và hàng tiêu dùng Các mặt hàng tivi, quạt máy, máy khâu… được bán giá linh hoạt
Trang 28- Khuyến khích mở rộng liên doanh, liên kết, nhất là liên kết sản xuất, dành quỹ hàng để tăng thêm lương thực, thực phẩm cho khu mỏ
- ác cơ sở kinh doanh thương nghiệp, HTX mua bán được đồng thời thu mua nguồn hàng từ tỉnh ngoài về đảm bảo theo giá kinh doanh có lãi thỏa đáng và theo khung giá của UBND
- ẩy mạnh mọi hoạt động thu tiền mặt chi trả lương, thu mua kịp thời, đúng kỳ Ngân hàng phải cùng các ngành, các địa phương, các cơ sở, đơn vị tăng cường kiểm tra quỹ tiền mặt, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm [5, tr 10]
Ngày 14/3/1987, Ban Chấp hành ảng bộ tỉnh ra Nghị quyết số
02-NQ/TU về hương trình kinh tế “Chương trình lương thực, thực phẩm;
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” Kết quả thu được, “tổng sản lượng
thóc quy hàng năm tăng bình quân 2,25%, năm 1986-1990 đạt 140 ngàn tấn, tăng 11,2% so với năm 1985” [80, tr 5] Phần lớn các huyện đã cân đối được lương thực, thực phẩm, ổn định và phát triển sản xuất than, góp phần
ổn định thị trường giá cả, tài chính, tiền tệ; ổn định cung cấp lương thực, thực phẩm để cải thiện một bước đời sống của công nhân mỏ
CN và sản xuất hàng tiêu dùng đã dần bước vào quỹ đạo ổn định, tỷ trọng xuất khẩu tăng hơn các năm trước Quá trình thực hiện theo cơ chế thị trường, các xí nghiệp đã tự vươn lên, 20 xí nghiệp sản xuất ổn định và phát triển
ến năm 1987, “Nền kinh tế có sự vươn lên nhưng nhìn chung chuyển biến chậm, chưa chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, còn để thua thiệt, lãng phí, mất mát lớn Công tác xây dựng nguồn hàng không được quan tâm, không gắn với sản xuất địa phương Phương thức kinh doanh còn thụ động, công tác quản lý thị trường còn buông lỏng, công tác chống đầu cơ buôn lậu chưa kiên quyết, các chợ chưa được tổ chức lại một cách hợp lý” [36, tr 118]
Trang 29Thực hiện Nghị quyết số 10-N /TƯ của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988
“Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 26/7/1988 “Về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp” với tinh thần: “Thực sự giải phóng sức sản xuất, giải quyết đúng
đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là lợi ích của người trực tiếp sản xuất;
mở rộng dân chủ, đề cao pháp chế, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” [6, tr 2] Tỉnh ủy Quảng Ninh đã xác định trước mắt chọn khâu cải tiến quản lý trong HTX, hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm thanh toán gọn đến hộ và người lao động, cải tiến cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, đổi mới và bổ sung một số chính sách với nông dân ây là nhiệm
vụ trọng tâm, then chốt đề giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phục vụ có hiệu quả 3 hương trình kinh tế lớn, giải quyết một cách cơ bản vấn đề lương thực cho nông dân
Thực hiện Nghị quyết 29 của Tỉnh ủy, năm 1988 toàn tỉnh Quảng Ninh đã có 12 huyện, thị xã với 135/295 HTX nông nghiệp thực hiện khoán theo đơn giá, thanh toán gọn Tỷ lệ phân phối cho người lao động từ 20-25% đã lên đến 40-45% sản lượng khoán Thực hiện giao đất bổ sung làm kinh tế hộ gia đình 5-10% Nông nghiệp đã có những bước tiến vững chắc, dần đi vào ổn định
ối với kinh tế, ại hội VIII nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau cùng phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [28, tr 135] Như vậy, ảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã thừa nhận sự tồn tại nền kinh tế hàng hóa với sự tham gia của các thành phần kinh tế và tạo mọi điều kiện để các thành phần này cùng phát triển dưới sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước, trong đó kinh tế
tư nhân đã từng bước được xác lập, tạo điều kiện hỗ trợ phát triển
Trang 30Năm 1990, Luật DN tư nhân được ban hành đã khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tạo bước hồi sinh mới cho nền kinh tế Quảng Ninh Môi trường kinh doanh mở rộng, thông thoáng đã khuyến khích, tạo điều kiện các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng đây là cơ sở pháp lý đầu tiên đánh dấu bước đi mới cho thành phần kinh tế kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh
Trong nông nghiệp, “Năng suất và sản lượng đều tăng, sản xuất CN gặp khó khăn nhưng một số đơn vị đã tìm biện pháp đi lên, khai thác tiềm năng của tỉnh về nguyên liệu, thị trường, thích nghi với cơ chế mới, đi dần vào ổn định và làm ăn có hiệu quả Tập trung vào sản xuất, phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, các trung tâm thương mại, đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển CN, du lịch, dịch vụ và kinh tế biển Khuyến khích mở rộng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tạo thêm nhiều việc làm, sản xuất những sản phẩm có giá trị Kiên quyết ngăn chặn
và đẩy lùi nạn buôn lậu ở các cửa khẩu” [28, tr 128]
Dưới sự lãnh đạo của ảng Cộng sản Việt Nam nói chung và ảng
bộ tỉnh Quảng Ninh nói riêng, nền kinh tế - xã hội của Quảng Ninh đã dần
ổn định và có những bước chuyển đổi theo hướng tích cực, đạt được những kết quả quan trọng ban đầu Nhìn chung những năm 1986-1990, nhất là từ năm 1989, bộ mặt kinh tế đã dần có những bước chuyển biến, “ ảng bộ đã mạnh dạn xóa bỏ bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, giao quyền tự chủ cho
cơ sở ơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch, bố trí lại cơ cấu đầu tư, giải quyết khó khăn gay gắt đang diễn ra” [28, tr 128] Tuy nhiên, trong những năm đầu của gian đoạn đổi mới, tình hình kinh tế còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn ông tác lưu thông phân phối gặp nhiều khó khăn do sản xuất kém phát triển, tổng giá trị mua các nguồn hàng thấp Kinh tế tư nhân được thừa nhận nhưng phát triển còn yếu ớt về số lượng cũng như chất lượng, chưa có những bước tiến đáng kể làm thay đổi bộ mặt kinh tế Sự bất bình
Trang 31đẳng, phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế vẫn còn diễn ra mạnh mẽ, môi trường kinh doanh còn thiếu tính cạnh tranh và bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần kinh tế
Như vậy, sau 5 năm (1986-1990), thực hiện Nghị quyết ại hội VI của ảng và Nghị quyết ảng bộ tỉnh lần thứ VIII, với quan điểm, quyết tâm đổi mới, tỉnh Quảng Ninh đã giải quyết được những khó khăn gay gắt lúc bấy giờ, bộ mặt kinh tế - xã hội đã có những chuyển biến đáng kể, kinh
tế tư nhân đã từng bước được thừa nhận, quan tâm và trên đà phát triển Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục ây là yếu tố tác động đến chủ trương và sự chỉ đạo sau này của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh, là tiền đề hết sức quan trọng để ảng bộ và nhân dân tiến tới thực hiện ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói riêng
1.2 hủ trương và sự chỉ đạo của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ảng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, ại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và mở ra một sự phát triển mới cho các thành phần kinh tế ến ại hội VII của ảng đã khẳng định kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước đang ngày càng phát triển và có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng đất nước ại hội V đưa ra những chủ trương, chính sách, biện pháp để tiếp tục khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển Tiến hành kiểm kể kiểm soát của Nhà nước, phát triển cơ sở đảng, công đoàn, các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng trong các DN tư nhân, DN hợp tác – liên doanh trong nước và với nước ngoài, nhằm góp phần thúc đẩy SXKD có hiệu quả, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, ngăn chặn những việc làm phi pháp Với
Trang 32kinh tế cá thể, tiểu chủ hoạt động phần lớn dưới hình thức hộ gia đình phải
có chính sách giúp đỡ, hỗ trợ về vốn, về công nghệ, về thông tin thị trường, v…v giúp người lao động làm ăn có hiệu quả, tạo thêm công ăn việc làm
và đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước ồng thời hướng dẫn, vận động kinh tế cá thể từng bước đi vào làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, tạo điều kiện và môi trường pháp lý cho hoạt động cạnh tranh hợp pháp, cho sự hợp tác, liên doanh một cách tự nguyện, cùng có lợi giữa các
DN
Trước bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, bất lợi cho sự nghiệp cách mạng, thực hiện Chỉ thị số 59 và 65 của Ban Bí thư Trung ương ảng về mở đại hội các cấp cùng với những kết quả ban đầu đạt được sau 5 năm đổi mới Kinh tế đã dần ổn định, tháo gỡ được khó khăn, tìm cách phát triển bằng việc khai thác các thế mạnh về nguyên liệu, thị trường, thích nghi với cơ chế mới Thị trường hàng hóa đã trở nên phong phú, đa dạng, thuận tiện hơn bằng việc xuất hiện một nền kinh tế nhiều thành phần ại hội VIII của ảng bộ đánh dấu những bước tiến quan trọng về tư tưởng, nhận thức theo tinh thần đổi mới của ảng Bắt nguồn từ những cơ sở này, từ ngày 22-25/4/1991, ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X đã được diễn ra tại Hòn Gai, gồm 400 đại biểu thay mặt cho hơn 4 vạn đảng viên toàn ảng bộ tỉnh Quảng Ninh
ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX đã tập trung thảo luận
và thống nhất các Dự thảo Văn kiện của Trung ương như: Vấn đề chủ nghĩa xã hội, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới và tăng cường
sự lãnh đạo của ảng Thực hiện cơ chế đổi mới kinh tế trong quá trình hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, ảng bộ đã ra uyết định số 93, số 95 nhằm cụ thể hóa Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng
về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ quan liêu bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh, đổi mới công tác kế hoạch hóa gắn sản xuất với thị
Trang 33trường Trên lĩnh vực nông nghiệp, tiến hành thực hiện khoán đến hộ và gia đình
Sau 5 năm tiến hành đổi mới (1986-1991), ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X đã rút ra kinh nghiệm, đề ra phương hướng, nhiệm
vụ chủ yếu để lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện Tiến hành “ ộng viên mọi tiềm năng trí tuệ và bằng sức của nhân dân khai thác triệt để các thế mạnh của tỉnh Củng cố, hoàn thiện và phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng CN hóa, hiện đại hóa, giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế Trung ương và địa phương, giữa các ngành kinh tế trên địa bàn, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, huy động và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, tạo ra ngành kinh tế mũi nhọn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước” [28, tr 31]
ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX đã thông qua “ hiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2000” với mục tiêu: Ổn định tình hình kinh tế - xã hội, nhanh chóng đưa nền kinh tế của tỉnh thoát ra khỏi tình trạng chậm phát triển, tạo được thế mạnh phát triển một cách vững chắc” ây là hiến lược có tầm quan trọng đặc biệt đối với
sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh trong 10 năm cuối thế kỷ XX Thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược trong quá trình xác định mục tiêu, đánh giá tiềm năng, triển vọng và những định hướng lớn trong hoạch định các chính sách phát triển ồng thời là sự thể hiện nhất trí cao và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới phát triển kinh tế một cách toàn diện theo đường lối đổi mới của ảng
Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2000 với việc phát triển các thành phần kinh tế là động lực vừa là khả năng to lớn để phát triển nền kinh tế Ngoài kinh tế
Trang 34quốc doanh, khuyến khích phát triển thành phần kinh tế HTX, tư nhân, cá thể, kinh tế gia đình và các hình thức tổ hợp, tập đoàn sản xuất, xí nghiệp hoặc công ty cổ phần
UBND đề ra Quyết định số 1450 /UB quy định chi tiết việc thực hiện, triển khai các bộ luật liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân như: Giao cho Sở Tư pháp cùng với Trọng tài kinh tế tỉnh tổ chức phổ biến Luật
DN tư nhân và Luật Công ty, tuyên truyền, phổ biến nội dung chính Luật
DN tư nhân, Luật Công ty trong nhân dân Trong thời hạn 30 ngày, các cấp phải rà soát lại các quy định của tỉnh Quảng Ninh có liên quan đã được ban hành để trình UBND sửa đổi những quy định không phù hợp với Luật DN
tư nhân, Luật Công ty, bổ sung ban hành những văn bản mới quy định cụ thể thực hiện luật
Công nghiệp được ảng bộ tỉnh Quảng Ninh xác định là mặt trận quan trọng hàng đầu, việc duy trì và phát triển sản xuất CN có ý nghĩa cơ bản, tác động mạnh đến các lĩnh vực sản xuất khác Năm 1992, tập trung chỉ đạo việc tháo gỡ khó khăn đối với các đơn vị SXKD và yêu cầu rà soát lại các xí nghiệp quốc doanh nhằm giải quyết chuyển đổi hình thức đối với các đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
ối với kinh tế nhiều thành phần, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành ảng bộ tại Hội nghị đại biểu ảng bộ giữa nhiệm kỳ (khóa IX) tháng 3/1994 đã nhấn mạnh “Phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo động lực và môi trường pháp lý thuận lợi cho sự nghiệp phát triển Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, thực hiện các chủ trương, chính sách trong các thành phần kinh tế ổi mới kinh tế HTX, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi” [28, tr 42]
Chuyển đổi phương thức, nội dung hoạt động của các HTX cho phù hợp với điều kiện của từng địa phương Phát triển các mô hình kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp tạo ra năng lực sản xuất mới, các ngành nghề mới ở
Trang 35nông thôn Quan tâm tổ chức lại các HTX tiểu – thủ CN, khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất những mặt hàng theo yêu cầu của thị trường ồng thời, khuyến khích các thành phần kinh tế tiểu chủ, cá thể phát triển sản xuất, đảm bảo quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của các
DN tư nhân Nghiên cứu mở rộng chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển Áp dụng chính sách thuế, thu hút đầu tư vốn vay, liên doanh, liên kết với các cá nhân và tổ chức để phát triển, mở mang ngành nghề, làm ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
Trong nông nghiệp, thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương ảng khóa VII (tháng 6/1993) “Về tiếp tục đổi mới
và phát triển kinh tế nông thôn” Tỉnh ủy Quảng Ninh tổ chức Hội nghị cán
bộ chủ chốt và đưa ra Nghị quyết số 18-NQ/TU “Về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn” Trong đó, nhấn mạnh việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và kinh tế, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa sản phẩm, giải quyết vững chắc lương thực cho nông dân và chăn nuôi, cung ứng ngày càng nhiều thực phẩm cho khu CN và du lịch, tạo nguồn nguyên liệu cho CN chế biến và xuất khẩu
ổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với mở rộng CN chế biến, tiểu thủ CN và dịch vụ Giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân, đặc biệt nêu rõ 5 quyền được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp Ngành thủy sản, chuyển hướng tổ chức quản lý, đa dạng hóa các loại hình sở hữu và kinh doanh theo cơ chế thị trường, mô hình tư nhân tự bỏ vốn, nhận đấu thầu ao,
hồ, đầm để kinh doanh nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
ảng bộ đã tiến hành lãnh đạo phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, coi đây là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu,lấy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn để tạo đà
Trang 36phát triển các lĩnh vực kinh tế khác Thực hiện cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn, kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Với những chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế tư nhân, ảng bộ đã có những bước tiến quan trọng về mặt nhận thức Xác định, thừa nhận kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Từ đó, tạo mọi điều kiện để phát huy hết vai trò, vị trí của thành phần kinh tế này đối với sự phát triển của địa phương
Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ngoài quốc doanh theo định hướng của tỉnh và Nhà nước, UBND tỉnh Quảng Ninh ra chỉ thị số 2671 CT/UB ngày 22/11/1995, yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn thực hiện chỉ đạo tốt hơn UBND các huyện, thị xã, thành phố có nhiệm vụ quản lý Nhà nước, đối với các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động SXKD trên địa bàn, phải giao cho một phòng chức năng quản lý, có cán bộ chuyên theo dõi, phối hợp với Hội đồng các DN ngoài quốc doanh tỉnh để triển khai thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng theo chủ trương của tỉnh Tăng cường công tác quản lý Nhà nước
về chuyên ngành, phối hợp với Hội đồng DN, giúp UBND tỉnh Quảng Ninh xác định những định hướng phát triển, những cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội khu vực ngoài quốc doanh đảm bảo phát huy tốt hiệu quả, đúng pháp luật Nhà nước Coi trọng công tác hướng dẫn kiểm tra, kiểm soát kịp thời, ngăn chặn những hành vi vi phạm Công tác kiểm tra phải đúng theo quy định của Nhà nước, tránh tình trạng trùng chéo, gây trở ngại, phiền hà trong quá trình SXKD
Hội đồng các DN ngoài quốc doanh là cơ quan đầu mối của các đơn
vị kinh tế bao gồm: HTX, Tổ hợp tác, các DN tư nhân, các công ty TNHH Hội đồng có trách nhiệm phối hợp với các ngành, các địa phương khảo sát,
Trang 37đánh giá tình hình SXKD các đơn vị kinh tế, đề xuất những biện pháp tháo
gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) của ảng đã tổng kết thành tựu của 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, đề ra những phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000 Những thành công đạt được đã tạo nên thế và lực mới để đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CN hóa, hiện đại hóa Xuất phát từ tình hình thế giới và trong nước, ại hội quyết định cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ến năm
2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước CN Tuy nhiên, đất nước cũng đứng trước những nguy cơ, thách thức to lớn như âm mưu diễn biến hòa bình, tệ quan liêu, tham nhũng, suy thoái về đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên đã làm giảm năng lực lãnh đạo của ảng và Nhà nước
Quán triệt một cách sâu sắc Nghị quyết ại hội VIII và thực hiện Chỉ thị số 51 của Ban Bí thư Trung ương ảng, ại hội ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X đã diễn ra từ ngày 7-10/5/1996 tại Hòn Gai, Quảng Ninh
ại hội đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết ảng bộ tỉnh Quảng Ninh và nhận định: “ ua 5 năm thực hiện Nghị quyết ại hội VII của ảng và Nghị quyết ại hội IX của ảng bộ Tỉnh, đã thu được một số thành tựu bước đầu quan trọng, được sự quan tâm của Trung ương ảng, Chính phủ, sự hỗ trợ của các bộ, ban ngành Trung ương, ảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, tranh thủ thời cơ thuận lợi, mở rộng giao lưu kinh tế, tạo nên sự chuyển biến quan trọng của tỉnh trên các lĩnh vực Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa đều và chưa vững chắc Nhiều tiềm năng chưa được khai thác tốt Còn mất cân đối lớn giữa nhu cầu phát triển với nguồn lực tài chính địa phương
có hạn ơ sở hạ tầng yếu kém làm hạn chế lớn việc thu hút đầu tư uản
Trang 38lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội còn nhiều thiếu sót, sơ hở” [31, tr 80]
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm của tỉnh Quảng Ninh, ại hội xác định một số vấn đề cơ bản về mục tiêu tổng quát của 5 năm 1996-2000:
“Phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp tục khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tranh thủ thời cơ, mở rộng quan hệ hợp tác trong
và ngoài nước, đẩy nhanh quá trình CN hóa, hiện đại hóa, phát triển và tăng cường nguồn lực kinh tế, đi đôi với giải quyết các vấn đề bức xúc trong xã hội, đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, phát triển các thành phần kinh tế” [31, tr 82]
ại hội cũng khẳng định: “Mục tiêu chiến lược lâu dài theo hướng
CN hóa, hiện đại hóa ở tỉnh ta là phấn đấu đưa uảng Ninh trở thành một tỉnh CN và du lịch hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đời sống nhân dân ngày một nâng cao” [31, tr 83] ồng thời “Phấn đấu đưa uảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực và phát triển năng động gắn kết các địa phương khác trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ và cả nước” [31, tr 104]
Tháng 5/1998, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 3 (khóa X) gồm 44 điều Luật đã có nhiều điểm tiến bộ hơn trong việc đảm bảo, hỗ trợ đầu tư Nhà nước đối xử bình đẳng
và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào Việt Nam Năm
1999, Luật DN được ban hành với 10 chương và 124 điều hương V quy định về DN tư nhân đã giúp DN dành quyền chủ động, yên tâm bỏ vốn trong SXKD Sự ra đời của các bộ luật mới đã đánh dấu bước tiến quan trọng cho việc thực thi và phát triển kinh tế tư nhân ở Quảng Ninh ể thực hiện tốt những quy định của Luật, ảng bộ đã đề ra những biện pháp chỉ đạo cụ thể nhằm phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, huy động sức mạnh
Trang 39to lớn của thành phần kinh tế này Môi trường kinh doanh được cải thiện, thông thoáng, bình đẳng đã thúc đẩy DN, doanh nhân Quảng Ninh yên tâm đầu tư vào sản xuất ổn định, lâu dài
Như vậy, những chủ trương, chính sách của ảng và các cơ sở pháp
lý trong những năm 1991-2000 đã khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần Kinh tế tư nhân được coi là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế tư nhân đã bước tiến mới và đóng góp quan trọng đối với kinh tế chung của tỉnh Quảng Ninh Nắm vững và vận dụng cụ thể vào tình hình của địa phương, ảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã đưa ra những chủ trương đúng đắn, phù hợp
để phát huy tối đa sức mạnh của kinh tế tư nhân Tuy nhiên, trong tiến trình thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế cần được bổ sung, khắc phục và hoàn thiện Từ đó, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển về mọi mặt, khai thác mọi tiềm năng, ưu thế của tỉnh Quảng Ninh
Đối với các DNVVN, ảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo phát triển cả
4 loại hình DN: ác DN nhà nước đăng ký theo Luật DN; Các công ty cổ phần, TNH và các DN tư nhân đăng ký hoạt động theo Luật Công ty, Luật DN tư nhân; ác TX đăng ký theo Luật HTX; Các cá nhân và nhóm SXKD đăng ký theo Nghị định 66- BT
ảng bộ đã chỉ đạo thực hiện nhằm phát huy các ưu thế của DNVVN như: Sinh lợi cao của DNVVN so với các DN có quy mô lớn, vốn đầu tư
Trang 40ban đầu lại thấp, gọn lẹ trong công tác quản lý, tổ chức nên các DN này rất linh hoạt trong xử lý tình huống, dễ dàng chuyển hướng theo yêu cầu của thị trường Nhanh chóng đổi mới trang thiết bị công nghệ kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí bổ sung, kết hợp một cách hợp lý giữa tự động hóa, cơ khí hóa và lao động thủ công Mối quan hệ giữa quản lý và nhân viên gần gũi hơn, tạo điều kiện cho việc hình thành những ý tưởng mới, kích thích sự năng động, sáng tạo của nhân viên ây là loại hình DN cực
kỳ năng động, cần thiết cho sự ổn định, phát triển kinh tế Vai trò này không mâu thuẫn với xu hướng mở rộng quy mô SXKD, không mang tính loại trừ mà bổ sung cho nhau, cùng nhau tồn tại và phát triển
Trong N, trước năm 1991, CN - TCN ở Quảng Ninh chưa có sự phát triển, từ khi thực hiện đường lối đổi mới của ảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, CN - T N đã có cơ hội vươn lên phát triển mạnh
mẽ ặc biệt, khi các bộ luật khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân được ban hành và được thực thi vào thực tế
ảng bộ tập trung chỉ đạo các đơn vị SXKD theo Quyết định 315 và Nghị định 399 Hội đồng Bộ trưởng N địa phương đã có nhiều đổi mới trong các lĩnh vực như: công nghiệp khai thác khoáng sản, chế biến thực phẩm, đồ uống, may mặc, giầy da Nhiều cơ sở sản xuất, ngành nghề đi vào sản xuất ổn định, các sản phẩm đều tăng trưởng, chiếm vị trí quan trọng trên thị trường tiêu thụ