LỜI CAM ĐOAN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN & LÊ VĂN NGUYÊN ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-& -
LÊ VĂN NGUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-& -
LÊ VĂN NGUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Phạm Thị Lương Diệu – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia
Trang 4BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH HƢNG YÊN
Nguồn:
http://www.hungyen.gov.vn/Pages/toan-canh-67/ban-do-hanh-chinh-77/Ban-do-hanh-chinh-ab42c934666f4b33.aspx/
Trang 5BẢNG MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 10
1.1 Các yếu tố tác động, quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong việc phát huy vai trò của phụ nữ 10
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 10
1.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò của phụ nữ 13
1.1.3 Tình hình phụ nữ tỉnh Hưng Yên trước năm 1997 16
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2005 20
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 20
1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ (1997-2005) 23
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 41
2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 41
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và những yêu cầu mới đặt ra 41
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 45
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 49
2.2.1 Chỉ đạo phát huy vai trò của phụ nữ thông qua việc tiếp tục kiện toàn và củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh 49
2.2.2 Chỉ đạo phát huy vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế 53
2.2.3 Chỉ đạo phát huy vai trò của phụ nữ trong công tác tuyên truyền các hoạt động xã hội 60
Tiểu kết Chương 2 63
Trang 7Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 65
3.1 Nhận xét 65
3.1.1 Về ưu điểm 65
3.1.2 Về hạn chế 72
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 77
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 100
Trang 8và sẵn sàng giải phóng mình khỏi những áp bức bóc lột đó khi có cơ hội Họ cần một con đường đúng đắn và một chế độ biết tôn trọng những giá trị đích thực của họ để dẫn đường
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”, Đảng sớm nhận rõ,
phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng
Ngày 20/10/1930, với nhu cầu của thực tế sự phát triển của cách mạng, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ và đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Ngày nay, trong quá trình CNH-HDH đất nước Phụ nữ có mặt trong hầu hết trong các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội Phụ nữ với bản tính cần cù và tỉ mỉ, trong quá trình phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nhẹ hay những ngành nghề về thủ công nghiệp, những công việc liên quan
Trang 9đến sự khéo léo của phụ nữ, họ đang phát huy tốt khả năng và năng lực của mình Phụ nữ Việt Nam, họ có mặt ở các nhà máy hay xí nghiệp cũng như những vị trí lãnh đạo tại các cơ quan hành chính sự nghiệp Phụ nữ nông thôn cũng đang phát huy khả năng của mình với những phong trào thi đua phụ nữ
hỗ trợ giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo và thực tế cho thấy rằng vai trò của phụ nữ là cực kì quan trọng Chính vì vậy, nhận thức được những điều
đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam càng coi trọng và đảm bảo quyền bình đẳng giới của phụ nữ hơn, nó được thể hiện trong các văn bản pháp luật về giới và những chính sách cải thiện đời sống tinh thần của phụ nữ
Đảng và Nhà nước còn thể hiện sự quan tâm tới tầm quan trọng của phụ
nữ thông qua hoạt động tăng cường hơn nữa phụ nữ tham gia vào các công tác quản lý và hoạt động của nhà nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với đội ngũ cán bộ nữ đông đảo Sự nhận thức về vai trò quan trọng của phụ nữ của Đảng và Nhà nước được thể hiện điển hình thông qua Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Về công tác phụ nữ thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã chỉ rõ: “Phát huy vai trò, tiềm năng
to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu
quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”[31, tr.2]
Tuy nhiên, trên thực tế sự quan tâm của Đảng tới vấn đề phụ nữ vẫn còn nhiều thiếu sót khi lực lượng phụ nữ ở nông thôn còn thất nghiệp với tỷ lệ cao Tình trạng bạo hành gia đình, phân biệt nam nữ vẫn còn tồn tại trong xã hội hiện nay Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong 5 năm (2003 - 2008), các tòa án địa phương đã thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ ly hôn, trong đó có đến 186.954 vụ vợ bị chồng đánh đập, ngược đãi, chiếm
53,1% trong số các nguyên nhân dẫn đến ly hôn [30, tr.1]
Trang 10Đảng bộ tỉnh Hưng Yên cũng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của địa phương cùng sự tiếp thu Chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng nhận thức được vai trò quan trọng của phụ nữ và quan tâm đến vấn đề phụ nữ của tỉnh
bộ thông qua việc tái lập tỉnh cũng là thời điểm Hội LHPN tỉnh được thành lập nhằm kiện toàn các tổ chức chính trị tỉnh và bộ máy hành chính của tỉnh Hưng Yên
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã phát huy vai trò của phụ nữ thông qua Hội LHPN là tổ chức trực tiếp triển khai những Chủ trương của Đảng bộ tới phụ
nữ cơ sở Những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh qua các giai đoạn Đặc biệt lực lượng phụ nữ đóng một vai trò quan trọng hiện nay góp phần vào chương trình và mục tiêu xây dựng “Nông thôn mới” của Đảng bộ tỉnh đang triển khai cùng các chương trình hành động xã hội đều có sự góp mặt của phụ
nữ Điều này được thể hiện thông qua các chủ trương và nghị quyết cụ thể của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Việc tìm hiểu về sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Hưng Yên phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 tới 2014 nhằm đưa ra một cách nhìn hệ thống và cụ thể sự nhận thức của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về vai trò của phụ nữ thông qua những chủ trương chỉ đạo và những sáng tạo của Đảng bộ với hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Đồng thời luận văn cũng đưa ra được những đánh giá về ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm thực tiễn là một trong những việc làm cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn về những vấn đề Đảng bộ tỉnh Hưng Yên làm được và chưa làm được trong quá trình phát huy vai trò của phụ nữ
Vì những lý do đó, tôi chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014” làm luận văn thạc
sỹ, chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài về phụ nữ luôn hấp dẫn và thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Để đề cập tới những công trình liên quan đến đề tài này tôi chia thành hai nhóm công trình nghiên
cứu như sau:
Nhóm 1: Các công trình, bài viết về phụ nữ, vai trò của phụ nữ
Cuốn Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, xuất bản năm 1981, do
Nguyễn Thị Thập chủ biên đã trình bày một cách xuyên xuốt về lịch sử ra đời cũng như đấu tranh và phát triển của phụ nữ Việt Nam qua các thời kì cách mạng
Cuốn Truyền thống Phụ nữ Việt Nam, xuất bản năm 2001, của Trần
Quốc Vượng đã đưa đến một cách nhìn sâu sắc của tác giả về người phụ nữ Việt Nam xưa và nay Những truyền thống của người phụ nữ được tác giả trình bày khá rõ thông qua những phong tục, tập quán và các hoạt động kinh tế
Thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, năm 2012 do nhóm tác giả thuộc Trung ương
Hội LHPN Việt Nam làm chủ nhiệm đề tài Công trình này đi sâu vào mô tả
về thực trạng tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, và một số đề xuất góp phần cho công tác tổ chức và hoạt động của Hội LHPN phát triển trong thời gian tới Công trình không tập trung vào làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN mà mới chỉ để cập khái quát ở mức cơ sở lý luận
Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hưng Yên (1930-2000), xuất bản tháng
10 năm 2002, Công trình là sự khái quát về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Hội LHPN tỉnh Hưng Yên từ năm 1930 tới năm 2000
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về lịch sử phong trào phụ
nữ cũng góp phần khẳng định vai trò vị trí của phụ nữ Việt Nam như: Hai
Trang 12mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam 1975-1995, của
tác giả Lê Minh (chủ biên), Nhà xuất bản Phụ nữ, 1996; Những nét sơ lược về
phong trào phụ nữ từ ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ban
Tuyên huấn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Nhà xuất bản Phụ
nữ, 1961
Nhóm 2: Các công trình, bài viết về sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với phụ nữ
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Hà, (2008), Đảng
với cuộc vận động Phụ nữ 1930-1945, Trường Đại Học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Hà Nội, đã đi sâu vào nghiên cứu đường lối vận động phụ nữ dưới
sự lãnh đạo của Đảng và diễn tiến phong trào đấu tranh của phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng giai đoạn 1930-1945
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Trần Thị Minh Hải (2010), Đảng
với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2009, đã tập hợp được một
cách cụ thể và chính xác những chủ trương của Đảng về vận động phụ nữ từ năm 1986 tới năm 2009 qua việc nêu lên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Trương Thị Thủy (2012), Đảng
lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
từ năm 1986 đến năm 1996 trình bày hệ thống quan điểm, chủ trương của
Đảng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong những năm 1986 – 1996
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Hồ Thị Liên Hương (2013),
Đảng với hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2010 trình bày sự chỉ đạo của Đảng với hoạt động đối ngoại
nhân dân thông qua chủ thể là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010
Trang 13Những công trình khoa học trên đây đã đạt được những thành tựu nghiên cứu cơ bản ban đầu Các công trình này đã tập hợp được cơ bản đầy
đủ những Chủ trương, Nghị quyết của TW Đảng về những vấn đề liên quan đến phụ nữ nói chung Ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả đi theo một hướng nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan đến phụ nữ như: lịch
sử hình thành, quá trình xây dựng và hoạt động của Hội LHPN, hay những vấn đề liên quan đến phụ nữ phát triển kinh tế, phụ nữ với các hoạt động đối ngoại, hay phụ nữ với các hoạt động xã hội
Tuy nhiên, ở mỗi công trình nghiên cứu họ lại đề cập đến một vấn đề nghiên cứu khác nhau, mà vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng yên trong quá trình phát huy vai trò của phụ nữ lại chưa có tác giả nào
đề cập Vì vậy, luận văn của tôi kế thừa những thành tựu của những công trình đi trước về các nguồn tư liệu liên quan đến Chủ trương, Nghị quyết của
TW Đảng về vấn đề phụ nữ và những phương pháp tiếp cận vấn đề, liên quan tới đề tài được đề cập ở mức độ khác nhau về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng phát huy vai trò của phụ nữ Công trình nghiên cứu của tôi sẽ góp phần đưa ra một hướng nghiên cứu về quá trình Đảng bộ cơ sở phát huy vai trò của phụ ở từng địa phương Luận văn của tác giả sẻ góp phần làm rõ hơn, bổ cứu cho những khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề Đảng lãnh đạo và phát huy vai trò của phụ nữ, với chủ thể là Đảng bộ tỉnh Hưng Yên phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014; nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và rút ra những kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo về việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn mới
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở hình thành chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát huy vai trò của phụ nữ ở địa phương
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát huy vai trò của phụ nữ trên địa bàn tỉnh
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát huy vai trò của phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2014
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Luận văn là các chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu các chủ trương, chính sách, biện pháp tổ chức
thực hiện, công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ, cụ thể: phát huy vai trò của phụ nữ thông qua việc xây dựng và củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh; phát huy vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế; và phát huy vai trò của phụ nữ trong công tác tuyên truyền các hoạt động xã hội
- Về thời gian: Bắt đầu từ năm 1997 (thời điểm tách tỉnh Hải Hưng thành
hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) đến năm 2014 – là 17 năm Hưng Yên tái lập tỉnh và cũng là thời điểm học viên đăng ký đề tài nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát huy vai trò
của phụ nữ của Đảng bộ tỉnh trên địa bàn toàn tỉnh Hưng Yên
Trang 155 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ
5.2 Nguồn tư liệu
Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu cơ bản sau để nghiên cứu:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ;
- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hưng Yên trong việc phát huy vai trò của phụ nữ;
- Các tài liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên, Cục Thống kê của tỉnh Hưng Yên về vấn đề này từ năm 1997 đến năm 2014;
- Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo những công trình, bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch
sử và phương pháp logic, ngoài ra luận văn còn kết hợp dùng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh Các phương pháp đó được vận dụng phù hợp với yêu cầu của từng nội dung trong luận văn
6 Đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp chính sau:
- Khái quát chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ
nữ qua các văn kiện Đảng thời kỳ Đổi mới – đây là yếu tố chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên; cùng với đó là trình bày các yếu tố có tác động, ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đến việc phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh trước năm 1997 như điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của tỉnh
Trang 16- Hệ thống hóa những chủ trương, chính sách, biện pháp mà Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã thực hiện để lãnh đạo phát huy vai trò của phụ nữ trong tỉnh từ năm 1997 đến năm 2014; đồng thời phục dựng lại bức tranh về vai trò của phụ nữ tỉnh Hưng Yên qua các giai đoạn: 1997-2005; 2006-2014
- Đánh giá ưu, nhược điểm, nêu nguyên nhân và rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến phát huy vai trò của phụ nữ của Đảng
bộ và chính quyền tỉnh Hưng Yên tại các trường Đảng, các trung tâm chính trị tại địa phương
7 Bố cục Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
trong phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo đẩy mạnh phát huy
vai trò của phụ nữ từ năm 2006 đến năm 2014
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 171.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên
Hưng Yên là vùng đất hình thành sớm ở trung tâm châu thổ sông Hồng,
có ranh giới tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, địa phận huyện Thuận Thành, địa giới dài 16km Phía Đông giáp Hải Dương, chiều dài 93km Phía Đông Nam giáp tỉnh Thái Bình, chiều dài 26km, có sông Luộc làm ranh giới Phía Tây Bắc và Tây Nam giáp Hà Nội, Hà Nam với chiều dài 67km, có sông Hồng làm giới hạn Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 923.093 km2 trong đó có huyện Khoái Châu có diện tích lớn nhất: 130.861km, thành phố Hưng Yên có diện tích nhỏ nhất: 20.151km [9, tr 5]
Địa hình nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, địa hình tỉnh tương đối bằng phẳng, không có biển và đồi núi
Đất đai trong tỉnh được hình thành từ sớm do phù sa sông Hồng bồi đắp Khí hậu tỉnh Hưng Yên cũng giống các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đó là nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu của địa phương chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm
là 23 độ C, lượng mưa trung bình dao động từ 1800 đến 2200mm/năm, tập trung chủ yếu tới 70% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8 Thời kì khô lạnh
từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Độ ẩm bình quân các tháng trong năm là 85,5% [9, tr.7]
Tỉnh Hưng Yên có nhiều sông ngòi, ở phía Tây có sông Hồng chảy qua tỉnh dài xấp xỉ 60km, phía Nam có sông Luộc Sông Tử Dương còn gọi là
Trang 18sông Nghĩa Trụ, chảy đến giữa tỉnh thì chia làm hai lưu Loan Ái và Thổ Hoàng rồi đổ vào sông Trương thuộc huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương Phía Đông là sông Cửu An - dòng sông cũ đã bị bồi lấp, dòng sông mới từ phía Đông huyện Phù Cừ đến phía Đông huyện Ân Thi, qua cầu Sặt sang tỉnh Hải Dương
Khí hậu và đất đai cùng hệ thống sông trong tỉnh phong phú rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, thích hợp để bố trí một cơ cấu cây trồng và vật nuôi đa dạng có nguồn gốc nhiệt đới và một số cây trồng có nguồn gốc ôn đới như cây lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiêp… Tuy nhiên khí hậu như vậy cũng có một số hạn chế như mùa mưa thường tập trung vào một thời gian ngắn nên dễ gây ngập úng và thường kèm theo bão, mùa lạnh cũng thường xuất hiện những đợt rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh
Hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị là : Thị xã Hưng Yên (nay là Thành phố Hưng Yên, các huyện Văn Lâm, Văn Giang,
Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, với 161
xã, phường và thị trấn)
Điều kiện kinh tế - xã hội
Hưng Yên cũng giống như các vùng khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, là tỉnh đất chật người đông Nhờ chính sách trọng nông của nhà nước phong kiến, vùng đất Hưng Yên được khai thác từ rất sớm Nhà Trần đã cho phép các vương hầu được chiêu mộ dân phiêu tán đến khai hoang, lập ấp, dựng điền trang dọc theo sông Hồng Hệ thống đê quai vạc dọc sông Hồng được xây đắp cùng với việc đào nắn nhiều mương ngòi dẫn nước để tiêu úng chống hạn Thời Lê, đội ngũ hà đê chánh, phó sứ giúp nhiều cho công việc đê điều, thủy lợi
Tuy nhiên, việc độc canh cây lúa và việc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên khắc nghiệt không đủ đảm bảo cho cuộc sống thường nhật của người dân, do đó nhiều nghề phụ đã ra đời tạo ra các làng nghề thủ công, phường thủ công nổi tiếng ra đời
Trang 19Hoạt động thương mại, buôn bán của Hưng Yên phát triển từ khá sớm,
và khá mạnh Ngoài truyền thuyết về Chử Đồng Tử - Tiên Dung được coi như
tổ sư nghề buôn, ta còn thấy xuất hiện nhiều làng chuyên buôn bán, bến chợ bên bờ sông Hồng từ Mễ Sở xuống tận thị xã Hưng Yên Làng Huê Cầu (Nghĩa Trụ - Văn Giang) có người buôn bán khắp các tỉnh, thành như: Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hải Dương Làng Đa ngưu (Văn Giang) có tới hơn 70% số hộ buôn bán thuốc bắc, cung cấp 9/10 thuốc bắc cho các hiệu thuốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh bắc Trung Bộ Làng Đồng Tỉnh ở Nghĩa Trụ Văn giang, cả làng đi buôn thuốc lào
và cau, có nhiều cơ sở ở Nghệ An, Hà Đông, Thái Nguyên Đặc biệt, với Phố Hiến – tiền cảng, cảng sông, cảng chợ của Thăng Long vô cùng sầm uất đã biến vùng đất này thành trung tâm buôn bán và đô hộ từ rất sớm Nếu hồi đầu thế kỉ XIII, nơi đây mới xuất hiện làng Hoa Dương của quan quân nhà Tống lánh nạn Nguyên – Mông thì đến thế kỉ XVII, dưới thời Lê - Trịnh, nó đã trở thành Phố Hiến với cảng sông Vạn Lai Triều, tấp nập tàu thuyền của ngoại quốc vào ra buôn bán Các nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp đã dựng nhiều thương điếm làm cho phố xá càng tấp nập đông vui
Dân số Hưng Yên, theo điều tra dân số năm 2011, toàn Tỉnh có 1.137.294 người Mật độ dân số là 1.145 người/km [9, tr.5]
Đặc điểm tự nhiên và các hoạt động kinh tế, xã hội cơ bản là thuận lợi
đã tạo điều kiện cho Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có những chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp phù hợp với từng vùng trong tỉnh và khai thác được tối
đa hiệu suất mà điều kiện tự nhiên mang lại đồng thời tận dụng được tối đa nguồn nhân lực nông nhàn đặc biệt là phụ nữ nhằm khai thác và phát huy được vai trò của phụ nữ ở từng vùng nông thôn
Với những vùng đất có sông Hồng bồi đắp phù sa, như Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, thì thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng
Trang 20chuyên canh cây ăn quả lâu năm hay phù hợp với trồng cây hoa màu, rất phù hợp với bàn tay khéo léo tỉ mỉ của phụ nữ Những Huyện như Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ là những vùng đất có tuyến giao thông thuận lợi nên rất thu hút được các nhà máy, xí nghiệp có vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư phát triển, nhờ vậy mà Đảng bộ tỉnh Hưng Yên cũng rất chú trọng thu hút vốn đầu tư phát triển các nhà máy xí nghiệp nhằm tạo công ăn việc làm cho nguồn nhân lực đang có trên địa bàn tỉnh Vì vậy mà trong các giai đoạn phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Hưng Yên Đảng bộ tỉnh cũng đã chú trọng tới những điều kiện tự nhiên cụ thể để có những bước đi phù hợp với từng vùng trong tỉnh, phát huy được vai trò của từng vùng cũng như từng bộ phận nguồn nhân lực cụ thể trong đó có phụ nữ
1.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò của phụ nữ
Ngay từ đầu khi Đảng mới thành lập Những nhận thức mới về phụ nữ
đã tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng và đức hạnh của mình góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930, với Chính cương văn tắt khẳng định “nam nữ bình quyền” [40, tr.2] Trong Án nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 nêu rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được Bởi vậy nên công tác trong quần chúng phụ nữ không phải là một cái nhiệm vụ phụ thuộc của Đảng; công tác ấy chánh là một cái nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu” [40, tr.188]
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ VI (15/12/1986) khẳng định: Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng, có những đặc điểm cần chú ý Để phát huy vai trò to
Trang 21lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, luật pháp Các cơ quan nhà nước, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có những biện pháp thiết thực tạo thêm nhiều việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc [41, tr.450]
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 11 NQ/TW về “Công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ, để phụ nữ tham gia đóng góp ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn cho sự phát triển của đất nước, gia đình và xã hội Nghị quyết khẳng định, trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới
Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Ðảng Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả
hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Thực tế, ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 51% dân
Trang 22số và 48% lực lượng lao động, phụ nữ Việt Nam hiện đang có mặt trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề, tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển kinh tế, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Hiện Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội cao nhất thế giới, 25% nữ đại biểu Quốc hội, 2 nữ Phó Chủ tịch Quốc hội, 1 nữ Phó Chủ tịch nước, 2 nữ bộ trưởng và nhiều nữ thứ trưởng [71, tr.2]
Trong thời kỳ đất nước bước vào CNH-HĐH đổi mới đất nước, Hội LHPN Việt Nam đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ Các cấp hội phụ nữ đã có nhiều phương thức hoạt động, vận động phụ nữ cả nước phát huy tính năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, vươn lên thực hiện tốt cả hai chức năng “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, nhất là trong lao động sản xuất, giúp nhau xóa đói giảm nghèo với các phong trào “ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước” Đã có hàng triệu lượt phụ nữ nghèo được hướng dẫn kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, vay vốn hàng chục nghìn tỷ đồng để xóa đói, giảm nghèo, nhiều chị em vươn lên làm kinh tế giỏi, khẳng định vai trò của mình trong gia đình, xã hội Hơn bao giờ hết, phụ nữ Việt Nam tiếp tục tỏ rõ năng lực và khẳng định vai trò vị trí của mình Thực hiện thông điệp “Bình đẳng cho phụ
nữ là tiến bộ của tất cả chúng ta”, Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để Việt Nam là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực
Trang 23Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã thể hiện rất rõ
sự quan tâm và chú trọng phát huy những vai trò và tiềm năng của phụ nữ để khai thác tối đa những nguồn lực chất lượng phục vụ công tác quản lý hành chính cũng như quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh sự phát triển của đất nước
1.1.3 Tình hình phụ nữ tỉnh Hưng Yên trước năm 1997
Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên được thành lập vào tháng 1 năm
1947, dưới sự lãnh đạo của Hội, phong trào phụ nữ của tỉnh đã đạt được nhiều thành tích quan trọng góp phần vào việc tuyên truyền, động viên và ủng hộ cho kháng chiến tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đem lại hòa bình cho đất nước
Đất nước hòa bình bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phụ
nữ tỉnh Hưng Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và trực tiếp là Hội Liên hiệp phụ nữ Hưng Yên đã phát huy truyền thống tốt đẹp của mình, khắc phục những khó khăn, cùng nhân dân trong tỉnh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội Nhưng một thời kỳ dài hoạt động với bộ máy hành chính là tỉnh Hải Hưng cũ, Hội Liên Hiệp phụ nữ hoạt động với sự phân tán và rộng, đội ngũ cán bộ then chốt còn hạn chế, làm cho hiệu xuất hoạt động phát huy vai trò của hội còn chưa hiệu quả Và yêu cầu cần có một cơ chế hoạt động mới cũng được đáp ứng phù hợp với hoàn cảnh khi mà việc tách tỉnh được diễn ra vào năm 1997
Ngày 1-1-1997 Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh được thành lập cùng với sự kiện tái lập tỉnh Hưng Yên sau gần 3 thập kỷ hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng (từ tháng 3 năm 1968 đến tháng 1 năm 1997) Tỉnh Hưng Yên được tái lập các tầng lớp phụ nữ nói riêng phải đối diện với những khó khăn ban đầu về cơ sở vật chất, trụ sở làm việc và các điều kiện phục vụ cho công tác và đời sống Song với truyền thống và tinh thần trách nhiệm cao
Trang 24của mình, các cấp cán bộ và nhân viên trong cơ quan Tỉnh Hội đã đoàn kết thống nhất, khắc phục những khó khăn tham mưu với Ban chấp hành lâm thời Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, kịp thời triển khai ngay các công tác Hội, củng cố
tổ chức và nắm tình hình phong trào cơ sở Tỉnh Hội đã bám sát Nghị quyết của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo của Trung ương Hội, tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực
hiện “2 cuộc vận động và 5 chương trình trọng tâm” của Hội nhằm phát huy
vai trò quan trọng của các tầng lớp phụ nữ:
- Chương trình nâng cao kiến thức, trình độ và năng lực cho phụ nữ
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập
- Chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc
- Chương trình xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, góp phần chăm lo đào tạo cán bộ hội, cán bộ nữ
- Chương trình nghiên cứu và giám sát
Và hai cuộc vận động “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây
dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”
Những chương trình phát triển kinh tế này của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
đã được đưa ra trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và được Hội phụ nữ cụ thể hóa đưa xuống cơ sở nhằm phù hợp với thực tiễn của các tầng lớp phụ nữ của địa phương và những hoạt động này luôn phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan để lồng ghép công tác của Hội với các phong trào phụ nữ của địa phương cụ thể
Những chương trình hành động của tỉnh hội phụ nữ đưa ra luôn bám sát vào các mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh trong các giai đoạn nhằm phát huy tối đa vai trò của phụ nữ trong thời kì phát triển kinh tế-xã hội
Tuy nhiên, bước đầu khi tái lập tỉnh, những khó khăn và tồn tại mà không chỉ các Ban, Ngành, Đoàn thể khác trong toàn tỉnh gặp phải như cơ sở
Trang 25vật chất và hạ tầng và vấn đề con người cũng là một vấn đề cần thiết cần giải quyết Hội phụ nữ tỉnh Hưng Yên cũng đang tồn tại những khó khăn và cần được Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhanh chóng đưa ra những chủ trương chỉ đạo tỉnh Hội để góp phần kiện toàn hơn nữa khả năng phát huy vai trò của phụ nữ trong tỉnh Những khó khăn về tổ chức và con người gặp phải trong giai đoạn bước đầu khó khăn đó là:
Thứ nhất, là vấn đề trình độ và học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức văn hóa - xã hội của một bộ phận không nhỏ phụ nữ còn thấp Phụ nữ nông dân ít được đào tạo nghề Phụ nữ nghèo phần lớn bị mù chữ, và đặc biệt hơn đó chính là trình độ văn hóa của bộ phận nữ thanh niên, nhất là ở nông thôn có xu hướng giảm do chưa nhận thức đươc tầm quan trọng của kiến thức văn hóa dẫn tới tình trạng bỏ học do nhiều nguyên nhân Đây chính là những trở ngại lớn đối với phụ nữ tỉnh Hưng Yên trong khi bước vào quá trình hội nhập phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thứ hai, là vấn đề lao động và việc làm của phụ nữ trong thời kỳ này là vấn đề gay gắt Tỷ lệ lao động nữ ở các ngành tương đối cao nhưng do ít được đào tạo, trình độ văn hóa, chuyên môn và tay nghề còn thấp, xu hướng không muốn nhận lao động nữ là phổ biến
Thứ ba, trong lĩnh vực gia đình và sức khỏe của phụ nữ cũng còn nhiều khó khăn, tồn tại Chi phí cho học tập, khám chữa bệnh tốn kém so với mức thu nhập chung, các tệ nạn xã hội, hủ tục trong ma chay, cưới xin, tình trạng
vi phạm luật hôn nhân và gia đình có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình và người phụ nữ
Thứ tư, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hưng Yên còn gặp nhiều khó khăn khi tỉnh mới được tái lập, với những nội dung công tác mới và đội ngũ cán bộ làm công tác còn thiếu về số lượng Vì vậy mà nhiều nội dung tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn
Trang 26Để phát huy tốt vai trò của phụ nữ, Tỉnh Hội cũng tổ chức các đợt tuyên truyền giáo dục xuống cơ sở bằng nhiều hình thức đa dạng như: mít tinh, học tập, sinh hoạt tổ nhóm phụ nữ, tọa đàm, giao lưu, sinh hoạt câu lạc
bộ phụ nữ… Tổ chức các “Hội thi” từ cơ sở đến tỉnh để bồi dưỡng nâng cao
kiến thức cho phụ nữ và cổ vũ động viên phong trào
Sau hơn 3 tháng kể từ ngày tái lập tỉnh, Dưới sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, ngày 11- 4 - 1997, Đại hội phụ nữ tỉnh Hưng Yên lần thứ XI khai mạc trọng thể tại Thị xã Hưng Yên Đây là Đại hội mở đầu của các đoàn thể chính trị trong tỉnh nhằm đưa Nghị quyết của Đảng vào thực hiện trong tổ chức của mình Đại hội đã kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ tỉnh nhiệm kỳ 1992 - 1997; đề ra mục tiêu và phương hướng nhiệm vụ của phong trào phụ nữ và công tác Hội nhiệm kỳ 1997 -
2001 Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh gồm 25 ủy viên, đồng chí Doãn Thị Thanh Hoa được bầu làm chủ tịch Hội; bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ 8 gồm 8 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết
Như vậy, Mặc dù khi mới thành lập, tình hình của Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Hưng Yên về cơ cấu và tổ chức còn gặp phải nhiều khó khăn và trở ngại nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cùng Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, cùng sự quan tâm và giúp đỡ của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh Hội phụ nữ tỉnh Hưng Yên cùng phong trào phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Hưng Yên đã từng bước được kiện toàn về mặt tổ chức dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng yên và của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hưng Yên đã thành lập và chính thức bước vào hoạt động, từ đây đánh dấu những phong trào, những hoạt động thi đua sôi nổi của Hội nhằm cùng Đảng ủy tỉnh Hưng Yên khắc phục những khó khăn bước đầu sau khi tái lập tỉnh và chung sức
Trang 27cùng các Ban, Ngành, Đoàn thể thi đua lập thành tích nhằm hoàn thành những mục tiêu lớn về kinh tế - xã hội cùng cả nước, hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Hưng Yên Đặc biệt là phát huy được vai trò của các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2005
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Quán triệt những chủ trương, chính sách, những chỉ thị và nghị quyết của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên căn cứ vào những khó khăn
và thuận lợi của một tỉnh mới được tái lập Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV (11-1997) đã nêu rõ phương hướng chung về phát triển kinh tế, xã hội những năm 1998 tới năm 2000 đó là: “Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa công cuộc đổi mới phát triển một cách toàn diện và đồng bộ, tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và
có hiệu quả đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, tăng cường
an ninh quốc phòng, cải thiện một bước mức sống của nhân dân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nâng cao tích lũy nội bộ, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao sau năm 2000” [3, tr 307] Đại hội xác định rõ những mục tiêu phải phấn đấu trong thời gian tới đó là tiếp tục triển khai 8 chương trình kinh tế - xã hội, phấn đấu đạt các mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 14%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 6%, công nghiệp tăng trên 20%, dịch vụ tăng trên 18% Cơ cấu kinh tế hình thành, nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ là 40% - 28% - 32% Thu nhập bình quân đầu người trên 350 USD Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân trên 25 triệu USD/ năm Tỷ lệ phát triển dân số 1,2% Tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% 30% làng được công nhận làng văn hóa Trên 70% xã phổ cập trung học cơ sở 50%
trạm xá có bác sỹ [3, tr 309] Muốn những chương trình kinh tế, những mục
Trang 28tiêu đạt được yêu cầu toàn bộ các ngành, các cấp, các hội phải phát huy hết vai trò và tiềm năng của mình để đạt được thành công
Một trong những chương trình phát triển kiện toàn bộ máy chính trị cũng như phát huy vai trò của các Đoàn thể, thì công tác phụ nữ cũng được Đảng bộ tỉnh xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát huy tốt những nguồn lực chiếm tới 52% dân số của toàn tỉnh Vì vậy ngay sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên rất chú trọng tới những công tác, và hoạt động của HLHPN Tỉnh Điều này được thể hiện bằng những chính sách
và những nghị quyết cụ thể của Trung ương Đảng về phụ nữ được Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa và triển khai sâu rộng trong các tầng lớp Hội Đại hội lần thứ XIV của tỉnh Hưng Yên đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ công tác phụ nữ tới năm 2000 là: “Hội phụ nữ cần triển khai sâu rộng 5 chương trình và 2 phong trào “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh
phúc” và “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” [42, tr 26]
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV(12-2000) đã đề ra mục tiêu chung đến năm 2005 là: “Cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ tỉnh, phát huy sức mạnh tổng hợp, tranh thủ thời cơ khắc phục những yếu kém, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc, đi đôi với nâng cao một bước đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo cơ sở vững chắc để tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển nhanh hơn về giai đoạn sau”[43, tr 9]
Để phấn đấu và đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra trong Đại hội lần này, thì hướng đi cho tỉnh Hưng Yên được Đảng bộ tỉnh quan tâm
đó là phát triển nông nghiệp nông thôn, lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các lĩnh vực dịch vụ để khắc phục
Trang 29những khó khăn và thách thức đó, đòi hỏi cần phải có sự cố gắng phấn đấu của toàn thể Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, trong đó công tác vận động quần chúng nói chung và công tác phụ nữ nói riêng có vai trò rất quan trọng
Trong công tác phụ nữ thì công tác cán bộ nữ được Ban thường vụ Tỉnh
ủy quan tâm Ban thường vụ tỉnh ủy đã ra công văn số 645-CV/TU ngày 22/5/2003 yêu cầu Đảng đoàn Hội LHPN xây dựng chương trình Báo cáo số
11-BC/ĐĐ “về công tác cán bộ nữ” nhằm nâng cao nhận thức của các đoàn
thể các cấp trong tỉnh về vai trò của phụ nữ và đồng thời nhằm thực hiện theo chỉ thị 37 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban
hành ngày 16/5/1994 về một số vấn đề “công tác nữ trong tình hình mới”
nhằm nâng cao nhận thức và quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ, nâng cao tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo quản lý trong các cấp, các ngành và đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên nữ được cấp ủy tỉnh đến cơ sở, các Ban, Ngành, Đoàn thể, các tổ chức xã hội tiến hành chỉ khai, thực hiện Chỉ thị
Ngày 2/4/1997 Đảng bộ Tỉnh Hưng Yên ban hành chỉ thị số 05/CT-TU
về việc đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nhằm phát huy tốt vai trò của từng cơ sở Trong đó Hội phụ nữ tỉnh cũng không nằm ngoài chỉ thị này
Sau khi tỉnh Hưng yên được tái lập, được sự quan tâm của Ban thường
vụ Tỉnh ủy, nhận thức của các cấp ủy Đảng, Chính quyền về công tác cán bộ
nữ cũng như vai trò của phụ nữ đã được nhận thức đứng đắn và có những bước đi rõ nét Thể hiện sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh trong quá trình phát huy vai trò của phụ nữ ngày nay Chính nhờ sự chỉ đạo và quan tâm của tỉnh
ủy, UBND tỉnh, các cấp chính quyền cơ sở mà vai trò của các tầng lớp phụ nữ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2001-2005 đã có những bước phát triển rõ rệt cùng những bước tiến xa hơn giai đoạn trước, đạt được một số thành tựu đáng nghi nhận góp phần quan trọng vào thực hiện những bước đi của mục tiêu kinh tế -
xã hội mà Đảng bộ tỉnh đề ra
Trang 301.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ (1997-2005)
1.2.2.1 Chỉ đạo xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh – tạo tiền đề cho việc phát huy vai trò của phụ nữ
Tháng 1 năm 1997 tỉnh Hưng Yên tái lập Đại hội lần thứ XIV của tỉnh Hưng Yên đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ công tác phụ nữ tới năm 2000 là:
“Hội phụ nữ cần triển khai sâu rộng 5 chương trình và 2 phong trào “phụ nữ tích cực học tập, lao động sang tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ
nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” [42, tr 26]
Quán triệt chủ trương của Đảng và nhằm xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sau khi tái lập tỉnh, công cuộc đổi mới của tỉnh tiếp tục được quan tâm phát triển và giành được nhiều thành tựu quan trọng Tình hình kinh tế chính trị, xã hội phát triển bước đầu ổn định Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể nhờ như vậy mà hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũng như các ban ngành đoàn thể khác có nhiều thuận lợi
Đại hội Phụ nữ tỉnh Hưng Yên lần thứ XI tiếp thu những tư tưởng chỉ đạo quan trọng của Đảng bộ tỉnh mà đề ra mục tiêu của phong trào phụ nữ tỉnh từ năm 1997 tới 2001 bám sát mục tiêu và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh là
“đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh, khai thác mọi tiềm năng sức sáng tạo, tự lực tự cường, góp phần xây dựng các mục tiêu kinh tế - văn hóa
xã hội của Tỉnh và Đảng bộ Hưng Yên đề ra Xây dựng người phụ nữ Hưng Yên có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, có lòng nhân hậu, biết làm giầu từ thế mạnh của quê hương Hưng Yên Quan tâm đến lợi ích xã hội
và cộng đồng Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng củng cố tổ chức Hội ngày càng vững mạnh; phát huy vai trò đại diện chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Cải thiện một bước đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ” [29, tr 5]
Trang 31Bước vào giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn đất nước bước sang thiên niên kỉ mới đồng thời cũng là giai đoạn mà đất nước diễn ra những sự kiện trọng đại như Đại hội Đảng toàn quốc lần IX thành công Đối với Hưng Yên, đây là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và thực hiện chương trình kinh tế 5 năm 2001-2005 Tiếp tục phát động tổ chức thực hiện hai phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp phụ nữ đó là
phong trào “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo nuôi dậy con tốt xây
dựng gia đình hạnh phúc” và “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước” Vận động chị em đăng kí thực hiện hai phong
trào thi đua của Hội đã được triển khai sâu rộng tới các tầng lớp phụ nữ Theo báo cáo tới tháng 11 năm 2001 đã có 125.420 hội viên được quán triệt 5 tiêu chuẩn thi đua đạt 85%, số hội viên đăng kí thực hiện là 86.580 hội viên và 56.849 phụ nữ từ 18 đến 55 tuổi đạt 70% [14, tr.7]
Ban Chấp hành Hội LHPN tỉnh đã tổ chức Hội nghị BCH (mở rộng) lần thứ 9 tháng 12 năm 2000 Đánh giá kết quả hoạt động và phong trào phụ
nữ tỉnh Hưng Yên năm 2000 Xây dựng chương trình công tác năm 2001 và tiến tới việc thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tạo tiền đề cho Đại hội phụ
nữ các cấp đạt những thành công tốt đẹp Ban Thường vụ Tỉnh ủy có Thông báo số 45/ TB-TV ngày 02/04/2001 về Kết luận của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tại hội nghị giao ban với các đồng chí trưởng ban Đảng, Bí thư các huyện-thị
ủy Đảng ủy trực thuộc tỉnh có nội dung về đại hội các đoàn thể tạo ra những bước nhận thức tiến bộ về quá trình xây dựng tổ chức, chất lượng của BCH các cấp được nâng lên một cách rõ rệt, từ tuổi bình quân trẻ hơn nhiệm kì trước cho tới trình độ chuyên môn lí luận cao hơn trước, Đồng thời, Tỉnh ủy Hưng Yên cũng đề ra Kế hoạch số 39-KH/TU về “Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2002-2005 “Từng bước chuẩn hóa cán bộ đương chức và dự nguồn các chức danh cán bộ Lựa chọn những cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có triển
Trang 32vọng để đào tạo, bồi dưỡng nhằm chẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo tỉnh giai đoạn 2006-2010; đồng thời chuẩn bị cho những năm sau”[72, tr.428]
Quán triệt những tư tưởng chỉ đạo đó của Đảng bộ tỉnh mà chất lượng của đội ngũ cán bộ Hội LHPN được cải thiện một cách rõ rệt, luôn bám sát theo Kế hoạch chỉ đạo của Tỉnh ủy đó là “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải cụ thể, gắn liền với kế hoạch sử dụng cán bộ (tuổi đời, chuyên môn nghiệp vụ), phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ thực tế tình hình đội ngũ cán bộ và điều kiện cụ thể từng địa phương và đơn vị”[73, tr.428] Theo tinh thần đó mà quá trình xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững chắc, chất lượng ngày càng nâng cao Điều này thể hiện qua một số mặt sau:
Về độ tuổi: Cấp cơ sở tuổi của BCH bình quân là 42,2 tuổi trẻ hơn nhiệm kì trước 3,8 tuổi Các cấp huyện - thị tuổi bình quân của BCH là 41,8 tuổi trẻ hơn nhiệm kì trước 1 tuổi Cấp tỉnh bình quân của BCH là 43,4 tuổi trẻ hơn nhiệm kì trước là 1,1 tuổi
Về trình độ chuyên môn lý luận: Cấp cơ sở nhiệm kì năm 2001-2006 không còn ủy viên Ban chấp hành có trình độ học vấn cấp I, trình độ học vấn cấp II là 53%, cấp III là 47% (tăng 16,5% so với khóa trước) Cấp huyện - thị trình độ chuyên môn Sơ - Trung cấp là 26,1% tăng 1,1% so với nhiệm kì trước, trình độ Cao đẳng - Đại học là 29,4% tăng 3,7% so với nhiệm kì trước [12, tr.3]
Về trình độ chính trị: Sơ -Trung cấp là 95,6% tăng 67,6% so với nhiệm
kì trước, trình độ cao cấp, cử nhân là 2,2% tăng 2,2% so với nhiệm kì trước [12, tr.3]
Cấp tỉnh nhiệm kì 2001 - 2006: Trình độ chuyên môn: Sơ - Trung cấp
là 25,8%, Đại học - Cao đẳng là 67,7% tăng 20,3% so với thời kì trước Trình
độ chính trị: Sơ - Trung cấp là 80,7% , trình độ cao cấp, cử nhân là 9,7% tăng 4,4% sơ với thời kì trước [12, tr.4]
Trang 33Đại hội phụ nữ các cấp nhiệm kì này phản ánh rõ sự phát triển của phong trào phụ nữ, kết quả hoạt động của hội khẳng định vai trò, vị trí ngày càng cao của tổ chức Hội
Công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ Hội được tiếp tục quan tâm mọi mặt về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như lý luận và lập trường chính trị được chú trọng
Tỉnh Hội có 1 đồng chí học xong cử nhân chính trị, 1 đồng chí đang học cử nhân chính trị năm thứ nhất, 2 đồng chí học xong đại học chuyên môn,
1 đồng chí nhân viên học trung cấp chuyên môn Huyện - thị hội có 2 đồng chí chủ tịch đang học cao cấp chính trị, 2 đồng chí phó chủ tịch đang học trung cấp chính trị, 3 đồng chí đang học đại học chuyên môn [12, tr.6]
Cũng theo Kế hoạch số 39-KU/TU của Tỉnh ủy Hưng Yên về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2002-2005 Hội LHPN quán triệt tinh thần “Ban Thường vụ các huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc; các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cấp mình” [73, tr.432] và “phối hợp với Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh, thường xuyên duy trì chủ động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ trên kê hoạch chung”[73, tr.433]
Theo tinh thần chỉ đạo này, Tỉnh hội phụ nữ cũng kết hợp với trường Chính trị Nguyễn Văn Linh tỉnh mở 1 lớp tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, nghiệp
vụ công tác Hội cho các cán bộ tỉnh Hội Các cán bộ huyện - thị hội và chủ tịch Hội phụ nữ cơ sở với tổng số 184 học viên với các nội dung học tập về nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX Tính đến tháng 11/2001 đã có 10/10 huyện - thị mở được 18 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội cho 1.358 cán
bộ hội
Chương trình xây dựng hội viên nòng cốt tăng cả về số lượng và chất lượng so với nhiệm kỳ trước, đã có 77,1% gia đình có phụ nữ từ 18 tuổi trở
Trang 34nên có hội viện 100% cơ sở, chi, tổ Hội xây dựng được Quỹ hội để tổ chức các hoạt động của Hội đạt 75,6%, tăng 4,3% so với đầu nhiệm kỳ Tỷ lệ hội viên thường xuyên tham gia tổ chức Hội đạt từ 85% trở lên, tỷ lệ đóng hội phí đạt 94,2% Về chất lượng Hội, đầu nhiệm kỳ có 66,25% cơ sở đạt vững mạnh, 33,1% cơ sở đạt khá Đến tháng 5 năm 2005 số cơ sỏ đạt vững mạnh là 83,2%, cơ sở đạt khá là 16,8% Phong trào phụ nữ cơ sở có đông các phụ nữ tôn giáo phát triển mạnh, lương giáo đoàn kết [12, tr.18]
1.2.2.2 Chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, công tác qui hoạch - tạo nguồn cán bộ nữ
Công tác củng cố, xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh luôn được
chi ủy quan tâm và nhận thức sâu sắc và thực hiện theo đúng tinh thần và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh với những Nghị quyết, Chỉ thị cụ thể như : Chỉ thị 05/CT-TU của Tỉnh ủy và tiếp tục là chỉ thị 03/CT- TU ngày 21-06-2001 của
Tỉnh ủy về việc “ Đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng và nâng cao chất
lượng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh trong giai đoạn hiện nay” Được
quán triệt tới các toàn thể đảng viên trong chi bộ Hàng năm chi bộ đều có nghị quyết đăng kí xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh từ đầu năm và được chi ủy bám sát lãnh đạo thực hiện Các cấp Hội thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, giới thiệu cán bộ, Hội viên phụ nữ xuất sắc cho Đảng bồi dưỡng kết nạp Tính đến 11/2001 đã giới thiệu 327 phụ nữ dự lớp học bồi dưỡng đối tượng Đảng Trong đó có 3 đồng chí là cán bộ Tỉnh hội, có 297 chị
em kết nạp vào Đảng trong đó có 47 cán bộ Hội Tổng số đảng viên toàn tỉnh tính đến tháng 3/2003: 37.415 đảng viên, trong đó có 8.203 đảng viên là nữ, đạt 21,9% [12, tr.16]
Về công tác qui hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ: những năm trước, hầu hết
các cấp ủy thực hiện qui hoạch cán bộ nhưng thiếu chủ động trong đó có công tác cán bộ nữ, một số cấp ủy, nhất là cấp cơ sở thiếu sự qui hoạch đồng bộ,
Trang 35lâu dài nên bị hẫng hụt về cán bộ, đặc biệt là cán bộ nữ, dẫn đến khi tái lập tỉnh đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trong đó cán bộ nữ rất ít Một số ngành không có lãnh đạo, có một đồng chí phó Chủ tịch UBND tỉnh là nữ, 3/46 trưởng các ngành, đoàn thể là nữ, hầu hết lãnh đạo các cơ sở ngành, đoàn thể cấp tỉnh đều là cấp phó Từ 1997 tới năm 2003 Ban thường vụ Tỉnh ủy đã quan tâm, xây dựng qui hoạch tổng thể, tạo nguồn cán bộ để chuẩn bị cho các nhiệm kì kế tiếp nhưng vẫn chưa đồng đều ở các địa phương, cá biệt có những
cơ sở không có nguồn để qui hoạch
Các công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ của Hội phụ nữ ngày càng được nâng cao làm cho trình độ, năng lực của cán bộ nữ ngày càng được nâng lên một cách rõ rệt, đa số các thành viên phụ nữ tham gia quản lý trên các lĩnh vực đều có phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm với công việc được giao Cho tới năm 2003 số lượng các cán bộ nữ trên các lĩnh vực đã được nâng lên thể hiện ở số lượng cán bộ phụ nữ có mặt trong các cơ quan công quyền từ cấp ủy cho tới các cấp chính quyền, sở, ban ngành
Bên cạnh những công tác xây dựng Đảng góp phần củng cố và hoàn thiện bộ máy tổ chức lãnh đạo thì công tác tuyên truyền những đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng được thực hiện kịp thời trong chi bộ, cán bộ cơ quan đã phối hợp tổ chức trong hệ thống hội tiếp tục thực hiện phê bình và tự phê bình thực hiện Nghị quyết TW 6 lần II; Chỉ thị 30/TC-TW của Bộ chính trị, chỉ thị số 11/CT-TV của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Chỉ thị 05 của Tỉnh ủy về dồn thửa đổi ruộng đất nông nghiệp và các Nghị quyết, ý kiến chỉ đạo về các chương trình, công tác phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh đã được quán triệt
và tổ chức thực hiện Những hoạt động này nhằm nâng cao nhận thức chính trị, bồi dưỡng tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống, góp phần vào xây dựng đạo đức và lối sống cách mạng củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cho các cán bộ, đảng viên của chi bộ
Trang 361.2.2.3 Chỉ đạo phát huy vai trò của phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế
Trong điều kiện vừa tái lập tỉnh, Hội phụ nữ luôn xác định phải khắc phục những khó khăn, dựa trên tinh thần quán triệt 3 quan điểm và 6 công tác lớn của Đảng về vận động phụ nữ trong Nghị quyết 04/NQ – TW của Bộ chính trị năm 1993, Chỉ thị 37/CT- TW của Ban Bí thư Trung ương về công
tác cán bộ nữ trong thời kỳ mới và quyết định số 822/TTG ngày 4/10/1997 về
việc phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm
2000 của Thủ tướng Chính phủ Vì vậy, từ năm 1997 tới 2000, Hội Liên hiệp
phụ nữ tỉnh Hưng Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên và tư
tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XIV:“Hội phụ nữ cần triển khai
sâu rộng 5 chương trình và 2 phong trào “phụ nữ tích cực học tập, lao động sang tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” [42, tr.26] Do đó những hoạt động của Hội luôn tập trung
và bám sát vào các hoạt động lớn, hướng theo mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh giai đoạn 1997-2000, triển khai thực hiện các phong trào
“phụ nữ tích cực học tập ,lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”
Qua mục tiêu của Đại hội Phụ nữ tỉnh mà các phong trào và hoạt động thi đua của các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh đã diễn ra sôi nổi, từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức Hội góp tuyên truyền sâu rộng hơn nữa những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của tỉnh nhà
Nhằm cụ thể hóa những mục tiêu và phương hướng của Đại hội XI,
Tỉnh Hội chỉ đạo tiếp tục thực hiện “5 chương trình trọng tâm” của Hội, với
nội dung, biện pháp cụ thể của mỗi chương trình:
- Chương trình nâng cao kiến thức, trình độ và năng lực cho phụ nữ
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập
- Chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc
Trang 37- Chương trình xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, góp phần chăm lo đào tạo cán bộ hội, cán bộ nữ
- Chương trình nghiên cứu và giám sát
Chương trình hoạt động “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” được Tỉnh Hội xác định cụ thể thành phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát
triển kinh tế gia đình, cần kiệm, xây dựng đất nước” và chương trình: “Vận dộng phụ nữ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm tăng thu nhập” là chương trình mũi nhọn thúc đẩy các hoạt động
khác của Hội mang lại hiệu quả cao, góp phần quan trọng vào thực hiện có kết quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ, tạo ra thế mạnh cho từng hội viên phụ nữ Kết quả, toàn tỉnh đã vận động được trên 120 ngàn lượt chị giúp cho trên 190 ngàn lượt hộ với số tiền gần 9 tỷ đồng, trên 1000 tấn thóc, 456 chỉ vàng, trên 90 ngàn con lợn giống, 1.274.432 kg phân bón, trên 45 ngàn ngày công lao động và nhiều cây con trị giá hàng tỷ đồng không lấy lãi [7, tr.5] đã đem lại kết quả về nhiều mặt: giúp cho phụ nữ nghèo có cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho gia đình chị em, tăng sản phẩm cho xã hội, từng bước ổn định cuộc sống Phong trào này do Trung ương Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam phát động, Hội liên hiệp tỉnh cũng đã thống nhất chủ trương thực hiện những nội dung chính sách phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng bộ tỉnh và tình hình thực tế, đáp ứng tâm tư nguyện vọng của phụ nữ nghèo Trong 3 năm tư 1997 tới 1999 toàn tỉnh đã vận động được 34.888 chị có điều kiện giúp cho 62.918 chị có hoàn cảnh khó khăn vay số tiền là 3.044.876.000 đồng, lợn giống là 56.535 con, 1 bê giống, 448kg thóc các loại, 362 chỉ vàng, 539.169kg phân hóa học, 6.132kg gạo, 23.627kg ngô,
đỗ, 470kg cá giống [7, tr.12]
Trang 38Hoạt động của phong trào đã góp phần tích cực vào việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo của tỉnh đề ra Tuy vậy, hoạt động này cũng chỉ giúp đỡ chị em mở rộng sản xuất vươn lên làm giàu Trong 3 năm qua các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh đã mạnh dạn đứng ra tín chấp, vay vốn từ các nguồn để giải quyết cho phụ nữ nghèo vay vốn đầu tư sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, từng bước ổn định đời sống Kết quả là ba năm qua Hội
đã quản lý và cho vay với doanh số là 112.859.291.000 đồng giải quyết cho 103.850 lượt hộ được vay Trong đó có 65.950 hộ nghèo, 6.682 hộ đói 5,583
hộ chính sách, 2.070 hộ công giáo được vay [7, tr.14]
Để giúp chị em tiếp cận thông tin khoa học công nghệ mới ứng dụng vào sản xuất tăng hiệu quả của đồng vốn Hội phụ nữ tỉnh đã phối hợp với Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Trung tâm Khuyến nông của các huyện – thị mở
770 lớp tập huấn chuyên môn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 85.272 lượt chị em tham dự
Bảng 1 Kết quả hoạt động cho vay vốn của Hội phụ nữ tỉnh Hưng Yên
S Stt Tên nguồn vốn Doanh số cho vay Số lƣợt hộ vay Lƣợt hộ
đói nghèo
1 Quỹ QGGQ việc làm 1.290.000.000 1.444 1.258
2 Ngân hàng người nghèo 98.211.500.000 82.760 58.970
4 Quỹ tín dụng tiết kiệm 4.040.133.000 5.541 2.238
Nguồn: Tỉnh ủy Hưng Yên (2000): Bản thành tích của HLHPN tỉnh Hưng
Yên đề nghị thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen về việc thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo 3 năm 1997-1999, tr 3.
Trang 39Hội phụ nữ đã tích cực khai thác các nguồn vốn cho phụ nữ vay và phát triển kinh tế gia đình, quản lý và cho vay đúng đối tượng, hướng dẫn sử dụng vốn có lãi, hoàn trả đủ và đúng hạn, vốn luôn bảo toàn giữ được chữ tín với các cơ quan đầu tư Nhờ vậy mà nguồn vốn quỹ Hội ngày càng tăng, đã giải quyết cho nhiều phụ nữ nghèo trở nên khá, góp phần tích cực vào việc thực
hiện chương trình “Xóa đói giảm nghèo” của Đảng bộ tỉnh phát động theo
chiến lược của Trung ương Đảng
Để đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ đảm bảo hiệu quả phong trào
và công tác Hội, công tác bồi dưỡng cán bộ luôn được Đảng bộ các cấp, quan tâm và chú ý Các cấp ủy Đảng từ tỉnh tới cơ sở ngoài việc xây dựng quy hoạch cán bộ còn quan tâm thường xuyên đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý Nhà nước
và các chế độ chính sách của Đảng, chủ trương và pháp luật của Nhà nước cho cán bộ nữ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Được Đảng bộ tỉnh quán triệt và lãnh đạo thực hiện, bước đầu tiên mà Hội thực hiện trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ là giáo dục tư tưởng, đạo đức cách mạng và lý luận chính trị thông qua các buổi họp, các lớp học và các đợt sinh hoạt chính trị liên quan đến các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Chính sách của Nhà nước Trong đó, Hội nhấn mạnh những chủ trương và những chính sách của Đảng
về công tác nữ qua việc quán triệt 3 quan điểm và 6 công tác lớn của Đảng về vận động phụ nữ trong Nghị quyết 04/NQ-TW của Bộ Chính trị năm 1993, Chỉ thị 37/CT – TW của Ban Bí thư Trung ương năm 1994 về công tác nữ trong tình hình mới và Nghị quyết số 03 – NQ/HNTWW của Bộ Chính trị về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm 1997 tới những năm 2000 Tỉnh Hội đã triển khai công tác đào tạo cán bộ mở các lớp đào tạo lý luận chính trị cao cấp, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội Từ 1997-2000, Tỉnh Hội đã đưa 21 chị đi đào tạo cơ
Trang 40bản dài hạn tại trường Chính trị Nguyễn Văn Linh của tỉnh, và bồi dưỡng lý luận nghiệp vụ công tác Hội cho 774 chị là chấp hành Hội phụ nữ cơ sở tại Trung tâm chính trị các huyện, thị [9, tr.298]
Không chỉ có những hoạt động nâng cao năng lực, nhận thức về nghiệp
vụ công tác mà còn có những hoạt động cụ thể bồi dưỡng trình độ để nâng cao năng lực và trình độ quản lý, điều hành vốn vay và biết cách làm kinh tế, hàng năm Tỉnh Hội đã mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, dạy nghề, chuyển giao kĩ thuật cho chị em Năm 1997 đã mở 65 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 2.050 cán bộ, hội viên, và 9 lớp dạy nghề tạo việc làm cho 325 chị em Năm
1998, các cấp Hội đã kết hợp với Sở Khoa học công nghệ và Môi trường, với Trung tâm Khuyến nông và Trường Đại học Nông Nghiệp I mở 248 lớp tập huấn kĩ thuật nuôi lợn nái, nuôi cá, trồng cây ăn quả, cây xuất khẩu [9, tr.299]
Ngoài bồi dưỡng về nghiệp vụ thì công tác giáo dục và bồi dưỡng nâng cao kiến thưc cũng được chú trọng, Hội đã chủ động tổ chức, phối hợp với các ngành chức năng, tăng cường tổ chức và hoạt động nhằm giáo dục và bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ, Hội viên phụ nữ về mọi mặt Mở các lớp tuyên truyền nâng cao kiến thức giới cho 5.652 hội viên và 17 người làm chính sách được bồi dưỡng, 34 cuộc nói chuyện phụ nữ với gia đình trong thời kì CNH, HĐH cho 5.045 hội viên, tổ chức 282 cuộc thi, liên hoan văn nghệ, tổ chức khai trương câu lạc bộ phụ nữ hoạt động nội dung phong phú, đến nay chỉ riêng ở cơ
sở xã phường đã có tổng 170 câu lạc bộ hoạt động Góp phần vào công tác tuyên truyền cho Hội ngày càng vững mạnh [9, tr.298]
Được sự hỗ trợ của Trung ương Hội; Đại sứ quan Úc giúp đỡ mở lớp
tập huấn cho 34 cán bộ Hội về “Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vi mô”; Đại
sứ quán Canada hỗ trợ mở 1 lớp tập huấn cho 40 cán bộ về quản lý điều hành
chương trình vay vốn hoạt động tín dụng tiết kiệm và 1 lớp quản lý tài chính