1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Ngôn Ngữ Học, Phát Âm, Lỗi Phát Âm, Tiếng Việt, Âm Tiết.pdf

138 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếng Việt của trẻ 16 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả Nguyễn Thị Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Chính
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  NGUYỄN THỊ THANH I PH T Â C C THÀNH PH N Â TI T TI NG VIỆT CỦA TR ƯỚI 16 TU I TẠI ỆNH VIỆN NHI TRUNG Ư NG UẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ THANH

I PH T Â C C THÀNH PH N Â TI T

TI NG VIỆT CỦA TR ƯỚI 16 TU I TẠI

ỆNH VIỆN NHI TRUNG Ư NG

UẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ THANH

I PH T Â C C THÀNH PH N Â TI T TI NG VIỆT CỦA TR ƯỚI 16 TU I TẠI ỆNH VIỆN

Trang 3

ỜI CA ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu, kết quả đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố ở công trình khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Thị Thanh

Trang 4

ỜI CẢ N

Với tất cả sự kính trọng của mình, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Văn Chính - người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình triển khai thực hiện và hoàn thành luận văn

Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn tới quý thầy cô đã và đang giảng dạy, công tác tại Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy cô đã trang bị, cung cấp những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại Khoa, cũng như chỉ bảo nhiệt tình và đóng góp ý kiến giúp em hoàn thiện luận văn này

Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ và tạo điều kiện giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Một lần nữa, em xin được trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Thanh

Trang 5

ỤC ỤC

Ở Đ U 1

NỘI UNG 4

CHƯ NG 1 C SỞ Ý THUY T 4

1 Rối loạn phát âm 4

2 Tình hình trị liệu sửa lỗi phát âm trên thế giới và Việt Nam 7

3 Đặc điểm ngữ âm 9

3.1 Bản chất và cấu tạo âm thanh lời nói 9

3.1.1 Về mặt sinh lý học 9

3.1.2 Về mặt âm học 12

3.1.3 Về mặt xã hội 14

3.2 Các kiểu tạo âm 15

3.3 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt 17

4 Tiểu kết 28

CHƯ NG 2 C C I PH T Â TRONG Â TI T TI NG VIỆT 30

1 Các lỗi phát âm của âm đầu tiếng Việt 30

1.1 Lỗi phát âm của phụ âm /b/ 30

1.3 Lỗi phát âm của phụ âm /v/ 32

1.4 Lỗi phát âm của phụ âm /f/ 33

1.5 Lỗi phát âm của phụ âm /t/ 34

1.6 Lỗi phát âm của phụ âm /t h / 35

1.7 Lỗi phát âm của phụ âm /z/ 36

1.8 Lỗi phát âm của phụ âm /k/ 37

1.9 Lỗi phát âm của phụ âm /γ/ 38

1.10 Lỗi phát âm của phụ âm /h/ 39

1.11 Lỗi phát âm của phụ âm /l/ 40

1.12 Lỗi phát âm của phụ âm /s/ 41

1.13 Lỗi phát âm của phụ âm /n/ 43

1.14 Lỗi phát âm của phụ âm /c/ 44

1.15 Lỗi phát âm của phụ âm /χ/ 45

1.16 Lỗi phát âm của phụ âm /d/ 46

1.17 Lỗi phát âm của phụ âm /ŋ/ 47

1.18 Lỗi phát âm của phụ âm /ɲ/ 48

1.19 Nhận xét 49

2 ỗi phát âm của phần vần tiếng Việt 51

2.1 Lỗi phát âm của âm đệm 51

2.2 Lỗi phát âm của âm chính 51

2.2.1 Lỗi phát âm của nguyên âm đơn 52

2.2.2 Lỗi phát âm của nguyên âm đôi 52

2.2.3 Nhận xét 54

2.3 Lỗi phát âm của âm cuối 55

2.3.1 Lỗi phát âm của âm cuối /-m/ 56

2.3.2 Lỗi phát âm của âm cuối /-n/ 57

2.3.3 Lỗi phát âm của âm cuối /-ŋ/ 57

2.3.4 Lỗi phát âm của âm /-k/ 58

2.3.5 Lỗi phát âm của âm cuối /-t/ 59

2.3.6 Lỗi phát âm của âm cuối /-p/ 59

2.3.7 Lỗi phát âm sai của âm cuối /-ḭ/ 60

2.3.8 Lỗi phát âm của âm cuối /-ṷ/ 61

Trang 6

2.3.9 Nhận xét 61

3 ỗi phát âm của thanh điệu 62

3.1 Lỗi phát âm của thanh không dấu 62

3.2 Lỗi phát âm của thanh huyền 62

3.3 Lỗi phát âm của thanh ngã 63

3.4 Lỗi phát âm của thanh hỏi 63

3.5 Lỗi phát âm của thanh sắc 64

3.6 Lỗi phát âm của thanh nặng 65

3.7 Nhận xét 65

4 Nhận xét 66

CHƯ NG 3 NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VÀ PHƯ NG PH P SỬA I PH T Â C C THÀNH PH N CỦA Â TI T TI NG VIỆT 69

1 Nguyên tắc sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt 69

2 Quy trình sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt 70

3 Phương pháp sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt 77

3.1 Phương pháp sửa lỗi phát âm âm đầu 77

3.1.1 Phương pháp sửa 77

3.1.2 Cách tạo âm đúng 81

3.2 Phương pháp sửa lỗi phát âm phần vần 85

3.2.1 Phương pháp sửa lỗi phát âm âm đệm 85

3.2.1.1 Phương pháp sửa 85

3.2.1.2 Cách tạo âm đúng 85

3.2.2 Phương pháp sửa lỗi phát âm âm chính 85

3.2.2.1 Phương pháp sửa 85

3.2.2.2 Cách tạo âm đúng 87

3.2.3 Phương pháp sửa lỗi phát âm âm cuối 87

3.2.3.1 Phương pháp sửa 87

3.2.3.2 Cách tạo âm đúng 88

3.3 Phương pháp sửa lỗi phát thanh điệu 89

3.3.1 Phương pháp sửa 89

3.3.2 Cách tạo âm đúng 91

4 Tiểu kết 93

K T UẬN 96

ANH ỤC TÀI IỆU THA KHẢO 99

Trang 7

Ở Đ U

1 Lý do chọn đề tài

Từ năm 2011 đến năm 2013, tại trung tâm Thính học & Trị liệu Ngôn ngữ trẻ em, Bệnh viện Nhi Trung Ương đã tiếp nhận từ 20-30 trường hợp các trẻ có độ tuổi từ 3-16 tuổi đến khám với lý do phát âm chưa đúng Sau khi thăm khám về thính giác, cơ quan cấu âm và não bộ, chúng tôi không thấy có tổn thương về thực thể cũng như chức năng nào cả Sau đó chúng tôi tiến hành đánh giá khả năng phát âm của trẻ thì phát hiện ra trẻ có phát âm sai các thành phần âm tiết

Trẻ có phát triển bình thường về mặt thể chất (cân nặng và chiều cao) kết hợp với không có bất thường nào về thính giác, cơ quan cấu âm và não

bộ nhưng trẻ vẫn phát âm sai các thành phần âm tiết Có một hậu quả để lại

từ việc phát âm sai đó là không ai hiểu trẻ nói gì và trẻ ngại giao tiếp Tiếp

đó là ảnh hưởng đến việc học của trẻ

Đây là một vấn đề không cấp bách vì không ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, chúng ta có thể chờ đến một lúc nào đó trẻ sẽ phát âm đúng, bởi đây chỉ là sinh lý, tức là phát âm sai do phát triển Có những trẻ lớn lên sẽ hoàn thiện phát âm nhưng có những trẻ lại không thể hoàn thiện được phát âm và hậu quả mà chúng tôi đã gặp được đó là: một vài trẻ trầm cảm vì bị các bạn chê cười do phát âm sai, có trẻ ngại giao tiếp và chỉ chơi với một vài bạn trong lớp, có trẻ ảnh hưởng đến việc viết chính tả do phát âm sai Do đó, phát âm sai đã ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn của trẻ: trẻ tự ti trong giao tiếp, ảnh hưởng đến kết quả học tập và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như tương lai của trẻ Tuy nhiên, vấn đề này cũng mới chỉ dừng lại ở khảo sát lỗi phát âm là nhiều và chưa thành hệ thống, còn phương pháp can thiệp còn bỏ ngỏ

Trang 8

Về mặt thực tiễn vấn đề này cần thiết được quan tâm và can thiệp Đây chính là lí do và động lực giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Những lỗi phát âm các thành phần âm tiết tiếng Việt”, với mục tiêu:

- Khảo sát các lỗi phát âm các thành phần âm tiết tiếng Việt của trẻ

em

- Bước đầu tìm ra các biện pháp, phương pháp sửa lỗi phát âm ở trẻ

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập tư liệu về trẻ phát âm thông qua sử dụng “Bảng đánh giá phát âm” tại Trung tâm Thính học & Trị liệu ngôn ngữ trẻ em, bệnh viện Nhi Trung Ương

- Phân tích và miêu tả các lỗi phát âm ở trẻ em

- Tìm ra các biện pháp để sửa lỗi phát âm ở trẻ em

Nhằm mục đích là cải thiện phát âm cho trẻ giúp trẻ tự tin trong giao tiếp và có thể ứng dụng cho những nguyên nhân bệnh khác

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi:

- 73 bệnh nhi, có độ tuổi từ 3-16 tuổi

- Khám và trị liệu tại Trung tâm Thính học &Trị liệu ngôn ngữ trẻ em của Bệnh viện Nhi Trung Ương từ năm 2011-2013

- Các bệnh nhi này được chẩn đoán là Ngọng phát triển:

+ Trẻ có sức nghe bình thường, hệ thống thần kinh thính giác bình thường

+ Bộ phận cấu âm và sinh âm (khoang miệng và dây thanh quản) bình thường

+ Hệ thống thần kinh vận động và ngôn ngữ bình thường

Như vậy, đối tượng của đề tài là những trẻ em dưới 16 tuổi không có bệnh lý về: Khe hở vòm miệng, chậm phát triển trí tuệ, tự kỉ, hội chứng

Trang 9

down, nghe kém và bại não Tức là trẻ không bị tổn thương về mặt thực thể

và chức năng Mà nguyên nhân do phát triển về thụ đắc ngôn ngữ Đó là lí

do mà chúng tôi gọi là “Ngọng phát triển”

4 Phương pháp nghiên cứu cơ bản

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phương pháp phân tích miêu tả các hiện tượng ngữ âm và âm vị học bằng quan sát trực tiếp nghe và cảm thụ thính giác

- Có thêm thủ pháp thống kê

5 ố cục của luận văn

Bố cục của luận văn gồm:

PH N Ở Đ U

PH N NỘI UNG

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương II LỖI PHÁT ÂM CÁC THÀNH PHẦN ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT

Chương III NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CÁC THÀNH PHẦN ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT

K T UẬN

Trang 10

NỘI UNG

CHƯ NG 1 C SỞ Ý THUY T

1 Rối loạn phát âm

Trẻ em dường như được coi phát triển lời nói tự nhiên là một phát triển trưởng thành của trẻ Nhưng thật không may, không phải hầu hết trẻ phát triển lời nói theo quỹ đạo như vậy, bởi những lý do như sau:

- Trẻ có dây thanh quản bình thường hay không? Khi trẻ học nói chúng ta sẽ nhìn thấy được những bất thường về mặt giải phẫu, đó là phát

âm lời nói không rõ ràng khi dây thanh không nguyên vẹn

- Thần kinh vận động của trẻ có bình thường không? Đó là trẻ có vận động theo đúng lứa tuổi hay không:

6 tháng về mặt vận động trẻ biết tự ngồi và khi đó mặt phát âm trẻ có những âm bập bẹ vô nghĩa 12 tháng, về mặt vận động trẻ biết đứng và có một vài bước đi đầu tiên còn mặt phát âm ở giai đoạn này là xuất hiện những

từ đầu tiên Từ 18 đến 22 tháng, về mặt vận động trẻ trẻ tự đi một mình và

về mặt phát âm là trẻ phát âm 2 từ một lần Do vậy, khi trậm trễ vận động thì đồng nghĩa với việc phát triển lời nói cũng chậm theo

- Trẻ có hệ thống thính giác bình thường không? Như chúng ta biết lời nói được phát ra khi trẻ nghe qua tai phát âm của người lớn sau đó bắt chước

và cuối cùng là tự sử dụng Khi trẻ giảm về sức nghe (nghe kém hoặc điếc) tại ốc tai hoặc sau ốc tai (dây thần kinh), định hướng thính giác, nhận thức

có vấn đề sẽ làm chậm trễ phát triển lời nói và ngôn ngữ

- Thể chất (cân nặng, hình dạng) và sức khỏe của trẻ có bình thường không? Yếu về thể chất và tình cảm làm cho trẻ không hòa nhập và không thích giao tiếp với các thành viên trong gia đình và những người xung quanh thể hiện một trẻ phát triển cô lập không có giao tiếp xung quanh tức là ít có

Trang 11

cơ hội học ngôn ngữ miệng, đồng nghĩa sẽ chậm trễ lời nói và ngôn ngữ vì không có cơ hội học tập và thực hành

- Trẻ có phát triển nhận thức và khả năng bình thường không? Để đạt được ngôn ngữ miệng thì trẻ phải biết sử dụng các kí hiệu, như là biết chỉ vào đồ vật khi được hỏi (từ 9-12 tháng)

- Trẻ có một môi trường khuyến khích và chăm sóc không? Ít nhất ba loại môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển lời nói của trẻ: (1) một mối quan hệ tình cảm tích cực (mối quan hệ với một người chăm sóc chính là người cung cấp những lời đề nghị giao tiếp; (2) người đưa ra mẫu ngôn ngữ (con người); và (3) cơ hội bộc lộ và kích thích giao tiếp hàng ngày

Như vậy, sáu nguyên nhân trên sẽ dẫn đến những loại rối loạn phát âm lời nói khác nhau Charles Van Riper & Robert L Erickson (Speech Correction-An Introduction to Speech Pathology and Audiology, 1996) chia làm 04 loại chính: rối loạn phát âm rõ ràng (articulation disorders), rối loạn giọng (voice disorders), rối loạn trôi chảy (fluency disorders) và rối loạn ngôn ngữ (language disorders)

Trong đó, rối loạn phát âm là “thất bại điều khiển các âm thanh lời nói của ngôn ngữ” hoặc “không có khả năng đạt được phát âm đúng”, bao gồm hai loại rối loạn chính: rối loạn âm vị học (phonological disorders) và rối loạn ngữ âm học (phonetic disorders)

Rối loạn ngữ âm học là “Những cá nhân riêng lẻ không có khả năng phát âm các âm lời nói đúng do mắc phải những vấn đề về cấu trúc, dây thần kinh vận động, hoặc cảm giác; họ có những cơ quan bất thường làm cho bị giới hạn về khả năng phát âm” (Charles Van Riper & Robert L Erickson (1996) Tr.115) Ví dụ như khe hở môi và vòm miệng, nhược cơ,…

Rối loạn âm vị học là một rối loạn gặp nhiều ở trẻ “không phát âm rõ ràng nhưng không có nguyên nhân do cấu trúc” (Charles Van Riper &

Trang 12

Robert L Erickson (1996) Tr.115) Mà là do lỗi chức năng, khó đọc hoặc thói quen Như vậy, ở trường hợp này, trẻ phát triển bình thường về vận động, trí tuệ và ngôn ngữ nhưng lại gặp những lỗi sai khi phát âm các âm thanh lời nói Đây là những lỗi thuộc phát triển, sinh lý chứ không phải bệnh

Từ 61-66 tháng tuổi (5-5,5 tuổi) trẻ phát âm được gần 100% phụ âm Và ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ phát âm được các nguyên âm và phụ âm khác nhau Ví dụ, khi trẻ từ 12-24 tháng tuổi, trẻ sẽ phát âm được một số “phụ âm sớm”: /m/, /b/, /n/, /p/, /h/ và /w/ Từ 2-3 tuổi, trẻ phát âm được các phụ âm: /t/, /d/, /k/, /g/, /ŋ/, /f/, /j/ Từ 3-4 tuổi, trẻ phát âm được các phụ âm: /ʃ/, /tʃ/, /ʒ/, /dʒ/ Từ 4-5 tuổi, trẻ phát âm được các phụ âm: /z/, /r/, /v/ Từ 5-7 tuổi, trẻ phát âm được: /θ/ và /δ/

Theo Đinh Hồng Thái (Giáo trình phát triển Ngôn ngữ tuổi mầm non,

2014, tr 30), cho rằng, từ 3-4 tuổi, trẻ bắt chước lời nói của người lớn một cách chính xác

Bên cạnh đó, Bộ giáo dục và đào tạo ban hành năm 2010 đã đưa ra chỉ

số 65 với trẻ 5 tuổi là “nói rõ ràng”, tức là phát âm đúng, không có lỗi về phát âm

Từ những nghiên cứu trên, các nhà trị liệu dựa vào mốc phát triển lời nói của trẻ để phân loại, đâu là lỗi phát âm do chưa đến tuổi và đâu là lỗi phát âm do đã đến tuổi mà vẫn còn phát âm sai Sau việc lượng giá đó, các nhà trị liệu mới phân loại lỗi và tìm phương pháp sửa

Trang 13

2 Tình hình trị liệu sửa lỗi phát âm trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, từ những năm đầu thế kỉ XX, vấn đề sửa lỗi phát âm đã được quan tâm đến, khởi đầu là Travis (1931) với “phương pháp kích thích” (stimulus methods), và đến năm 1971 được Powers trình bày với tên gọi

“phương pháp truyền thống” (traditional methods) và từ đó đến nay được các nhà trị liệu sử dụng và hầu như không thay đổi gì nhiều

Powers bắt đầu trị liệu với đào tạo nhận thức thính giác Một âm được nhận diện, gọi tên, phân biệt từ những âm thanh lời nói khác, và sau đó được phân biệt trong những ngữ cảnh tăng dần về độ phức tạp

Trình tự Hallmark, sự hoán đổi của phương pháp truyền thống, luôn luôn đặt phân biệt các âm được tạo phát đầu tiên, được tìm thấy trong Berry

và Eisenson (1956), Carrell (1968), Garrett (1973), Loane và Macaulay (1968) và Van Riper (1978 tr 179), đã viết:

“Trị liệu truyền thống của Hallmark đặt trong trình tự của các hoạt động như sau:

(1) Nhận diện âm chuẩn, (2) phân biệt âm đó từ lỗi thông qua kiểm tra và so sánh, (3) thay đổi và sửa những phát âm đó cho tới khi phát âm đúng thì thôi, và cuối cùng,

(4) đặt âm đúng đó trong mọi ngữ cảnh và tình huống nói năng.” Tức làm tìm các âm vị mà trẻ không có khả năng phát âm hoặc những

âm trẻ không phát âm rõ ràng

Ví dụ, âm /s/, để sửa lỗi phát âm cho âm này:

Nhận diện âm chuẩn: xác định vị trí và phương thức cấu âm đúng của âm /s/

Xác định/phân biệt lỗi của âm đó Thay đổi và sửa (“hình dạng”) âm cho đến khi phát âm đúng

Trang 14

Củng cố và thiết lập âm được sửa đó trong mọi ngữ cảnh và tình huống nói năng

Còn, Van Riper (1978, tr 179), trình tự sửa lỗi phát âm như sau:

 Các hoạt động sửa

 Vị trí cấu âm ngữ âm học

 Đào tạo phân biệt thính giác

 Tập luyện

 Tập luyện-chơi Nguyên liệu

Để thực hiện được các trình tự trên, ông đã sử dụng nguyên liệu là tranh gợi ý: sử dụng tranh và âm thanh, tức là nói một âm lời nói không phải

là chữ cái khi cung cấp sự gợi ý

Trên đây là những phương pháp và trình tự sửa lỗi phát âm, còn về phân loại lỗi phát âm, có Laubstein (1987, tr.343) đưa ra 3 kiểu lỗi từ 559 lỗi phát âm tiếng Anh: sự tồn lưu (perseverations), âm sớm (anticipations) và hoán vị (transposition) và đến Haruko Miyakoda (2002, tr 277) cũng đưa ra

ba loại kiểu lỗi như này trong tiếng Nhật

Trên đây là tình hình nghiên cứu về phân loại lỗi và phương pháp, trình tự lỗi phát âm trên thế giới, còn ở Việt Nam, còn ít được quan tâm và hạn chế

Có Nguyễn Thị Ly Kha và Phạm Hải Lê (2004, đăng trên Tạp chí khoa học DHSP TPHCM ) tìm hiểu “lỗi phát âm âm tiết thường gặp ở trẻ từ 2-4 tuổi (tại một số trường mẫu giáo ở thành phố Hồ Chí Minh) Nhưng chỉ mới dừng lại ở phân loại lỗi và ở độ tuổi từ 2-4 tuổi, chưa có đưa ra phương pháp sửa, và không có phân loại nguyên nhân phát âm sai như nào (bộ máy cấu âm, thính giác, não bộ, vận động,… )

Trang 15

3 Đặc điểm ngữ âm

3.1 Bản chất và cấu tạo âm thanh lời nói

Như chúng ta biết ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp vạn năng của loài người Vậy ngôn ngữ tồn tại dưới dạng nào để con người có thể sử dụng làm phương tiện giao tiếp của mình? Ngay từ khi mới xuất hiện, có thể

khẳng định rằng ngôn ngữ tồn tại dưới dạng âm thanh Dạng âm thanh này

chính là vỏ vật chất của ngôn ngữ

Trong ngôn ngữ học, người ta gọi hình thức âm thanh của ngôn ngữ là ngữ âm Ngữ âm là âm thanh nhưng không phải âm thanh nào của con người tạo ra cũng được gọi là ngữ âm Ví dụ như tiếng nấc, tiếng ho, tiếng ợ tuy là những âm thanh do con người phát ra nhưng đây chỉ là những âm thanh sinh

lý của con người không có chức năng giao tiếp nên không thể coi đó là những âm thanh mang bản chất ngữ âm

Mặt âm thanh của ngôn ngữ, hay gọi là ngữ âm không phải là một hiện tượng đơn giản mà vô cùng phức tạp, do đó khi nói đến đặc điểm ngữ

âm người ta không thể không nói đến bản chất cấu tạo của nó Vậy nghiên cứu đặc điểm của ngữ âm người ta thường xét trên ba bình diện: đặc điểm sinh vật học (cấu âm), đặc điểm vật lý học (âm học) và bình diện thứ ba không kém phần quan trọng chính là chức năng xã hội của ngữ âm

3.1.1 Về mặt sinh lý học

Mỗi một âm thanh do con người phát ra đều là do bộ máy phát âm của con người đảm nhiệm Cơ chế hoạt động của bộ máy phát âm này như sau: mệnh lệnh được truyền đi từ vỏ não, từ trung khu điều khiển nói năng nằm ở bán cầu não; sau đó được các dây thần kinh truyền đến các cơ quan thực hiện trực tiếp, đó là ba vùng: vùng Broca (vùng Broadmann), vùng Wernicke và các đường dẫn truyền xử lý và cuối cùng là hoạt động của bộ máy hô hấp (phổi, phế quản, khí quản) cũng như cơ hoành và toàn bộ lồng

Trang 16

ngực rồi đến cơ quan phát âm (dây thanh, khoang miệng-mũi) Hoạt động của toàn bộ các bộ phận nói trên của con người để phát ra một âm thanh được gọi là sự cấu âm Và ở đây, chúng ta quan tâm đến bộ máy phát âm của con người Đặc điểm và cấu tạo của bộ máy phát âm được chia thành ba bộ phận chính là: cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang cộng hưởng ở phía trên thanh hầu

- Cơ quan hô hấp: Cơ quan hô hấp bao gồm các bộ phận chính ở lồng ngực như cơ hoành, phế quản, thanh quản và phổi,… Và các bộ phận này đảm nhiệm chức năng cung cấp mức không khí cấn thiết để tạo ra các dao động âm thanh và truyền các âm ra ngoài

- Thanh hầu: Thanh hầu có cấu tạo giống như một cái hộp do bốn miếng sụn hợp lại, bên trong có hai dây thanh Hai dây thanh này rung theo hướng căng lên hay chùng xuống, mở ra hay khép vào mà người ta hay gọi

là hoạt động của màng chân vịt Mỗi một lần căng lên (hay khép chặt) của hai dây thanh này sẽ tạo ra một âm Đó chính là lý do vì sao mà dây thanh được gọi là cơ quan sinh âm, tức là nơi phát ra âm thanh Dây thanh của phụ

nữ và trẻ em thường mảnh và căng hơn dây thanh của đàn ông Vì vậy giọng của phụ nữ và trẻ em thường cao hơn đàn ông

Thanh hầu là khoang cộng hưởng đầu tiên của bộ máy phát âm

- Các khoang cộng hưởng ở phía trên thanh hầu: khoang này bao gồm các khoang yết hầu, khoang mũi và khoang miệng

Khoang yết hầu có nắp họng (hay còn gọi nắp thanh môn) và gốc lưỡi Khoang miệng gồm khá nhiều cơ quan đó là môi, răng, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm, lưỡi con, đầu lưỡi và mặt lưỡi

Khoang miệng là một hộp cộng hưởng động, các cơ quan trong khoang miệng đều có thể hoạt động, di chuyển linh hoạt đặc biệt là lưỡi Lưỡi có thể tiến ra phía trước, lùi lại phía sau, nâng cao lên, hạ xuống thấp

Trang 17

Đó là lý do làm cho khoang miệng luôn luôn thay đổi Cũng vì khoang miệng di chuyển linh hoạt đã tạo ra sự đa dạng về mặt âm thanh của các âm được phát ra

Do vậy, tại khoang này được gọi là cơ quan cấu âm của con người Chính nó một phần tạo nên nét khu biệt của các âm vị

Âm thanh phát ra trong thanh hầu được phát ra rất nhỏ và nhờ hộp cộng hưởng của các khoang phía trên yết hầu mà âm thanh phát ra được khuếch đại to lên

Các cơ quan phát âm kể trên của con người có thể được phân chia thành hai loại dựa vào khả năng vận động: cơ quan chủ động và cơ quan thụ động

Cơ quan chủ động là những cơ quan vận động được và đóng vai trò chính khi cấu tạo các âm, như: dây thanh, lưỡi, môi, lưỡi con, ngạc mềm

Cơ quan thụ động là cơ quan không vận động được và khi cấu âm chúng giữ vai trò hỗ trợ, kèm theo sự vận động của cơ quan chủ động, như: lợi, răng, ngạc cứng Cơ quan thụ động này thường được coi là “điểm tựa”

để cho các cơ quan chủ động hướng tới

Trang 18

Hình 1: Cơ quan phát âm

3.1.2 Về mặt âm học

Xét về bản chất thì âm thanh của ngôn ngữ cũng có nhiều điểm giống với những âm thanh khác trong tự nhiên Nó cũng phải là những chấn động của các phần tử không khí trong tự nhiên vốn bắt nguồn từ một vật thể nhất định Khi nói như vậy, tức là nói đến những chuyển động, cọ xát của các phần tử trong không khí đã tạo ra âm thanh ngôn ngữ, hay nói cụ thể hơn, đó chính là nói đến những thuộc tính của vật lý, hay nói một cách khác đó chính

là ta đi nghiên cứu những thuộc tính vật lý (âm học) của ngữ âm Những vấn

đề trong âm học ngôn ngữ nghiên cứu những thành phần: độ cao, độ dài, cường độ, âm sắc, tiếng động và tiếng thanh

- Độ cao: hay còn gọi là cao độ, là tần số dao động của dây thanh Đó

là sự chấn động nhanh hay chậm của các phần tử không khí trong một đơn vị thời gian nhất định Sự chấn động nhanh hay chậm này là nguyên nhân tạo

Trang 19

ra mức độ cao hay thấp của cao độ trong lời nói Do vậy, chính tần số dao động của dây thanh này quy độ cao của giọng nói con người

- Độ dài: hay còn gọi là trường độ của âm, đó là sự chấn động lâu hay chậm của các phần tử không khí

Ví dụ như khi phát âm từ “tay” và từ “tai”, a trong “tay” ngắn hơn a trong “tai”

- Cường độ: hay còn gọi là độ mạnh của âm, là biên độ dao động của các phần tử không khí Biên độ dao động càng lớn thì âm phát ra càng mạnh, biên độ dao động càng nhỏ thì âm phát ra cũng nhỏ theo Do vậy, độ mạnh của âm thanh là do biên độ dao động quy định, nó chi phối âm mạnh hay nhẹ Trong ngôn ngữ, phụ âm phát ra thường mạnh hơn là nguyên âm

- Âm sắc: Âm sắc chính là bản sắc, sắc thái riêng biệt của mỗi âm, làm cho nó không bị lẫn vào các âm khác Ví dụ như, cùng một nốt nhạc nhưng với mỗi một nhạc cụ khác nhau tạo ra những âm có sắc thái khác nhau, không hoàn toàn trùng khớp Cùng một từ, một âm tiết, nhưng giọng của mỗi người khác nhau nên âm sắc của các âm đó cũng khác nhau Đây cũng là nguyên nhân vì sao mà cùng phát ra một âm nhưng ở mỗi người ta vẫn có thể phân biệt ai là ai, không bị nhầm

Nguyên nhân dẫn đến âm sắc khác nhau là do:

+ Vật tạo ra âm khác nhau, ví dụ như âm thanh của tiếng chuông khác với âm thanh của tiếng mõ tạo ra

+ Cách tạo ra các vật phát ra âm khác nhau cũng là tạo ra âm sắc khác nhau, ví dụ như phím đánh đàn piano, dây đàn ghita,…

+ Hiện tượng cộng hưởng khác nhau cũng tạo ra âm sắc khác nhau, ví

dụ như tiếng nói trong ngôi nhà gỗ khác với tiếng nói trong ngôi nhà xây Đây cũng là lí do vì sao mà, các nhà hát thường có những kiến trúc đặc biệt

để tạo ra những hiệu ứng âm thanh khác nhau

Trang 20

- Tiếng động và tiếng thanh: khi các phân tử trong không khí chấn động tạo các chuyển động âm thanh nhịp nhàng, điều hòa, có chu kì sẽ tạo thành tiếng thanh Ngược lại, các phân tử trong không khí chuyển động không nhịp nhàng, điều hòa sẽ tạo ra tiếng động Ví dụ, khi một nguyên âm được phát ra, các phần tử chuyển động nhịp nhàng, điều hòa và thoát ra ngoài không bị cản trở nào nên thường là tiếng thanh Còn phụ âm, khi bị phát âm ra thường phải thắng được một sự cản trở hay cọ xát nào đó mà các phần tử trong không khi chuyện động không được nhịp nhàng, điều hòa với nhau nên thường tạo ra tiếng động Vì thế người ta nói, nguyên âm thường

có tiếng thanh còn phụ âm thường có tiếng động

Chúng ta vừa nghiên cứu hai mặt sinh vật học và vật lý học của ngữ

âm hay ta còn gọi đó là nghiên cứu những thuộc tính về mặt tự nhiên của

ngữ âm Như vậy, xét trên khía cạnh tự nhiên mà nói, ngữ âm học là một bộ

phận của ngôn ngữ học nghiên cứu những phương thức cấu tạo và những thuộc tính âm học của lời nói con người Đó là xét một cách thuần túy theo

khía cạnh tự nhiên thì ngữ âm học cơ bản là như vậy Nhưng, nếu chỉ có xét mỗi khía cạnh tự nhiên như vậy quả là còn thiếu sót Cái thiếu sót đó chính

là mặt xã hội của ngữ âm học, hay còn gọi là mặt chức năng xã hội

3.1.3 Về mặt xã hội

Đối với mỗi ngôn ngữ của từng quốc gia, từng xã hội thì các đặc trưng ngữ âm lại được coi trọng khác nhau Như đối với xã hội Việt Nam, đặc trưng về trường độ trong ngữ âm lại vô cùng quan trọng Trường độ có chức năng phân biệt nghĩa của các từ Ví dụ từ “bắn” và từ “bán” trong tiếng Việt Hai từ này có nghĩa khác nhau nhờ hai nguyên âm “ă” và “a” do trường độ của hai âm này khác nhau, “a” được phát âm dài còn “ă” được phát âm ngắn Ngoài ra còn vô số các từ khác nhau kiểu do trường độ quy định như này

Trang 21

Hay nói một cách khác, trong tiếng Việt, trường độ là một đặc tính ngữ âm được coi trọng

Trường độ trong tiếng Việt được coi trọng nhưng không phải vì thế

mà đối với các ngôn ngữ khác cũng được coi trọng tương tự Ví dụ như trong tiếng Nga chẳng hạn, ta có từ “pak” dù có phát âm ngắn hay phát âm dài đi chăng nữa thì nghĩa của từ “pak” này vẫn không thay đổi Do đó, trường độ trong tiếng Nga không có chức năng phân biệt nghĩa cho các từ

Như vậy, đối với mỗi ngôn ngữ thì những đặc tính ngữ âm của từng ngôn ngữ được coi trọng nặng nhẹ khác nhau, đó chính là đặc tính xã hội của ngữ âm Đây cũng chính là mặt không thể thiếu trong nghiên cứu ngữ âm

Nói tóm lại, đặc trưng ngữ âm gồm ba mặt: mặt sinh học, mặt vật lý học (âm học) và mặt xã hội

3.2 Các kiểu tạo âm

Có nhiều kiểu tạo âm khác nhau trong các ngôn ngữ trên thế giới Một vài ngôn ngữ có kiểu tạo âm đặc biệt do luồng hơi xuất phát, có ngôn ngữ thì lại có kiểu tạo âm do dạng của thanh môn Còn tiếng Việt lại có kiểu tạo âm phổ biến trong nhiều ngôn ngữ đó là do luồng hơi đi ra từ phổi

- Luồng hơi: Có nhiều kiểu tạo âm từ luồng hơi:

+ Cách phát âm phổ biến nhất là bằng luồng hơi ở phổi Những phụ

âm tắc thông thường ta vẫn gặp, theo cách phát âm này được gọi là âm nổ để phân biệt với những âm tắc trong các kiểu tạo âm khác

+ Kiểu tạo âm thứ hai ít phổ biến hơn, chỉ gặp ở một số ngôn ngữ và ở một số phụ âm đó là cách phát âm do hơi ở họng

Khe thanh môn đóng lại, khối không khí ở phía trên được đẩy ra ra ngoài do thành hầu nhích lên cao hơn vị trí bình thường giống như pittong trong một chiếc bơm Không khí được dồn lên yết hầu nhưng bị chặn lại ở một vị trí nào đó, chẳng hạn ở mạc, khi ta phát một mạc tắc, áp suất sẽ tăng

Trang 22

lên và không khí phải phá vỡ sự cản trở ấy Kết quả là ta có một âm được gọi là âm bật (ejective), được ghi bằng dấu [’] đặt sau kí hiệu chính, chẳng hạn như [k’] Âm bật do được cấu tạo như vậy nên luồng không khí đi ra yếu

và bao giờ cũng là âm vô thanh, tức chỉ là tiếng động vì ở đay dây thanh không làm việc Người Việt không quen với cách phát âm này, có thể luyện cách đẩy thanh hầu lên bằng cách nối tiếp nhau một nốt nhạc thật thấp và một nốt thật cao

Trái với việc nâng cao thanh hầu là hạ thấp thanh hầu Không khí ở họng không đi ra mà đi vào Luồng hơi từ phổi đang đi ra, có phần nào tràn qua khe thanh môn và duy trì sự chấn động của dây thanh Cách phát âm này tạo nên những âm được gọi là âm đóng (implosive) Khi phát âm một âm tắc thông thường hay âm nổ thì áp suất của không khí trong khoang miệng tăng lên, còn ở đây thực ra áp suất không tăng giảm gì cả, do đó các khí quan phát âm sau khi chặn không khí buông rất nhẹ Ở tiếng việt có các âm được ghi bằng chữ “b” và “đ” ở tuyệt đại đa số trường hợp được phát âm như vậy Các âm đóng bao giờ cũng là âm hữu thanh, tức là khi phát âm dây thanh chấn động

+ Kiểu tạo âm thứ ba cũng ít phổ biến, có thể thấy trong một số ngôn ngữ ở châu Phi như tiếng Zulu Đó là cách phát âm bằng hơi ở mạc Người Việt khi chặc lưỡi, biểu thị thái độ miễn cưỡng hay một tình thái nào đó, đã thực sự phát ra một âm mặt lưỡi theo cách này, còn khi gọi gà là phát ra một

âm môi

- Dạng thanh môn: khi nói về dạng thanh môn tức là nói về sự khép

mở của dây thanh dưới sự điều khiển của hai sụn hình chóp Khi hai dây thanh khép lại rồi mở ra liên tục tức chấn động, tạo nên thanh Các phụ âm

có thanh được gọi là hữu thanh Trái lại, nếu thanh môn mở rộng, hai dây thanh không hoạt động để không khí ra tự do, sẽ không có chút thanh nào,

Trang 23

phụ âm chỉ được tạo thành bởi tiếng động và được gọi là vô thanh Khi thanh môn không mở rộng lắm, hai dây thanh vẫn xa nhau nhưng một luông hơi đi qua khá mạnh làm cho dây thanh rung đôi chút giống như khi ta phát

âm [h], ta sẽ được gọi là giọng thở (breathy voice) hay tiếng thì thào

Trong trường hợp hai sụn hình chóp giáp lại nên dây thanh chỉ còn chấn động được ở phía kia Âm được cấu tạo có cao độ rất thấp như khi ta hạ giọng ở cuối câu Kết quả của hiện ượng này được gọi là giọng kẹt (creaky voice) hay còn gọi là thanh hầu hóa (laryngealization) Tiếng Hausa và các ngôn ngữ Chad ở bắc Nigeria phân biệt hai dạng âm [j], một là [j] bình thường và một là [j] có giọng kẹt

3.3 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt

Những phát âm của con người phát ra gồm những khúc đoạn khác

nhau, mỗi một khúc đoạn nhỏ nhất của những phát âm đó người ta gọi là âm

tiết (syllable) Vậy âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất có nghĩa Ví dụ: “im lặng là vàng” khi phân tích ta thấy có 4 âm tiết

Cách phân chia này dựa trên phương diện phát âm Bởi, âm tiết có tính chất toàn vẹn, không thể phân chia được do được phát âm bằng một đơn căng cơ thịt của bộ máy phát âm Cứ mỗi lần cơ thịt của bộ máy phát âm căng lên rồi chùng xuống là ta có một âm tiết Lời nói của con người là một chuỗi các đợt căng chùng như vậy

Ta có thể xem sơ đồ sau:

Trang 24

Khi phát âm mỗi một âm tiết, các cơ thịt của bộ máy phát âm đều phải trải qua ba giai đoạn: tăng cường độ căng, đỉnh điểm căng thẳng và giảm độ căng Tương ứng với ba giai đoạn này là sự phát triển của độ vang: tăng cường độ vang, độ vang cao nhất và giảm dần độ vang

Tăng hay giảm độ căng, tăng hay giảm độ vang của một âm tiết được biểu thị bằng một đồ thị hình sin như sau:

Ta có thể giải thích như sau: đỉnh của hình sin chính là đỉnh mỗi âm tiết và thường là do nguyên âm đảm nhiệm, tức là nguyên âm sẽ ở đỉnh âm tiết Còn chỗ lõm giữa gọi là biên giới âm tiết, đó là biên giới giữa hai đợt căng cơ

Ở đây chúng tôi nói “đỉnh âm tiết thường là do nguyên âm đảm nhiệm” vì có một số ngôn ngữ như tiếng Anh chẳng hạn phụ âm cũng đứng

Trang 25

ở đỉnh âm tiết Ví dụ từ “table”-cái bàn, thì ở đây [l] đứng ở vị trí đỉnh âm tiết

Trong tiếng Việt thì lại khác, các nguyên âm đều đứng ở đỉnh âm tiết

Vì thế đối với ngôn ngữ tiếng Việt, nguyên âm đƣợc coi là âm chính của một

âm tiết

Nhƣ vậy, với mỗi ngôn ngữ thì đặc tính âm tiết lại có sự khác nhau, không đồng nhất Với tiếng Việt, cách kết thúc âm tiết cũng có phần khác biệt Do đó, phân loại âm tiết tiếng Việt thành bốn dạng dựa theo cách kết thúc âm tiết:

- Âm tiết mở: đó là những âm tiết có kết thúc do các phụ âm cuối zero đảm nhiệm Ví dụ: bà, mẹ, bố, cha, chú,…

- Âm tiết khép: đó là những âm tiết có kết thúc do các phụ âm tắc /p/, /t/, /k/ đảm nhiệm Ví dụ: học, cắt, mập,…

- Âm tiết nửa mở: đó là những âm tiết có kết thúc do các bán nguyên

âm đảm nhiệm Ví dụ: gửi, mèo,…

- Âm tiết nửa khép: đó là những âm tiết có kết thúc do các phụ âm vang đảm nhiệm Ví dụ: mang, màn, mạnh, mắm,…

Với đặc tính khác nhau về âm tiết của mỗi loại ngôn ngữ nhƣ thế thì những đặc điểm của âm tiết tiếng Việt cũng có nhƣng cái giống và khác so với các ngôn ngữ khác trên thế giới Vì thế mà đặc điểm âm tiết tiếng Việt cũng có những điểm riêng dễ nhận ra đó là:

Trang 26

cuối cùng của từ đứng đằng trước nó (apples đọc là rapples, on đọc là son)

Đó là hiện tượng nối âm đặc trưng trong tiếng Anh

Nhưng với tiếng Việt thì khác, không có hiện tượng này trong âm tiết

Ta không thể nối âm cuối của từ đứng trước vào âm đầu của từ đứng sau như trong tiếng Anh được

Ví dụ:

“Bạn ấy” không nói thành “bạn nấy”

Bởi nếu như vậy sẽ thành hai từ có nghĩa hoàn toàn khác với từ nguyên gốc

Như vậy, ta có thể thấy rằng, mỗi âm tiết trong tiếng Việt đều có một ranh rới nhất định không thể nối âm được

Hay trong tiếng Anh, một từ như “small-nhỏ” ta có thể đọc là

“xờ-mo” hay là “xờ-mó” thì nghĩa không thay đổi Nhưng trong tiếng Việt lại khác, như từ “chân” đọc là “chân” hay là “chấn” thì thành hai từ có nghĩa khác nhau chứ không thay đổi nghĩa như trong tiếng Anh được Có sự khác biệt này là do thanh điệu trong tiếng Việt đảm nhiệm Mỗi âm tiết đều có một thanh điệu nhất định đảm nhiệm giúp cho các âm tiết có một nghĩa nhất định

Như vậy, trong tiếng Việt không có hiện tượng nối âm cộng thêm 6 thanh điệu đảm nhiệm làm cho tiếng Việt có tính độc lập cao Tính độc lập cao làm cho việc phân chia ranh giới giữa các âm tiết trong tiếng Việt dễ dàng hơn nhiều so với ngôn ngữ Âu châu Chính nhờ việc phân chia ranh giới các âm tiết trong tiếng Việt đơn giản nên người nghe có thể nhận biết một cách hết sức rõ ràng từng âm tiết tiếng Việt một Bởi từng tiếng một được phát ra

Trang 27

Như vậy, so với các ngôn ngữ Âu châu, âm tiết tiếng Việt rõ ràng có tính độc lập cao hơn cả, nghĩa là có khả năng phân chia thành các thành phần nhỏ bên trong

Ngoài tính độc lập ra, âm tiết tiếng Việt còn có một đặc điểm nữa là

có khả năng biểu hiện ý nghĩa

Có khả năng biểu hiện ý nghĩa

Trong ngôn ngữ Âu châu, âm tiết chỉ là một đơn vị ngữ âm thuần tuý

Âm tiết mà bị tách ra khỏi từ thì nó hoàn toàn vô nghĩa

Với tiếng Anh chẳng hạn, một từ “beautiful” nếu tách thành các âm tiết “beau”-“ti”-“ful” thì 3 âm tiết này hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả mà

nó chỉ là những đơn vị ngữ âm thuần tuý

Nhưng với tiếng Việt lại hoàn toàn ngược lại Tuyệt đại đa số các âm

tiết đều có nghĩa Số lượng âm tiết tự thân mang nghĩa chiếm tuyệt đại đa số

Tức là, mỗi âm tiết là một đơn vị độc lập, từng tiếng và có nghĩa

Ví dụ: chân, tay, đầu, tóc, mắt, mũi, … Trong tiếng Việt có những âm tiết như: chó má, che pheo, bếp núc, gà qué,… thì các âm tiết như “má”, “pheo”, “núc”, “qué” khi đứng một mình bản thân nó không thấy có ý nghĩa gì Vậy ta phải trả lời sao cho những trường hợp này, tức là một vài âm tiết tiếng Việt tự thân không biểu hiện ý nghĩa?

Với phương pháp tìm từ nguyên, ta lùi lại lịch sử và nhận ra rằng tất

cả những âm tiết trên đều mang một nghĩa, “má” cũng có nghĩa là “chó”,

“pheo” cũng có nghĩa là “tre”, “núc” cũng có nghĩa là “bếp”, “qué” cũng có nghĩa là “gà” Đó là những âm tiết còn lại trong ngôn ngữ dân tộc, như tiếng Mường là một minh chứng Như vậy, bản thân những âm tiết trên đều tự thân mang một ý nghĩa nhất định

Trang 28

Còn hiện tại nó dường như không mang nghĩa là do quy luật nhược nghĩa Tức là khi hai âm tiết có nghĩa giống nhau đứng cạnh nhau thì theo thời gian một âm tiết trong đó yếu dần đi, hay dần dần mất nghĩa thực của nó

đi Đó là lý do tại sao mà có một vài âm tiết tiếng Việt hiện nay tưởng chừng

là không tự thân mang nghĩa Không phải, về mặt từ nguyên, chúng đều có nghĩa

Chính vì có hiện tượng độc lập về nghĩa này mà các nhà thơ, nhà văn thoả sức hoán đổi trật tự các từ, chêm từ nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của các câu thơ, câu văn nâng cao giá trị nội dung cho bài thơ

Như trong “truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du là một ví dụ điển hình:

“Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”

Tác giả đã dùng “dày gió” và “dạn sương”; “bướm chán” và “ong chường” chứ không phải là “dày dạn gió sướng” hay “bướm ong chán chường” để nhằm nhấn mạnh tính chất tiều tuỵ của nàng Kiều trước những

gì mà nàng Kiều đang phải một mình trải qua trong cuộc đời

Như vậy, âm tiết đối với tiếng Việt không chỉ là một đơn vị ngữ âm thuần tuý như của các ngôn ngữ Âu châu mà còn là một đơn vị từ vựng và ngữ pháp, tức là mỗi âm tiết tiếng Việt tuyệt đại đa số đều tự thân mang nghĩa Đây là một trong những nét đặc trưng về mặt loại hình của tiếng Việt

Có một cấu trúc chặt chẽ

Ta có thể khẳng định rằng, âm tiết tiếng Việt là một cấu trúc có thể chia cắt được chứ không phải là một cấu trúc không thể chia cắt thêm được như những nét khu biệt Dựa vào khả năng kết hợp và mức độ độc lập với nhau của 5 thành phần âm tiết tiếng Việt, chúng ta thấy rằng âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc:

Trang 29

Bậc 1 là bậc của những yếu tố kết hợp với nhau lỏng lẻo, có tính độc lập cao Đó là các thành phần: âm đầu và phần vần và thanh điệu

Bậc 2 là bậc của những yếu tố kết hợp với nhau chặt chẽ và có tính độc lập thấp Đó là những yếu tố của phần vần: âm đệm, âm chính và âm cuối

Từ đó ta có sơ đồ cấu trúc âm tiết tiếng Việt như sau:

Các âm đầu tiếng Việt được khu biệt với nhau bởi vị trí cấu âm và phương thức cấu âm

- Vị trí cấu âm: Có 6 vị trí để phân loại các phụ âm đầu tiếng Việt đó là: môi, đầu lưỡi bẹt, đầu lưỡi quặt, mặt lưỡi, gốc lưỡi và thanh hầu

- Phương thức cấu âm: được chia thành các tiêu chí như sau:

+ Tiêu chí tắc/xát:

+ Tiêu chí bật hơi + Tiêu chí vang phân biệt với các âm ồn

Trang 30

+ Các âm ồn lại đƣợc khu biệt bởi tiêu chí hữu thanh/vô thanh

+ Trong tiêu chí vang có sự phân biệt về tính chất vang mũi với vang

Thanh

hầu Bẹt Quặt

Tắc Ồn

Không

bật hơi

thanh

Trang 31

đó là do sự tròn môi hoặc không tròn môi của âm tiết Ví dụ “đá” khác với

“đóa” là do “đá” không có yếu tố âm đệm còn “đóa” có yếu tố âm đệm là

“o” Âm đệm hay còn gọi là âm lướt /ṷ/

- Âm chính là thành phần chính của âm tiết có chức năng quyết định

âm sắc chủ yếu của âm tiết Âm chính của tiếng Việt luôn luôn là do nguyên

âm đảm nhiệm,bao gồm: các nguyên âm đơn và các nguyên âm đôi Các nguyên âm được khu biệt với nhau theo hai tiêu chí là tiêu chí âm sắc và tiêu chí âm lượng Tiêu chí âm sắc được phân biệt bởi đặc trưng trầm/bổng và tính cố định/không cố định của âm sắc Tiêu chí âm lượng được phân biệt bởi sự đối lập theo hai bậc âm lượng lớn/nhỏ Từ đó, ta có bảng phân loại nguyên âm tiếng Việt như sau:

Âm sắc

Âm lượng Cố định Không cố định

Bổng

Trung hòa Trầm Bổng

Trung hòa Trầm

Trang 32

Nhỏ i ɯ u

ie ɯə uo Lớn vừa e ə/ɚ o

âm cuối được khu biệt với nhau bởi hai tiêu chí phương thức và vị trí cấu

âm, theo bảng phân loại như sau:

Trang 33

(cao/thấp) và đường nét (bằng phẳng/không bằng phẳng, gãy/không gãy) Có bảng phân loại như sau:

Đường nét

Âm vực Bằng phẳng

Không bằng phẳng Gãy Không gãy Cao Không dấu Ngã Sắc Thấp Huyền Hỏi Nặng

Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lợi & Jerold A Edmondson (Tones and

voice quality in modern Vietnamese: Instrumental case study, Mon-Khmer

Studies (1997) 28:1-18), James P.Kirby (Vietnamese (Hanoi Vietnamese),

Juarnal of the International Phonetic Association (2011) 41/3) cho rằng, các thanh điệu tiếng Việt ngoài khu biệt với nhau bằng cao độ phức tạp (picth) thì còn phân biệt bằng hiện tượng tạo thanh (voice quality) James P.Kirby cho rằng, hiện tượng tạo thanh được coi như là cách tri nhận chủ yếu cho người phát ngôn bản ngữ (Brunelle 2009b) Hiện tượng tạo thanh mặc dù đóng vai trò trung tâm trong việc tạo phát và nhân thức thanh điệu tiếng Việt nhưng lại không được phiên âm trong minh họa có thể nhìn thấy được, bởi

ba lý do Đầu tiên, tính tạo thanh là một đặc tính bên trong của THANH ĐIỆU, không phải của hạt nhân trung tâm nguyên âm, và phiên âm IPA không có cách nào để phản hồi sự khác biệt quan trọng này Thứ hai, hệ thống thực sự của phiên âu IPA không thể truyền đạt các chi tiết liên quan đến sự liên kết tạm thời giữa hiện tượng tạo thanh và cao độ Cuối cùng, như được ghi nhớ trong các bài báo cáo ngữ âm trước, có sự tồn tại của hiện

Trang 34

tượng rung và cường độ của các đặc tín hiện tượng tạo thanh giữa những người phát âm và thậm chí trong lời nói của một cá nhân phát âm

4 Tiểu kết

Đối với những vấn đề về rồi loạn phát âm ở trẻ em bình thường trên thế giới không phải là vấn đề mới Vấn đề này được quan tâm rất lâu rồi, từ vấn đề tìm ra và phân loại lỗi phát âm đến đưa ra các biện pháp sửa lỗi phát

âm Tuy nhiên, ở Việt Nam đây là một vấn đề mới chưa được nhiều người quan tâm đến Chỉ có một vài nghiên cứu, tiêu biểu là nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha về lỗi phát âm ở trẻ em từ 2-4 tuổi nhưng dừng lại ở vấn đề phân loại lỗi

Bên cạnh đó, trên thế giới để đánh giá phát âm của trẻ, ban đầu phải kiểm tra phát âm của trẻ theo một bảng đánh giá nào đó, sau đó dựa vào quá trình phát triển lời nói của trẻ theo từng độ tuổi để phân loại lỗi phát âm là

do chưa đến tuổi hay do quá tuổi Từ đó mới đến sửa phát âm cho trẻ (sửa những phát âm đã quá tuổi và chờ những phát âm chưa đến tuổi) Còn ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu nào sựu phát triển lời nói của trẻ theo từng độ tuổi của thể (tuổi nào thì phát âm được nguyên âm nào, phụ

âm cụ thể nào) Chúng tôi chỉ tìm thấy những nghiên cứu chung chung về ngôn ngữ như là đến năm tuổi thì trẻ phát âm rõ ràng, chính xác, hoặc từ 3-4 tuổi, trẻ bắt chước lời nói của người lớn một cách chính xác Do đó, chúng tôi không có căn cứ cụ thể để phân loại lỗi phát âm do chưa đến tuổi của từng âm vị Vì thế, chúng tôi không tiến hành phân loại lỗi sớm hay lỗi muộn (chưa đến tuổi có nguyên âm, phụ âm đó, hay đã quá tuổi có phụ âm, nguyên âm đó)

- Trẻ phát triển hoàn toàn bình thường, không có bệnh lý về thính giác, thần kinh, tâm bệnh hay dị tật về cơ quan cấu âm và sinh, nhưng lại gặp những rối loạn về phát âm Đây là một rối loạn âm vị học

Trang 35

- Âm tiết tiếng Việt có đặc điểm về cấu trúc: là đơn vị có cấu trúc hai bậc gồm năm thành phần Bậc 1, âm tiết gồm ba thành phần: âm đầu, vần và thanh điệu Bậc 2, phần vần gồm ba thành phần: âm đệm, âm chính và âm cuối

Như vậy, dựa vào những điều trên chúng tôi tiến hành tìm ra và miêu

tả lỗi phát âm các thành phần âm tiết tiếng Việt của trẻ em ở chương 2 Từ

đó tìm các biện pháp khắc phục lỗi phát âm cho trẻ ở chương 3

Trang 36

CHƯ NG 2 C C I PH T Â TRONG Â TI T TI NG VIỆT

1 Các lỗi phát âm của âm đầu tiếng Việt

Âm đầu trong âm tiết tiếng Việt là do phụ âm đảm nhiệm và có tất cả

22 âm vị Nhưng số lượng phụ âm đầu trong các phương ngữ là khác nhau Theo GS Đoàn Thiện Thuật (Ngữ âm tiếng Việt, 1980:155) thì “người Hà Nội và mở nhiều địa phương trên miền bắc không phân biệt /c/ʈ, s/ȿ, z/ɀ/ trong giao tế hàng ngày, nghĩa là phát âm như nhau các âm đầu đang xét trong các từ sau đây: “che chở” và “cây tre”, “xa xôi” và “nước sôi”, “da thịt”, “gia đình” và “đi ra” Tất cả các âm đầu này đều được phát âm với đầu lưỡi bẹt”

Do đó, khi khảo sát lỗi phát âm phụ âm đầu tại Trung tâm Thính học

& Trị liệu ngôn ngữ, bệnh viện Nhi Trung Ương, Hà Nội, chúng tôi khảo trên 18 phụ âm đầu tiếng Việt là: /b, m, f, v, th, t, d, n, s, z, l, c, ɲ, k, ŋ, χ, γ, h/ (vì không phân biệt /c/ʈ, s/ȿ, z/ɀ/ và /ʔ/)

1.1 Lỗi phát âm của phụ âm /b/

Qua bảng thống kê trên, chúng tôi thấy:

- Trẻ phát âm đúng âm /b/ chiếm 95%, và trẻ phát âm sai âm này chiếm 5% Như vậy, trẻ ít gặp lỗi trong phát âm âm đầu /b/

Trang 37

- Trẻ phát âm sai âm đầu /b/ theo hai cách: một là, chuyển thành âm tắc thanh hầu /Ɂ/ Hai là, chuyển thành một phụ âm khác /m/

Trang 38

1.2 Lỗi phát âm của phụ âm /m/

Qua bảng thống kê trên chúng tôi thấy:

- Trẻ phát âm đúng âm /m/ chiếm 87% và phát âm sai âm này chiếm 13% Nhƣ vậy, trẻ phát âm sai âm đầu /m/ cũng không nhiều lắm

- Trẻ phát âm sai âm đầu /m/ theo hai cách: một là, chuyển thành âm tắc thanh hầu /Ɂ/ Hai là, chuyển thành một phụ âm đầu khác /b/

1.3 Lỗi phát âm của phụ âm /v/

Trang 39

- Trẻ phát âm đúng âm /v/ chiếm 74% và trẻ phát âm không đúng âm này chiếm 26% Nhƣ vậy, trẻ phát âm sai âm đầu /v/ khá nhiều

- Trẻ phát âm sai âm đầu /v/ theo hai cách: một là, chuyển thành âm tắc thanh hầu /Ɂ/ Hai là, chuyển thành một phụ âm đầu khác /b/, /p/ và /c/

1.4 Lỗi phát âm của phụ âm /f/

Qua bảng thống kê trên chúng tôi thấy:

- Trẻ phát âm đúng âm /f/ chiếm 58,9% và trẻ phát âm sai âm này chiếm 41,1% Nhƣ vậy, trẻ phát âm sai âm đầu /f/ nhiều

- Trẻ phát âm sai âm đầu /f/ theo hai cách: một là,chuyển thành âm tắc thanh hầu /Ɂ/ Hai là, chuyển thành phụ âm đầu khác: /b/, /h/, /v/, /th

/, /c/, /t/, /p/

Trang 40

1.5 Lỗi phát âm của phụ âm /t/

Qua bảng thống kê chúng tôi thấy:

- Trẻ phát âm đúng phụ âm /t/ chiếm 64% và phát âm âm này sai chiếm 36%, gần một nửa trong số 73 trẻ đến khám Như vậy, trẻ phát âm sai

âm đầu này nhiều

- Trẻ phát âm sai âm đầu /t/ theo hai cách: một là, chuyển thành âm tắc thanh hầu /Ɂ/ Hai là, chuyển thành các phụ âm khác: /k/, /c/, /d/, /th

/ Khi

âm /t/ được phát âm sai thành các âm khác và là những âm tắc, tức là có cùng phương thức cấu âm với âm /t/ chỉ là thay đổi về vị trí cấu âm

Ngày đăng: 27/06/2023, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w