MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ QUỐC ĐẠT PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Tôn giáo học Hà Nội – 2015 Hea[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60.22.90
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Kim Oanh
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Kim Oanh Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY 8
1.1 Một số vấn đề về hội nhập quốc tế 8
1.2 Thực trạng Phật giáo Việt Nam hiện nay 20
Chương 2: THỰC TRẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 43
2.1 Hội nhập Phật giáo về vấn đề văn hóa, tư tưởng 43
2.2 Hội nhập Phật giáo đối với hoạt động đời sống xã hội Việt Nam 49
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 62
3.1 Những vấn đề đặt ra 62
3.2 Giải pháp và kiến nghị 63
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay trong quá trình hội nhập quốc tế tôn giáo đang có sự biến đổi sâu sắc về nhiều mặt để phù hợp với thực tại chung của xã hội Sự biến đó là quy luật tất yếu của tôn giáo trong sự vận động, phát triển chung của mình Quá trình hội nhập phát triển đã đã thúc đẩy tôn giáo thâm nhập sâu rộng vào đời sống con người, trái ngược với xu hướng thần thánh hóa, thiêng liêng hóa Bên cạnh đó, sự biến động của điều kiện kinh tế xã hội hiện nay cũng đã tác động mạnh mẽ đến việc biến đổi tôn giáo, từ chỗ hướng về thế giới “bên kia” thì hiện nay tôn giáo trực tiếp quan tâm phục vụ cho chính bản thân con người nơi trần thế Cũng như vậy, Phật giáo trên thế giới đang có sự chuyến mình mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu chung của con người trong sự giao lưu, phát triển giữa các quốc gia Sự biến chuyển mình đó không chỉ tăng cường mối quan hệ Phật giáo giữa các nước mà còn đóng góp vai trò to lớn trong việc giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình hội nhập phát triển; đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, chố ng âm mưu “diễn biến hòa bình của các thế lực xấu”
Có mặt tại Việt Nam hơn 2.000 năm, Phật giáo cũng đã có những đóng góp nhất định vào nền văn hoá dân tộc, đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong từng triều đại Hiện nay, Phật giáo Việt Nam đang đứng trước một trào lưu mới, đó là trào lưu đất nước đang bước vào ngưỡng cửa hội nhập quốc tế theo
xu hướng toàn cầu hóa Đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ với những bước tiến vượt bậc của công cuộc hội nhập, đổi mới và xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh sánh vai cùng những cường quốc trên thế giới Trong quá trình đó Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và ngoại giao, bên cạnh đó không thể không nói tới những đổi mới, phát triển của tín ngưỡng tôn giáo Đồng hành
Trang 6cùng dân tộc Phật giáo đã hòa nhập theo sự chuyển biến sâu rộng ấy Bởi lẽ theo quy luật: “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh…”, Phật giáo luôn luôn vận động thay đổi để phù hợp với sự phát triển chung của đất nước Không chỉ vậy Phật giáo cũng đã tiếp thu, phát triển công tác hoằng dương Phật pháp của mình trong sự vận động chung của Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung trên thế giới Để từ đó khẳng định vai trò, vị trí của mình trong đời sống xã hội, tạo ảnh hưởng và uy tín đối với cộng đồng quốc tế
Chính từ thực tế đó, hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới trong chính sách đối với tôn giáo, dân tộc; tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động phát triển ở trong nước cũng như ở nước ngoài Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại ngày nay Thông qua các hoạt động tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta một phần nào đã khẳng định được
vị thế, vai trò của mình trong quá trình hội nhập và phát triển chung của thế giới, thể hiện rõ quan điểm tự do tôn giáo, tín ngưỡng
Đúng như nhà vật lý học Albert Einstein đã từng nói: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của toàn cầu, vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học Tôn giáo ấy sẽ bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, chỉ có Đạo Phật mới đáp ứng đủ điều kiện ấy” Trong giai đoạn phát triển, hội nhập của đất nước hiện nay Phật giáo thể hiện rõ vai trò quan trọng, ảnh hưởng của mình Đạo Phật không chỉ phát triển trên phương diện tôn giáo thuần túy mà những tư tưởng nhập thế Đạo Phật trong xã hội ngày nay cũng đang là nét son tô đậm trong quá trình phát triển ấy Xuất phát từ hệ tư tưởng của đạo Phật về con người, về vũ trụ trong đó con người sinh sống, đạo Phật đã đưa nội dung giáo lý siêu việt ấy đi vào đời sống đời thường, dùng nó như là phương thuốc chữa lành vết thương
Trang 7cho những con người đang gặp nhiều nỗi đau thương mất mát, đang có nhiều
sự sợ hãi và đau khổ…Tinh thần nhập thế ấy của đạo Phật vẫn liên tục phát triển từng nơi từng lúc và trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình hoạt động của Phật giáo Việt Nam
Chính từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu lý luận quá trình hoạt động, phát triển của Phật giáo hiện nay có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển chung của xã hội Vấn đề đó cũng đang trở thành một trong những vấn
đề thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học cũng như những nhà hoạt động thực tiễn trong nước cũng như thế giới Để góp phần đáp ứng nhu cầu thực tiễn chung của xã hội, cũng như đóng góp cống sức của mình vào việc tìm hiểu nghiên cứu quá trình hoạt động của Phât giáo tôi đã
chọn đề tài “Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” làm đề tài
luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Như phần trên đã trình bày hiện nay vấn đề này đang là một vấn đề có yếu tố quan trọng, được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đông đảo các tầng lớp xã hội trong nước và ngoài nước đặc biệt là tầng lớp tăng, ni tín
đồ Phật tử nước ta Do đó đã có rất nhiều các học giả, các hội thảo cũng như những cuốn sách, bài viết nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:
Hội thảo “Phật Giáo Trong Thời Đại Mới – Cơ Hội Và Thách Thức” do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam tổ chức vào năm 2006 Hội thảo đã tập hợp được 85 báo cáo, nghiên cứu khoa học xung quanh 2 mảng vấn đề chính: mảng thứ nhất tập trung phân tích những cơ hội và thách thức của Phật giáo thế giới trước những yêu cầu của thời đại Trên cơ sở đó, xác định vai trò đạo đức, xã hội và tâm linh của đạo Phật trong việc góp phần giải quyết các vấn nạn toàn cầu, như chiến tranh, khủng bố, phá hoại môi trường và các tệ nạn xã hội khác; mảng thứ hai của hội thảo đề cập đến vai trò của Phật giáo Việt
Trang 8Nam trong hiện tình đất nước và thời đại, trên cơ sở phân tích và đánh giá những thành tựu và thất bại, cơ hội và thách thức mà Phật giáo Việt Nam đang đối diện hiện nay
Nghiên cứu về Phật giáo tiêu biểu như các công trình: “Phật học khái
lược” của Lưu Vô Tâm; “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang,;
“Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Lê Mạnh Thát; “Phật giáo với văn hóa - xã
hội Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, do PGS.TS Nguyễn
Hồng Dương, TS Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên; “Các vấn đề xã hội hôm nay”
của HT K.Sri Dhammananda Thích Tâm Quang dịch… Xét ở góc đội khái quát chung nhất, các công trình nghiên cứu trên với nội dung đề cập đến những vấn đề lịch sử, nghiên cứu Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hiện nay trên nhiều vấn đề
Nghiên cứu về quá trình hội nhập quốc tế có các công trình tiêu biểu sau: “Toàn cầu hóa - Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa” của Phạm Thái Việt, Nxb Khoa học xã hội năm 2006; “Thử bàn về đụng độ văn hóa trong quan hệ quốc tế” của Guoji Zhengzhi năm 2004, tài liệu nghiên cứu của Viện Thông tin Khoa học xã hội; Đây là những công trình nghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc
tế trên nhiều lĩnh vực của các nước trên thế giới trong đó và Việt Nam
Ngoài ra trên một số tạp chí, các báo nghiên cứu mà điển hình là: Tạp
Chí Triết Học, Tạp Chí Nghiên Cứu Tôn Giáo, Tạp Chí Phật Học, Tạp Chí Công Tác Tôn Giáo, Báo Giác Ngộ… cũng đã có một số các bài viết liên đề
cập đến thực trạng của Phật giáo Việt Nam hiện nay trên nhiều các lĩnh vực, những thách thức đặt ra cho sự phát triển của Phật giáo, quá trình hội nhập
quốc tế và các vấn đề liên quan Phạm Thái Việt với Xung đột văn hóa, Tạp
Chí Triết Học, số 09 năm 2010; Tìm hiểu về tinh thần nhập thế của Phật giáo
Việt Nam, Tạp Chí Khoa Học, ĐHQGHN, số 01/2003
Trang 9Nhìn chung về tình hình có thể thấy các công trình, tác phẩm đều nghiên cứu hoặc đề cập đến thực trạng Phật giáo Việt Nam hiện nay, nhưng chỉ ở tầm bao quát hay đi vào những vấn đề riêng lẻ mà chưa có một công trình nào cụ thể nghiên cứu về những vấn đề đặt ra cho Phật giáo Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Vì vậy tôi hy vọng với đề tài này của mình
sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề đặt ra cho Phật giáo Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp một phần cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu : Trên cơ sở lý luận Mác xít về tôn giáo, luận
văn làm rõ thực trạng Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu : Để thực hiện mục đích trên, luận văn có
nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trình bày một số vấn đề tổng quan chung về đề tài nghiên cứu Thứ hai: Luận văn phân tích rõ thực trạng của Phât giáo Việt Nam hiện
nay trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Thứ ba: Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cho sự phát triển
của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng của Phật giáo Việt Nam từ năm 2000 đến nay.(đây là năm khởi đầu cho một thiên niên kỷ mới của thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận:
Trang 10Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng trong xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học, phươn pháp phân tích tổng hợp, phân tích tài liệu, thu thập thong tin, phương pháp Logic lịch sử và phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn: Trên cở sở nghiên cứu đánh giá thực
trạng của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết của Phật giáo Việt Nam hiện nay Thông qua
đó tạo một cách nhìn mới, một hướng đi mới cho Phật giáo Việt Nam ngày nay
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng Đóng góp ý kiến, giải pháp cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam giải quyết các về các vấn đề đặt ra trong thời kỳ hội nhập quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn bao gồm 3 chương và 6 tiết
Trang 11và vẫn tiếp tục tranh luận về nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế
Trong giới hạn của luận văn, tác giả sẽ đề cập sâu đến sự hội nhập của văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế Bởi lẽ, bao hàm trong sự hội nhập về văn hóa còn có sự hội nhập về tôn giáo Văn hóa là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau như ngôn ngữ, văn chương, kiến trúc, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng và tôn giáo… Mối quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo là mối quan hệ bộ phận không thể tách rời Tôn giáo là một hiện tượng của văn hóa hay là một bộ phận của văn hóa nên có mối quan hệ
Trang 12phổ biến, cơ bản và quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử Văn hóa là toàn
bộ hoạt động của con người bao gồm cả hoạt động vật chất và tinh thần, nên văn hóa bao trùm cả lĩnh vực tôn giáo
1 1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm hội nhập quốc tế:
Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là
“intégration internationale”) Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu
Ở Việt Nam, thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế Cho đến nay vẫn không có một định nghĩa nào về khái niệm “hội nhập quốc tế” giành được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và cả giới làm chính sách ở Việt Nam Từ lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta cần xác định một cách tiếp cận phù hợp đối với khái niệm “hội nhập quốc tế” để làm nền tảng xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới Tôi cho rằng cách tiếp cận phù hợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá
Trang 13trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên
sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia
* Khái niệm văn hóa:
Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải
có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của
nó Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định
quan niệm, khái niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:
Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”
Cựu Tổng Giám đốc UNESCO GS Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong
Trang 14quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá"
1.1.2 Những hình thức hội nhập quốc tế và xu hướng vận động của nó
Như phần đầu đã trình bày, trong giới hạn của luận văn tác giả sẽ đi sâu, tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình hội nhập văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế
* Hội nhập kinh tế quốc tế:
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự
do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước
ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 15b) Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực
và đặc biệt là quyền lực Một quốc gia có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua ký hiệp ước với một hay một số quốc gia khác trên cơ sở thiết lập các mối liên kết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một tổ chức có quy mô toàn cầu (chẳng hạn như Liên Hiệp quốc)
c) Hội nhập an ninh-quốc phòng
Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia
sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng là tiến trình khó khăn hơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền
d) Hội nhập về văn hóa-xã hội
Hội nhập về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã
Trang 16hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-
xã hội với các nước
Giao lưu hội nhập văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là một quy luật vận động và phát triển của văn hóa Thông qua quá trình hội nhập văn hóa mà các dân tộc có điều kiện để học hỏi và tiếp nhận những giá trị của nhau Chính nhờ có hội nhập văn hóa mà các nước, các khu vực chậm phát triển có cơ hội trở thành một nước phát triển trong thời gian ngắn vì kế thừa được các giá trị của các dân tộc, các khu vực phát triển
Ngày nay, loài người đang bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, lối sống Xu thế toàn cầu hóa là một hiện tượng mang tính tất yếu khách quan, nó xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của nhân loại Trong bối cảnh ngày nay, các quốc gia muốn phát triển thì không thể không tham gia vào quá trình này Hội nhập quốc tế ngày nay đã đem lại nhiều thời cơ, đồng thời cũng hàm chứa nhiều thách thức cho sự phát triển của các quốc gia dân tộc Vì thế, mỗi quốc gia dân tộc phải chủ động tham gia vào xu thế này Thông qua hội nhập mà họ có điều kiện để
kế thừa những yếu tố tích cực của thế giới và loại bỏ những yếu tố tiêu cực, hạn chế của mình tạo động lực cho sự phát triển Lịch sử đã cho thấy quốc gia dân tộc nào biết tiếp thu những giá trị văn hóa, văn minh mới của nhân loại thì có sự phát triển, đồng thời những quốc gia nào đi ngược lại sẽ suy vong
Quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế trong lĩnh vực văn hóa là quy luật tất yếu, sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định cho những cuộc đàm phán về biên giới, về lãnh thổ, về mâu thuẫn giữa các dân tộc Hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa
Trang 17cần tính đến các giá trị chung, giá trị nhân loại, đồng thời cũng thừa nhận sự khác biệt về văn hóa Vì vậy, cần phải có cách thức để bảo vệ và phát huy nền văn hóa bản địa và văn hóa khu vực là trách nhiệm của từng dân tộc
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự gia tăng của hoạt động sản xuất, sự mở rộng của thị trường tiêu thụ hàng hóa đã dẫn đến sự hình thành các mối quan hệ quốc tế Xu thế quốc tế hóa không chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế mà nó còn diễn ra trong tất cả các lĩnh vực như chính trị, pháp luật, văn hóa Quốc tế hóa là quá trình phức tạp và chứa đựng nhiều mâu thuẫn và
có tính chất hai mặt, đó là nó vừa có yếu tố tích cực nhưng đồng thời cũng chứa đựng những yếu tố tiêu cực, có cả thời cơ và cũng tồn tại những thách thức Trong lĩnh vực văn hóa, chúng ta đã thấy rõ hiện tượng này, trên thế giới hiện đang có những lực lượng muốn áp đặt hệ giá trị của mình cho các nước khác, thông qua và lợi dụng quốc tế hóa để can thiệp vào nội bộ của các nước, buộc các nước phải lệ thuộc vào mình Quốc tế hóa là điều kiện, là tiền
đề cho hội nhập văn hóa, chuyển giao công nghệ hiện đại, liên kết trí tuệ, phát triển của các quốc gia dân tộc Nhưng đồng thời, quốc tế hóa cũng có thể đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất chủ quyền quốc gia
Gắn với xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học và công nghệ là cuộc cách mạng trên lĩnh vực thông tin đại chúng, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập văn hóa quốc tế Sự phát triển trên lĩnh vực thông tin đại chúng một mặt chúng đem lại cho nhân loại một lượng thông tin khổng lồ và đáp ứng nhu cầu thông tin của của con người một cách nhanh nhất Nó lôi kéo các quốc gia dân tộc và toàn nhân loại xích lại gần nhau về nhận thức, về tư duy, về thế giới tinh thần, đạo đức của con người Nó phổ cập nhiều giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, kích thích sự sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng các giá trị văn hóa Mặt khác, nó cũng tạo ra những hậu quả khôn lường, đó là
xu hướng đồng nhất hóa lối sống của các quốc gia dân tộc, đặc biệt là xu thế
Trang 18áp đặt văn hóa, áp đặt các mô hình và giá trị trong văn hóa Đối với Việt Nam chúng ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng hệ thống truyền thông và giao lưu, hội nhập văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với mục đích nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và đang xây dựng Chống lại xu thế nhất thể hóa lối sống, áp đặt văn hóa là vấn đề giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của nhiều quốc gia dân tộc, đây là xu hướng tích cực Bên cạnh xu hướng tích cực đó, lại xuất hiện một xu hướng tiêu cực là khuyến khích sự trỗi dậy của chủ nghĩa cực đoan, nhằm gây ra những xung đột chính trị, xung đột văn hóa, tôn giáo, nhằm khuyến khích chủ nghĩa ly khai, hận thù dân tộc và khủng bố quốc tế Những xu hướng ấy đều tác động đến văn hóa Việt Nam nói riêng và tác động đến đời sống xã hội nói chung Vì thế, trên lĩnh vực văn hóa cần phải có
sự định hướng cho phù hợp
Quá trình hội nhập hóa không phải là quá trình bắt chước nước ngoài,
mà nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, cũng không phải chỉ vì giữ gìn bản sắc của mình mà đóng cửa không chịu hội nhập Quá trình hội nhập văn hóa đồng thời phải tiếp thu những tinh hoa của tri thức nhân loại để làm thêm cho mình, làm phong phú thêm giá trị văn hóa cho mình Do vậy, trong quá trình hội nhập văn hóa chúng ta phải đặt ra và thực hiện những nguyên tắc nhất định nhằm bảo vệ và phát triển giá trị văn hóa Việt Nam
1.1.3 Những mặt tích cực và tiêu cực của hội nhập quốc tế
Trang 19mạnh các sản phẩm chế tác, chiếm khoảng 22% và các dịch vụ chiếm 63% trong cơ cấu kinh tế thế giới Hội nhập quốc tế tạo thêm những tiền đề rất quý cho xã hội mới hiện đại Xét từ góc độ này, ngay cả những khiếm khuyết của hội nhập quốc tế tuy có hại nhưng nó đã góp phần vào việc đặt ra hoặc cảnh báo những vấn đề lớn của tương lai và mở ra các giải pháp Sự phát triển bền vững kinh tế xã hội với sự tôn vinh con người là nguồn lực chính, với mối quan tâm đặc biệt tới môi trường sinh thái cũng xuất phát từ tiến trình hội nhập quốc tế Mặt khác, hội nhập quốc tế truyền bá và chuyển giao trên quy
mô ngày càng lớn những thành quả, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các dân tộc, đến từng hộ gia đình, từng con người và dọn đường cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa Chính hội nhập quốc tế nên khả năng phát triển rút ngắn, mang lại những nguồn lực rất quan trọng, cần thiết cho các nước đang phát triển từ các nguồn vốn vật chất đến các nguồn tri thức
và kinh nghiệm, cả về chiến lược lâu dài, về tổ chức và cả ở tầm vĩ mô của một quốc gia và tầm vi mô của từng doanh nghiệp và cá thể Hội nhập quốc tế
đã gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về mặt cạnh tranh do dó đòi hỏi những tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, chỉ rõ yếu tố hàng đầu của yếu tố chất lượng, thời gian, nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu quả Mặt khác, hội nhập quốc tế mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới, những thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước như các nước đang phát triển Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, kích thích các luồng và các dạng giao lưu, làm cho con người ở mọi châu lục ngày càng hiểu biết nhau hơn, nắm bắt được mọi tình hình, cập nhật ở mọi nơi và góp phần tác động nhanh chóng đến các sự kiện Hội nhập quốc tế cũng góp phần vào sự nâng cao dân trí và sự tự khẳng định mình của các dân tộc và của từng con người
Trang 20* Mặt tiêu cực
Hội nhập quốc tế làm tăng thêm sự bất công xã hội, khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước Trong 1 báo cáo mới đây của UNDP đã khẳng định các thế lực của quá trình hội nhập quốc tế đã mang lại sự giàu có vô độ cho những người biết tận dụng lợi thế của các luồng hàng hóa, dịch vụ đang tràn qua các đường biên giới quốc gia trong khi đa số dân chúng bị đẩy ra ngoài lề xã hội Xét theo nhiều khía cạnh, dân chúng ở gần
100 quốc gia trên thế giới đã có mức sống thấp hơn so với nhiều năm trước đây Khoảng cách giữa giàu và nghèo ngày càng lớn Các nước công nghiệp phát triển với khoảng 1,2 tỷ người chiếm 1/5 dân số thế giới hiện đang chiếm tới 85% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu, 1/3 đầu tư trực tiếp của nước ngoài và 75% số máy điện thoại; trong khi đó các nước nghèo nhất chiếm 1/5 dân số thế giới chỉ tạo ra 1%GDP toàn thế giới Hiện nay vẫn còn hơn 1 tỷ người nghèo, những người giàu thì chỉ chiếm 20% dân số nhưng lại chiếm hơn 86% chi phí dành cho tiêu dùng trong khi sản xuất thực phẩm cơ bản toàn thế giới đã ở trên mức 110% nhu cầu thì hàng năm trên 30 triệu người vẫn tiếp tục chết đói, hàng triệu người vẫn thiếu ăn Ví dụ: Người giàu tiêu thụ 45% lượng thịt cá trên thế giới trong khi người nghèo chỉ tiêu thụ 5%, số người sử dụng internet đã tăng lên hàng trăm triệu nhưng mạng thông tin toàn cầu chỉ đa số được dùng nhiều trong các nước công nghiệp phát triển Hội nhập quốc tế cũng làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của con người thêm kém an toàn, từ kinh tế, tài chính văn hóa xã hội cho tới môi trường đến
an toàn chính trị và an toàn của từng con người, từng gia đình đến an toàn của quốc gia và an toàn của hệ thống kinh tế tài chính tiền tệ thế giới Hội nhập quốc tế có phần thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các Nhà nước dân tộc, làm rung chuyển một nền tảng tích cực quan trọng của đời sống các quốc gia, đặt ra những vấn đề nhạy cảm và gây nên những phản ứng quyết
Trang 21liệt Mặt khác, về mặt xã hội, hội nhập quốc tế cũng tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất độc lập tự chủ quốc gia, nó cũng tạo ra các khả năng quốc tế hóa các hiện tượng tiêu cực như buôn bán ma túy, mại dâm, du nhập lối sống đồi trụy, chủ nghĩa khủng bố, lây truyền các bệnh dịch HIV - AIDS
* Những nguy cơ, thách thức do hội nhập quốc tế đối với văn hóa:
Thứ nhất, nguy cơ làm lu mờ quan điểm coi trọng truyền thống, dẫn
đến tình trạng xem nhẹ tính kế thừa các giá trị văn hóa dân tộc trong bộ phận cán bộ nhân dân Đó là thông qua các quan hệ kinh tế, các nước tư bản tích cực truyền bác các giá trị phương Tây, khai thác và phát triển tâm lý hưởng lạc vật chất tầm thường, đánh vào thị hiếu thấp hèn của một bộ phận dân chúng và cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị làm thay đổi quan niệm của họ về giá trị văn hóa truyền thống Các giá trị văn hóa phương Tây đang thâm nhập ngày càng tăng, từ đó tạo ra trong lòng xã hội trào lưu “cách tân”, xem nhẹ và quay lưng lại với các giá trị truyền thống và coi thường tính kế thừa, tạo ra một lớp người “mới” xa lạ, mất gốc và không định hướng được tương lai, gieo rắc và khuyến khích các loại hình văn hóa độc hại, các tệ nạn
xã hội phát triển nhằm từng bước hủy hoại sức sống văn hóa dân tộc Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) hiện nay hãng thông tấn liên bang và hãng thông tấn AP (Mỹ) sử dụng 100 thứ tiếng để phát tin liên tục trong ngày 24/24 giờ vào 100 quốc gia Mạng internet, số lượng bài viết truyền bá các giá trị Mỹ và phương Tây với gần 7 triệu chữ được đưa lên mạng hàng ngày Các chương trình truyền hình của các nước đang phát triển sử dụng từ 60 -70% các nội dung chương trình của các kênh truyền hình Mỹ và phương Tây, biến các kênh truyền hình, phát thanh của các nước này thành trạm trung chuyển cho truyền hình Mỹ và Phương Tây
Thứ hai, nguy cơ đồng hóa văn hóa bởi cái gọi là giá trị của “thế giới
tự do” Bắt nguồn từ học thuyết của S Hăn -Tinh- Tơn, một học giả người
Trang 22Mỹ với tên gọi “Cuộc xung đột giữa các nền văn minh” Bản chất của học
thuyết này chỉ bao biện cho các hành động của chủ nghĩa đế quốc, gieo rắc tâm lý lo sợ về một thảm họa do xung đột văn hóa gây ra Điều mà chúng ta thấy ở đây đó là văn hóa phương Tây hay làn sóng văn minh phương Tây đang phát triển, tạo ra nguy cơ đẩy văn hóa truyền thống về phía sau
Với Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng CSVN đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập quốc tế”
Thứ ba, nguy cơ “diễn biến hòa bình” Điều này được các thế lực thù
địch tận dụng toàn cầu hóa và chính sách đối ngoại mở cửa của Việt Nam để thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa tư tưởng Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm tạo ra tình trạng tự diễn biến về văn hóa - tư tưởng Thể hiện ở quá trình khuyến khích sự truyền bá phổ biến các giá trị tư sản trong lòng xã hội Việt Nam, lấn át các giá trị ưu việt của xã hội chủ nghĩa
và các giá trị văn hóa dân tộc Tự diễn biến văn hóa - tư tưởng đồng nghĩa với quá trình thúc đẩy các phức tạp xã hội, làm đảo lộn trật tự nhất là các vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền
Chính “diễn biến hòa bình” đang tạo ra nguy cơ thẩm thấu gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ cội nguồn Bản thân “diễn biến hòa bình” đang tìm mọi cách để tạo ra mâu thuẫn xã hội, làm hậu thuẫn cho chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa ly khai, làm nhụt chí trong nhân dân, đánh lạc phương hướng
Trang 231.2 Thực trạng Phật giáo Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vài nét về tổ chức và hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Tiếp nối truyền thống 2000 năm Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, trong tinh thần hòa hợp, đoàn kết, phụng đạo yêu nước, tăng, ni, phật
tử GHPGVN cùng nhân dân cả nước tiếp tục công cuộc đổi mới đất nước, từng bước phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, giáo dục, xã hội và ngoại giao Tuy nhiên trong những năm qua đất nước và thế giới lâm vào bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính và biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng với sự nỗ lực và quyết tâm chung của tăng, ni, phật tử trong toàn Giáo hội, dựa trên nguyên tắc thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo
và tổ chức, tinh thần đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội, với những thuận lợi khách quan và chủ quan, qua Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng Tôn giáo, Ban Thường trực HĐTS đã triển khai nhiều công tác Phật sự như tổ chức Hội nghị, Hội thảo, Lễ hội Văn hóa Phật giáo, công tác ngoại giao mang tầm vóc quốc gia, quốc tế và khu vực… cho đến các hoạt động chuyên ngành như Tăng sự, giáo dục tăng ni, hướng dẫn phật tử, hoằng pháp, nghi lễ, văn hóa, kinh tế tài chính, từ thiện xã hội, phật giáo quốc tế, nghiên cứu Phật học đều được thực hiện đồng bộ Có thể nói rằng, hiện nay Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung đã và đang trên đà phát triển rất mạnh và được xem là một tôn giáo lớn trên thế giới
Đối với Phật Giáo Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm trong lịch sử, tinh thần dấn thân, phụng sự chúng sanh ngày một tích cực hơn Từ khi giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời năm 1981 mở ra con đường mới cho Phật giáo Việt Nam phát triển, đó là thống nhất các tổ chức mà trước đó vẫn còn tồn tại riêng biệt, rồi thống nhất ý chí cho đến hành động, nhằm đem ánh sáng đạo pháp
Trang 24vào đời sống xã hội, góp phần vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo dựng một cuộc sống hòa bình và an lạc Kể từ đó đến nay giáo hội Phật giáo Việt Nam có những thành tựu Phật sự quan trọng có tính chất quyết định cho Phật giáo Việt Nam trong hiện tại và tương lai
Ngày nay, Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung đang trên đà phát triển mạnh với những thành tựu quan trọng về mặt giáo dục, cũng như hoằng pháp, tham gia các công tác từ thiện xã hội Số lượng Tăng Ni trẻ ngày một đông, tính đến nay có khoảng hơn 50.000 Tăng
Ni đang tu trong hơn 15.000 tự viện trên cả nước Hệ thống giáo dục Tăng Ni, Phật tử ngày một mở rộng trên quy mô lớn, nội dung và hình thức, phương pháp dạy cũng thay đổi Hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 03 Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Tp Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Huế và 01 Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp Cần Thơ Rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, điều hành ở các khóa trước, hiện nay Học Viện Phật giáo Việt Nam đã có nhiều cải tiến trong chương trình học và dạy Để chương trình đào tạo được nâng cao và phong phú hóa, phù hợp với nhu cầu phát triển giáo dục của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong hiện đại, ngoài những Giảng sư Phật học cơ hữu, Hội đồng điều hành các Học viện cũng đã liên hệ mời thêm Giáo
sư, Tiến sĩ các trường Đại học trong nước và nước ngoài tham gia giảng dạy tại các Học viện Trường Cao đẳng Phật học, có 08 lớp Cao đẳng Phật học đang hoạt động theo hệ thống trường Trung cấp Phật học gồm: Tp Hà Nội,
Tp Hồ Chí Minh, Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai Để chuyển đổi hệ thống lớp Cao đẳng Phật học thành trường Cao đẳng Phật học, Ban Thường trực HĐTS/GHPGVN, Ban Giáo dục tăng,
ni đã làm thủ tục đề nghị Chính phủ cho phép đổi tên và thành lập Trường Cao đẳng Phật học nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả Trường Trung cấp Phật học có 31 trường , miền Bắc có 05 trường (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh), miền Trung và Nam có 26 trường (Tp Hồ Chí
Trang 25Minh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Tiền Giàn, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang, Bình Dương, Kiên Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Gia Lai) Nhìn chung, đối với các cơ sở giáo dục tại địa phương, đều được Ban Trị sự, Ban Giám hiệu trường đặc biệt quan tâm Qua đó, hầu hết các trường Phật học đều được xây dựng khang trang, đầy đủ tiện nghi Một số trường tổ chức cho tăng, ni ở nội trú Về công tác giảng dạy và nội dung học tập tại các trường có sự kết hợp hài hòa giữa nội điển và ngoại điển Thái độ học tập của tăng, ni sinh nghiêm túc, chuyên cần Nề nếp sinh hoạt của nhà trường cũng như đời sống tu học của tăng, ni sinh luôn được Ban Giám hiệu và Ban Trị sự quan tâm giúp đỡ và nâng cao
Về văn hóa nghệ thuật cũng phát triển mạnh, đã có nhiều nhà phát hành kinh sách và ấn phẩm Phật giáo ra đời rất phong phú và đa dạng, trong lĩnh vực báo chí ngày càng phát triển mạnh, góp phần trong việc truyền đạt kiến thức cho Tăng Ni, Phật tử và cho tất cả những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu giáo lý của Phật giáo, đồng thời còn truyền đạt những thông tin của Giáo hội muốn phổ biến và đến nay đã có một chỗ đứng vững chắc trong lòng độc giả
Bên cạnh đó, Giáo hội còn tổ chức nhiều chương trình tu học cho Phật
tử, nhiều khóa tu thu hút đến hàng ngàn người tham dự, như hiện nay Khóa tu Phật thất tại chùa Hoằng Pháp - Hóc Môn, có đến hàng ngàn người tham dự, với những khóa tu như vậy tạo điều kiện cho con người ngày một gần nhau hơn, hiểu và thương nhau hơn theo tinh thần từ bi của đức Phật Hệ thống Gia đình Phật tử ngày một cũng cố với gần 800 đơn vị tham gia dưới sự điều hành quản lý của Giáo hội, thu hút nhiều thanh thiếu niên tham dự Đây là một tổ chức đặt biệt của Phật giáo nhằm đem ánh sáng Phật Pháp vào thế hệ trẻ bây giờ Nhiều chương trình tu học, văn hóa, văn nghệ, vui chơi dành cho thanh thiếu niên được mở rộng, tạo cho các em có tính năng động trong việc ứng
Trang 26xử nhưng tất cả không ra ngoài những lời Phật dạy Ngoài ra, Tăng Ni và Phật tử còn tham gia vào những công tác hoằng Pháp độ sanh ngày một đông, mang tinh thần dấn thân nhập thế cao, nhiều hoạt động mang tính quốc tế như tham gia vào các hội thảo khoa học kỹ thuật ở các quốc gia châu Âu, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc tạo điều kiện cho Phật giáo Việt Nam gắn bó với Phật giáo thế giới
Bên cạnh những thành tựa mà Phật giáo Việt Nam đã đạt được, đó chỉ
là những mặt được thể hiện ra trên hình thức, nhưng về mặt tìm ẩn bên trong thì có thể nói rằng đó là những vấn đề bức xúc của những người tu hành chân chính Hiện nay số lượng Tăng Ni trẻ quá nhiều so với trước kia Ngày nay Tăng ni trẻ tham gia vào công tác Phật sự quá nhiều, luôn luôn chạy theo thế giới bên ngoài mà quên đi thế giới bên trong chúng ta Tình trạng suy thoái đạo đức trong hàng tăng sĩ cũng không phải là ít, từ oai nghi tế hạnh, giới luật, đã tự đánh mất chính mình mà không hay hề biết Đã có những vị sống với người thế tục và sống giống như người thế tục
Với tinh thần đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội, tăng, ni, phật tử Việt Nam trong những năm qua đã góp phần thực hiện có hiệu quả tôn chỉ mục đích đúng đắn của Giáo hội đề ra trong Hiến chương và chương trình hoạt động 06 điểm Những thành quả Phật sự đạt được chính là do sự chung tay góp sức, nhất tâm đoàn kết của tăng, ni, phật tử Việt Nam, không phân biệt Tông môn, hệ phái, xuất gia hay tại gia, ở trong nước hay ở nước ngoài
Bộ máy lãnh đạo của Giáo hội được thành lập hơn 30 năm qua đã tự hoàn thiện, không ngừng củng cố, mở rộng về nhân sự và chất lượng, trình
độ, thể hiện trọn vẹn nguyên tắc thống nhất đã đề ra Đó là tính đoàn kết, hòa hợp, thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đặt sự nghiệp chung vì Đạo pháp và Dân tộc Chính vì vậy, những thành quả của
Trang 27Giáo hội đã đạt được đã khẳng định một số ưu điểm lớn, quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Mặt khác, với truyền thống yêu nước, tăng, ni cũng như phật tử đã noi gương các bậc tổ sư tiền bối, luôn một lòng tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu Trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa xã hội… đều có sự đóng góp nhiệt thành của tăng, ni, phật tử Việt Nam; trong đó không ít những cống hiến xuất sắc, xứng đáng với truyền thống hộ quốc an dân của tăng, ni, phật tử suốt chiều dài lịch sử 2000 năm Phật giáo Việt Nam
Những thành quả tốt đẹp của Giáo hội Phật giáo Việt nam trong những năm qua đã khẳng định niềm tin của Giáo hội vào Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kế thừa niềm tin của những bậc chân tu tiền bối trong giai đoạn lịch sử và cách mạng Việt Nam – một niềm tin xuất phát từ lòng yêu nước, thấm nhuần tư tưởng từ bi và trí tuệ của đạo Phật Việt Nam đã được kiểm nghiệm lâu dài trong thực tiễn Mặt khác tinh thần “khế lý, khế cơ” của giáo lý đức Phật cũng là một trong những yếu tố quan trọng hướng dẫn ta ứng dụng vào các mặt tổ chức và điều hành Phật sự của Giáo hội Tinh thần “Khế lý” giúp chúng ta sống đúng chân lý, nắm vững quy luật của vũ trụ
và nhân sinh Tinh thần “khế cơ” giúp chúng ta biết vận dụng chân lý ấy cho thích hợp với tâm lý, căn cơ, hoàn cảnh của đất nước và thời đại
Trên cơ sở chương trình hoạt động đã đề ra trong những năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt nam đã triển khai những công tác cụ thể, bằng sự vận dụng trí tuệ tập thể, tinh thần hòa hợp đoàn kết, phát huy tính sáng tạo, giữ vững niềm tin đạp Pháp của các thành viên tăng, ni, phật tử cả nước Qua đó, Giáo hội đã thu được nhiều thành tựu Phật sự và đạt được những kết quả như sau:
+ Từng bước triển khai và thực hiện có hiệu quả các mặt hoạt động của Giáo hội từ các Ban, Viện Trung ương Giáo hội đến Ban trị sự tỉnh, Thành hội
Trang 28Phật giáo trong toàn quốc Với những thành quả đạt được, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, huy hoàng hơn trong lòng dân tộc
+ Văn phòng Trung ương Giáo hội đã củng cố và tăng cường nhân sự hợp lý, quan hệ chặt chẽ, thông tin và giải quyết kịp thời nhiều Phật sự cần thiết, nhất là công tác tổ chức các Hội nghị thường niên của Trung ương, Thông bạch, chỉ đạo của Trung ương Giáo hội đến các Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo
+ Trung ương Giáo hội đã hướng dẫn các tỉnh, thành hội Phật giáo chủ động tổ chức học tập, hội thảo, quán triệt về các văn kiện của Trung ương Giáo hội có hiệu quả Qua đó, Ban Trị sự các tỉnh, thành hội đã phát huy được vai trò kỷ cương lãnh đạo của Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự các tỉnh, thành hội theo đúng Hiến chương và Nội quy Ban, Viện và Ban Trị sự
+ Do bám sát chương trình hoạt động, luôn luôn quan tâm đến công tác Phật sự và tình hình sinh hoạt tại mỗi địa phương, nên khi có vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ, Trung ương Giáo hội đã kịp thời cử đại diện về giải quyết, giúp địa phương ổn định tình hình sinh hoạt
+ Qua các hoạt động phụng sự đạo pháp trong nước và các Hội nghị, Hội thảo quốc tế, tham quan nước ngoài, sự hiểu biết của tăng, ni, phật tử trong nước cũng như uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng Phật giáo thế giới ngày càng phát huy mạnh mẽ
+ Trong bất cứ tình huống nào, tăng, ni, phật tử cả nước vẫn luôn luôn khẳng định vai trò, vị trí, tiếng nói của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất, đại diện cho tăng, ni, phật tử Việt Nam ở trong nước cũng như
ở nước ngoài
+ Đường lối đổi mới, cũng như chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về tự do tín ngưỡng, sự hỗ trợ nhiệt tình của các cơ quan, ban ngành trung ương và các địa phương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có thuận
Trang 29duyên để tiếp tục phát triển vững mạnh, trang nghiêm trong lòng dân tộc, theo hướng phát triển chung của thời đại
Mặc dù trong những năm qua, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển phức tạp, lại có những âm mưu gây chia rẽ phá hoại sự nghiệp thống nhất Phật giáo, nhưng với sự kiên định, sáng suốt nhận định, thấy rõ lý nhân quả và hòa hợp đoàn kết, quyết tâm giữ vững sự thống nhất Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khắc phục và vượt qua mọi trở ngại, để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của Giáo hội đối với Đạo pháp và Dân tộc trong điều kiện hội nhập và phát triển toàn diện của đất nước Đặc biệt là tạo vị thế vững mạnh của Giáo hội đối với công tác đối ngoại, tạo sự thân hữu với Phật giáo các nước trên thế giới
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, trong quá trình quản lý, điều hành công tác, Giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm,
đó là những khiếm khuyết nà Giáo hội cần nỗ lực khắc phục để tự hoàn thiện trọng trách mà tăng, ni, phật tử Việt Nam trong và ngoài nước tín nhiệm giáo phó Mặc dù nhân sự của Hội đòng trị sự,các Ban, Viện trung ương được tăng cường nhưng hoạt động chưa đồng bộ, chưa sâu sát, không tạo thành chất xúc tác với các cơ sở địa phương, phần lớn chỉ chú trọng về hình thức;việc điều hành quản lý và giải quyết công tác phật sự còn tương đối chậm
Một số công tác Phật sự của Giáo hội đã đề ra trong những năm qua nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được như: Bộ sách giáo khoa Phật học phục vụ công tác giang dạy tại các trường Phật học trong cả nước chưa được thực hiện; Trường Cao đẳng Phật học trong cả nước chưa được thành lập; chưa soạn thảo được giáo trình Nghi lễ để giảng dạy chung tại các trường hạ
và các Trường Phật học; chương trình phát triển văn hóa Phật giáo tại các vùng sâu, vùng xa, cùng cao nguyên và dân tộc ít người tuy đã được thực hiện những chưa đều khắp, vì thiếu kinh phí và thiếu nhân sự Do Giáo hội chưa có
Kế hoạch tạo nguồn kinh tế tài chính ổn định lâu dài và dự trữ để hoạt động,
Trang 30nên một số công tác Phật sự trong những năm qua bị đình đốn, không thực hiện được
Có thể thấy, trong những năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu Phật sự trong đại Có được những thành tựu trên chính
là do Giáo hội Phật giáo Việt Nam có đường hướng hoạt động đúng đắn, phù hợp với Đạo pháp, Dân tộc trong xu thế phát triển của xã hội và thời đại Đường hướng đó chính là “Trưởng dưỡng đạo tâm, tăng cường đạo lực, trang nghiêm Giáo hội”, đoàn kết hòa hợp Phật giáo và phát huy truyền thống ngàn đời hòa quyện giữa Phật giáo với Dân tộc trên con đường phát triển của Giáo hội theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” Chính trên nền tảng đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đề ra và thực hiện thành công Chương trình 06 điểm trong nhiệm kỳ 2012 – 2017
Yếu tố cơ bản để thực hiện đường hướng cũng như tạo nên những thành tựu nói trên là do sự lãnh đạo nhất quán, xuyên suốt của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam với ý thức vun bồi , bảo vệ sự nghiệp đoàn kết, thống nhất Phật giáo Việt Nam và tôn trọng truyền thống tu học đúng Chánh pháp Giáo hội cũng đã mạnh dạn nhìn vào thực tế, nhận xét đánh giá đúng đắn những ưu, khuyết điểm và những hạn chế, tồn đọng khó khăn trong những năm qua, để từ đó rút kinh nghiệm tạo sơ sở nhận thức, đề ra chương trình hoạt động Phật sự trong những năm tiếp theo Tất cả tăng, ni, phật tử đều nhất tâm phát huy những kết quả tốt đẹp đã đạt được, những nội dung tư duy tích cực đã tích lũy, thống nhất ý chí và hành dộng để phấn đấu hoàn thành chương trình hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay
Trong những năm tới, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng tin tưởng rằng, với sức mạnh đồng tâm hiệp lực phục vụ Đạo pháp và Dân tộc của toàn thể tăng, ni phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, sự hỗ trợ của Đảng, Nhà
Trang 31nước, Mặt trận Tổ quốc Việt nam, cũng như các cơ quan ban, ngành liên quan
và nhân dân trong cả nước, nhất định sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sinh, phục sự Tổ quốc và nhân lại của Phật giáo Việt nam sẽ tiếp tục tăng cường vững chắc, đạt được những thành quả to lớn, sâu sắc bền vững và tốt đẹp hơn nữa Với tình thần trên, hiện nay tăng, ni, phật tử Việt Nam đã quán triệt nội dung chương trình hoạt động 06 điểm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nhiệm kỳ VII (2012-2017), ứng dụng hài hòa với tình hình xã hội, đất nước và thế giới có nhiều cơ duyên thuận lợi đồng thời đòi hỏi phải khắc phục không ít những khó khăn trên đường đi sắp tới, để quá trình phục
sự Đạo pháp và Dân tộc của mỗi thành viên trong Giáo hội không ngừng tinh tiến, các mặt hoạt động Phật sự của Giáo hội đạt được những thành công nhất định, tiếp tục làm trang nghiêm vững mạnh ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc, cùng cả nước vững bước tiến lên theo sự phát triển của xã hội và thế giới trong thời kỳ hội nhập, trong một thế giới hòa bình
1.2.2 Tinh thần dấn thân và nhập thế của đạo Phật
Đời sống tinh thần là nhựa sống phong phú và bất diệt của Phật giáo, Đạo Phật là chân lý, là nguồn sống của tất cả mọi sự sống Vì thế dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử và sự biến thiên của cuộc đời, Phật giáo vẫn hòa mình trong cuộc sống nhân loại theo nguyên tắc “tùy duyên hóa độ” Cho nên, đạo Phật là đạo có khả năng hòa nhập rất nhiệm mầu, đi đến nơi nào xứ nào cũng đều thích nghi với xứ đó Để có một lối sống như vậy Phật giáo đã dung hợp trên hai phương diện xuất thế và nhập thế tạo thành một lối sống đặc thù của người con Phật Đạo lý của Phật giáo tuy nhằm vào mục đích tối hậu là xuất thế, nhưng cũng không đối lập với tinh thần nhập thế Xuất thế ở đây theo quan niệm của Phật giáo không phải là thoát ly, là trốn tránh thế gian mà
là xuất thế để nhập thế, nhập thế để mà xây dựng lại đời sống thế gian Nếu vai trò dấn thân và nhập thế của các nhà chính trị là để lo cho dân, giữ yên
Trang 32bình cho đất nước thì vai trò nhập thế của người xuất gia, ngoài hai vị trí trên còn đem ánh sáng đạo pháp vào đời để giúp cho đời về hai mặt tinh thần cũng như vật chất
Nói đến vấn đề dấn thân và nhập thế của đạo Phật, cũng có nghĩa là nói đến vấn đề đem Đạo vào Đời một cách tích cực của người con Phật, cũng có nghĩa là đem ánh sáng từ bi và trí tuệ đi vào cuộc đời, nhằm chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc Khái niệm “nhập thế” của Phật giáo dùng để chỉ cho hàng Tăng sĩ nói riêng và Phật tử nói chung, mang nhiều hoạt động của Phật giáo dưới nhiều hình thức khác nhau vào trong các nếp sống sinh hoạt xã hội như các hoạt động từ thiện, cứu trợ thiên tai, giúp đỡ người nghèo khó, nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em và người già không nơi nương tựu Đồng thời góp phần ngăn chặn những tệ nạn xã hội, hòa giải giải quyết những mâu thuẫn trong gia đình cũng như ngoài xã hội Bên cạnh đó, còn góp phần giải quyết những vấn đề về môi sinh, bình quyền giới tính, ý thức hệ, giao dục thanh thiếu niên trên tiêu chí phụng sự nhân sinh xã hội đưa đến một thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc ngay trên trần gian này
Lúc đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam đem Đạo vào Đời bằng hành động tự lợi, lợi tha, hơn là đem lời kinh tiếng kệ hay thuyết giảng để dẫn dắt mọi người Chính vì thế mà Phật giáo biến thành một sức mạnh trong lòng dân tộc, là một nguồn lực động viên tinh thần cho người dân Việt Nam trong quá trình chống quân xâm lược để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Người con Phật vốn lấy lòng từ bi làm căn bản và hạnh nhẫn nhục làm phương châm, tất cả mọi thứ ở thế gian đều xa lánh, không giống với những quan niệm thường tình của người thế tục, cho cuộc đời là một chiến trường để tranh đấu, mong sao có những thắng lợi về mình, càng nhiều càng tốt, do đó
họ cho là Phật giáo xa lánh đời là tiêu cực Nhưng thực chất Phật giáo có xa
Trang 33lánh đời hay không? Xin thưa là “Không” Nếu đạo Phật xa lánh đời thì làm sao có thể tồn tại và phát triển ngày càng mạnh cho đến bây giờ Tinh thần ấy được biểu hiện rất rõ qua lời phát nguyện của Tôn giả A Nan như sau
“Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập Như nhất chúng sanh vị thành Phật Chung bất ư thử thủ nê hoàn ”
(Đời ngũ trược con nguyện vào trước
Nếu còn một chúng sanh chưa chứng quả Cõi niết bàn con không giám tự an )
Đức Phật chúng ta cũng đã từng nói “ Ta không vào địa ngục thì ai vào
địa ngục, chẳng những vào địa ngục mà còn trang nghiêm địa ngục”
Bồ tát Địa Tạng cũng bảo “ chúng sanh độ tận phương chứng bồ đề,
địa ngục vị không thệ bất thành Phật” (chúng sanh độ hết mới chứng bồ đề, địa ngục không hết tội nhân thề không thành Phật) Đây chính là tinh thần
dấn thân và nhập thế, tự lợi, lợi tha của Phật giáo, hy sinh thân mình để cứu
độ chúng sanh Rồi cho đến đời nhà Đường ở Trung Quốc có Ngài Huyền
Trang sang Thiên trúc thỉnh kinh, trải qua bao chông gai, thử thách nhưng Ngài vẫn phát nguyện, thà bước một bước về phương Tây mà chết còn hơn lui một bước về phương Đông mà sống, nếu như chưa đạt được mục đích Với tinh thần vì Pháp quên mình để tìm cầu giác ngộ giải thoát cho chúng sanh chứ không phải cho riêng mình
Rồi khi sự có mặt của Phật giáo ở nước ta từ đầu công nguyên cho đến nay như là một dòng sữa mát chảy sâu vào trong lòng đất mẹ, để rồi những cây xanh tốt không chỉ bén rễ mà còn đơm hoa kết trái trên mãnh đất Việt và không bao giờ cuốn trôi đi những gì tinh hoa nhất trên mảnh đất, không làm mất đi những cánh đồng, làng mạc thân yêu của dân tộc, không gây nên
Trang 34những cơn bão tố, mà nó luôn hiền hòa trong mát Điều này được biểu hiện rõ nhất là Phật giáo trong thời Lý - Trần mà tiêu biểu là vua Lý Công Uẩn, thiền
sư Vạn Hạnh, đến những vị vua Thiền sư đời Trần như Trần Thái Tông, Trần
Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Với tinh thần “vô ngã vị tha”, “hòa
quang đồng trần”, “ tùy duyên hóa độ” các Ngài luôn lấy chúng sanh làm đối
tượng để phụng sự, dấn thân vào đời để đem lợi lạc cho đất nước, lợi ích cho dân tộc và tùy duyên xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có khi các Ngài đóng vai của một thái sư Khuôn Việt, khi thì làm người chèo đò Đỗ Thuận khi thì làm thầy thuốc Tuệ Tĩnh, tuy với nhiều hình dạng khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến mục đích chung là đem lại an bình cho đất nước:
ấm no, hạnh phúc cho dân tộc không ngại chông gai, thể hiện một thái độ ung dung tự tại như Tuệ Trung Thượng Sĩ
“Phong suy bất ngại hoa gian mật Nguyệt lạc vô phòng giản để thâm”
(Gió thổi ngại gì đám hoa rậm Trăng tà đâu quản đáy khe sâu)
Thể theo tinh thần của những người đi trước để lại, Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo thế giới đang chuyển mình theo thời thế, nên tinh thần dấn thân và nhập thế ngày càng tích cực hơn Những vị tiêu biểu cho phong trào dấn thân một cách tích cực như thiền sư Nhất Hạnh, Ni sư Chứng Nghiêm Trung Quốc, Đức Dalai Lama Tây Tạng, Trưởng Lão Buddhadasa tại Thái Lan và chư tôn đức hoạt động hành đạo tại Việt Nam Những phong trào nhập thế do các vị tổ chức được thể hiện rất rõ nét qua cuộc sống hằng ngày Như thiền sư Nhất Hạnh không những chỉ nổi tiếng trong cộng đồng tôn giáo thế giới với vai trò của một vị thầy tâm linh, mà còn là một nhà thơ, nhà văn, đặt biệt là người dấn thân vì hòa bình thế giới Tinh thần nhập thế được Ngài
nói như sau “Phật giáo nhập thế chỉ đơn thuần là Phật giáo Nếu bạn thực
Trang 35hành Phật giáo trong gia đình thì đó là Phật giáo nhập thế” [22, tr.109] Đây
là quan điểm chung của những nhà tiên phong trong phong trào dấn thân và
Ngài, không chỉ thể hiện tinh thần nhập thế tích cực tại các nước Phương Tây
mà còn ảnh hưởng lớn đến giới trí thức tại các quốc gia này
1.2.3 Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam hiện nay
Như trên đã trình bày, Phật giáo là tôn giáo có tính thích ứng lớn, khi được truyền bá đến bất kỳ đâu nó cũng nhanh chóng hoà đồng, thích nghi với truyền thống, phong tục tập quán của cư dân bản địa Do đó khi nói đến Phật giáo người ta không nói Phật giáo chung chung mà thường gắn tôn giáo này với từng quốc gia, khu vực, chẳng hạn như Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Việt Nam Trong quá trình Phật giáo thâm nhập, phát triển, văn hoá Việt Nam đóng vai trò chủ thể Đây là một nền văn hoá
có truyền thống lâu đời, có bản sắc độc đáo và sức mạnh bản địa đặc biệt Vì thế Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam cũng bị biến đổi dưới ảnh hưởng của văn hoá Việt Nam làm cho nó có một số đặc điểm riêng, không giống với Phật giáo ở Ân Độ hay bất kỳ nơi nào khác
* Sự kết hợp giữa các tông phái:
Như trên đã trình bày, Phật giáo du nhập vào Việt Nam gồm cả hai dòng Nam tông và Bắc tông (thường được gọi là Tiểu thừa và Đại thừa) Từ khoảng thế kỷ IV - V, Phật giáo Đại Thừa từ phương Bắc tràn vào và nhanh chóng lấn át, thay thế Phật giáo Tiểu thừa Ba tông phái Đại thừa được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông
Thiền tông là tông phái do vị sư tổ người Ân Độ là Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ra vào đầu thế kỷ VI ở Trung Quốc “Thiền” nghĩa là tập trung trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý
Người tu theo Thiền tông phải là người có năng lực trí tuệ và phải
Trang 36dành toàn bộ thời gian, tâm sức cho việc tu hành Do đó, Thiền tông chủ yếu phổ biến trong tầng lớp trí thức và giới thượng lưu, còn những người khả năng trí tuệ hạn chế hoặc phải lao tâm khổ tứ vì cơm áo gạo tiền rất khó tu theo tông phái này Lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận sự tồn tại của một
số dòng thiền như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm Nhìn chung, Thiền tông Việt Nam đề cao cái Tâm, cho rằng "Phật tại Tâm, Tâm tức Phật"
Nếu Thiền tông đề cao việc tự mình nỗ lực tìm kiếm, giác ngộ chân lý (tự lực) thì Tịnh Độ tông lại chủ trương phải dựa vào sự giúp đỡ, hỗ trợ từ bên ngoài (tha lực) để chứng ngộ chân lý Thực chất thì Thiền tông hay Tịnh
Độ tông đều là những biện pháp tu hành, chỉ có đối tượng áp dụng là khác nhau Tịnh Độ tông cho rằng một số người có thể tự lực giác ngộ nhưng với
đa số người khác thì sự giúp đỡ bên ngoài là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết Nếu chỉ có Thiền tông thì Phật giáo chỉ có thể được biết đến trong giới tu hành và một số phật tử thuộc tầng lớp trên của xã hội Nhờ Tịnh Độ tông với quan niệm và cách thức tu tập đơn giản, Phật giáo đã trở nên phổ biến và gần gũi với mọi người dân Đi đến bất kỳ đâu trên đất nước Việt Nam cũng có thể gặp người tụng niệm câu: “Nam mô Adiđà Phật” - nghĩa là
“Nguyện quy y theo đấng giác ngộ vô lượng” Đây còn là câu nói cửa miệng của người Việt Nam khi khấn vái ở nhiều nơi, với nhiều “thành phần” khác chứ không chỉ ở riêng chốn Thiền môn Tượng Phật Adiđà cũng xuất hiện từ rất sớm và có mặt ở nhiều nơi Một số pho tượng còn lại từ thời nhà Lý là những kiệt tác của kho tàng nghệ thuật điêu khắc cổ
Mật tông (Chân ngôn tông) thì sử dụng những phép tu huyền bí như linh phù, mật chú, ấn quyết để sớm đạt đến giác ngộ và giải thoát Khi du nhập vào Việt Nam, Mật tông không còn tồn tại như một tông phái riêng mà nhanh chóng hoà quyện với tín ngưỡng dân gian bản địa như dùng pháp
Trang 37thuật, yểm bùa để trừ tà ma, chữa bệnh
Khi được truyền bá vào nước ta, ba tông phái trên không còn tồn tại biệt lập, riêng rẽ và thuần khiết như ban đầu nữa mà chúng có sự kết hợp với nhau, sử dụng những phương pháp của nhau trong quá trình phát triển Mặc
dù Thiền tông chủ trương bất lập ngôn song ở Việt Nam các nhà sư đã để lại khá nhiều trước tác Trong kho tàng thơ văn thời Lý Trần có một bộ phận không nhỏ tác phẩm của các thiền sư Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi có sự pha trộn với Mật giáo, thiền sư cũng là những người giỏi pháp thuật có tài thần thông biến hoá, phù phép, cầu đảo, bùa chú, bốc thuốc, Phật giáo ở Việt Nam có sự hoà quyện chặt chẽ giữa hai con đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, người Việt Nam một mặt quan niệm “Phật tại tâm”, mặt khác vẫn nhiệt thành niệm Phật Adiđà, cầu Bồtát cứu vớt
Hiện nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức có nhiều hệ phái khác nhau, bao gồm cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa; có những tông phái hình thành sau này và cả Phật giáo nguyên thuỷ
* Dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác:
Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hoá truyền thống Việt Nam là tính dung hợp Dung hợp được hiểu là sự tổng hợp các yếu tố khác nhau và biến đổi một cách linh hoạt để tạo nên cái mới
Các yếu tố văn hoá ngoại lai khi du nhập vào Việt Nam đã có sự dung hợp từ rất sớm, đặc biệt là giữa Phật giáo và Đạo giáo Từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đại diện cho một nền văn hoá lớn đối trọng với văn hoá Trung Hoa
đã được người dân Việt Nam đón nhận, còn Đạo giáo tuy đến từ Trung Hoa nhưng không phải là tư tưởng đại diện cho tập đoàn thống trị, nội dung lại
có nhiều điểm gần gũi với tín ngưỡng dân gian nên cũng dễ dàng được chấp nhận và hai tôn giáo này nhanh chóng hoà quyện với nhau Sau đó, quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo cũng hình thành và trở nên tương đối khăng khít
Trang 38Quan hệ này xuất phát từ nhu cầu học kinh Phật của các nhà sư Do ảnh hưởng của Phật giáo từ Trung Hoa nên muốn học kinh Phật trước tiên phải biết chữ Hán, và người ta chỉ có thể học chữ Hán thông qua các kinh sách Nho giáo Do đó, các nhà sư Việt Nam cũng thường là những người tinh thông cả Nho học Những lời thơ đối đáp của Ngô Chân Lưu và Đỗ Pháp Thuận với sứ thần nhà Tống hầu như rất ít bị chi phối bởi thế giới quan Phật giáo Vốn tri thức Nho học uyên thâm của các nhà sư đã khiến sứ thần phải trọng nể Khi giải đáp những vấn đề chính trị, các nhà sư thời Lý không chỉ
sử dụng giáo lý nhà Phật mà họ còn đặc biệt khéo léo trong việc vận dụng những nguyên lý cơ bản của Nho học như tiến cử người hiền, dùng người quân tử, tu kỷ, trị nhân, đức trị
Khi vua Lý Nhân Tông hỏi về lẽ trị loạn, thiền sư Viên Thông (1080 - 1151) trả lời: “Trị hay loạn là ở dân Quan được lòng người thì trị mà mất lòng người thì loạn Thần trải xem các bậc đế vương thời trước: chưa từng
có triều đại nào không dùng quân tử mà hưng thịnh, mà cũng không có triều đại không dùng tiểu nhân mà suy vong” [17, tr.204] Đây là lời của tăng phó Nguyễn Thường đối với vua Lý Cao Tông: “Tôi nghe ở tựa Kinh Thi có nói:
âm nhạc làm loạn nước thì nghe như oán, như giận Nay dân thì loạn, nước thì khốn Chúa thượng rong chơi vô độ Triều chính rối loạn, dân tâm lìa tan Đó
là triệu chứng mất nước đó” [24, tr.366] Câu trả lời cùng những lời can gián trên dường như không phải là của những nhà sư mà có khẩu khí của những nhà nho
Trần Nhân Tông, một vị vua sùng bái thiền học đã rất khó khăn trong việc chia sẻ trách nhiệm với dòng họ, với sơn hà - xã tắc, với giáo lý Nho học và ảnh hưởng của Phật giáo Ngay từ khi còn là Thái tử đương triều ông
đã có ý định xuất gia nhưng không được vua cha chấp thuận, và ông đã vâng lời cha, nhận trọng trách gánh vác giang sơn, tạm gác chí riêng Khi ở ngôi,
Trang 39ông củng cố sức mạnh quốc gia, lãnh đạo quân dân hai lần đánh thắng quân Nguyên Năm 1293, ông truyền ngôi báu cho con, xuất gia tu Phật Năm
1301, ở Chiêm Thành về, nghe tin Anh Tông lơ là triều chính, ông đột ngột trở về kinh, triệu vua con đến quở trách, định truất ngôi Nhờ triều thần can gián và Anh Tông biết lỗi, ông tha cho và răn rằng: “Đạo làm vua, Hãy biết xem đất nước là của công chứ không phải của riêng mình Hãy biết xem thiên hạ là nhà của chính mình” Như vậy, trước khi trở thành người khai sáng dòng thiền Trúc Lâm, Trần Nhân Tông được biết đến với tư cách một người con có hiếu, một vị vua anh hùng, một người cha nghiêm khắc
Việt Nam thường được coi là nơi mọi hệ tư tưởng có thể trú chân và phát triển Tuy nhiên, người Việt không dễ dãi trong việc tiếp thu văn hoá ngoại lai, trái lại còn rất thận trọng Nho giáo phải mất khoảng mười lăm thế
kỷ để trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội, Phật giáo vốn gần gũi hơn, được chấp nhận sớm hơn cũng phải mất gần 10 thế kỷ Xung đột tôn giáo là vấn đề rất dễ nảy sinh và tồn tại dai dẳng, phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới Nhưng khi đến Việt Nam, bị tác động bởi văn hoá Việt Nam, giữa các tôn giáo có một sự hoà hợp tương đối sâu sắc Đầu tiên Phật giáo được tín ngưỡng cổ truyền tiếp nhận, rồi cùng tín ngưỡng cổ truyền tiếp nhận Đạo giáo và tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo hình thành nên quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”, “Tam giáo đồng quy” Người Việt Nam cho rằng, tam giáo thoạt nhìn thì có vẻ khác nhau, nhưng khi đi sâu tìm hiểu thì chúng có chung một mục đích đó là khuyên con người làm điều thiện, chỉ có phương tiện cách thức khác nhau: Sách Nho thì dạy thi nhân bố đức; kinh Đạo dạy yêu vật, quý sự sống; còn Phật thì chủ trương giữ giới, cấm sát sinh [48, tr.555]
Sự dung hoà tam giáo ở Việt Nam diễn ra hết sức tự nhiên và thể hiện sinh động trong tình cảm, hành động của người dân Với tư duy tổng hợp, người Việt Nam cho rằng Tam giáo có khác nhau nhưng không mâu thuẫn mà lại
Trang 40bổ sung hỗ trợ cho nhau Trong đó: Nho giáo lo tổ chức xã hội sao cho quy
củ, nề nếp; Đạo giáo giải đáp vấn đề làm sao để thể xác con người được thư thái, khoẻ mạnh; Phật giáo lo cứu khổ cứu nạn, lo cho kiếp sau của con người Người dân cần đến cả ba tôn giáo ấy và sử dụng chúng một cách linh hoạt phù hợp với từng giai đoạn Trong cuộc đời một người Việt Nam, khi trẻ trung thì theo học Nho để ra giúp nước, khi khổ ải trầm luân thì cầu trời khấn Phật phù hộ độ trì, khi ốm đau già yếu thì mời đạo sĩ đến để trừ tà ma trị bệnh
Chính sách của các triều đại phong kiến cũng thể hiện đậm nét tinh thần “Tam giáo” Lý Thái Tổ đã sử dụng tôn giáo rất toàn diện, khi dời đô
về Thăng Long, ông không chỉ cho xây chùa Vạn Tuế phục vụ nhu cầu tâm linh của hoàng thân quốc thích mà còn cho lập đạo quán ngay trong kinh thành Mặc dù, lấy Phật giáo làm quốc giáo nhưng ngay từ đầu triều Lý, Lý Thánh Tông đã cho lập Văn Miếu, đúc tượng Khổng Tử và các học trò để thờ; cho vẽ tranh 72 vị tiên hiền Nho giáo để treo Cả thời Lý và thời Trần đều có các kỳ thi Tam giáo để lựa chọn người hiền tài, tinh thông cả ba giáo
lý ra giúp nước Việc sử dụng đồng thời cả ba tôn giáo không chỉ giúp nhà cầm quyền có thể khai thác được những ưu điểm của chúng mà quan trọng hơn là còn dùng tôn giáo này kiềm chế tôn giáo kia, tránh những nguy cơ xấu do độc tôn tôn giáo có thể gây ra Vào thời Lê, Nho giáo đã được tôn là quốc giáo nhưng ngay cả một ông vua như Lê Thánh Tông cũng chỉ thể hiện khí chất Nho vào buổi sáng, khi thiết triều giải quyết công việc, buổi chiều
đi vãn cảnh chùa với tâm linh một Phật tử, rồi gặp cô tiên xinh đẹp cùng cô xướng hoạ thơ văn, khi cô bay lên trời thì cho dựng Vọng tiên quán để tưởng nhớ với tâm hồn Đạo sĩ Ngay trong thời Nguyễn, thời kỳ Nho giáo là
hệ tư tưởng thống trị nhưng tinh thần “Tam giáo” vẫn được duy trì Phật giáo không vì thế mà mất đi ảnh hưởng, bởi tôn giáo này chính là chất keo