phản ứng của tỷ giá hối đoái trước cú sốc chính sách tiền tệ,ứng dụng mô hình dsge và svar cho việt nam
Trang 1Mã số: ……….
PHẢN ỨNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRƯỚC
CÚ SỐC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DSGE VÀ SVAR CHO VIỆT NAM
Trang 2- -
Trang 3-TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ ngày càng phát triển, tăng trưởng với tốc độ cao dù kinh tế quốc gia cũng như tình hình thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn Thị trường ngoại hối hình thành và ngày càng phát triển, Việt Nam đã tăng lượng dự trữ ngoại hối lên cao Để kiểm soát lạm phát, ngân hàng nhà nước thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ
Trong tình hình đó, việc xem xét sự biến động của tỷ giá hối đoái là rất quan trọng trong chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia chính vì vậy, đề tài này muốn hướng tới các phản ứng của tỉ giá hối đoái trước cú sốc chính sách tiền tệ nhằm mô tả một cách xác thực nhấttrong việcsử dụng các công cụ hữu ích về kinh tế lượng
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết tập trung vào phân tích trường hợp nền kinh tế nhỏ mở thông quan mô hình DSGE.Ước lượng các tham số của mô hình và tập trung vào hàm phản ứng đẩy
để xem xét đến tác động của các cú sốc kinh tế ngoại sinh đến nền kinh tế như thế nào
Ngoài ra,bài viết còn xem xét thêm sự phù hợp trong việc sử dụng các mô hình VAR để mô phỏng lại các phản ứng của các biến kinh tế khi phải đối mặt với các cú sốc tỷ giá thương mại, công nghệ, lạm phát thế giới, sản lượng thế giới và đặt biệt là
cú sốc chính sách tiền tệ -xem xét sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái
Tìm kiếm một công cụ hiệu quả để thực hiện các chính sách vĩ mô, nhóm chúng tôi đã tiến hành thực hiện mô hình DSGE đang được sử dụng phổ biến ở các ngân hàng trung ương của nhiều nước trên thế giới
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết xây dựng mô hình DSGE cho nền kinh tế nhỏ mở theo cách tiếp cận của Bayesian với các biến kinh tế Sau đó dựa vào các biến quan sát: lỗ hổng sản lượng (output gap), lạm phát, lãi suất danh nghĩa, thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa
và tỷ giá thương mại để ước lượng các tham số cho các biến của mô hình DSGE Xây
Trang 4dựng phân phối tiên nghiệm cho các tham số chưa biết của mô hình Từ các biến quan sát, xây dựng phương trình likelihood cùng với phân phối tiên nghiệm thiết lập từ trước để xác định các phân phối hậu nghiệm cho các tham số Cuối cùng, dựa vào phương pháp Monter Carlo và Markov chain Monte Carlo (MCMC) để tóm tắt thống
kê lại phân phối hậu nghiệm của tham số Từ các kết quả trên, chúng tôi ước lượng hàm phản ứng đẩy (IRF) xem xét phản ứng của các biến trước tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô
Sau đó chúng tôi ước lượng thêm các mô hình VAR Recursive với cách thiết lập thay đổi trật tự của các biến để có được hàm IRF Sau đó đem so sánh với hàm IRF từ mô hình DSGE để lựa chọn mô hình VAR Recursive có thiết lập phù hợp để xem xét phản ứng của các biến trước tác động của cú sốc thắt chặt chính sách tiền tệ
Nội dung nghiên cứu
Bài viết dựa trên ý tưởng của ba bài nghiên cứu chính: Lubik, T.A., Schorfheide, F., 2007 ―Do central banks respond to exchange rate move-ments? A structural investigation‖, Jarkko P Jääskelä, David Jennings (2011): ―Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models‖ và gần đây nhất Tingguo Zheng,Huiming Guo (2013): ―Estimating a small open economy DSGE model with indeterminacy: Evidence from China‖
Chúng tôi ước lượng mô hình DSGE với 5 biến quan sát để có được các tham
số của mô hình, ước lượng hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai để xem xét sự tác động của những cú sốc kinh tế vĩ mô đến nền kinh tế của Việt Nam
Sau khi có được hàm IRF của DSGE chúng tôi tiếp tục ước lượng mô hình VAR theo hai dạng: VAR đệ quy (recursive VAR) và VAR dấu hiệu hạn chế (sign-restricted VAR) Trong VAR đệ quy, chúng tôi thiết lập các cách áp đặt khác nhau Từ
đó ước lượng được các hàm IRF của các mô hình VAR sau đó xem xét với hàm IRF
đã ước lượng trước đó của DSGE cùng với những vấn đề puzzle xuất hiện (nếu có) để nhân định về mô hình VAR
Đóng góp của đề tài
Trang 5Xây dựng được một mô hình DSGE cơ sở để so sánh và có thể được sử dụng
để đánh giá phần nào tình hình kinh tế của Việt Nam Ước lượng hàm IRF xem xét phản ứng và mức độ phản ứng, thời gian trở về trạng thái ổn định của các yếu tố kinh
tế vĩ mô khi chịu tác động của các cú sốc trong nước và thế giới
Xây dựng mô hình VAR theo nhiều cách áp đặt trật tự khác nhau đối với VAR
đệ quy và áp đặt dấu phản ứng của các biến trong mô hình VAR dấu hiệu hạn chế
Hướng phát triển của đề tài
Trong mô hình DSGE vẫn tồn tại nhiều tham số không thật sự phản ánh được tình hình Việt Nam Thứ nhất :do khách quan vì nhiều hạn chế về dữ liệu (độ dài, tín tin cậy) và cách phân tích lựa nên mô hình không tránh khỏi những sai sót về mặt kỹ thuật và phương pháp và đồng thời do hạn chế chủ quan của chúng tôi chưa thể nắm bắt được những tinh túy trong mô hình và khai thác để sử dụng phù hợp Thứ hai: Các tham số khi đưa vào tiền nghiệm thì không hoàn toàn giống nhau ở các quốc gia,việc đưa vào hàng loạt từ mô hình của Trung Quốc cũng khiến cho mô hình của chúng tôi không thật sự làm đúng, tốt như những gì chúng tôi mong muốn Thứ ba, chúng ta không thể xem những tác động của các biến nước ngoài như một biến ngoại sinh thật
sự vì trong điều kiện hội nhập hiện nay, tất cả các quốc gia đều cần phải xem xét đến mọi biến động không chỉ trong nước mà còn trên thế giới, và những biến động đó đã
và nên được đưa vào mô hình khi ước lượng để có được một cái nhìn tổng quan và toàn diện hơn.Thứ tư, có nhiều mô hình được sử dụng để ước lượng các yếu tố vĩ mô, việc làm của chúng tôi chỉ quan sát được một vài khía cạnh, và có thể có nhiều phương pháp phù hợp hơn với tình hình của Việt Nam Cuối cùng, hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng phát triển và hoàn thiện mô hình DSGE, có nhiều hướng nghiên cứu như áp đặt giá trị tham số rồi ước lượng hay để mô hình tự ước lượng tham số hoặc cả hai
Từ đó, chúng tôi hướng đến việc mở rộng mô hình thêm các biến nước ngoài như một biến nội sinh để xem xét phản ứng của nền kinh tế như thế nào trước cả cú sốc trong và ngoài nước toàn diện hơn Tiếp theo,tìm kiếm những nguyên nhân dẫn
Trang 6đến các puzzle và cải thiện mô hình VAR để hạn chế bớt những nguyên nhân do vấn
đề kỹ thuật
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
1.1 Các nghiên cứu về chính sách tiền tệ: 8
1.1.1 Jonathan Kearns and Phil Manners (2005) 8
1.1.2 John B Taylor (2001): 11
1.2 Các lý thuyết về vấn đề puzzle 15
1.3 Các nghiên cứu dùng mô hình VAR xem xét tỷ giá hối đoái và các puzzle 17
1.3.1 Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008) 17
1.3.2 Almuth Scholl, Harald Uhlig (2009) 19
1.4 Các mô hình DSGE trong thực nghiệm: 22
1.4.1 Jarkko P Jääskelä, David Jennings 22
1.4.2 Thomas A Lubika, Frank Schorfheide 27
1.4.3 Tingguo Zheng, Huiming Guo (2013) 28
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Các lý thuyết và xây dựng mô hình DSGE 29
2.1.1 Lịch sử và lý thuyết của mô hình DSGE 29
2.1.2 Các trường phái trong mô hình DSGE 29
2.1.3 Các bước xây dựng cơ bản của mô hình DSGE 31
2.1.4 Tổng quan về giải pháp cho mô hình DSGE: 33
2.2 Mô hình Structural Vector Autoregression (SVAR) 33
2.2.1 Tổng quan mô hình VAR 33
2.2.2 Phương pháp uớc lượng SVAR 35
Trang 82.2.3 Hàm phản ứng đẩy và Phân rã phương sai 36
3 MÔ HÌNH DSGE CHO NỀN KINH TẾ NHỎ MỞ VÀ ƯỚC LƯỢNG CHO VIỆT NAM 37
3.1 Mô hình DSGE cho nền kinh tế nhỏ mở SOE: 37
3.1.1 Mô hình nền kinh tế nhỏ mở cụ thể hóa 38
3.1.2 Giải pháp về số (Numerical) : 40
3.2 Ước lượng mô hình DSGE cho Việt Nam 41
3.2.1 Xây dựng phương trình đo lường : 41
3.2.2 Mô tả dữ liệu 42
3.3 Lựa chọn tiên nghiệm 47
3.4 Kết quả ước lượng 49
3.5 Phân tích hàm phản ứng đẩy 52
3.6 Phân tích phân rã phương sai 56
4 KẾT QUẢ TỪ MÔ HÌNH VAR 57
4.1 VAR đệ quy theo các cách áp đặt 57
4.2 VAR hạn chế dấu hiệu 63
5 KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC A: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG 5
PHỤ LỤC B: PHÂN PHỐI TIÊN NGHIỆM VÀ HẬU NGHIỆM CỦA THAM SỐ 7 PHỤ LỤC C: THÔNG TIN KỸ THUẬT THỰC HIỆN ƯỚC LƯỢNG DSGE 8
PHỤ LỤC D: PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG THAM SỐ 9 PHỤ LỤC E: THUẬT TOÁN DẤU HIỆU HẠN CHẾ – SIGN RESTRICTIONS 11
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Mô hình cân bằng động tổng thể ngẫu nhiên
Tự hồi quy Vectơ
Tổng sản phẩm quốc nội
Ngân hàng trung ƣơng Châu Âu
Ngang giá lãi suất không phòng ngừa
Ngang giá sức mua
Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực
Tỷ giá hối đoái hiệu dụng danh nghĩa
Trang 10Chỉ số giá tiêu dùng
Tự hồi quy
Quỹ tiền tệ quốc tế
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tập hợp sự kiện của Úc, Canada, New Zealand, Anh 8
Bảng 2: Dữ liệu của Úc, Canada, New Zealand, Anh 9
Bảng 3: Nguồn dữ liệu sơ cấp của mô hình 43
Bảng 4: Kiểm định tính dừng cho các biến quan sát 47
Bảng 5: Phân phối tiên nghiệm của các tham số 49
Bảng 6: Kết quả ước lượng hậu nghiệm của các tham số 52
Bảng 7: Phân rã phương sai theo các cú sốc cơ sở 56
Bảng 8: Áp đặt dấu hiệu trong mô hình VAR dấu hiệu hạn chế 63
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Tập hợp kết quả 4 loại tiền tệ: Đô la Úc, đô la Canada, đô la New Zealand và
đồng Bảng Anh 10
Hình 2: Một cách điệu hóa của ―delayed overshooting puzzle‖ 15
Hình 3: Một cách điệu hóa của ―forward discount puzzle‖ 16
Hình 4: Một cách điệu hóa của ―exchange rate puzzle‖ 16
Hình 5: Bằng chứng ―delayed overshooting puzzle‖ theo cách áp đặt thứ nhất 18
Hình 6: Bằng chứng ―delayed overshooting puzzle‖ theo cách áp đặt thứ hai 19
Hình 7:Úc: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc 20
Hình 8:Canada: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc 21
Hình 9:New Zealand: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc 21
Hình 10: Thụy Điển: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc 22
Hình 11: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của DSGE 24
Hình 12: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của áp đặt 1của VAR đệ quy 25
Hình 13: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của áp đặt 2 của VAR đệ quy 25
Hình 14: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của VAR dấu hiệu hạn chế 26
Hình 15: GDP thực (giá so sánh năm 1994) 44
Hình 16: Đồ thị lãi suất chiết khấu từ 2000 – 2011 theo quý 45
Hình 17: REER, NEER và tỷ giá USDVND theo thời gian 46
Hình 18: Hàm phản ứng đẩy của DSGE 54
Hình 19: Hàm phản ứng đẩy của DSGE dưới tác động của cú sốc chính sách tiền tệ 55 Hình 20 VAR đệ quy áp đặt 1 57
Hình 21 VAR đệ quy áp đặt 2 59
Hình 22 VAR đệ quy áp đặt 3 61
Hình 23: Phân phối IRF mô hình VAR dấu hiệu hạn chế 64
Trang 13Hình 24: 20 phản ứng gần với trung vị nhất mô hình VAR dấu hiệu hạn chế 64 Hình 25: Phân phối tiên nghiệm và phân phối hậu nghiệm của các tham số 7
Trang 141 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1.1 Các nghiên cứu về chính sách tiền tệ:
1.1.1 Jonathan Kearns and Phil Manners (2005)
―The impact of monetary policy on the exchange rate: a study using intraday data‖
Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu nội nhật (intraday data) để ước lượng hiệu ứng của sự thay đổi chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái Tác giả sử dụng nghiên cứu
sự kiện (event study) với một số thời kỳ được lựa chọn cẩn thận cho bốn quốc gia (Australia, Canada, New Zealand và Vương quốc Anh – đây là các quốc gia mà chính sách tiền tệ không tập trung vào tỷ giá hối đoái và quyết định được đưa ra trước khi nó được thi hành) để đảm bảo rằng sự thay đổi trong chính sách tiền tệ là yếu tố ngoại sinh của tỷ giá hối đoái
Thiết lập sự kiện
Bảng 1: Tập hợp sự kiện của Úc, Canada, New Zealand, Anh Nguồn: Jonathan
Trang 15Kearns and Phil Manners (2005): ―The impact of monetary policy on the exchange rate: a study using intraday data‖
Dữ liệu
Bảng 2: Dữ liệu của Úc, Canada, New Zealand, Anh Nguồn: Jonathan Kearns
study using intraday data‖
Trang 16Thứ 2, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ có hiệu ứng khác nhau lên tỷ giá phụ thuộc vào việc người dân kỳ vọng như thế nào vào chính sách tương lai Các tác giả đưa ra một kết quả bất ngờ đó là sự kỳ vọng vào chính sách tương lai có một tác độn lớn hơn đối với tỷ giá hối đoái (khoảng 0.4%) nhiều hơn so với chỉ do sự thay đổi
Trang 17trong chính sách tiền tệ mà không có sự thay đổi trong kỳ vọng chính sách tương lai (khoảng 0.2%)
Kết luận:
-Thứ nhất, tỷ giá tăng trung bình khoảng 1 ½ % trước sự gia tăng bất ngờ 1% trong chính sách lãi suất Đối với các quốc gia riêng rẽ khoảng 1 – 1.8% tính trung bình, một sự thắt chặt bất ngờ 0.25% sẽ dẫn đến sự gia tăng tỷ giá 0.35%, với các ước lượng đối với mỗi quốc gia riêng rẽ từ ¼ - ½ %
- Tác động của chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái được tìm thấy sẽ xảy ra gần như ngay lập tức Nếu tác giả sử dụng một cửa sổ sự kiện (event window) mà kết thúc sau khi quyết định chính sách được đưa ra, các ước lượng cũng không thay đổi, chỉ báo rằng các thông tin được phản ánh nhanh chóng vào trong tỷ giá hối đoái Mặc dù, sử dụng một cửa sổ sự kiện hẹp trong đó không có các sự kiện định dạng khác xảy ra, cú sốc chính sách tiền tệ chỉ giải thích khoảng 10 -20% sự biến động của tỷ giá Nhìn chung, các kết quả đề xuất rằng chính sách tiền tệ chỉ chiếm một phần nhỏ trong các biến động quan sát được của tỷ giá hối đoái
Thứ 2, bài nghiên cứu này đưa ra một bằng chúng mới rằng không phải tất
cả các bất ngờ trong chính sách đều dẫn đến những hiệu ứng giống nhau lên tỷ giá
Sự kỳ vọng vào chính sách tương lai được tìm ra có tác động lớn hơn các bất ngờ trong chính sách tại thời điểm ra quyết định thay đổi chính sách Một sự gia tăng 1% (0.25%) cuar lãi suất hiện tại và lãi suất tương lai làm tăng tỷ giá khoảng 1.7% (0.4%) Các kết quả ước lượng cho các quốc gia đơn lẻ khoảng 1.3 – 2.2% ngược lại một bất ngờ trong chính sách chỉ dẫn đến một sự thay đổi có thể đoán trước chỉ 0.9% (0.2%) Các kết quả này, đưa ra sự tiên đoán không biết trước sự thay đổi của
tỷ giá cân bằng trong dài hạn, bởi vì sự phản ứng ngay lập tức trong tỷ giá hối đoái cao hơn so với lý thuyết ngang giá lái suất đã đề xuất, đưa thêm một sự khó hiểu của thực nghiệm
1.1.2 John B Taylor (2001):
“The Role of the Exchange Rate in Monetary Policy Rules”
Trang 18Trong bài nghiên cứu này, Taylor tổng hợp và tóm tắt các nghiên cứu về vai trò của tỷ giá hối đoái trong quy luật chính sách, đồng thời đưa ra các lời giải thích hợp cho các kết quả trước
Tác giả xem xét lại các ngụ ý trong một số nghiên cứu gần đây về tính đưa ra một chính sách tiêu chuẩn: Laurence Ball (1999), Lars Svensson (2000), and myself (1999b) Các nghiên cứu này xem xét quy tắc chính sách dạng:
Các thông số chính sách là f, g, h0 và h1 Nếu f > 1, g > 0, và h0 = h1 = 0, thì quy tắc chính sách không phản ứng trước tỷ giá hối đoái (Taylor, 1993) Các thông số h trong phương trình bằng 0 là quy tắc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế đóng và khác không là quy tắc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở, tuy nhiên thuật ngữ này có thể dẫn đến nhầm lẫn bởi vì trong thực tế, một chính sách tối ưu có thể thiết lập cho cả
h0 và h1 đều bằng 0, hay xấp xỉ như thế
Một câu hỏi về vai trò của tỷ giá trong quy tắc chính sách là liệu rằng các thông
số h có nên bằng không và nếu như vậy thì giá trị và dấu của chúng như thế nào Ví
dụ, một lời giải thích của quy tắc thực nghiệm được thảo luận bởi Obstfeld và Rogoff (1995) đưa ra rằng h0 nên nhỏ hơn không và h1 bằng không Một tỷ giá cao hơn so với mức độ chuẩn sẽ dẫn đến ngân hàng trung ương giảm lãi suất ngắn hạn, thông qua chính sách tiền tệ nới lỏng
Trang 19Độ trễ của tỷ giá hối đoái trong eq (1) cho phép sự phản ứng động phức tạp hơn
so với chỉ có phản ứng đơn giản của tỷ giá hiện tại Ví dụ, nếu h1 dương và h0 âm nhưng giá trị tuyệt đối của h0 lớn hơn h1, do đó, phản ứng của lãi suất ban đầu bù đắp một phần trong thời kỳ tiếp theo Một giải thích khác của quy tắc thực nghiệm đưa ra bởi Obstfeld và Rogoff là h0 < 1 và h1 = - h0; do đó, lãi suất phản ứng trước sự thay
đổi trong tỷ giá hối đoái; điều này có thể là một giải thích đại số tốt hơn cho ý tưởng
rằng một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến nới lỏng tiền tệ, nhưng không có
mô hình cấu trúc để mô phỏng một cách ngẫu nhiên quy tắc và thật sự khó khăn để tìm ra lời giải thích nào tốt hơn
Ball (1999) tìm ra h0 = -0.37 và h1 = 0.17 Ông tìm ra đây là các giá trị thông số chính sách tối ưu sử dụng trong mô hình nền kinh tế mở đơn giản với giá chậm thay đổi (sticky prices) Dấu hiệu và độ lớn phù hợp với giải thích theo quy tắc thực nghiệm được đề xuất bởi Obstfeld và Rogoff, vì cả h0 và h0 + h1 đều nhỏ hơn không
Do vậy, một sự tăng tỷ giá 10% làm cắt giảm lãi suất 3.7%, được kéo theo bởi một sự
bù đắp 1.7%, ngụ ý rằng phản ứng dài hạn lãi suất giảm 2% Phản ứng âm của lãi suất được đặt tên là mô hình Ball (Ball‘s model) bởi vì tỷ giá tăng có hiệu ứng ngược lại đối với tổng cầu; sự tăng giá làm hàng hóa nước ngoài rẻ hơn và hàng hóa trong nước đắt hơn, do vậy làm giảm xuất khẩu Sự cắt giảm lãi suất làm giảm bớt hiệu ứng ngược lại này
Sự bù đắp lãi suất một phần là bởi vì tác động trễ của sự gia tăng tỷ giá đối với lạm phát Lạm phát được đo lường là thấp tạm thời bởi vì sự tăng tỷ giá, tuy nhiên, bởi
vì sự giảm trong lạm phát là ngắn hạn, điều này không thích hợp cho ngân hàng trung ương nới lỏng tiền tệ bởi vì lạm phát sẽ thấp hơn
Sử dụng một mô hình khác với các tác nhân hướng tới tương lai looking agent) và nhiều hơn các nhân tố vĩ mô hoàn hảo, Svensson (2000) xem xét quy tắc chính sách tương tự như Ball (1999) Svensson tìm ra các thông số h0 = -0.45
(forward-và h1 = 0.45 Mô phỏng của Svensson (2000) chỉ ra rằng quy tắc này làm giảm độ lệch chuẩn của lạm phát từ 2.1 xuống còn 1.8%; tuy nhiên, nó cũng làm gia tăng phương sai của sản lượng từ 1.7 lên 1.8% Vì vậy, quy tắc chính sách, mà phản ứng trước tỷ giá hối đoái theo cách này, có thể phá hỏng output performance
Trang 20Cuối cùng, xem xét nghiên cứu thứ 3 của dạng quy tắc chính sách tiền tệ với một mô hình khác với một sự vận dụng khác Theo Taylor (1999b), tác giả xem xét quy tắc chính sách tiền tệ mà có dạng giống như của Ball and Svensson Các hệ số h0
= -0.25 và h1 = 0.15 và đây là một ứng cử cho quy tắc chính sách tiền tệ cho ngân hàng trung ương Châu Âu (the European Central Bank - ECB) Tỷ giá hối đoái et là tỷ giá dollar – euro Do vậy, sự giảm giá 10% của đồng EURO so với đồng USD tạo ra
sự gia tăng 0.1 điểm phần trăm (10%) trong lãi suất mục tiêu của ECB Thấy rằng các
hệ số này nhỏ hơn so với các hệ số trong nghiên cứu của Ball
Giải thích các kết quả tìm được:
Quy luật chính sách với các thông số được thiết lập bằng không không có phản ứng trực tiếp của lãi suất trước tỷ giá hối hoái, nó có một phản ứng gián tiếp của lãi suất trước tỷ giá hối đoái Dể thấy điều này, giả sử thông số h bằng 0, do đó, lãi suất
sẽ chỉ phản ứng trước lạm phát và sản lượng thực Nhưng, bởi vì quy luật chính sách, chúng ta có thể kỳ vọng rằng nếu lạm phát hoặc GDP thực gia tăng hoặc sụt giảm trong tương lai sau đó lãi suất cũng sẽ tăng hoặc giảm trong tương lai Đặc tính của quy tắc chính sách là đưa ra những kế hoạch dự đoán mà sẽ được sử dụng trong những giai đoạn tương lai
Kết luận:
Một vấn đề quan trọng và vẫn còn chưa ổn định trong chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế mở là ―bao nhiêu trong phản ứng của lãi suất nên có được trước tỷ giá hối đoái trong cơ chế tiền tệ của tỷ giá hối đoái linh hoạt, lạm phát mục tiêu, và quy tắc chính sách tiền tệ các nghiên cứu đến ngày hôm nay chỉ báo rằng quy tắc chính sách tiền tệ mà phản ứng trực tiếp trước tỷ giá hối đoái- cũng như là trước lạm phát và sản lượng – không làm tốt hơn so với lạm phát và sản lượng cân bằng, và thường làm xấu hơn, hơn so với quy tắc chính sách mà không phản ứng trực tiếp tới tỷ giá hối đoái
Bài nghiên cứu này cố gắng giải thích cho kết quả tìm ra bằng cách khẳng định hiệu ứng gián tiếp của tỷ giá hối đoái lên lãi suất hiệu ứng gián tiếp này tồn tại thậm chí nếu ngân hàng trung ương thực thi quy tắc chính sách mà không có hiệu ứng tỷ giá hối đoái trực tiếp Tính ì (quán tính – inertia) kết hợp với các kỳ vọng hợp lý dẫn đến
Trang 21hiệu ứng gián tiếp này Hiệu ứng gián tiếp có thể ưu điểm khi so sánh với hiệu ứng trực tiếp bởi vì biến động lãi suất ít hơn và ổn định hơn
1.2 Các lý thuyết về vấn đề puzzle
Theo Eicehenbaum và Evans(1995) và Grilli và roubini (1995, 1996) khi nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái, tác giả sử dụng định dạng theo đệ quy và tìm thấy đồng nội tệ tăng giá kéo dài trong thời kì 3 năm và hiện tượng này được biết đến với tên gọi là ‗delayed overshooting puzzle‘(nhìn hình bên dưới)(nguồn:………)
Hình 2: Một cách điệu hóa của ―delayed overshooting puzzle‖ Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008): ―New evidence on the puzzles: Results from agnostic identification on monetary policy and exchange rates‖
Gần đây, để làm giảm đi sự giả định mơ hồ theo cách xác định đệ quy Faust và Rogers (2003) bằng cách áp đặt dấu hiệu nhẹ để tìm hiểu mối tác động của chính sách tiền tệ lên tỷ giá và kết quả không có kết quả rõ ràng cho thời gian đạt đỉnh của tỷ giá hối đoái và kết quả cũng đưa ra có một sự chênh lệch lớn so với lý thuyết UIP và cú sốc chính tiền tệ có thể hoăc không là nguyên nhân gây ra độ lệch của tỷ giá hối đoái Ngoài ra sự vi phạm điều kiện UIP cũng được xem là ―forward discount puzzle‖
Trang 22Hình 3: Một cách điệu hóa của ―forward discount puzzle‖ Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008): ―New evidence on the puzzles: Results from agnostic identification on monetary policy and exchange rates‖
Theo Sím(1992) ; Grilli và roubini(1995,1996) khi nghiên cứu chính sách tiền
tệ cho một vài quốc gia ở nước G7 đã xuất hiện một hiện tượng lạ, là khi thắt chặt chính sách tiền tệ có thể dẫn đến đồng nội tệ giảm giá và nó được gọi là hiện tượng exchange rate puzzle(sự khó hiểu của giá) Tác giả cũng nhắc đến trong một paper trước đó (2005)
Hình 4: Một cách điệu hóa của ―exchange rate puzzle‖ Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig, 2005 "New Evidence on the Puzzles Results from Agnostic Identification on Monetary Policy and Exchange Rates
Trang 231.3 Các nghiên cứu dùng mô hình VAR xem xét tỷ giá hối đoái và các
puzzle
1.3.1 Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008)
“New evidence on the puzzles: Results from agnostic identification on monetary policy and exchange rates”
Tác giả kiểm ra tác động của cú sốc chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt sign restricted (áp đặt dấu hiệu hạn chế) theo Uhlig(2005a) lên phản ứng của các biến
Dữ liệu: tác giả nghiên cứu cho ba cặp: US và Germany; US và UK; US và nhật bản trogn thời gian 1975:T07 đến 2002:T07 theo t và tổng 6 quốc gia của G7 với
US trong giai đoạn 1997: T04 đến 2001:T12
Phương pháp: sử dụng mô hình VAR và áp đặt dấu hiệu hạng chế (sign restriction) với hai cách áp đặt
Trong cách áp đặt thứ nhất: để có kết quả vững chắc về hiện tượng ―delayed overshooting puzzle‘ tác giả áp đặt lên giá cũng như là tỷ số lượng dự trữ đảm bảo so với toàn bộ dự trữ là không tăng là không tăng khi thắt chặt chính sách tiền tệ và vì thế tránh được hiện tượng sự bất thường của giá ―prcie puzzle‖ và không áp đặt hạn chế đối với chính sách tiền tệ
Kết quả cách áp đặt thứ nhất:
Trang 24Hình 5: Bằng chứng ―delayed overshooting puzzle‖ theo cách áp đặt thứ nhất Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008): ―New evidence on the puzzles: Results from agnostic identification on monetary policy and exchange rates‖
Trong hình dòng thứ nhất thể hiện đường phản ứng trung vị của tỷ giá hối đoái danh nghĩa Đối với ba cặp quốc gia: khi cú sốc chính sách tiền tệ xảy ra thì đồng nội
tệ tăng giá cho đến khi đạt đỉnh tại một đến 2 năm kéo theo sau đó là sự giảm giá của đồng ngoại tệ và cột cuối cùng là phản ứng của us-G7 cho thấy đồng nội tệ được tăng gia trong một khoảng thời gian dài hơn Dòng thứ hai là phản ứng của tỷ giá hối đoái thực thì tương tự phản ứng tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Cách áp đặt thứ hai: để áp đặt không có hiện tượng ‗delayed overshooting‘ với hai gải định Thứ nhất đô la US đầu tiên sẽ tăng giá khi có cú sốc thắt chặt chính sách tiền tệ xảy ra và sau đó giảm giá một cách dai dẳng thứ hai là chênh lệch lãi suất (trong nước so với nước ngoài) là dương
Kết quả :
Trang 25Hình 6: Bằng chứng ―delayed overshooting puzzle‖ theo cách áp đặt thứ hai Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2008): ―New evidence on the puzzles: Results from agnostic identification on monetary policy and exchange rates‖
Đầu tiên xem xét trong trường hợp của US-Germanu, mặt dù chêch lệch lãi suất gần giống như trước, nhưng phản ứng của tỷ giá hối đoái danh nghĩa rất yếu Phần bù mong đợi dai dẳng và lớn Bằng chứng sai lệch rõ ràng với đường zero chỉ ở phía dưới phân vị 16% ,mẫu hình tương tự cho các cặp còn lại
1.3.2 Almuth Scholl, Harald Uhlig (2009)
“Monetary policy and exchange rate overshooting: Dornbusch was right after all”
Tác giả nghiên cứu giả thuyết exchange rate overshooting của Dornbush là một
từ khóa trung tâm trong kinh tế vĩ mô quốc tế Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 26khác khi nghiên cứu chính sách tiền tệ đã tìm thấy tác động tỷ giá hối đoái không phù hợp với overshooting Kết quả puzzle này đƣợc xem xét bởi nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu này, đặc biệt khi sử dụng mô hình VAR bằng cách áp đặt zero restriction, không xem xét mối quan hệ mạnh mẽ giữa chính sách tiền tệ và sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái Ngƣợc lại, tác giả áp đặt sự trung lập với tỷ giá hối đoái trong dài hạn trong việc xem xét hệ đồng thời giữa tỷ gía hối đóai và chính sách tiền
tệ
- Tác giả nghiên cứu cho 4 nền kinh tế mở nhỏ với chế độ tỷ giá thả nổi cho:
Úc, Canada, New Zealand, Thụy Điển trong thời gian từ Q1:1983 đến Q4: 2004 ngoại trừ New Zealand
Kết quả:
Hình 7:Úc: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2009): ―Monetary policy and exchange rate overshooting: Dornbusch was right after all‖
Không thấy hiện tƣợng
Trang 27Hình 8:Canada: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc Nguồn: Almuth Scholl, Harald UhligNăm (2009): ―Monetary policy and exchange rate overshooting: Dornbusch was right after all‖
Hình 9:New Zealand: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2009): ―Monetary policy and exchange rate overshooting: Dornbusch was right after all‖
Trang 28Hình 10: Thụy Điển: Phản ứng với cú sốc chính sách tiền tệ,dùng VAR cấu trúc Nguồn: Almuth Scholl, Harald Uhlig (2009): ―Monetary policy and exchange rate overshooting: Dornbusch was right after all‖
Kết quả tìm thấy nhƣ hình trên không có bằng chứng về hiện tƣợng puzzle của
tỷ giá hối đoái Khi cú sốc thắt chặt chính sách tiền tệ xảy ra thì ngay lập tức tác động đến tỷ giá hối đoái, đồng nội tệ tăng giá khoảng từ 1.5-4 % Đối với SWEDEN tác động cao nhất ngay tức thời còn đối với các quốc giá khác thì tác động cao nhất là sau một quý Sau đó đồng nội tệ giảm giá dần và quay về trạng thái cân bằng phù hợp với giả thuyết overshooting của dornbush Đối với sản lƣợng thì giảm dần và đạt cực tiểu sau 1.5-2 năm và sau đó tác động nhanh chóng biến mất đối với lạm phát cũng tác động âm và đạt cực tiểu Riêng hai quốc gia Australia và New Zealand, có vài bằng chứng về hiện tƣợng puzzle của giá (lạm phát tăng sau khi có cú sốc thắt chặt tiền tệ xảy ra)
1.4 Các mô hình DSGE trong thực nghiệm:
1.4.1 Jarkko P Jääskelä, David Jennings
“Monetary policy and the exchange rate: Evaluation ofVAR models”
Trang 29Bài viết này với mục tiêu chính là xem xét khả năng của mô hình tự hồi quy (Vector Autoregression model-VAR) trong việc xác định đúng việc truyền dẫn chính sách tiền tệ Hai tác giả cũng ước lượng mô hình DSGE cho nền kinh nhỏ mở (ở đây
là nước Úc)
Trong quá trình nghiên cứu paper tác giả đã áp dụng các phương pháp định tính, định lượng, so sánh giữa các mô hình, phân tích và nêu ra kêt quả bằng các thực nghiệm thực tế từ một dữ liệu thực nghiệm của nước Úc dưới sự ảnh hưởng của một nước lớn cụ thể là Mỹ
Để lấy được ước tính tham số cho các thử nghiệm kiểm soát của tác giả,tác giả ước tính mô hình DSGE của các thông số kỹ thuật Bayesian (cho một cuộc khảo sát, xem An và Schorfheide, 2007) bằng cách sử dụng quỹ dữ liệu Úc và Mỹ theo quý Mô hình của tác giả gồm đường IS, đường cong Phillip, quy tắc Taylor cho trường hợp nước lớn và nước nhỏ ngoài ra còn nhiều phương trình kinh tế vĩ mô khác thể hiện mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá thương mại với nhau
Đối với Mỹ (nước lớn)
dùng thực phẩm lạm phát không bao gồm và năng lượng ( ) và các demeaned US Federal Funds rate ( ) cho giai đoạn mẫu 1984: Q1-2009: Q4 Thời gian mẫu bao
gồm các giai đoạn hậu thả nổi cho đồng đô la Úc
Đối với Úc(nước nhỏ)
Tác giả sử dụng Output Gap của GDP thực ( ), demeaned trimmed-mean inflation excluding interest and taxes ( ), tỷ lệ giảm giá trị tiền mặt RBA ( ) và hệ
số tỉ lệ song phương (BRER) ( ) cho giai đoạn cùng một mẫu
Trước tiên, tác giả ước lượng hàm IRF của mô hình DSGE dùng làm cơ sở so sánh
Trang 30Hình 11: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của DSGE Nguồn: Jarkko P Jääskelä, David Jennings: ―Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models‖
Tác giả xây dựng hai dạng mô hình VAR gồm: VAR dấu hiệu hạn chế, và VAR đệ quy Trong mô hình VAR đệ quy, tác giả phân theo hai cách thiết lập thứ tự
Áp đặt 1: y t* ,t* ,r t* ,y t,t ,r t,q t, trình bày một sự tăng giá tỷ giá hối đoái thực,nhưng độ lớn phản ứng lớn hơn nhiều so với phản ứng trên lý thuyết
Áp đặt 2:y t*,t*,r t*,y t,t ,q t,r t, đã thể hiện exchange rate puzzle, tỷ giá hối đoái sụt giảm do thắt chặt chính sách tiền tệ ; hơn nữa, sản lượng tăng lên đầu tiên trong phản ứng với việc thắt chặt chính sách tiền tệ
Trang 31Hình 12: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của áp đặt 1của VAR đệ quy Nguồn: Jarkko P Jääskelä, David Jennings: ―Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models‖
Hình 13: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của áp đặt 2 của VAR đệ quy Nguồn: Jarkko P Jääskelä, David Jennings: ―Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models‖
Cả hai mô hình VAR đệ quy này đều xuất hiện hiện tượng price puzzle
Trang 32Mô hình VAR dấu hiệu hạn chế được đánh giá tốt hơn so vớiVAR đệ quy trong việc tái tạo các phản ứng xung thực sự đến một cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt Mô hình nắm bắt một cách chính xác các dấu hiệu phản ứng của tỷ giá hối đoái thực trong thực tế
Hình 14: Hàm IRF trước cú sốc chính sách tiền tệ của VAR dấu hiệu hạn chế Nguồn: Jarkko P Jääskelä, David Jennings: ―Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models‖
Kết quả đạt được
Mô hình VAR dấu hiệu hạn chế (sign-restricted VAR models) đã thực hiện khá tốt trong việc đánh giá các phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô đến những cú sốc trong chính sách tiền tệ
Mô hình VAR dấu hiệu hạn chế (sign-restricted VAR models) trái ngược với các mô hình sử dụng loại hạn chế đệ quy không (recursive zero-type restriction) mà trong đó lạm phát có thể tăng lên theo sự gia tăng tỷ lệ lãi suất không mong đợi trong khi tỷ giá hối đoái có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào thứ tự của các biến (ordering
of the variables)
Trang 33Sign-restricted VAR models dường như có thể vượt qua được các vấn đề nan giải liên quan đến tỉ giá hối đoái thực, miễn là các loại cú sốc khác nhau được xác định đầy đủ
Sign-restricted VAR models cung cấp các dấu hiệu chính xác của các phản ứng đẩy (impulse responses), tuy nhiên các sự đo lường xu hướng trung tâm của Sign-restricted VAR models có thể bị lạc hướng và hầu như không bao giờ trùng với các xung lực thật sự (true impulses) Phát hiện này gây nghi ngờ về các khái niệm phổ biến rằng các xung lực trung tâm (median impulses) là việc mô tả khả thi nhất của các quá trình tạo ra dữ liệu (data-generating process)
1.4.2 Thomas A Lubika, Frank Schorfheide
“Do central banks respond to exchange rate movements? A structural investigation”
Bài viết tập trung vào việc xem xét phản ứng của ngân hàng trung ương với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái
Hai tác giả ước lượng mô hình DSGE trong trường hợp nền kinh tế nhỏ mở theo cách tiếp cận Bayesian cho các quốc gia: Úc, Canada, New Zealand và Anh Tác giả đưa vào mô hình phương trình IS, đường cong Phillip, PPP và đặc biệt tập trung vào phương trình chính sách tiền tệ (các hệ số, biến cụ thể sẽ được nhắc đến trong phần sau):
Để kiểm tra xa hơn về lý thuyết xem liệu ngân hàng trung ương của các quốc gia này có thực hiện tỷ giá hối đoái mục tiêu hay không – qua xem xét các hệ số trong
định Odds hậu nghiệm để đưa ra kết luận
Dữ liệu được đưa vào mô hình trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 1983 đến quý 4 năm 2002, ngoại trừ cho New Zealand bắt đầu từ quý 1 năm 1988 Các biến quan sát gồm tốc độ tăng trưởng Output, tỷ lệ lạm phát, lãi suất danh nghĩa, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá thương mại cho Úc, Canada, New Zealand và Anh
Trang 34Kết quả đạt được: Ngân hàng trung ương Úc và New Zealand không thực hiện
tỷ giá hối đoái mục tiêu Ngược lại Canada và Anh đã đưa vào tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong các quy tắc chính sách Ngoài ra, tác giả nhận thấy rằng tỷ giá thương mại không đóng góp có ý nghĩa đến chu kỳ kinh tế trong nước
1.4.3 Tingguo Zheng, Huiming Guo (2013)
“Estimating a small open economy DSGE model with indeterminacy: Evidence from China.”
Bài nghiên cứu này mục đích xem xét lại chính sách tiền tệ của Trung Quốc và mối liên hệ của nó với các biến động vĩ mô với khung phân tích của mô hình DSGE cho các nền kinh tế mở Tác giả sử dụng mô hình DSGE để xem xét vùng tham số cho phép cả tình trạng xác định và bất định
Sử dụng dữ liệu theo quý 1992Q1 – 2011Q4, gồm 5 biến:
Các kết luận
Tìm ra bằng chứng có ý nghĩa về lãi suất, lãi suất phản ứng không chỉ trước độ lệch của lạm phát và chênh lệch sản lượng, mà còn trước sự thay đổi của tỷ giá hối đoái RMB.Chính sách tiền tệ bao gồm tỷ giá phù hợp với dữ liệu thực tế hơn khi không xem xét tỷ giá.Những kết quả này hỗ trợ quan điểm rằng ngân hàng trung ương
ở các quốc gia mới nổi nên xem xét đến vấn đề tỷ giá khi đưa ra chính sách tiền tệ
Mô hình DSGE trong nền kinh tế mở phù hợp hơn trong tình trạng không xác định được cân bằng, điều này chỉ báo rằng sự mất cân bằng trong thực hiện chính sách tiền tệ của PBC Thực tế, tình trạng không xác định gây ra do 2 nguyên nhân: cú sốc sunspot và sự lan truyền không xác định của các cú sốc nhân tố cơ bản, như cú sốc công nghệ, cú sốc sản lượng thế giới và cú sốc lạm phát thế giới Do vậy, hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai dưới tình trạng bất định là rất cần thiết để hoàn thiện phân tích vĩ mô động và đánh giá chính sách tiền tệ ở Trung Quốc
Cú sốc chính sách tiền tệ có một tác động có ý nghĩa lên sự động của nền kinh
tế trong ngắn hạn, trong khi trong dài hạn, nó chỉ ảnh hưởng đến các biến danh nghĩa: lạm phát và tỷ giá hối đoái, và không ảnh hưởng đến sản lượng thực Mặc dù, chính
Trang 35quyền trung ương có thể kích thích tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ, họ phải tuân thủ theo chiến lược điều chỉnh cấu trúc
và công nghiệp mới nổi để duy trì một sự phát triển nhanh và bền vững trong dài hạn
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các lý thuyết và xây dựng mô hình DSGE
2.1.1 Lịch sử và lý thuyết của mô hình DSGE
Mô hình cân bằng động tổng thể chung (DSGE) là một nhánh của ứng dụng lý thuyết cân bằng tổng thể Lý thuyết DSGE cố gắng giải thích các hiện tượng kinh tế tổng hợp, chẳng hạn như tăng trưởng kinh tế, chu kỳ kinh doanh, Và những tác động của chính sách tiền tệ và tài chính, trên cơ sở của các mô hình kinh tế vĩ mô bắt nguồn
từ các nguyên tắc kinh tế vi mô
Hiện đã có một sự thay đổi to lớn và nhanh chóng trong tư duy và mô hình kinh
tế vĩ mô trong thời gian 20 đến 30 năm qua Bướcnhảy vọt của lý thuyết vĩ mô được bắt đầu với paper chuyên đề về mô hình bởi Kydland và Prescott (1982) Mỹ và mô hình RBC Mặc dù có nhiều trường phái khác, nhưng lý thuyết của mô hình DSGE đã dần được chấp nhận nhiều hơn trong những năm qua Ngày nay mô hình DSGE là một công cụ tiêu chuẩn trong các lĩnh vực khác nhau về kinh tế, đặc biệt về kinh tế vĩ mô
và vĩ mô quốc tế Để giải quyết các vấn đề kinh tế tổng hợp với các chu kỳ kinh tế, tăng trưởng, chính sách ổn định về tiền tệ và tài khóa Trong vài năm gần đây đã có nghiên cứu sâu rộng về chính sách tiền tệ trong khuôn khổ của các mô hình mới của Keynes
2.1.2 Các trường phái trong mô hình DSGE
Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (RBC) được xây dựng dựa trên mô hình tăng trưởng tân cổ điển, theo giả định giá linh hoạt, nghiên cứu những cú sốc thực sự cho nền kinh tế như thế nào có thể gây ra biến động chu kỳ kinh doanh Theo bài viết của Kydland và Prescott (1982) thường được coi là điểm khởi đầu của lý thuyết RBC và
mô hình DSGE nói chung
Trang 36Mô hình DSGE theo New-Keynesian xây dựng trên một cấu trúc tương tự như
mô hình RBC, nhưng giá được thiết lập là giá cả cứng nhắc Paper lần đầu tiên giới thiệu khuôn khổ này là Rotemberg và Woodford (1997).Được giới thiệu và nâng cao được đưa ra bởi Gali (2008) và Woodford (2003) Tác động chính sách tiền tệ được quan sát bởi Clarida, Gali và Gertler (1999)
Mô hình DSGE bắt đầu từ sớm những năm 1970 và dần dần phát triển cho đến cuối những năm 1990, trong suốt thời gian ngắn khoảng 30 năm, bắt đầu từ những mô hình khá đơn giản về nguyên mẫu các mô hình về kì vọng hợp lý (1972 lucas) cho đến những mô hình phức tạp giống như nền kinh tế được thấy ở Christiano et al.(2005) Một yếu tố quyết định cho sự phát triển này là do bài viết ―Time to Build and Aggregate Fluctuations‖ của Kydland and Prescott(1982) Điều kiện của mô hình DSGE:
là cá nhân và công ty dựa vào những dự báo tốt nhất về tương lai cái mà họ có thể sản
Trang 37xuất Và được giả định rằng họ có những kỳ vọng hợp lý về trái ngược với ―hành vi quy tắc ngón tay cái‖ của các mô hình nghiên cứu trước đây Bằng cách này, mô hình DSGE là một công cụ mạnh mẽ mà cung cấp một khuôn khổ nhất quán cho thảo luận chính sách và phân tích, với sự giúp đỡ của các quyết định chính sách phân bổ và điều chỉnh, các tác động của chính sách có thể được đánh giá dễ dàng qua xem xét mô hình với các giả định của nó
Mô hình DSGE này không chỉ hấp dẫn trong quan điểm lý thuyết, nó cũng được xem như một công cụ hữu ích cho việc dự báo và phân tích chính sách định lượng trong kinh tế vĩ mô Cùng với những tiến bộ trong mô hình lý thuyết, một nỗ lực nghiên cứu rất lớn được dành cho sự phát triển của các mô hình này về dữ liệu Do phù hợp với chuỗi thời gian được cải thiện, các mô hình này đang được sự tín nhiệm trong chính sách cho các tổ chức như ngân hàng trung ương (An và Schorfheide, 2007) Nó đang cạnh tranh với mô hình VAR về sức mạnh dự báo(Edge và nhiều tác giả khác, 2009.).hơn nữa, nhiều tiến trình nhanh chóng nhằm ước lượng cho mô hình này (Fernsandez-Villaverde, 2009a)
Tóm lại mô hình DSGE cung cấp một công cụ nhằm để phân tích chính sách, tuy nhiên mô hình này luôn mô tả về thực tế nhưng không phải là ánh xạ một- một, tác động của chính sách phải được xem xét chung, đặc biệt phải tính đếnmô hình đơn giản này không thể nắm bắt được tất cả các khía cạnh quan trọng trong thực tế Hơn nữa, vì tính chất phức tạp của các mô hình DSGE và mặc dù nhiều ngân hàng trung ương cũng cố gắng để xây dựng mới hoặc cải thiện sự tồn tại của mô hình DSGE và nó đang được sử dụng để biện minh cho quyết định chính sách tiền tệ được thực hiện bởi những người trong ngân hàng trung ương, phải thừa nhận mô hình DSGE rằng ―không phải sự phán xét của các chuyên gia‖ các nhà chính sách nên đưavào ―so sánh và thêm thông tin của mô hình‖
2.1.3 Các bước xây dựng cơ bản của mô hình DSGE
Stefanie Flotho đã đưa ra các cách thức để xây dựng một mô hình DSGE,giải quyết và so sách với dữ liệu thực tế trong paper: ―DSGE Models - solution strategies‖ như sau:
Trang 38- Bước 1: Thiết lập các mô hình kinh tế
- Bước 2:Nguồn gốc của các điều kiện cân bằng ,cùng với phương trình cấu trúc, xây dựng nên hệ thốngcủa nhữngphương trình phi tuyến ngẫu nhiên khác nhau
- Bước 3: Hệ thống này thường không có một giải pháp phân tích khép kín riêng lẻ mà trong mối liên hệ nhiều phương trình, ước lượng xấp xỉ quanh một vùng cho trước
Hoặc là lấy tuyến tính xấp xỉ (log) xung quanh trạng thái ổn định đạt đến một hệ thống các phương trình tuyến tính khác nhau trong một không gian ổn định và giải pháp của hệ thống này với
sự giúp đỡ của các phương pháp và cách thức thông thường,
định
làm cả 2 điều này
của các cú sốc cơ bảnvà hàm phản ứng đẩy của các biến quan tâm
- Bước 6: Đánh giá của mô hình bằng cách xem xét các biện pháp phù hợp với các dữ liệu
Các đặc điểm kỹ thuật của các giả sử của mô hình thì nên phù hợp với những vấn đề đang được nghiên cứu Mô hình đã giúp tìm ra các câu trả lời phù hợp cho các câu hỏi ví dụ như các cú sốc nào có vai trò cho nền kinh tế.Cơ chế truyền dẫn của các
cú sốc là gì, và làm thế nào chính sách nên được thực hiện để phản ứng với những cú sốc?
Trong một mô hình cân bằng tổng thể mọi lĩnh vực của nền kinh tế được xây dựng độc lập Các bộ phận điển hình của mô hình là tư nhân và khu vực công.Bao gồm người tiêu dùng và doanh nghiệp.Thông thường, người tiêu dùng được mô phỏng như một hộ gia đình đại diện lựa chọn tiêu dùng tối ưu và giải trí trong suốt cuộc đời
Trang 39của họ theo sở thích cá nhân Các công ty, mặt khác thì tối đa hóa lợi nhuận, và đưa ra một số hạn chế về công nghệ.Khu vực công là khu vực bao gồm các nhà làm về chính sách tài khóa và tiền tệ.Chính phủ phụ trách chính sách tài chínhcòn lại ngân hàng trung ương là chính sách tiền tệ.Vậy giả định nên được thiết lập như thế nào để phù hợp với các chính sách Các khu vực công phải theo sau một số quy tắc, rồi ngân sách phải được xem xét thế nào cho phù hợp với các chính sách phúc lợi tối ưu Hơn nữa,
cơ chế thị trường và các thể chế theo các đại lý tương tác phải được quy định cụ thể.Cuối cùng, những cú sốc đã được xác định Tất cả các giả định trên phải được chuyển sang các công thức toán học với các hàm phù hợp với nó
2.1.4 Tổng quan về giải pháp cho mô hình DSGE:
Bước tiếp theo bắt nguồn từ việc dựa vào sự tối ưu của áp đặt thứ nhất và các ràng buộc vủa hộ gia đình, công ty và các khu vực công cua nền kinh tế, các dạng phương trình thường làtỷ lệ kì vọng phi tuyến tính hệ thốngvới hiện tại và / hoặc lùi và / hoặc các yếu tố hướng tới tương lai.Một giải pháp chính xác để hệ thống phi tuyến tính này có thể được tính cho chỉ một vài ví dụ đơn giản Đối với các trường hợp mà không có giải pháp phân tích khép kín, các phương pháp dựa trên xấp xỉ để giải quyết những hệ thống có sẵn và sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo Phương pháp xấp xỉ
là phương pháp quỹ tích và trong hầu hết các trường hợp, điểm tham chiếu là điểm có trạng thái ổn định phi ngẫu nhiên của mô hình Vì vậy, để tiến hành bước tiếp theo điểm dừng xác định của mô hình đã điểm ban đầu cần xem xét Nếu không có điểm như vậy tồn tại, các giả định mô hình phải được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu này
2.2 Mô hình Structural Vector Autoregression (SVAR)
2.2.1 Tổng quan mô hình VAR
VAR là một trong những mô hình phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng chính sách tiền tệ Bởi lẽ mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, biến độc lập ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có ảnh hưởng ngược lại Vì thế cần thiết phải xem xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến cùng một lúc, mô hình VAR ra đời đã giải quyết vấn đề này
Để đơn giản chúng ta xem xét mô hình VAR cấu trúc hai biến và một độ trễ:
Trang 40(1) y t b10b12z t c11y t1c12z t1yt
(2) z t b20b21y t c21y t1c22z t1zt
Trong đó: it ~ i.d( 0 ,2i)
0),
t t
t
z
y c c
c c b
b z
y b
b
1 1 22 21
12 11 20
10 21
12
1 1
Mô hình VAR cấu trúc đơn giản hơn:
(4) BXt 0 1Xt1 t
Chúng ta nhân 2 vế với ma trận B nghịch đảo
t t
BX
1 1
1 0 1
t t
t
e
e z
y a a
a a a
a z
y
2
1 1
1 22 21
12 11 20
(
1
21 12 12
b b
có thể sử dụng phương pháp OLS để ước lượng cho phương trình (6)