ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN DANH THỰC TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ TÂM THỨC PHẬT GIÁO LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Lý luận[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DANH THỰC
TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ TÂM THỨC PHẬT GIÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DANH THỰC
TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ TÂM THỨC PHẬT GIÁO
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lý Hoài Thu
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
NguyễnDanhThực
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và long biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Lý Hoài Thu, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa sau Đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ long cảm ơn sâu sắc tới bạn bè cùng gia đình
và những người thân đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Với trình độ và kiến thức còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự lượng thứ
và góp ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đã quan tâm đến vấn
đề được tìm hiểu trong luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Danh Thực
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 : TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG LÒNG DÂN TỘC 4
1.1 Thân thế và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh 5
1.2 Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 7
1.2.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử 7
1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 18
1.3 Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc 27
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG DÒNG CHẢY DÂN TỘC CUA TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH……… ……41
2.1 Phật giáo Xứ Đoài qua tác phẩm “ Đội Gạo Lên Chùa” 42
2.2 Tinh thần nhập thế của Đạo Phật 55
2.3 Con người với tâm thức Phật giáo qua tác phẩm “Đội Gạo Lên Chùa” 64
Tiểu kết chương 2 755
Trang 6CHƯƠNG 3: TÂM THỨC PHẬT GIÁO VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH TRONG TÁC PHẨM ĐỘI
GẠO LÊN CHÙA 777
3.1 Tâm thức Phật giáo trong Nguyễn Xuân Khánh 777
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh trong Đội gạo lên chùa 833
Tiểu kết chương 3 933
KẾT LUẬN 956
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1012
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những thập niên gần đây vấn đề tâm linh Phật giáo rất được quan tâm, văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng, đời sống con người không chỉ chú ý đến duy vật mà còn chú ý đến duy tâm, không những duy ý chí mà cả tâm linh đời sống trong tiểu thuyết đương đại
Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít các nhà văn nhận được những đánh giá cao của giới phê bình, nghiên cứu Số lượng tác phẩm của ông tuy không đồ sộ nhưng hầu hết các tác phẩm đều có giá trị về mặt tư tưởng và thể loại Các tác phẩm của ông đều mang tính chân thực sâu sắc
Tác phẩm Đội gạo lên chùa được ông viết ở tuổi 78, Nguyễn Xuân Khánh được mệnh danh là “nhà văn cao tuổi nhất, viết dài nhất” Đây cũng là tác phẩm đặc biệt nhất vì nó hội tụ toàn bộ vốn kiến thức và kinh nghiệm sống của cuộc đời ông Đó là cả khối kiến thức sách vở và những trải nghiệm của ông trong gần 80 năm cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh mang tư tưởng hiện đại, viết cho những người hiện đại đọc, nên những vấn đề của cuốn sách đặt
ra không chỉ cần đúng với lịch sử mà còn phải là những vấn đề được người đọc quan tâm Bởi bất cứ cuốn tiểu thuyết lịch sử nào cũng đều có ảnh hưởng của đời sống hiện đại Muốn tác động tới tâm tư người đọc, người viết phải mang những xúc động của mình vào trong từng trang viết
Bản thân tôi cũng có duyên gắn bó với Phật giáo từ nhỏ - đi xuất gia và được thấm nhuần giáo lý của Phật nên đặc biệt quan tâm đến tác phẩm Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vì nó truyền tải những vấn đề rất đáng được quan tâm trong xã hội hiện đại ngày nay Qua tác phẩm chính là
sự trải nghiệm và so sánh với hoàn cảnh của chính bản thân, mặc dù có sự khác biệt về bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội, môi trường xung quanh xong cũng cảm nhận rất rõ sức sống cũng như tinh thần nhập thế của Phật giáo vô
Trang 8cùng mạnh mẽ và linh hoạt dù chỉ 20 năm trở lại đây của chính bản thân Qua tác phẩm với tinh thần “ôn cố tri tân” tôi thấy có nhiều điểm cần suy ngẫm, giữ gìn và phát huy, song cần bổ sungđể Phật giáo ngày nay thực sự chứng minh được tinh thần nhập thế của mình trong một xã hội văn minh hơn, hiện đại hơn Đây là tác phẩm mang giá trị tư tưởng cao đáng được người đọc quan tâm
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tuy cầm bút đã lâu nhưng sự nghiệp của ông chỉ thực sự được khẳng định từ khi tác phẩm Hồ Quý Ly ra đời Do vậy những công trình nghiên cứu khoa học về các sáng tác của ông chưa nhiều Một số bài nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội có nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm của ông như sau:
Luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần
thuật học của Hoàng Thị Hiền Lương Công trình này, người viết khai thác về
vấn đề trần thuật học như: thời gian, không gian trần thuật; kết cấu, điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
Luận văn thạc sĩ Hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử qua Hồ Quý Lý
và Giàn thiêu của Lê Thị Bích Hòa Đề tài này nghiên cứu về nhiều vấn đề
xoay quanh hai tiểu thuyết lịch sử là Hồ Quý Lý của Nguyễn Xuân Khánh và Giàn thiêu của Võ Thị Hảo về chất liệu lịch sử, cách khai thác chất liệu lịch
sử, sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong hai tác phẩm này.Về vấn đề nghệ thuật, người viết nghiên cứu về nghệ thuật kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Có thể nói đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi khá rộng và sâu sắc
Luận văn thạc sĩ Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh qua
hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn Đề tài này cũng nghiên cứu về
tiểu thuyết lịch sử và vị trí của Nguyễn Xuân Khánh trong tiến trình tiểu
Trang 9thuyếtlịch sử Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh thường xoay quanh hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, còn có một số công trình nhỏ như niên luận khai thác các vấn đề về tác giả tác phẩm Tuy nhiên Đội gạo lên chùa do mới ra đời nên chưa có nhiều công trình khai thác
về tác phẩm và những vấn đề liên quan đến những tác phẩm ấy
3 Mục đích nghiên cứu
Lịch sử việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những thế hệ con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, sẵn sàng xả thân để cứu nước, thương yêu con người, thương yêu đồng loại, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn… những đức tính đó đã trở thành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế hệ con người Việt Nam đã nâng niu, gìn giữ
Sự phát triển nhanh chóng về nhiều mặt của thế giới ngày nay và nền kinh tế thị trường đã tác động trực tiếp đến quốc gia, đã và đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung và đạo đức nói riêng Nhưng yếu tố vốn được xem là truyền thống đạo đức của các dân tộc và toàn thể nhân loại Đối với xã hội, từ khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường bên cạnh nhiều cái được, đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực
xã hội Bất chấp những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một bộ phận trong các tầng lớp, các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá nhân đã trà đạp lên các khuôn mẫu, các giá trị đạo đức đích thực
Nguyễn Xuân Khánh là một người luôn trăn trở về những vấn đề văn
hóa – lịch sử, quyết tìm câu trả lời qua ba tiểu thuyết văn hóa - lịch sử: Hồ
Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa là câu trả lời thuyết phục nhất
cho các vấn đề lối sống văn hóa đang được đặt ra gay gắt Qua tác phẩm này nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã cảnh báo những lối sống tiêu cực và mở ra
Trang 10một lối sống tích cực mang hơi thở của Phật giáo Và đặc biệt là tâm thức nhập thế của Phật giáo trong lòng dân tộc qua các tiến trình lịch sử
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này quan tâm nhiều đến yếu tố Phật giáo trong tiểu thuyết lịch sử
Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh Vì thế, đối tượng của đề tài này
là Tâm thức Phật giáo biểu hiện trong Đội gạo lên chùa với sắc thái như thế
nào, có ý nghĩa và những đóng góp tích cực gì Muốn tìm hiểu về vấn đề này cần tìm hiểu về Phật giáo Việt Nam có quá trình lịch sử như thế nào, có ảnh hưởng thế nào đến con người Việt Nam, từ đó tác giả đã nắm bắt và thể hiện điều đó bằng cách nào trong tác phẩm
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi cuốn tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa
Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu dùng hai phương pháp phân tích và tổng hợp Phân tích để thấy được yếu tố Phật giáo được triển khai trong tác phẩm như thế nào, sau đó tổng hợp lại để đưa ra ý nghĩa, tư tưởng của vấn đề Đồng thời cũng sử dụng phương pháp so sánh với các tác phẩm cùng tác giả và một số
tác phẩm của các tác giả khác để vấn đề tâm thức Phật giáo được nổi bật hơn
Trang 11CHƯƠNG 1 : TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO
VIỆT NAM TRONG LÒNG DÂN TỘC 1.1 Thân thế và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, quê quán ở xã Cổ Nhuế, Bắc Từ Liêm, Hà Nội Ngày còn trẻ ông say mê âm nhạc, là cây văn nghệ nổi bật Ông từng đỗ tú tài toán và học tại Đại học Y – Hà Nội từ năm 1951 –
1952 Đến năm 1953 ông ra nhập ngũ ở Khu Bốn Đến năm 1959, ông về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội Từ năm 1965, ông làm phóng viên tại báo Thiếu niên Tiền phong
Đến năm 70 tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới trở thành hội viên hội nhà
văn Việt Nam sau những giải thưởng với tiểu thuyết Hồ Quý Ly Tác phẩm
đầu tay của ông xuất bản vào năm 1963 là tập truyện ngắn Rừng sâu
Năm 1971 Nguyễn Xuân Khánh viết Miền hoang tưởng, đến năm 1990 mới in Đến năm 2006, ông tiếp tục cho ra đời Mẫu thượng ngàn và một cái mốc lớn Đội gạo lên chùa vào năm 2011
Bộ ba tiểu thuyết lịch sử đã khẳng định được cái duyên của Nguyễn Xuân Khánh với nghề văn Những tác phẩm này đã ghi dấu ấn của ông trên
văn đàn Với Hồ Quý Ly, ông liên tiếp nhận được ba giải thưởng: giải thưởng
cuộc thi tiểu thuyết hội nhà văn Việt Nam 1998 – 2000, giải thưởng hội nhà văn Hà Nội năm 2001 và giải thưởng Thăng Long của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội năm 2002 Đến 2006, ông tiếp tục nhận giải thưởng của
hội nhà văn Hà Nội với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn
Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án
về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Nhiều người cho rằng, ông là
số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử
Trang 12văn hóa dân tộc Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhưng lại có dáng dấp hiện đại, nó là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử - văn hóa - phong tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu lòng nhiều độc giả trẻ
Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công không chỉ trong vai trò một nhà văn mà còn trong vai trò một trí thức luôn quan tâm đến các vấn đề của văn hóa, quốc gia, dân tộc Điều mà Nguyễn Xuân Khánh quan niệm mà mỗi nhà văn cần phải có, đó là tri thức và sự trải nghiệm Nhà văn phải là nhà tư tưởng Từ những lẽ đó, Nguyễn Xuân Khánh đã thể hiện những nỗi niềm mà
ông luôn đau đáu qua ba tiểu thuyết lịch sử: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và
Đội gạo lên chùa
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh luôn khẳng định rằng, ngoài những duyên may, thì ông là một người không ngừng nghỉ tự học, tự đọc Để viết được một cuốn tiểu thuyết, ông đã phải đọc rất nhiều cuốn sách về phong tục tập quán, về văn hóa, về phân tâm học, văn học cổ kim trong ngoài nước đặc
biệt đối với tác phẩm “Đội gạo lên chùa” ông nói : “Chúng ta đang ở một thế
giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thường chúng ta muốn chiếm đoạt Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi không kêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phật giáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả” Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật Với người Việt, Phật giáo là một lối sống Với văn chương, quan trọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn có khuynh hướng đi về văn hóa Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục, nếp sống làng quê Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không đứng vững được”
Trang 131.2 Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định
Trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "Tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời
Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi cổ như Việtđiện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục,Truyền kỳ tân phả thế kỷ 14-16 đã đặt những nền móng sơ khai cho
tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tíchđến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường
Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh
ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hổ và
đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu
thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc
sắc Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sống động bức tranh xã hội
rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc
và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của Tự
Trang 14Lực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình thành thể loại như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam; và những nhà văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao,Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng…
Trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc) Ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thể loại tiểu thuyết-sử thi
vốn mang đề tài hoành tráng và dung lượng đồ sộ, mà một trong số đó là Vỡ
bờ của Nguyễn Đình Thi Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang
mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con người và hình thức có dấu hiệu manh nha hệ hình văn chương hậu hiện đại
Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn
xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại Tính chất
đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm
mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống
Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm Thông
thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là một
nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật
Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng
Trang 15thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được "san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn
và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một
thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình
Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không
chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật
Hư cấu nghệ thuật cũng được coi là một đặc trưng của thể loại, là một
thao tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triển trong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sử học, và những nhân vật hoàn toàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời như những tác phẩm thuộc thể ký Trong vô vàn những gương mặt đời thường và giữa muôn ngàn biến cố của lịch
sử, nhà văn khi trước tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biện pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo Khi đó, hư cấu nghệ thuật, đối với tiểu thuyết
đã trở thành yếu tố bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn
Ở phương diện tổng quát tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng
hợp Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách
nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức
Trang 16màn hiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác
Tiểu thuyết lịch sử chính là sự sáng tạo và hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha
hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử Nghĩa là qua sáng tạo mới nhà tiểu thuyết phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại
Một điều tối kỵ của tiểu thuyết lịch sử là làm sai lệch chân dung nhân vật của lịch sử, sai lệch sự kiện lịch sử
Lịch sử, xét đến cùng là những gì đã đi qua được người hiện tại ý thức lại Những bài học lịch sử về đấu tranh chống ngoại xâm sẽ vô ích nếu không làm đọng lại ở người học hôm nay về lòng yêu nước, yêu tự do, lòng kính trọng cha ông đã dũng cảm kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự chủ cho nước nhà, từ đó mà được tiếp thêm niềm tin, niềm tự hào để mà sống mạnh mẽ hơn, trung thực hơn, chân chính hơn Tiểu thuyết lịch sử cũng mang mục đích ấy Nhà tiểu thuyết viết về quá khứ nhưng mục đích là làm sao cho độc giả hôm nay nhận rõ thêm chân giá trị của ngày hôm qua, để họ sống sao cho xứng đáng với lịch sử
Mọi người đều biết, mối bận tâm của các cây bút viết về tiểu thuyết lịch
sử là vấn đề quan hệ sự thật và hư cấu Viết theo sự thật ( cứ coi các sự kiện được ghi trong sử là sự thật lịch sử) thì người đọc mất hứng thú, bởi thế thì thà đọc sử còn hơn Nhưng nếu chỉ chú trọng đến hư cấu mà bỏ qua sự thật lịch sử thì liệu có thu phục được người đọc Nhiều người nêu câu hỏi, phải chăng quan niệm của nhà tiểu thuyết Pháp A Đuyma về tiểu thuyết lịch sử đã
Trang 17lỗi thời?Sự thật lịch sử và hư cấu đúng là hai vấn đề then chốt của tiểu thuyết lịch sử, nhưng không phải là đối lập Xét từ nguyên, từ lịch sử (histoire) có 6 nghĩa Một là chuyện kể; hai là chuyện đã xảy ra; ba là chỉ quá trình phát triển
; bốn là đời sống của con người xã hội; năm là quá khứ của hiện tại đã lùi xa; sáu là chỉ khoa học lịch sử, sử học Xét qua 6 nghĩa ấy, thì vấn đề đặt ra là quan hệ giữa tiểu thuyết và sử học, nói cách khác là văn học và sử học Tiểu thuyết và sử học giống nhau vì chúng đều là chuyện kể Đối tượng chung của
cả hai đều là cuộc sống con người đã lùi về quá khứ, trong đó có sự thật lịch
sử Người ta thường nói đến tiểu thuyết phải trung thành với sự thật lịch sử Nhà mác xít Hunggari G Lukacs trong công trình Tiểu thuyết lịch sử (1937) từng nói: tiểu thuyết lịch sử không chỉ phải bảo đảm được “không khí lịch sử trong việc miêu tả hoàn cảnh”, mà quan trọng hơn là “miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kì lịch sử cụ thể” Điều quan trọng ở đây là không khí lịch
sử của hoàn cảnh và trung thực với một thời kì lịch sử cụ thể Không thể làm thay đổi không khí lịch sử cũng như thời kì lịch sử cụ thể Mỗi thời có không gian, thời gian xác định, có những sự kiện, có tin đồn, có huyền thoại, có mối
lo, niềm vui, có cung cách chạy các việc, có bài ca, tập quán, trang phục, lối nói cửa miệng…không thể lẫn với thời khác Cái chính của tiểu thuyết lịch sử
là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kì lịch sử cụ thể không lặp lại
đó Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu đối với tiểu thuyết lịch sử Song chúng ta quá quen với một quan niệm về sự thật lịch sử như là một cái gì khách quan duy nhất, bất biến, chỉ thế này, không thể thế khác Đó
là vì chúng ta quá tin vào sử và là một nhầm lẫn Sự thật lịch sử trước hết là một sự thật Khái niệm sự thật là cái có thật, thực tế, đối lập với cái giả tạo, bịa đặt, không có thật, chính là một yếu tố của cái đối tượng mà nhà sử học nghiên cứu Nhưng nhà sử học cũng như nhà tiểu thuyết không ai tiếp xúc được với sự thật của họ, vì nó đã vĩnh viễn thuộc về quá khứ, họ chỉ tiếp xúc
Trang 18được với các lời đồn, lời ghi chép về nó mà thôi, mà ghi chép thì mang tính chủ quan Do đó, “sự thật lịch sử” là một khái niệm ẩn dụ, mang tính chủ quan Vì thế từ lâu người ta xem chuyện viết sử có tính chất văn chương Trong lịch sử nhiều nước, trong đó có nước ta thường có chuyện đem thần thoại, truyền thuyết đưa vào lịch sử Nhà mỹ học Đức F W Schelling xem quá khứ là một nghệ thuật lịch sử Nhà triết học Ý B Croce nói: Khái niệm lịch sử phù hợp với khái niệm chung về nghệ thuật A Duroff xem nguyên tắc thẩm mĩ là nguyên tắc của sử học Còn nhà kinh điển mác xít F Engels nói : Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ đại, mở đầu là bi kịch, kết thúc là hài kịch Nhà nghiên cứu Nga A V Guluga viết sách Mỹ học của lịch sử Các quan niệm đó cho thấy lịch sử và tiểu thuyết rất gần gũi nhau, có họ hàng thân thích với nhau Cả hai đều là truyện kể Cả hai đều không tránh khỏi việc dùng suy luận, tưởng tượng để bù đắp vào chỗ đứt gãy, chỗ trống giữa các sự thật được ghi chép Cả hai đều đi tìm nhân quả Cả hai đều muốn chứng tỏ điều mình viết là sự thật Ngày nay các nhà tân lịch sử chủ nghĩa vẫn theo quan điểm đó Theo họ thì lịch sử như một thực tại chỉ vĩnh viễn tồn tại trong tưởng tượng
và văn bản đã có Nói một cách chuẩn xác, cái gì là khách thể lịch sử nào ? Khách thể lịch sử chính là sự biểu đạt về người và việc đã từng tồn tại Thực thể của biểu đạt là văn bản, sách sử, tài liệu ghi chép Hiểu như thế lịch sử thực chất chỉ là một thứ diễn ngôn mà thôi Tin vào sự thật lịch sử thực chất là tin vào sự ghi chép của văn bản, tin vào một diễn ngôn Lịch sử khách quan vẫn có, nhưng trước mắt ta chỉ có văn bản Những sách sử chỉ là một cách ghi, một điểm nhìn, một lối tu từ, chỉ nhìn một phía, không phải là bản thân
sự thật lịch sử hoàn chỉnh, với toàn bộ giá trị của nó Do đó cuộc đi tìm sự thật lịch sử là việc của biết bao người, trong đó có nhà văn Lịch sử dân tộc ta dưới thời phong kiến đó là lịch sử của triều đại, chủ yếu là dòng tộc trị vì, tuy gắn với dân tộc, đất nước, song vẫn có khoảng cách xa với dân tộc và đất
Trang 19nước, nhiều sự việc không được ghi Triều đại sau lại viết lại lịch sử triều đại trước, bỏ điều này, thêm điều kia, giải thích lại các sự kiện, cho nên khó tránh
sự việc có sai biệt Sự thật là có nhiều sử và có nhiều sự thật lịch sử Chỉ dựa vào ghi chép này rối tuyên bố ghi chép kia là xuyên tạc thì có khi cũng buồn cười Vấn đề là chúng ta cần đối thoại với sử (văn bản), nghi vấn về sử (văn bản), đòi hỏi “giải thích”, “diễn giải” lại lịch sử, tạo ra diễn ngôn mới Nói thế không có nghĩa là chúng ta hoài nghi các chiến công huy hoàng của dân tộc, hoài nghi sự nghiệp oanh liệt của các anh hùng kiệt xuất, những nhân vật lỗi lạc của dân tộc, mà chỉ muốn nói rằng, sử sách chỉ ghi một số ý kiến về các sự thật quá khứ mà không ai ngày nay được nhìn thấy, chứng kiến, chúng ta biết rất ít về nó, biết rất phiến diện, nhất là đời sống thực tế của những thời đã qua Chỉ một việc đi tìm trang phục cổ của người Việt qua các triều đại cũng đã cho thấy cái biết của ta nghèo nàn, ít ỏi biết chừng nào Không phải cái gì của người xưa cũng đã được lưu lại, được tả lại, kể lại đầy đủ, chi tiết Ý thức cá nhân, tình cảm, cách thể hiện, cá tính… của nhân vật lịch sử vĩnh viễn mất đi theo cái chết của họ thì không thể tìm đâu được ngoài sự suy đoán, tưởng tượng Chính vì vậy mà ngòai chính sử do nhà nước chủ trì, chỉ đạo trong các
“quốc sử quán” ngày xưa do “sử quan” (ông quan viết sử) viết ra, hoặc cán bộ nhà nước của viện sử học ngày nay, dân gian còn có dã sử, có truyền thuyết,
có diễn ca lịch sử, vè lịch sử, các giai thoại, truyện kể truyền miệng Mà các hình thức sau là bước quá độ từ sử học đến nghệ thuật Tất cả đều chỉ là đi tìm
sự thật lịch sử mà thôi, và kết quả chỉ có được những “diễn ngôn tự sự” dưới dạng văn bản văn vần hay văn xuôi, truyền miệng hay chữ viết nào đó Sự thật trong đó vẫn không phải là “sự thật”lịch sử Có lẽ vì thế mà tiểu thuyết lịch sử (có thể kể cả kịch lịch sử, truyện ngắn lịch sử, truyện thơ lịch sử) trở thành một nhu cầu của mọi xã hội để làm sống lại quá khứ.Nhu cầu tiểu thuyết lịch sử trước hết là nhu cầu diễn ngôn, là nhu cầu đối thoại, phản biện
Trang 20lại với lịch sử, nhu cầu đi tìm những khả năng đã mất, những góc nhìn mới Tiểu thuyết lịch sử suy cho cùng cũng chỉ là một loại diễn ngôn đặc thù về sự thật lịch sử, không phải bản thân sự thật lịch sử Để tạo ra được diễn ngôn về lịch sử thì tiểu thuyết lịch sử cần sử dụng những “sự thật lịch sử” nhất định, bao gồm sự kiện, nhân vật, phong tục, tập quán, đồ dùng, đồ trang sức, bài hát, trò chơi đương thời…, nhưng không thể đòi hỏi “hoàn nguyên lịch sử”, một việc mà bản thân sử học cũng không làm được Ở đây câu nói nổi tiếng của A Duyma vẫn đúng “Sự thật lịch sử” mà mọi người đã biết theo sách sử đóng vai trò là những kí hiệu đánh dấu cái thời mà nhà tiểu thuyết miêu tả, nó
là cái đinh để nhà văn treo câu chuyện của mình lên Nhưng nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại, tái hiện lại “sự thật lịch sử”, như trong sách sử Như thế người đọc chán là phải, bởi đó là sao lại sách sử, có thêm thắt ít nhiều, có gì thú vị đâu Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo ra diễn ngôn mới về lịch sử, nêu ra cách nói mới, góc nhìn mới, phán xét mới, gợi mở khả năng mới Ở dây trong tiểu thuyết lịch sử “sự thật lịch sử” chỉ là đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, chứ không phải là nội dung của tiểu thuyết lịch sử Nhầm lẫn rất lớn, tồn tại dai dẳng lâu nay là mối khi nói đến tiểu thuyết lịch sử thì người ta đều đòi hỏi trung thành với“sự thật lịch sử” như là yêu cầu về nội dung của tiểu thuyết, mà không biết rằng, đó chỉ là ngôn ngữ, còn nội dung là cái tư tưởng mới mẻ, độc đáo sâu xa về ý nghĩa của lịch sử đã khích lệ nhà văn cầm bút Sự thật lịch sử là ngôn ngữ đặc thù của tiểu thuyết lịch sử Không có ngôn ngữ đó thì không có tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết lịch sử khác với các tiểu thuyết khác chính ở ngôn ngữ đó Nhà văn
có thể bỏ qua không nói đến hoặc nói nhầm một vài sự thật lịch sử mà tiểu thuyết vẫn có thể có tính chân thật Tính chân thật lịch sử không ở ngôn ngữ
mà ở bản thân sự diễn giải của diễn ngôn Chính vì lẽ đó mà A Duyma coi “sự thật lịch sử” chỉ là cái đinh để nhà văn móc lên cái áo của mình Hư cấu là bản
Trang 21chất của tiểu thuyết, thể hiện bản chất của sáng tạo nghệ thuật M Gorki từng nói tỉ lệ sự thật và hư cấu trong tiểu thuyết là 2/98 Hư cấu trong trong tiểu thuyết lịch sử như Tam quốc diễn nghĩa người ta thường nói tỉ lệ đó là 3/7, nhưng thực tế là lớn hơn nhiều Hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử theo tôi không phải là bỏ qua sự thật lịch sử, mà là tưởng tượng lại sự kiện, nhân vật lịch sử theo những khả năng mà tài liệu mách bảo, hoặc là đặt một nhân vật hư cấu vào trong một bối cảnh lịch sử để khám phá tư tưởng, tình cảm hành động của một thời kì cụ thể Nhà văn có quyền giải thích sự kiện khác với định luận trong sử
Ở Trung Quốc Quách Mạt Nhược thường viết loại kịch “phiên án”, tức lật ngược nhận định của lịch sử Mở màn vở kịch Thái Văn Cơ, người tình của Tào Tháo đang ngồi vá cái chăn rách và nói với Tào Tháo: “Cái chăn này mình đắp đã mười năm rồi đấy nhỉ!” Thật khó tin, nhưng tác giả có sở cứ Sự thật lịch sử theo Ju Lotman, là sự thực hiện một trong vô vàn khả năng của hiện thực quá khứ, sự thật đó đã làm cho vô vàn các khả năng lịch sử khác mất cơ hội được thực hiện, mà thiếu chúng, ta khó mà hiểu hết hiện thực Nhà văn Nam Dao trong một bài viết có nói: “Tưởng tượng, Nguyễn Huệ không chết sớm, Minh Mệnh không tàn sát giáo dân, Tự Đức nghe và làm theo điều trần của Nguyễn Trường Tộ,… thì hôm nay thế nào?” Nhân vật lịch sử cũng là con nguời, do khả năng về trí tuệ, tri thức, tính cách, tu dưỡng mà họ có thể khôn ngoan hoặc dại dột, có thể hủy hoại một cơ đồ Vì vậy đi tìm các khả năng đã mất, phân tích các nguyên nhân sâu xa để tạo mới diễn ngôn, hiểu mới lại lịch
sử Tiểu thuyết hư cấu, theo tôi không phải là bịa đặt tùy tiện, mà là đi tìm lại các khả năng đã mất để lí giải cái khả năng đã được thực hiện, tìm xem nó đã bị đánh mất như thế nào Bằng cách đó đọc tiểu thuyết lịch sử con người trở nên thông minh hơn, sáng suốt hơn, biết trân trọng, không bỏ qua các cơ hội nghìn năm có một để quốc gia hung thịnh, con người hạnh phúc Tiểu thuyết lịch sử nào cũng mang trong mình hai lần lịch sử: lịch sử thời đã qua và lịch sử thời
Trang 22người viết đang sống Chỉ quan tâm thời đã qua mà không nêu được vấn đề quan tâm của người hiện tại thì tiểu thuyết cũng khó hấp dẫn Sức hấp dẫn của tiểu thuyết lịch sử là cách diễn giải mới đối với lịch sử Đó là ưu thế của tiểu thuyết lịch sử so với lịch sử Mà nêu chỉ quan tâm hiện tại bỏ mất lịch sử thì không có tiểu thuyết lịch sử nữa Tính hiện đại của diễn ngôn là điều bắt buộc, không tránh được Diễn ngôn là những quy tắc phát ngôn, thường ẩn chìm trong vô thức cộng đồng quy định lối nói, cái gì được nói và không được nói của mỗi thời Cái mới của diễn ngôn là vượt qua diễn ngôn cũ, tạo ra diễn ngôn mới Marie Antoinette là một hoàng hậu được lịch sử coi là người dâm đãng, lăng loàn Nhưng trong một phim truyện danh nhân, hình tượng hoàng hậu được sáng tạo thành một người bình dị, hồn nhiên, yêu đời, yêu thiên nhiên và các loài vật Tính cách đó trái ngược với lối sống kiểu cách của giới quý tộc, vì thế mà bà bị gièm pha, bài xích Mozart là nghệ sĩ thiên tài, ông sáng tạo tự do
và biểu diễn thành công, khiến cho vị nhạc sư cung đình không chịu được, đố
kị và hãm hại Cách giải thích sáng tạo ấy của Puskin được nhà điện ảnh đồng tình, đã sáng tạo thành hình tượng một nhạc sĩ tự do, đối lập với nhạc cung đình Rất tiếc, ở Việt Nam rất ít phát triển tiểu thuyết danh nhân, một chi loại của tiểu thuyết lịch sử Dĩ nhiên cũng có một số truyện về Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, nhưng phần nhiều thiên về kể chuyện, ít có ý thức tạo diến ngôn mới về nhân vật Truyện danh nhân lãnh tụ của Liên Xô trước đây có rất nhiều kiêng kị Tôi đã đọc rất nhiều tiểu thuyết lịch sử của Liên Xô viết về Le-nin Họ có hẳn một ngành sáng tác về Le-nin được gọi là “Leniniana”, quy
tụ vào đó nhiều nhà văn tài năng, nào Valentin Kataev, Maria Prilegiaeva, Sava Dangulov, Marietta Shaginhian và nhiều người khác Có một sự thật về Le-nin
là lúc sinh thời ông thường xuyên đau đầu dữ dội và hay văng tục Chỉ trong thư từ lưu trữ, trước tác của Le-nin, nhà văn Marietta Shaginhian đã nhặt được không dưới 300 trường hợp Le-nin văng đủ các từ tục, nhưng tiểu thuyết của bà
Trang 23không được phép miêu tả sự thật ấy Có một sự thật là Le-nin thường xuyên bị các cơn đau đầu hành hạ cả trong cuộc họp, trong khi viết bài, đọc sách, khi dự mít tinh, nhưng ông đau bệnh gì thì không ai nói Mãi sau khi Liên Xô sụp đổ người ta mới cho biết ông đau một thứ bệnh làm hủy hoại thần kinh Le-nin vốn là người rất khỏe mạnh mà ông không có con, lại mất sớm Nếu ông không mất sớm, hẳn lịch sử sẽ có những bước đi khác với bây giờ Thời nào lịch sử và văn học về lịch sử cũng có kiêng kỵ, có độ vênh thì đòi hỏi sự thật lịch sử đối với thời xưa, khi sự kiêng húy còn khắc nghiệt hơn, hoặc không thua kém bây giờ, viết toàn sự thật lịch sử sao được? Trong đời sống có khi sự thật lịch sử to như cả một triều đại lẫy lừng vẫn bị bỏ quên, bỏ qua, không muốn nói đến hoặc không được nói khác Vì thế yêu cầu “sự thật lịch sử” khắt khe theo lối đối chiếu văn bản sử học với văn bản tiểu thuyết là sản phẩm của ngộ nhận về “lịch sử” Nhưng coi nhẹ “sự thật lịch sử” là coi nhẹ ngôn ngữ của loại tiểu thuyết này, sẽ làm mất hứng thú của người đọc đối với nó Nhà văn cần đột phá “sự thật lịch sử một thời”, phát hiện những sự thật lịch sử bị bỏ qua, bỏ sót, bị che giấu, bị tô màu, sáng tạo diễn ngôn mới về lịch sử mới tạo được sức hấp dẫn
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới có rất nhiều tác phẩm đến được với lòng người, được người đọc trân trọng, yêu chuộng Điểm đáng chú
ý nhất là nó đã vượt qua mô hình cũ và tạo ra nhiều hướng phát triển có hứa hẹn Có hướng “văn chương hóa lịch sử” như Hoàng Quốc Hải với hai bộ trường thiên Có hướng nghiêng về phương điện văn hóa, đối thoại văn hóa như Nguyễn Xuân Khánh, có hướng diến giải lại lịch sử như Nguyễn Thị Lộ
của Hà Văn Thùy, có hướng “phi trung tâm hóa” như Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, có hướng phi huyền thoại hóa lịch sử như Hội thề của
Nguyễn Quang Thân, có hướng đối thoại với chính sử như Mạc Đăng Dung
của Lưu Văn Khuê, có hướng đổi mới cách nhìn như Biết đâu địa ngục thiên
đường của Nguyễn Khắc Phê, có hướng viết “tiểu sử gia tộc” hư cấu, mà thực
Trang 24ra là viết lịch sử thời đại với con mắt giễu nhại trong Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, Dưới chín tầng trời của Dương Hướng,Cuồng phong của
Nguyễn Phan Hách, còn có hướng ngụ ngôn hóa lịch sử…Tất nhiên ý kiến đánh giá tiểu thuyết lịch sử hiện đang có nhiều khoảng cách xa, có nhiều vấn
dề đáng quan tâm bàn bạc, song theo tôi có một khoảng cách không nhỏ là quan điểm cũ về lịch sử vẫn đang chi phối cách phê bình, không chấp nhận cái nhìn đa nguyên, đa chiều về văn hóa và lịch sử Tôi nghĩ cấn một sự giải phóng tư tưởng, suy nghĩ thì văn chương mới có thể đua sắc khoe hương Những cái nhìn khác nhau vẫn có thể song song tồn tại Tôi nghĩ rằng sáng tạo lại diễn ngôn lịch sử bằng nghệ thuật sẽ là một nguồn cảm hứng lớn cho các nhà văn Việt Nam hôm nay và ngày mai
1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Tiếp nối những đặc điểm truyền thống văn xuôi thế kỉ XX, tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp tục đổi mới và cách tân Có thể nói đổi mới là yếu tố duy nhất, đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, đồng thời cũng là khát khao, nguyện vọng của toàn dân tộc khi đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt Đời sống sau hòa bình với những khó khăn bộn bề đòi hỏi các nhà văn phải sáng tạo được những tác phẩm phản ánh được hơi thở của thời đại Với tinh thần cởi trói, dân chủ mà Đảng khuyến khích, các nhà văn không bị gò bó theo những quy phạm, khuôn khổ của giai đoạn trước nữa mà thỏa sức sáng tạo, thể nghiệm Các nhà văn luôn trăn trở, chủ động tìm cho mình một hướng đi mới thích hợp với sự vận động của bản thân văn học Bàn
về sự đổi mới của văn học nói chung, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết “Ai cũng đổi mới nhưng đổi mới sự thật là gì? Theo tôi đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật khách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn, là tôn trọng tinh thần khoa học” Còn nhà nghiên cứu Hà Xuân
Trang 25Trường trong cuộc tọa đàm Văn học đổi mới là phát triển đã nhận định: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình Không có cái đó thì không có đổi mới”
Tiếp thu tình thần Đổi mới của văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết văn xuôi cũng só sự đổi mới rất cơ bản Tiểu thuyết đương đại đổi mới theo hai xu hướng: xu hướng hiện đại hóa triệt để gắn liền với tên tuổi những nhà
văn như: Nguyễn Bình Phương với Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004),
Ngồi (2006) Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn Tạ
Duy Anh với Lão khổ (1992), Đi tìm nhân vật (1999), Thiên thần sám hối (2004), Giã biệt bóng tối (2008) Xu hướng thứ hai là xu hướng đổi mới dựa
trên lối viết truyền thống, xu hướng này xuất hiện những tác giả, tác phẩm
tiêu biểu như: Lê Lựu với Thời xa vắng, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma Ngoài ra không thể
không nhắc đến tên tuổi của các tác giả: Hồ Anh Thái, Y Ban, Võ Thị Xuân
Hà, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh Ở xu hướng thứ hai tiểu thuyết văn xuôi đương đại lại có sự phân chia thành nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau Có thể nói quãng thời gian hơn mười năm đầu thế kỷ XXI, văn học bắt kịp với thời đại khi viết về những vấn đề mới Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về những vấn đề thời đại chưa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ Trong khi đó, một trong những khuynh hướng sáng tác gần đây là quay trở lại với những thời đại đã trở thành lịch sử để suy ngẫm những vấn đề đương đại
Trang 26Hướng đi này đã có một số thành công nhất định như các tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh PGS - TS Nguyễn Đăng Điệp phát biểu đề dẫn trong buổi tọa đàm về tiểu thuyết văn hóa lịch sử Nguyễn Xuân Khánh đánh giá hướng tìm về cội nguồn của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là mới
mẻ, hòa cùng với tư duy tiểu thuyết về sử của các lý thuyết hiện đại, hậu hiện
đại Ở cận kề tuổi tám mươi, sau Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh lại bất ngờ cho ra đời cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa Cuốn
tiểu thuyết đã bất ngờ làm nóng diễn đàn văn học nước nhà
Đặt trong mối quan hệ tương quan với tiểu thuyết văn xuôi đương đại,
tác phẩm Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vừa mang trong
mình những kế thừa của tiểu thuyết truyền thống vừa có sự cách tân đổi mới
để bắt kịp với sự đổi mới của văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết văn xuôi nói riêng Bìa bốn cuốn Đội gạo lên chùa có ghi một dòng nhận xét:
“Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được viết theo lối cổ điển.” Đúng là sáng tác
của một loạt nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,
Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường cũng đều viết theo lối cổ điển Nhưng đọc kỹ tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, ta thấy lối viết cổ điển không xung đột với những cách tân nghệ thuật Tiểu thuyết của ông được cấu trúc trên nền tư duy tiểu thuyết hiện đại, mang tinh thần từ bỏ sự mặc nhiên của tư duy công thức,
sơ đồ hóa một thời, ngộ ra sự song hành tồn tại của nhiều chân lý cuộc đời, không có cái tuyệt đối, tối thượng Tinh thần đó đã chi phối nhà văn trong sáng tạo Những cách tân nghệ thuật trong sáng tác của ông vừa mang đậm dấu ấn phong cách cá nhân, vừa thể hiện xu hướng vận động của văn học thời
đại Nét cổ điển của Đội gạo lên chùa là ở đề tài, kết cấu, lối kể, nhân vật và
ngay cả dung lượng của tác phẩm Đề tài về văn hóa - lịch sử và những trải nghiệm của nhà văn trong quá khứ dựa trên tinh thần tôn giáo - đạo Phật Lối kết cấu giống với kết cấu của lối tiểu thuyết chương hồi Với gần chín trăm
trang sách, tác phẩm Đội gạo lên chùa được chia làm ba phần: I- Trôi sông;
Trang 27II- Bão nổi can qua; III- Về cõi nhân gian Và trong mỗi phần lớn như vậy lại
có rất nhiều những phần nhỏ Lối kết cấu như vậy tạo nên một mạch truyện lôgíc, phải đọc hết phần này, người đọc mới hiểu được phần tiếp và cứ như vậy mỗi một phần lại mở ra cho người đọc những trải nghiệm mới có sức cuốn hút mạnh mẽ Về lối kể, tiểu thuyết là câu chuyện được kể lại theo trình
tự thời gian, trình tự tâm lí có lúc xuôi chiều từ quá khứ - hiện tại nhưng cũng
có lúc lại từ hiện tại ngược về quá khứ thông qua suy nghĩ, hồi tưởng của các nhân vật Về nhân vật, cả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Sau một khoảng thời gian khá dài không xuất hiện trên văn đàn với tư cách một người sáng tác, năm 2000, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã trở lại
bằng cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly Tác phẩm ngay lập tức tạo nên một hiện
tượng trong đời sống văn chương của năm đó Tình hình cũng gần như tương
tự với hai cuốn tiểu thuyết tiếp theo của ông: Mẫu Thượng Ngàn (2006) và
Đội gạo lên chùa (2011)
Hồ Quý Ly là tác phẩm tiểu thuyết mà cảm hứng trước và về lịch sử của
Nguyễn Xuân Khánh được thể hiện đậm nét nhất Tái hiện bối cảnh xã hội Đại Việt đầy biến động trong giai đoạn ngắn cuối Trần đầu Hồ và tập trung
vào xây dựng nhân vật Hồ Quý Ly, có thể nói, về phương diện “cái được viết”,
Nguyễn Xuân Khánh đã làm một việc mà hầu như các nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước ông đã bỏ qua: viết tiểu thuyết lịch sử tức là làm một cuộc khám phá và truy xét lịch sử để có những nhận thức chân xác nhất, cho mình,
về lịch sử Khi tiếp cận lịch sử, thường thì những người đi trước ông vẫn bị gián cách với lịch sử bằng một “khoảng cách sử thi” rất khó vượt qua Trước cái “khoảng cách sử thi” ấy, họ ứng xử với lịch sử chủ yếu bằng thái độ kính cẩn và ca ngợi: kính cẩn trước những nhân vật anh hùng của lịch sử dân tộc
và ca ngợi những võ công oanh liệt, những phẩm chất ngời ngời mà tiền nhân
đã ghi dấu trong lịch sử
Trang 28Giai đoạn cuối Trần đầu Hồ không hề là một giai đoạn đáng tự hào trong lịch sử Việt Nam: trong nước thì “giặc cỏ” nổi lên như ong, chính quyền trung ương thì yếu đuối và đầy sự xáo trộn bởi những âm mưu tranh đoạt, bên ngoài thì binh lực Chiêm Thành đã vài lần đánh thốc vào tận kinh thành Thăng Long, và rồi cuối cùng thì cả nước rơi vào ách đô hộ của triều đình phương Bắc Bản thân Hồ Quý Ly cũng là một nhân vật đầy phức tạp và còn
xa mới có được sự “trong suốt” của những anh hùng trong lịch sử: với các sử gia chính thống, ông là một loạn thần tiếm ngôi; là tác giả của của những cái cách chính trị - xã hội đầy táo bạo, song ông lại không được lòng dân và từ đó dẫn đến mất nước
Chọn lựa giai đoạn lịch sử này và nhân vật lịch sử này để viết, Nguyễn Xuân Khánh đã vượt qua được sự kính cẩn thường thấy của tiểu thuyết gia trước lịch sử Rõ ràng ông không ca ngợi, mà ông truy xét lịch sử để biết xem điều gì đã thực sự diễn ra trong giai đoạn quốc gia suy vong dường ấy, và nguyên nhân nào khiến nó phải diễn ra? Với nhân vậtHồ Quý Ly cũng vậy, tác giả đã tiếp cận rất sát, từ điểm nhìn của người kể chuyện và từ cả điểm nhìn của những nhân vật khác, đặc biệt là Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly
Khát vọng quyền lực và khát vọng đối mặt với những thách thức đầy nguy hiểm để có được sự thỏa mãn về năng lực của mình, đó là điều Nguyễn Xuân Khánh nhận ra từ Hồ Quý Ly và đã thể hiện khá thành công (chi tiết Hồ Quý Ly ngay từ nhỏ rất thích đùa với lửa, thích “nuôi” lửa, là một trong những chi tiết đắt giá) Bi kịch cũng từ đấy mà ra, một bi kịch mang tính quy luật: đó là bi kịch của tư tưởng canh tân khi phải đấu tranh với sự thủ cựu nhân danh lương tri của toàn xã hội; đó là sự chết non của cái mới khi mà nó chưa/không hội được những điều kiện cần và đủ để cắm rễ vào đời sống Có thể nói, đó là một sự trăn trở lịch sử - điều rất hiếm gặp ở các tiểu thuyết lịch
sử trước kia
Trang 29Tuy nhiên, ở Hồ Quý Ly còn có điều dường như chỉ riêng có ở Nguyễn
Xuân Khánh: văn hóa - phong tục của thời đại lịch sử đang được tái hiện Điều này thực sự là một cảm hứng lớn trong sáng tạo tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Trong lời tự bạch của các nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử ở ta, hầu như ai cũng nói tới yêu cầu phải làm sống “không khí” của lịch sử, nhưng
“không khí” ấy là gì và bằng cách nào để làm sống lại nó thì ít người luận chứng cho rõ ràng, và càng ít người thể hiện một cách thuyết phục qua tác phẩm
Theo tôi, về khách quan, ấy bởi họ vấp phải một trở ngại lớn: sử liệu ở
ta chủ yếu là sử về các vương triều và những biến động nơi triều chính, những biến động tầm quốc gia, chứ không phải là sử về đời sống phong phú muôn mặt của đám bách tính vô danh tạo thành nhân gian kia Cho nên cái “không khí” lịch sử, nếu có được làm sống lại trong tiểu thuyết, thì cũng chỉ là
“không khí” trong cung phủ, trong quân doanh và nơi chiến địa Nguyễn Xuân Khánh không đi con đường đó
Bằng một vốn kiến văn rộng và sâu về khoa học xã hội và nhiều mặt khác nhau của đời sống, ông muốn hướng đến việc làm sống lại cái “không khí” mà tiểu thuyết gia không sao có thể đọc được “giữa hai dòng chữ” của sử
liệu Ta có thể nhận thấy điều này trong Hồ Quý Ly khi đi theo tuyến tự sự
của Hồ Nguyên Trừng và bám sát hành động của cặp nhân vật Hồ Nguyên Trừng - Thanh Mai
Qua miêu tả của Nguyễn Xuân Khánh, đây là một cặp đôi tài tử - giai nhân đúng nghĩa, họ không hứng thú với chính trường, họ xa lạ với tham vọng quyền lực, ham muốn của họ là một đời sống gần với tự nhiên, tràn đầy tình cảm yêu đương và được đa dạng hóa bởi những thú chơi tao nhã Từ cặp nhân vật này, Nguyễn Xuân Khánh đã có những trang viết hấp dẫn khi ông phác họa khung cảnh chung của Thăng Long xưa với chằng chịt những sông
hồ, khung cảnh của vùng Kẻ Mơ, vườn cây mai của tướng Trần Khát Chân,
Trang 30cái thú thưởng hoa mai và rượu mai, rồi cái bay bổng thăng hoa của nghệ thuật cầm kỳ thi họa …
Bên cạnh đó, ông còn có những trang miêu tả rất sống động về Hội thề Đồng Cổ, về sinh hoạt của vua quan Chiêm Thành, về đời sống tình ái của vua Thuận Tôn hay của nhà sư nổi loạn Phạm Sư Ôn… Theo tôi, đây là một nội dung thứ hai, đòi hỏi tác giả phải hao tổn năng lực sáng tạo không thua kém nếu
so với nội dung thứ nhất kia: sáng tạo với rất ít vật liệu thực tế trong tay
Ở hai tiểu thuyết sau, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa, nội dung
thứ hai đã chiếm vị trí của nội dung thứ nhất Có thể nhận ra ngay sự hoán chuyển này ở mấy điểm: 1 Những nhân vật chính của tiểu thuyết không còn
là những con người có thực trong lịch sử nữa, mà là những nhân vật hoàn toàn
do nhà văn hư cấu; 2 Các sự kiện có thực trong lịch sử bị giảm thiểu, và chúng chỉ được miêu tả như là bức phông nền, được nhắc đến như là cái cớ cho những sự kiện của tiểu thuyết mà thôi
Có thể khẳng định, trọng tâm cảm hứng của Nguyễn Xuân Khánh trong hai tiểu thuyết này không gì khác, chính là văn hóa - phong tục, thứ văn hóa - phong tục được sinh thành và được tỏa ra, lan thấm vào đời sống từ những hệ
tư tưởng tôn giáo lớn: đạo Mẫu (trong Mẫu Thượng Ngàn) và đạo Phật (trong Đội gạo lên chùa) Ở Mẫu Thượng Ngàn, viết về tín ngưỡng thờ Mẫu,
Nguyễn Xuân Khánh viết với sự hiểu biết và tâm thế như của một người trong cuộc Chính điều đó đã khiến những trang ông miêu tả cảnh hầu thánh của cô đồng Mùi, tiếng đàn nguyệt của ông cung văn Trịnh Huyền hay những nghi thức cúng tế của nhân dân làng Cổ Đình… vừa sống động, vừa đầy sức hấp dẫn của sự huyền bí, sức hấp dẫn của cái thiêng
Nhưng xuyên qua và vượt lên trên những miêu tả cụ thể ấy, điều thực
sự có ý nghĩa, đó là Nguyễn Xuân Khánh đã phát hiện và khai thác được yếu
tố “lõi” của văn hóa Việt: mẫu tính Mẫu tính không chỉ thể hiện ra bằng
Trang 31những vai nữ trong hệ thống thần thiêng của tín ngưỡng đạo Mẫu, mà quan
trọng hơn, nó được cụ thể hóa bằng chính những nhân vật nữ trong Mẫu
Thượng Ngàn Họ là ngọn nguồn và là dưỡng chất của sự sống, là sức mạnh
bảo vệ và là lạc thú của cuộc sống; nhưng đồng thời, họ cũng chính là mầm mống của sự hủy diệt, là bản thân sự hủy diệt
Trong tác phẩm, nhân vật thím Pháo là nhân vật đặc biệt tiêu biểu cho
sự tổng hợp những phẩm chất đối nghịch này của mẫu tính Cái tâm thức
“theo dòng mẫu hệ” này, ý niệm về sức mạnh của mẫu tính này còn được
Nguyễn Xuân Khánh triển khai tiếp tục trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa,
cho dẫu không thể phủ nhận rằng đây là một tác phẩm mang tính luận đề về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tâm linh và văn hóa Việt “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”, câu này - mượn từ bài phú của đức Phật hoàng Trần
Nhân Tông - vừa xuất hiện ở lời đề từ của Đội gạo lên chùa, vừa lặp đi lặp lại
trong tác phẩm như một châm ngôn hành xử, một triết lý sống của những nhân vật chính, sư cụ Vô Úy và chú tiểu An
Chính lối ứng xử cởi mở, chính cái tinh thần khai phóng, không chấp trước, cái năng lực “tùy duyên” ấy đã giúp cho ngôi chùa nhỏ bé của làng Sọ vẫn cứ tồn tại trên lớp sóng thời gian dù phải trải qua những cơn rung lắc khủng khiếp nhất Sự thấm nhiễm tư tưởng Phật giáo trong văn hóa và trong đời sống, đó là một trong những bí mật làm nên khả năng trường tồn của dân
tộc Tuy nhiên, như đã nói, ở Đội gạo lên chùa còn có sự thể hiện của ý niệm
về sức mạnh mẫu tính như nó đã từng được thể hiện trong Mẫu Thượng Ngàn Đọc Đội gạo lên chùa, ta bắt gặp một thế giới đàn bà được phác thảo bằng rất
nhiều chân dung và chân dung nào cũng sắc nét
Những nhân vật bà Nấm, bà Thêu, cô Rêu, cô Mai, chị Thì, chị Xim… mỗi người đàn bà trong tiểu thuyết là cả một nguồn năng lượng sống được dồn nén đến cực độ, chỉ chờ dịp để được bung phá, tuôn trào mãnh liệt Có vẻ
Trang 32như cái phần đời sống tươi rói này mới thực sự hợp với “tạng văn” của Nguyễn Xuân Khánh, và chính nó mới làm nên sức hấp dẫn cho một cuốn tiểu thuyết luận đề về ảnh hưởng của Phật giáo
Trong số rất nhiều những nhà tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử thì Nguyễn Xuân Khánh là một gương mặt hết sức nổi bật Đến với văn chương, ông là người đến muộn nhưng là một người đến muộn “có duyên” Số lượng tác phẩm của ông không nhiều nhưng hầu hết có giá trị cao, ông thực sự được
biết đến như một cây bút thực thụ từ sau khi tác phẩm Hồ Quý Ly ra đời Với
tiểu thuyết lịch sử này ông đã nhận được nhiều giải thưởng Cho đến năm
2011, ông lại cho ra đời tác phẩm tiểu thuyết lịch sử dài gần 900 trang Đội
gạo lên chùa nhận được nhiều lời khen của giới phê bình, nghiên cứu
Với Đội gạo lên chùa Nguyễn Xuân Khánh dường như đã dốc hết tâm
lực và bút lực của mình vào đó Vốn kiến thức phong phú cộng với tài năng văn học của mình, ông đã sáng tác lên cuốn tiểu thuyết nặng ký này Tác phẩm được bạn bè cùng giới văn nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu, phê bình cùng bạn đọc ngưỡng mộ Cuốn tiểu thuyết là sự đan xen nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử với văn hóa Tác phẩm đã dẫn dắt người đọc vào cuộc phiêu lưu
kỳ lạ, vượt qua quãng thời gian dài của cuộc kháng chiến chống Pháp đên năm 1954 Tiểu thuyết còn đề cập đến vấn đề thực tai nóng bỏng, những yếu
tố đạo đức, lối sống văn hóa của con người hiện đại, là sự gợi mở về lối sống
Phật giáo trong xã hội ngày nay Đội gạo lên chùa được viết theo lối cổ điển
mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật sống động và giàu sức thuyết phục với những thông tin lịch sử phong phú, cùng những kiến giải văn hóa dân tộc sâu sắc Yếu tố Phật giáo trong tác phẩm càng làm cho tác phẩm trở nên lôi cuốn người đọc hơn bởi Phật giáo là yếu tố gần gũi với người dân Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, và đã ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức người Việt Nam Do vậy, Đại đa số người Việt ít nhiều đều mang Phật
Trang 33tính trong mình Tác phẩm như một hồi chuông cảnh tỉnh con người hiện đại hãy nhớ về lịch sử oanh liệt – những giá trị của quá khứ từ đó nhìn nhận lại cuộc sống hiện tại Vấn đề đạo đức, lối sống ở đây được đặt ra mang tính cấp thiết đối với đời sống con người hiện nay
Đội gạo lên chùa lôi cuốn người đọc ở nội dung tư tưởng, và còn lôi
cuốn người đọc bởi lối viết truyền thống, ngôn ngữ nhuần nhuyễn, trong sáng, lời văn đẹp, chau chuốt bên cạnh đó là những đặc sắc về nghệ thuật như: xây dựng nhân vật
Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh với bộ ba tiểu thuyết văn hóa lịch sử: Hồ
Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa đã gây được tiếng vang lớn trên
văn đàn Nguyễn Xuân Khánh fgóp phần mở ra hướng mới cho tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam và hứa hẹn sự hoàn thiện hơn cho những cây bút sau này
1.3 Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc
Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ những kỷ nguyên Tây lịch, rồi tồn tại, phát triển và chan hòa với dân tộc này cho đến tận hôm nay Nếu thời gian là thước đo của chân lý thì với bề dày lịch sử đó, Đạo Phật đã khẳng định chân giá trị của nó trên mãnh đất này Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chính trị đặt biệt là xét trên khía cạnh hệ thống tư tưởng, thì Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành một quan niệm sống và sinh hoạt cho con người Việt Nam Trong phần này sẽ tìm hiểu về tư tưởng, đạo lý của Phật Giáo đã tác động đến con người Việt Nam như thế nào và người Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng, đạo lý của Phật Giáo ra sao
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu
Đế và Bát chánh Đạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại
Trang 34Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy
mà tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên Có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc gia Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính sự, thứ nhất: họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi nên thấu hiểu được nổi đau khổ của một dân tộc bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang Thứ hai: các thiền sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin tưởng và thứ ba: các thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua mào đem lại hạnh phúc cho dân chúng Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có ngài Vạn Hạnh, ngài Đỗ Pháp Thuận, ngài Khuông Việt cũng tham gia triều chính Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh, ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu sư Thời nhà Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông điều được các vua tin dùng trong bàn bạc quốc sự như những cố vấn triều đình
Trang 35Phật Pháp là bất định pháp, luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ của chúng sanh để hoàn thành sứ mạng cứu khổ của mình Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến mà Đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống
vô biên, vượt qua những ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ, thời gian, không gian Tinh thần tuỳ duyên là tự thay đổi với hoàn cảnh để
có thể tiếp độ chúng sanh, tính bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, sinh
tử luân hồi Tuy nhiên Phật giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất cả các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước trên thế giới Khi du nhập vào một quốc gia có một sắc thái sống riêng biệt, đặc thù, như Trung Hoa, một quốc gia có nền tư tưởng đông phương khổng lồ, khi Phật Giáo truyền vào thì nền văn minh này đã phát triển tới đỉnh cao của nó, mà trong lịch sử triết học gọi
là Bách Gia Chu Tử, hàng trăm nhà tư tưởng đề xướng học thuyết của mình Nếu lúc đó Trung Hoa có 10 nhà tư tưởng tiêu biểu như Âm Dương gia, Nhạc gia, Nho gia, Pháp gia, Danh gia, Đạo Đức gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia thì Phật Giáo không dừng lại cái bình bát đi khất thực, một tấm y vàng
mà Phật giáo đã đi vào cuộc đời bằng mười tông phái như Thiền Tông, Tịnh
Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thành Thật Tông, Câu Xá Tông Phật giáo với mười tông phái này sánh vai với mười dòng tư tưởng của bản địa để đi vào cuộc đời, không chỉ đến với những giới bình dân mà Phật giáo còn đã đi thẳng vào cung đình, vào với những vị nguyên thủ quốc gia Nhật Bản là một quốc gia được xem là có nhều món ăn tinh thần nhất trên thế giới Không phải chỉ
là khoái cảm cho vị giác, cho thính giác mà nhất là cho cảm giác của tâm linh
Ở trong bối cảnh đó, Phật giáo đã nhanh chóng đi vào hoa, vào trà để rồi cuối cùng nâng nó lên thành một tôn giáo như trà đạo hay hoa đạo Còn ở Việt Nam của chúng ta thì quá trình hội nhập văn hóa sự ảnh hưởng của Phật giáo
đã tác động và đã tạo cho Phật giáo Việt Nam có những nét đặc thù rất riêng biệt Người Việt Nam vốn có một thái độ bao dung, cởi mở về văn hóa tín
Trang 36ngưỡng, ít có những thành kiến tôn giáo, sẵn sàng chọn lọc trong những nền văn hóa bên ngoài để làm phong phú nền văn hóa của dân tộc
Khi được truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng này Biểu tượng chùa Tứ Pháp, thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam là tiền Phật, hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các
vị thánh, các vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc Chính vì tinh thần khai phóng này mà về sau phát sinh những hậu quả mê tín dị đoan bên trong Phật giáo như xin xăm, bói quẻ, cầu đồng Điều này đã khiến các nhà nghiên cứu nước ngoài rất ngạc nhiên khi thấy Phật giáo Việt Nam dung nạp dễ dàng các tín ngưỡng đa thần của bản địa trong khi các quốc gia trong vùng thì không có Có nên gạt bỏ loại hình tín ngưỡng truyền thống này ra khỏi Phật giáo không đó vẫn là một vấn đề rất tế nhị.Tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng tinh thần dung hòa và khai phóng của Phật giáo Việt Nam là một trong những nét đặc trưng đáng chú ý
Trong buổi đầu của Phật giáo ở Việt Nam mang dáng dấp của Phật giáo Tiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã dễ dàng gắn với phù chú, cầu xin phước lộc hơn là tôi luyện trí tuệ và thiền định Vả lại, tính đời trội hơn tính đạo, trong quần chúng đa số là phụ nữ đến với Phật giáo, đó là hạng người đau khổ nhất trong xã hội cũ
Đến thời nhà Lý, có nhiều thiền sư từ Trung Quốc sang và thiết lập nhiều thiền phái, phong trào học và tu Phật phát triển mạnh ở trong giới trí thức, cung đình, đô thị, nhưng trong giới bình dân vẫn tồn tại nhất định một Phật giáo dân gian với những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước Được vua triều Lý, Trần ủng hộ, hoạt động của Phật giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu
Trang 37diễn rối nước, họp chợ ngay ở trước chùa Chùa làng đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội họp,
di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh Bởi vì, kiến trúc của chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo thành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh Khung cảnh ấy phù hợp với những giờ phút nghỉ ngơi sau giờ lao động nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của tuổi già
Nhìn chung không khó khăn gì khi ta tìm dấu ấn Phật giáo trong quan niệm dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không có sự hiện diện của Phật giáo ở Việt Nam thì ta sẽ mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh
mà hiện nay ta tự hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử mây mù, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính… Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương… và trong tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hưởng thiện và niềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần lạc quan ngây thơ của người dân Việt
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy
có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo "tội nghiệp quá" Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật giáo Theo đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình
Trang 38cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước Hoặc khi muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ "hằng hà sa số" Nếu hỏi hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rất nhiều, ngài thí dụ như
số cát sông Hằng Hoặc khi có những tiếng ồn náo, người ta bảo "om sòm bát nhã", do khi đến chùa vào những ngày sám hối, chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát sanh ra cụm từ trên Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng chân ở một chổ, khi người ta hỏi anh đi dâu mãi, họ trả lời tôi đi "Ta Bà thế giới" Ta bà thế giới là thế giới của Đức Phật Thích Ca giáo hóa, theo thế giới quan của Phật giáo thì thế giới ta bà to gấp mấy lần quả địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng các con hay quậy phá, các bà nói: "chúng bay là đồ lục tặc", tuy nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất
từ đâu? Đó là từ nhà Phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp của ngoại cảnh luôn luôn quấy nhiễu ta Còn nhiều từ ngữ khác như từ bi,
hỷ xả, giác ngộ, sám hối đã được người dân Việt Nam quen dùng như tiếng mẹ
đẻ mà không chút ngượng ngập lạ lùng Sự ảnh hưởng Phật giáo không ngừng
ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam nữa
Có thể nói trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam đều có chứa đựng ít nhiều triết lý nhà Phật và những hình ảnh về ngôi chùa, về Phật, trải qua hàng ngàn năm gắn bó mật thiết với làng xã Việt Nam:
Đất Vua, chùa làng, phong cảnh Bụt Đất Vua, chùa làng là một hình ảnh gần gũi với dân, với làng, vơí nước như vậy, nếu ai xúc phạm đến chùa, Phật thì cũng có thể hiểu là xúc phạm đến đạo lý, đến quốc gia Trên tinh thần đó người dân Việt Nam quyết một lòng bảo vệ ngôi chùa quê hương của mình:
Trang 39Bao giờ cạn nước Đồng Nai Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền
Ở đâu có chùa, có Phật, ở đó là thắng cảnh, là niềm tự hào của quê hương: Tây Ninh có núi Bà Đen
Có sông Vàm Cỏ, có toà Cao Sơn
Ở cố đô huế:
Đông Ba, Gia Hội hai cầu
Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông linh Mụ canh gà thọ Xương Trên chùa đã động tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu Hoặc:
Chiều chiều bìm bịp giao canh Trống chùa đã đánh sao anh chưa về?
Là người Việt Nam không thể không hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và báo
ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt vì
Trang 40“Hạnh hiếu là hạnh Phật – Tâm hiếu là tâm Phật” Tinh hoa và tinh thần cao đẹp này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại, tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt Trong tất cả những ảnh hưởng, lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của đạo Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo Phật là đạo hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng của người Việt, và đã thể hiện linh động và triền miên ngang qua ca dao dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập khắp dân gian Việt Nam:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Hay:
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín giữa ghi lòng con ơi Mến cảnh chùa chiền, Phật tượng, nhưng hiếu hạnh của người con vẫn đặt lên trên vì công ơn trời biển của cha mẹ trong suốt quá trình dưỡng dục sinh thành, biết bao nhọ nhằn, gian khổ đối với con Do đó:
Vô chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành
Cũng vì thương kính cha mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật trời gia hộ cho hai đấng từ thân:
Đêm đêm khấn nguyện Phật trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con