Vị thế của người chịu trách nhiệm và người được hưởng quyền không phải là một sự ràng buộc bất di bất dịch đối với một người mà là một quan điểm về vai trò của người đó trong một mối qua
Trang 11 GIGI THIEU
“Phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con
người” là tên một chiến lược chương trình nhằm lông ghép các
mô hình và điều khoản của Công ước về quyền trẻ em vào
những chương trình phát triển của UNICEE Cách tiếp cận này
được chính thức đưa ra vào năm 1998 trong một chỉ thị của Ban
Diéu hanh UNICEF va được nhấn mạnh lại trong một bản báo
cáo trình lên Hội đồng Chấp hành của UNICEF năm 19991
Phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người
yêu cầu đặt những mục tiêu chương trình ngắn hạn trong
khuôn khổ các mục tiêu dài hạn nhằm thay đổi cơ bản những
điều kiện sâu xa luôn cản trở việc thực hiện đầy đủ Công ước về
quyền trẻ em và Công ước xóa bỏ tất ca các hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ” Nói cách khác: mục đích cuối cùng của cách
tiếp cận chiến lược này là củng cố những quá trình cải cách xã
hội và văn hóa của đất nước theo hướng tôn trọng và thực hiện
các quyền của trẻ em và phụ nữ”
1 UNICBE: "Hướng dẫn cách thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền
con người", (CF/EXD/1998-04); Chương trình Hợp tác vì Trẻ em và Phụ nữ,
nhìn từ quan điểm quyển con người (E/ICEF/1999/11), Niu Oóc
2 Sđd, Xem thêm UNICBE: "Sách hướng dẫn Chính sách và Quy trình
Chương trình", Niu Oóc, 5-2008, tr.4-12
Sử dụng phương thức “Làm chương trình dựa trên cơ sỞ
quyền con người” không có nghĩa là cách làm việc của UNICEF
từ trước tới nay phải thay đổi hoàn toàn Tuy nhiên, khái niệm này đưa ra một cách nhìn mới về thiết kế, thực hiện và đánh giá chương trình Hai nhận định sau đây là nét quan trọng đối với
cách tiếp cận này: 1 Trẻ em là chủ thể của các quyền; 2 Quyền trẻ em được dựa trên mối quan hệ cơ bản giữa trẻ em — người
được hưởng quyền và có quyền yêu cầu - với tất cả những người lớn trong bộ máy nhà nước, cộng đồng và gia đình là những người có trách nhiệm pháp lý thực hiện các đòi hỏi đói Cách
tiếp cận “Làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người” ủng
hộ cách hiểu mới về trẻ em như là chủ thể của các quyền trong
một thế giới ngày càng phức tạp và trong một xu hướng toàn cầu theo hướng pháp quyền và dân chủ hóa Cách tiếp cận này
nhấn mạnh sự hỗ trợ kỹ thuật để thể chế hóa các quyền của trẻ
em và biến thành trách nhiệm của luật pháp và chính sách, do
đó thúc đẩy việc xây dựng một nhà nước và môi trường gia đình
bạn hữu với trẻ em Một giá trị nữa đối với trẻ em của cách tiếp
cận này là các chương trình dựa trên cơ sở quyền đề cao lòng tự
1 Vị thế của người chịu trách nhiệm và người được hưởng quyền không phải là một sự ràng buộc bất di bất dịch đối với một người mà là một quan điểm về vai trò của người đó trong một mối quan hệ đã xác định về luật pháp, như đã được nêu ra rất thích hợp tại Hội nghị Tư vấn toàn cầu của UNICEF
về “Cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển”: “Một cá nhân thường có hai vị thế: có quyền và chịu trách nhiệm nhưng cho các quyền khác nhau Lập kế hoạch dựa trên cơ sở quyền yêu cầu người ta phải công nhận và làm việc với những người được hưởng quyền ở tất cả các cấp trong xã hội (Hội nghị Tư vấn toàn cầu của UNICEF về cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người, Dar es Salaam (Tanzania), 2009 Báo cáo tóm tắt
va Kién nghi, UNICEF: Niu Oéc, 2002)
Trang 2trọng, tính sáng tạo và niềm vui (tóm tắt là nhân phẩm) thông
qua những cơ hội ngày càng nhiều để tham gia trong gia đình,
trường học, cộng đồng và xã hội Cách tiếp cận thực hiện chương
trình dựa trên cơ sở quyền cũng đã được các nhà lập kế hoạch
và những người có trách nhiệm thực hiện các quyền dân sự của
trẻ em tiếp nhận Cách nhìn này càng làm cho mọi người quan
tâm hơn đến sự bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, xâm hại, bỏ mặc, bóc
lột và đề ra trong các chương trình nghị sự phát triển những
nhiệm vụ mới như cải cách sự chăm sóc trẻ em ở trung tâm, ở cơ
sở hoặc nâng cao sự thực thi luật pháp chống lại những kẻ xâm
phạm quyền trẻ em
Quan điểm “quyền”, do đó đã làm các cán bộ chương trình
UNICEF quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng pháp luật, các
chính sách công, ngân sách và đến việc thực hiện dịch vụ lồng
ghép liên ngành Quan điểm đó nhấn mạnh sự tham gia của
cộng đồng, thông tin và truyền thông như một phương tiện để
nâng cao quyền lực của người dân Nó làm tăng bản chất của sự
cộng tác giữa UNICBF với các phong trào xã hội dân sự và đề ra
những mục tiêu xây dựng các cơ chế giám sát quyền trẻ em và
xử lý những tố cáo, khiếu nại về vi phạm quyền trẻ em
Chúng ta không nên quên rằng, phương thức làm chương
trình dựa trên cơ sở quyền con người này của UNICEF là sự
tích lũy các bài học thu được từ những chương trình vì trẻ em
trong nửa cuối của thập kỷ trước Trong rất nhiều địp, UNICEF
đã chỉ ra rằng mặc dù các cế gắng phát triển trong những năm
1990 đã rất thành công trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em tuy
nhiên lại ít thành công hơn trong việc đạt những mục tiêu khác
với các nguyên nhân phức tạp hơn, ví dụ như suy dinh dưỡng protêin năng lượng và tử vong bà mẹ Theo quan điểm này, phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người
cố gắng xem xét các bài học này bằng cách giải quyết các vấn
đề phức tạp thông qua các cách tiếp cận mang tính chương trình có chiều sâu hơn!
Xây dựng năng lực để đòi hỏi quyền và thực hiện các nhiệm
vụ là ý kiến chủ đạo thứ hai về những chương trình dựa trên cơ
sở quyền” Có ba năng lực mà các chương trình dựa trên eơ sở quyền cần phải củng cố với những người có trách nhiệm công và
tư Trước hết, thông qua tuyên truyền vận động, hỗ trợ kỹ thuật
và những hoạt động truyền thông, phương thức tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người có thể ảnh hưởng đến những người chịu trách nhiệm thực hiện và những
người được hưởng quyền để thực hiện hay đồi hỏi quyền trẻ
em Thit hai, các chương trình này có thể góp phần xây dựng quyền của người chịu trách nhiệm thực hiện và người được
hưởng quyền thực hiện những hoạt động để thực thi những quyền thông qua việc phát triển pháp luật và chính sách
cũng như qua truyền thông và giáo dục Thứ ba, các chương
trình dựa trên cơ sở quyền có thể hỗ trợ những người có trách nhiệm thực hiện và những người được hưởng quyền tiếp cận các nguồn lực cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ hay đòi hỏi
quyền của họ thông qua tập huấn, cung cấp hàng hóa và hỗ
trợ tài chính”
1, 2, 3 Xem Jonsson, Urban: "CAch tiép cận làm chương trình phát triển dựa trên cơ sở quyền con người", UNICEF, Kenya, 2003, tr.9, 21, 23
Trang 3Vì mối liên quan giữa người được hưởng quyền và người có
trách nhiệm thực hiện đối với cách tiếp cận dựa trên cơ sở
quyền có tầm quan trọng cốt lõi, nên các chương trình cần phải
được dựa trên sự hiểu biết sâu sắc những điều kiện lịch sử và
chính trị cho việc xây đựng năng lực về quyền con người Vì lý
do đó, cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền có
tác động đặc biệt đối với sự phân tích tình hình và làm kế hoạch
chiến lược Hướng dẫn chương trình của UNICEEF đề xuất ba
mặt cơ bản của sự phân tích chương trình:
1 Phân tích quan hệ nhân quả: mô tả những thách thức lớn
đối với các quyền trẻ em cũng như những nguyên nhân trực
tiếp, sâu xa và mang tính cấu trúc, bao gồm các đề nghị giải
quyết một cách tốt nhất
2 Phân tích cấu trúc mô hình: phân tích tại sao và như
thế nào mà các cá nhân và cơ sở chịu trách nhiệm thực hiện
quyền trẻ em lại không làm đúng trách nhiệm của họ, không
đòi hỏi quyền trẻ em, triển khai các lĩnh vực chính của xây
dựng năng lực và tuyên truyền vận động để khắc phục những
tổn tal
3 Phân tích nguồn lực: xem tất cả các cấp có liên quan của
nhà nước và xã hội có phân bổ và quản lý đẩy đủ các nguồn
nhân lực, tài lực và tổ chức không?!
Từ khi phương thức này được đề ra vào năm 1998, nhiều
cuộc tập huấn và nghiên cứu điển hình được tiến hành trên
1 Xem UNICEE: "Hướng dẫn về Cách tiếp cận làm chương trình dựa
trên cơ sở quyền con người Niu Oóc: CF/EXD/1998-04
khắp thế giới! UNICEF đã thực hiện và xuất bản một nghiên
cứu phân tích rất tốt về lý thuyết và phương pháp? và UNICEF
đã tổ chức một số cuộc họp tư vẫn toàn cầu về cách tiếp cận nay
1 Xem UNICEF Khu vực Đông Phi: "Triển khai Khu vực Đông Phi về Hướng dẫn UNICGBF toàn cầu về làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người", Nairobi, 2001; UNICEF Khu vực Nam A: "Tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người", Kathmandu 2001; UNICEF Pakixtan: "Cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người (RBAP)", Islamabad, 2000; UNICEF Déng A va Thai Binh Dương: "Báo cáo về Tập huấn khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho giảng viên, Băng-cốc, 1998; UNICEF khu vực Mỹ Latinh: "Làm chương trình dựa trên cơ sở quyển ở LAC", Quito, 2003; UNICEE Peru: "Tổng quan chương trình quốc gia UNICEF dua trên cơ sở quyền con người: Trường hợp của Peru", 2002; UNICEF Ecuador: "Ngân sách và quyển", 2003; Rebeca Rios-Kohn: "Lồng ghép cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người trong chương trình quốc gia: Kinh nghiệm của UNICBF ở Gioócđani", 2003; Kari Egge: "Kinh nghiệm của UNICEF Iran về chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh Iraq", Teheran, 2008; Alison Raphael: "Đánh giá ứng dụng HRAP/CCD vào các chương trình HIV/AIDS", Nairobi, 2003; Ruth Phiri "Sự thay đổi chất lượng cuộc sống thông qua cách tiếp cận dựa trên quyền đối với sự quản lý lồng ghép dựa trên cộng đồng các bệnh của trẻ em — Một nghiên cứu điển hình HRAP C-CIMCI ở Malawi", Lilongwe 5-2003; Rebeca Rios-Kohn: "Lam chucng trình dựa trên quyền: Kinh nghiệm của Mali", Mali, 2003; Alison Raphael: "Muéi 1A ké thù: Thực hién CCD để phòng chống sốt rét ở Môdămbích", Maputo, 2003; UNICEF Eritrea: "Tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền: Trường hợp của Britrea", Eritrea, 2003; Joan French: "Biến quyền được học tập trở thành sự thật: Burkina Faso", 2003; Charulata Prasada: "Nghiên cứu trường hợp điển hình: Hoạt động hóa làm chương trình dựa trên cơ sở quyền", UNICEF Nepal, 2001; UNICBE: "Sự tham gia của thiếu niên vào các hoạt động của chương trình trong điều kiện có xung đột và sau xung đột", Niu Oóc,
2003
2 Xem Jonsson, Urban: Sdd
Trang 4ở châu Phi/Tanzania (2002), ở châu Mỹ Latinh/Ecuador (20083)
và châu Á/Việt Nam! Do những cố gắng này, phương thức làm
chương trình dựa trên cơ sở quyền con người đã trở nên phổ
biến và là một khái niệm được thảo luận sâu rộng ở ƯNICBE
Trong một cuộc khảo sát tại 165 văn phòng UNICBEF ở các nước
trong năm 2002, hầu hết những người quản lý cấp cao đều nói
rất quen thuộc với cách tiếp cận này? Tuy nhiên, khảo sát ấy
cũng cho thấy khái niệm này không được nhiều cán bộ chuyên
môn biết đến, điều này cũng chứng tỏ sự vận dụng thực tế của
cách tiếp cận này chưa được triển khai nhiều như các cuộc thảo
luận có tính khái niệm về cách tiếp cận Một đánh giá những
báo cáo hàng năm của UNICEEF và các văn bản chương trình
khẳng định là cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở
quyền còn hạn chế về phương điện rõ ràng và chưa kết hợp thật
chặt chẽ với những mặt cụ thể của cách tiếp cận này như: luật
pháp, các chính sách công, sự tham gia và tính trách nhiệm”
Phương thức làm chương trình dựa trên quyền con người
không chỉ giới hạn trong nội bộ UNICEF Đó là một phần của
quá trình lịch sử và chính trị hóa rộng lớn của việc điều chỉnh
1 Xem UNICEE: "Hội nghị Tư vấn toàn cầu về cách tiếp cận làm chương
trình dựa trên cơ sở quyền con người", Dar es Salaam, Tanzania, 2002;
UNICEF: "Ky yếu Cuộc họp tư vấn toàn cầu UNICEF lần thứ hai về cách tiếp
cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền ở ƯNICEF", Quito, 2003
2 "Phòng bảo đảm chất lượng và hướng dẫn chương trình, Cần sự hướng
dẫn nào? Cuộc khảo sát nhanh tại cơ sở về hướng dẫn chương trình chính",
UNICEF, Niu Oéc, 2003
3 Xem Caroline và Moser, Annalise: "Tiến lên cùng quyền con người
Đánh giá hoạt động vận dụng thực tế cách tiếp cận dựa vào quyền con người
trong cách làm chương trình của UNICEF", Niu Oóc, 2003
lại hướng hỗ trợ phát triển quốc tế Nội dung chính trị sau sự
xuất hiện của viện trợ phát triển giữa thế kỷ trước —- như đấu
tranh giành độc lập trong thế giới đang phát triển, sự liên kết của thế giới các nước phát triển, sự xung đột chính trị giữa các
siêu cường trong chiến tranh lạnh — đã mất đi rất nhiều Điều
này đã làm cho những nhà lãnh đạo ở các nước phát triển dần dần không quan tâm đến tính chất bức bách về xã hội và chính trị của viện trợ phát triển Sự cam kết tài chính ngày một giảm
cho Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là một minh chứng
của xu hướng này Vì cuộc thảo luận truyền thống về phát triển
đang mất đi sự hấp dẫn về chính trị và tài chính, người ta đã
bắt đầu suy nghĩ lại một cách rộng rãi hơn về viện trợ phát triển và đi tìm những mô hình mới cho sự hợp tác quốc tế Một trong những mô hình đó là cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ
sở quyền con người
Một số ý tưởng và thông lệ chính trị đã đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của cách tiếp cận mới này! Một nguồn quan
trọng cho phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người được những nhà làm luật và các chuyên gia về phát triển hết sức nỗ lực nghiên cứu kỹ càng nhằm khai thác những tác động thực tế của các công ước quốc tế về quyền con người đối với pháp luật, chính sách và chương trình quốc gia Một loạt đầu vào nữa là từ những đòi hỏi xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa của các phong trào nhân dân trên khắp thế giới ví dụ như những phong trào của phụ nữ và người bản địa Một cơ sở thứ
ba của phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con
1 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sự nổi lên của các quyển, Tóm tắt chính sách, 17-8-2003
Trang 5người đã nổi lên trong các cuộc thảo luận học thuật và chính trị
xung quanh các khái niệm quyền công dân và quản trị Và một
dòng thứ tư nữa có liên quan đến nhận thức lại về vai trò của
nhà nước trong các nước đang phát triển sau những kinh
nghiệm xã hội với hai thập kỷ lẫn lộn giữa các mô hình và chính
sách tân tự do Một số tác giả đã chỉ ra rằng:
“Chương trình phát triển dựa trên cơ sở quyền phải được
đặt trong mối quan hệ với toàn cầu hóa và những tư tưởng tân
tự do trong những năm gần đây đã là động cơ của phát triển
Sau một thời gian nhà nước lui về phía sau, các yêu cầu mới lại
mong muốn nhà nước đóng một vai trò tích cực hơn nữa trong
phát triển Về khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng cộng
đồng quốc tế và các đối tác đang cố gắng căn cứ vào những
chương trình dựa trên cơ sở quyền để định nghĩa lại nhà nước
hiện đại ”
Vô số kinh nghiệm và quan điểm nhiều mặt về một cách
tiếp cận dựa trên cơ sở quyền đang tạo ra một cuộc thảo luận lý
thú trong nhiều tổ chức phát triển về ý nghĩa chính xác và
những tác động thiết thực của khái niệm này
“Mặc dù một số người tin rằng những cách tiếp cận mới dựa
trên cơ sở quyền hứa hẹn tiểm năng cho một sự thay đổi cơ bản
1 Xem Fisher, Ele; Acre, Alberto: "Thiét ché hóa quyền và sự đòi hỏi quyền ở
địa phương", On£rac, số 23, tháng Giêng 2003, tr.7; xem thêm Nelson, Paul J.;
Dorsey, Ellen: "Ở mối quan hệ giữa quyền con người và sự phát triển: Những
phương pháp và chiến lược mới của các tổ chức phi chính phủ toàn cầu" Phớt triển
thế giới, t 31, số 12, tr 2014; Stavenhagen, Rodolfo: "Nhu cầu, quyền và Phát
triển xã hội", Viện Nghiên cứu phát triển xã hội của Liên hợp quốc, 7-2003,
Frankovits, Andre: "Quy tắc cuộc sống Sự tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở
quyển con người" Praxis Chuyén san nghiên cứu phát triển của Đại học Luật và
Ngoại giao Fletcher, Viện Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr 9-17
và tích cực đối với các mối quan hệ của những cơ quan phát triển quốc tế với các chính phủ và xã hội dân sự ở các nước đang tiếp nhận tài trợ, nhiều người khác vẫn còn mơ hồ, lúng túng về tính thích hợp của những phương pháp đó đối với việc thực hiện những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ Một vài nhà quan sát
nghi ngờ rằng các cơ quan đã lạm dụng ngôn ngữ “các quyền” mà không thay đổi niềm tin cơ bản của hợ”
Những người khác đã chỉ ra rằng phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người đã thành công trong việc hướng dẫn các tổ chức quyền con người chủ đạo cũng như các tổ chức phát triển nhằm tiến tới một sự hiểu biết tổng hợp về các quyền chính trị và dân sự, văn hóa, xã hội và kinh tế càng có tầm quan trọng như vậy để thực hiện đầy đủ quyền con người:
“Cho đến gần đây, các chính phủ tài trợ đã quan tâm chủ yếu
đến việc cố gắng định nghĩa khá hẹp về quyền con người có liên quan đến những quyền tự do chính trị và đân sự như là một mặt của việc quản lý tốt Người ta thông hiểu sự tiếp cận dựa trên cơ sở quyền là rộng hơn thế bởi vì tất cả các quyền, trong đó có các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được coi là không thể chia cắt được, có quan hệ tương hỗ và phụ thuộc vào nhau””
1 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sđở, xem thêm: Uvin, Peter: "Về cơ sở đạo đức cao: Sự hợp nhất quyển con người của các cơ sở phát triển", Praxis Chuyên san nghiên cứu phát triển của Đại học Luật và Ngoại giao Fletcher, Viện Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr.19-26 và Slim, Hugo: Cần coi trọng đạo lý: Quyền như cuộc đấy tranh cho công lý và Sự tiến bộ phát triển", Sđd, tr 27-30
2 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sđởd, xem thêm: Appleyard, Susan:
"Cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở quyển: Các văn kiện chính sách của Liên hợp quốc, các cơ quan phát triển và phi chính phủ nói gì", Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) Băng-cốc 2002 và Nguyen, Flore:
"Những nét nổi lên của chính sách phát triển dựa trên cơ sở quyền của Liên hợp quốc, các cơ quan hợp tác và phát triển và phi chính phủ", OHCHR:
Trang 6Những tổ chức ủng hộ nhiệt tình nhất phương thức làm
chương trình dựa trên cơ sở quyền con người là các tổ chức xã
hội và các tổ chức phi chính phủ như Radda Barnen! Một vài tổ
chức tài trợ song phương cũng đã nghiên cứu và ủng hộ cách
tiếp cận mới này như Cơ quan phát triển quốc tế Anh (DFTID),
Cơ quan phát triển quốc tế Thụy Sĩ (DEZA) và đặc biệt là Cơ
quan phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida)? Trong khi Ngân
hàng Thế giới còn đang chưa thật đứt khoát với phương thức
làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người này, các cơ
quan Liên hợp quốc đã tiến tới một sự hiểu biết thống nhất sơ
bộ về cách làm chương trình dựa trên cơ sở quyền? Sự hiểu biết
Băng-cốc, 2002
1 Xem Lage Bergström: "Bài học rút ra từ các cuộc thảo luận về quyền trẻ
em: Những kết luận từ các bản báo cáo đánh giá", Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy
Điển, 2001; "Làm chương trình về quyền trẻ em: Làm thế nào để áp dụng những
cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền", Tổ chức cứu trợ trẻ em
Thụy Điển, 2002; Julian Y Kramer: "Làm chương trình về quyền trẻ em — Những
kinh nghiệm từ Tổ chức cứu trợ trẻ em Nauy", Oslo, 2003
2 Xem Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA): "RBM va su tham gia
của trẻ em: Hướng dẫn lồng ghép những kết quả của sự tham gia của trẻ em
vào các chương trình của CIDA", Canada, 2002; Laure-Hélène Piron: "Rút ra
các bài học từ cách tiếp cận Hỗ trợ phát triển dựa trên quyền của Cơ quan
phát triển quốc tế của Anh, ODI, London, 2003; Phil Evans: Lỗổng ghép quyền
con người vào phát triển: Công tác đang triển khai ở Cơ quan Phát triển quốc
tế Anh", Quito, 2003; Sida: "Giáo dục, dân chủ và quyền con người trong Hợp
tác Phát triển Thụy Điển", Thụy Điển, 4-2001
3 Về UNDP và làm chương trình dựa trên cơ sở quyền, xem Hijab,
Nadia: "Điểm lại chương trình dựa vào quyền con người ở UNDP", 10-2002; Về
quan điểm của Ngân hàng Thế giới về cách tiếp cận làm chương trình dựa
trên cơ sở quyền, xem sự phân tích tuyệt vời của Brodnig, Gernot: "Ngân hàng
Thế giới và Quyền con người: Nhiệm vụ không thể thực hiện được?" Prưxis,
Vién Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr.41-51
chung này đòi hỏi các chương trình hợp tác phát triển do Liên
hợp quốc hỗ trợ cần “đẩy mạnh” việc thực hiện quyền con người
như đã được quy định trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con
người và những văn kiện quốc tế về quyền con người khác Các
chương trình phát triển cần nhằm mục đích nâng cao khả năng
của những người thực hiện nhiệm vụ làm tròn nhiệm vụ của họ
và khả năng của những người có quyền thụ hưởng các quyền
của họ!
Sự thống nhất chung về phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền là một bước quan trọng đối với các cơ quan Liên hợp quốc để hỗ trợ cho việc thực hiện Tuyên bố Thiên niên
kỷ với toàn bộ ý nghĩa đầy đủ của nó Tuyên bố Thiên niên kỷ
năm 2000 nhấn mạnh những nguyên tắc quyền con người,
quyền trẻ em, dân chủ và quản trị tốt cho hòa bình thế giới và phát triển: “Chúng ta công nhận rằng, ngoài những trách
nhiệm riêng của chúng ta đối với các xã hội, chúng ta có trách nhiệm chung là đề cao các nguyên tắc về nhân phẩm, bình đẳng
và công lý ở cấp toàn cầu Là người lãnh đạo, chúng ta có trách nhiệm và nhiệm vụ đối với dân chúng toàn thế giới, đặc biệt đối
với những người dễ bị tổn thương nhất, nhất là trẻ em mà tương lai chính sẽ thuộc vào các em””
1 Xem "Cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người đối với Hợp tác và Phát triển: Tiến tới sự hiểu biết chung giữa các cơ quan Liên hợp quốc", Báo cáo của Hội thảo liên cơ quan lần thứ hai về thực hiện cách tiếp cận dựa trên
cơ sở quyền trong khuôn khổ của công cuộc cải tổ Liên hợp quốc, Stamdford, USA, 5 dén 7-5-2003
2 Xem Nghị quyết 55/2 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Tuyên bố Thiên niên bỷ, Niu Oóc, 9-2000
Trang 72 QUYỀN TRẺ EM VÀ QUÁ TRÌNH “ĐỔI MỚI”
Ở VIỆT NAM
Việt Nam đang trải qua một quá trình chuyển đổi kinh tế
và xã hội cực kỳ nhanh, phức tạp và khó khăn được biết tới là
quá trình “đổi mới” Quá trình đó là bối cảnh xã hội và chính
trị có tác động đến tình hình quyền trẻ em ở Việt Nam Quá
trình này bắt đầu năm 1986, khi Đại hội lần thứ VI, Đảng
Cộng sản Việt Nam quyết định đổi mới toàn diện đất nước
“Đổi mới” được dựa trên ba quá trình cơ bản: 1) quá độ từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có
định hướng xã hội chủ nghĩa và sự quản lý của nhà nước, 9)
tăng cường pháp quyền và sự tham gia của công đân vào quá
trình ra quyết định và 3) có chính sách mở cửa đối với tất cả
các nước trên thế giới Các quá trình đó đã đánh dấu sự phát
triển của xã hội Việt Nam và đã mở đường cho việc đưa những
quyền của trẻ em và phụ nữ vào các chương trình và dự án cho
trẻ em và phụ nữ
Các văn kiện của Đại hội VI đã dùng từ “quyền”, nhưng
ngôn từ này được thể hiện bằng các khái niệm như “dân chủ” và
“quyền”: “Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chế hóa
bằng pháp luật và tổ chức Dân chủ đi đôi với kỷ luật, quyển
hạn và lợi ích đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ Mỗi người đều
phải làm chủ lao động của mình, làm việc có kỷ luật, với năng
suất và hiệu quả cao đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây
dựng đất nước”!
Mặc dù những quy định chung của Đại hội VI là đẩy mạnh cải cách kinh tế nhưng trong một chừng mực nào đó, sự dân chủ hóa, những đường hướng của đại hội cho các lĩnh vực xã hội đặc biệt phù hợp với những đối tác và chương trình của UNICBF vẫn còn gắn chặt vào các tư tưởng truyền thống Những phương châm này tập trung vào một số các vấn đề chính sách xã hội hiện nay
và vẫn được xem là hàng đầu trong chương trình xã hội của Việt Nam như: tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khỏe ban đầu, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục trẻ thơ, giáo dục tiểu học, trung học
và đại học cũng như dạy nghề, văn hóa, bảo hiểm an toàn xã hội
và quan tâm đặc biệt đến dân tộc thiểu số Nhưng trong năm
1986, những chủ đề này mới chỉ được đề cập đến và thiếu hẳn
một loạt vê mục đích và mục tiêu, chiến lược cụ thể
Trong năm 1989, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á chấp nhận và phê chuẩn Công ước về quyển trẻ em và là nước thứ hai trên thế giới đã làm việc này Năm 1989 và những năm sau đó
là sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Tình hình
quốc tế này có tác động sâu sắc đến Việt Nam Các viện trợ tài chính, vật chất và kỹ thuật từ các quốc gia Đông Âu ngừng đột ngột Để đáp ứng với tình hình quốc tế mới, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đẩy nhanh cải cách kinh tế nhưng giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn biện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ VỊ,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.111
Trang 8Thành công của cải cách kinh tế rõ ràng đã làm Ban lãnh
đạo Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 tái khẳng
định và mở rộng đường hướng đã triển khai trong các năm qua
và bổ sung một khung thời gian đầy kỳ vọng: “Từ nay đến năm
2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp”! Một kế hoạch chi tiết về hiện đại hóa kinh tế đã
được đề ra hỗ trợ cho quyết định này, bao gồm sự thu hút đầu tư
nước ngoài và bảo đảm sở hữu tư nhân nhằm khuyến khích các
nhà tư sản tư nhân đầu tư hoạt động kinh doanh lâu đài
Những văn kiện của Đại hội lúc đó cũng có một chương trình rõ
ràng, tập trung và chi tiết hơn về các chính sách xã hội hơn năm
1986: tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế, kế
hoạch hóa gia đình và đấu tranh chống “các tệ nạn xã hội.” Đây
là lần đầu tiên khái niệm này được đưa vào những chính sách
công Một yêu cầu mạnh mẽ về phân cấp quản lý của bộ máy nhà
nước cũng như cải cách hệ thống tư pháp và đấu tranh chống
tham nhũng cũng xuất hiện vào thời gian này Có nhiều tài liệu
nói đến những nhu cầu của trẻ em và người chưa thành niên,
nhưng không đề cập về quyền trẻ em
Đồng thời, Việt Nam bắt đầu đóng một vai trò quốc tế nổi
bật trong hệ thống Liên hợp quốc Việt Nam được bầu là Phó
Chủ tịch của Hội đồng Chấp hành UNICEF giai đoạn 1996 —
1998, được bầu vào Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc giai
đoạn 1998 — 2000 và vào Hội đồng Chấp hành của UNDP/UNFPA
(Chương trình Phát triển Liên hợp quốc - Quỹ Dân số Liên hợp
quốc) giai đoạn 2000-2002 Tiếp theo, Việt Nam cũng phê chuẩn
Công ước số 182 của Tổ chức Lao động quốc tế (LO) chống lại
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.80
các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em trong năm 2000,
cũng như hai Nghị định không bắt buộc của Công ước về quyền
trẻ em trong năm 2001 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em và Nghị định
thư về việc lôi kéo trẻ em tham gia xung đột vũ trang)
Đại hội Đảng lần thứ IX đã đi theo đường lối của các Đại hội Đảng trước, và còn chi tiết hóa và nhấn mạnh các mục tiêu, kế hoạch và chiến lược cho quá trình cải cách Đại hội Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001- 2010) tiến tới mục tiêu công nghiệp hóa năm 2020, một kế hoạch kinh tế - xã hội 5 nam cũng như nhiều chương trình có cơ
sở bền vững cho người nghèo và người dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, ý tưởng dịch vụ y tế tư nhân cũng được nêu ra (“nhằm
phát triển dịch vụ khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân thử thí điểm liên doanh giữa dịch vụ y tế nhà nước và nước ngoài,
các ngành y tế và được”)
Việc bổ nhiệm ông Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư mới
làm cho mọi người hy vọng sự cam kết mạnh mẽ liên tục của
Đảng đối với quá trình cải cách' Thực vậy, sau Đại hội IX cua
Đảng, Chính phủ đã triển khai nhiều quyết định kinh tế để đẩy
mạnh hơn nữa tốc độ của quá trình cải cách, Việt Nam đã ký một Hiệp ước thương mại song phương với Hoa Kỷ trong tháng
12 năm 2009, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua một quy định cho phép đẳng viên kinh doanh Những quyết định này đã đẩy mạnh thêm sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân Sự phát triển này thực tế đã có sau khi có luật mới về doanh nghiệp tư nhân Theo Ngân hàng Thế giới nếu như năm 1990
1 Xem UNICEF Việt Nam: Béo cáo thường niên năm 2001, tr.2
Trang 9chỉ có 110 doanh nghiệp tư nhân thì năm 2000 đã có 35.000 và
chắc chắn đã tăng gấp đôi vào năm 2001 Đồng thời, Chính phủ
đã tiến hành một quá trình tổng hợp để đi đến một Chiến lược
toàn điện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Quyền trẻ em được công nhận ở Việt Nam
Đại hội Đảng lần thứ IX sử dụng từ “các quyền trẻ em”
lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng: “ Chính sách
chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ
em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an
toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ,
tinh thần và đạo đức”! Việc đưa quyền của trẻ em vào thuật
ngữ của Đảng Cộng sản là một sự đột phá giúp cho UNICEF
và những đối tác của UNICEEF làm việc với các cấp của Nhà
nước và xã hội
“Đổi mới”
Ngày nay, “đổi mới” được coi như một mô hình của một quá
trình chuyển đổi thành công từ một nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa “Đổi mới” đã tạo ra những tỷ lệ tăng trưởng hàng
năm khoảng 8% từ năm 1990 và đã tạo ra những cải thiện rất
ấn tượng trong cuộc sống của người dân (Hình 1) Những cải
thiện rất mạnh mẽ về sức khỏe và giáo dục của trẻ em chủ yếu
là nhờ kết quả của sự tăng thu nhập của gia đình, gắn chủ yếu
với sự tự do hóa nền kinh tế nông thôn Tuy nhiên, giai đoạn
sau của đổi mới sẽ đầy thách thức Cơ sở kinh tế - xã hội hiện
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sở, tr.107
nay cao hơn nhiều so với những năm 1980, do đó sự tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện xã hội hơn nữa sẽ đòi hỏi những thay đổi thậm chí còn toàn diện hơn trước đây Những thành quả tăng thêm nữa không phải "tự nhiên mà có" như là kết quả của thu nhập gia đình được tăng lên Mục tiêu đầy kỳ vọng biến Việt Nam thành một xã hội công nghiệp hóa vào năm 2020 đòi
hỏi một khả năng quản lý và kỹ thuật cao hơn nhiều của các cở
quan nhà nước trong những chính sách khác nhau và một sự cân đối cẩn thận giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội để duy trì được sự ổn định về xã hội và chính trị
Hình 1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam
trong giai đoạn 1991-2002
9.54 9.34 8.15
Trang 10Quá trình đổi mới đã đặt lãnh đạo Đảng trước hai câu hỏi
cơ bản:
1 Làm thế nào để đẩy mạnh sự tự do hóa kinh tế mà vẫn
duy trì được những kết quả xã hội tích cực của chế độ xã hội chủ
nghĩa? Sự triển khai cơ chế thị trường trong nền kinh tế làm
tăng thêm khoảng cách xã hội giữa người giàu và người nghèo
và đặt ra thách thức là làm thế nào để duy trì sự bình đẳng xã
hội ở trong nước?
2 Đảng làm thế nào để bảo đảm sự độc quyền về chính trị
khi nền kinh tế thị trường và mức sống ngày một cải thiện tạo
ra sự mong đợi được hưởng thêm tự do cá nhân, tự do kinh tế và
sự tham gia chính trị của người dân Do đó, các nhà lãnh đạo
chính trị ở Việt Nam sẽ phải tìm những biện pháp để hướng yêu
cầu này bằng cách nêu ra các khả năng và lĩnh vực để người
dân có thể tham gia
Những thách thức chung này cũng xác định các không gian
và ranh giới cho việc ấp dụng phương thức làm chương trình
dựa trên cơ sở quyền ở Việt Nam Trong bối cảnh này, một cuộc
thảo luận sôi nổi về quyền trẻ em đã được tiến hành và cuộc
thảo luận bao gồm phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở
quyền con người để triển khai chương trình hợp tác quốc gia
giữa UNICEF và Chính phủ Việt Nam Những ý tưởng và cuộc
thảo luận như vậy cuối cùng đã phản ánh một nhu cầu bức xúc
phải cải cách luật pháp, chính sách và chương trình đối với trẻ
em nhằm chuẩn bị cho trẻ em phù hợp với những thay đổi to lớn
mà Việt Nam đang trải qua
“Đối mới” và quyền trẻ em
Nhưng tại sao quyền lại cần thiết? Các chương trình vì trẻ
em dua trén cd sd quyén con người có tốt hơn cho trẻ em không? Một chính phủ thực hiện thành công xóa đói giảm nghèo như
Chính phủ Việt Nam đã nêu vấn đề giá trị gia tăng độc đáo của
phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người trong việc lập kế hoạch so với những cách tiếp cận truyền thống theo từng chương trình Có nhiều cách trả lời câu hỏi này Theo quan điểm lịch sử và duy vật, người ta sẽ lý luận rằng sự cần
thiết phải phát triển vị thế của trẻ em như là những người có
quyền về tất cả các phương điện trong cuộc sống đi đôi với việc hiện đại hóa xã hội Sự thay đổi xã hội cực kỳ nhanh mà Việt Nam đang trải qua đặt trẻ em và thanh thiếu niên trước một loạt các cơ hội và vấn đề mà những thế hệ trước, những thế hệ
lớn lên trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ (1954-1975) hầu như không biết đến Các thay đổi này củng cố thêm vai trò của
cá nhân trong những mối quan hệ sản xuất, tài sản và xã hội trong khi các mối ràng buộc với cộng đồng và gia đình — những
môi trường xã hội chủ yếu để nuôi dưỡng và phát triển trẻ em — dần dần trở nên có phần lỏng lẻo Trong tình hình này, quyền
trẻ em là một phương tiện để Nhà nước tăng cường quyền và
bảo vệ trẻ em, vì cơ cấu xã hội truyền thống ở Việt Nam đang có
sự thay đổi
Những vấn đề xã hội mới phát sinh từ quá trình chuyển đổi theo hướng một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ không thể giải quyết được, nếu nhà nước và xã hội giải quyết những vấn đề đó theo kiểu từ thiện truyền thống, hỗ trợ xã hội
từ trên xuống, tuyên truyền (vận động xã hội và truyền thông)
và trừng phạt Đây chính là một phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người tạo ra một chiến lược đầy đủ hơn
và hiệu quả hơn trong một nhà nước hiện đại và một nền kinh
Trang 11té hién dai 6 đây, các mối quan ngại về kinh tế và pháp luật
cũng như những mối quan tâm cá nhân về kinh doanh và cuộc
sống cá nhân đều ngày một quan trọng Các quyền của trẻ em
nổi lên như một phần tất yếu của sự tiến bộ chung về pháp luật,
pháp quyền và nền kinh tế thị trường Trong các điều kiện kinh
tế và điều kiện xã hội mới, quyền trẻ em là một công cụ chính
sách quan trọng để Nhà nước bảo đảm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em ở
mức độ cao ở thời điểm mà vai trò của Nhà nước trong cuộc sống
kinh tế - xã hội đang giảm bớt do chi phí bao cấp và nhiều
nhiệm vụ kinh tế đang được chuyển dần cho các doanh nhân tư
nhân và gia đình
Quyền trẻ em và quyên con người
Việc triển khai dẫn dẫn quyền trẻ em ở Việt Nam đã có
những tác động xúc tác đối với sự thúc đẩy quyển con người
Quyền trẻ em là lĩnh vực quyền con người mà có thể thảo luận
công khai và rộng rãi ở Việt Nam Chính phủ cũng đã chỉ ra
một cách rõ ràng vấn đề này trong Báo cáo gửi Ủy ban về quyền
trẻ em: “Công ước về quyền trẻ em là một trong những điều ước
Liên hợp quốc quan trọng về quyền con người mà Việt Nam đã
phê chuẩn Hiện tại, thực hiện quyền trẻ em là một trong
những trọng tâm của quyền con người ở Việt Nam”' Mặc đù, sự
cởi mở của Chính phủ trong lĩnh vực quyền trẻ em thật đáng
khích lệ, song chúng ta nên biết rằng những khái niệm liên
quan đến quyền con người nói chung vẫn là vấn đề nhạy cảm
1 Xem: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Báo cáo thực hiện Công
ước về quyền trẻ em gia1 đoạn 1993-1998", Hà Nội, 1999, tr.10
nhất định! Chúng ta có thể thấy điều này một cach dé dàng khi
chúng ta nghiên cứu Khung hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc
(UNDAF) UNDAF giai đoạn 2001-2005 quy định mục tiêu bao trùm của sự hợp tác giữa Liên hợp quốc và Việt Nam: “ hỗ trợ
trong việc thúc đẩy những quyển được ghi trang trọng trong các tuyên ngôn, công ước của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã
ký, nhấn mạnh đặc biệt vào những lĩnh vực được Chính phủ
ưu tiên trong các kế hoạch chiến lược”? Mac dt van bản của tài liệu khung này không nói đến từ “quyền con người một
cách rõ rệt, vấn đề này được đề cập một cách gián tiếp như
những quyền kinh tế - xã hội hay “quyền phát triển” Thí dụ:
liên quan đến vấn đề quản lý và điều hành quốc gia, tài liệu nhấn mạnh đến những nguyên tắc không phân biệt và tham
gia: “tích cực bảo vệ những quyền của người nghèo và những
nhóm người bị thiệt thòi có thể giảm bớt khả năng bị xâm hại
và bị phân biệt Những chính sách, luật pháp bình đẳng và
thích hợp hơn có thể triển khai được khi tất cả các tầng lớp xã
hội đều tham gia nhiều hơn vào đối thoại, chính sách và ra
quyết định ở địa phương””
Ngày nay, Việt Nam đang phải giải quyết vấn đề giữa
những ưu tiên phát triển của đất nước và các tiêu chuẩn toàn
cầu về quyền con người Tình hình này không mới đối với Việt Nam Xã hội Việt Nam đang phải chịu sự thay đổi mạnh mẽ
không phải là từ khi “đổi mới” Những cuộc thảo luận sinh động
về các giá trị “cũ” và “mới”, về các hình thức của những mối
1 Năm 2002 và 2003, ở Quốc hội Mỹ, có một dự luật nhan đề “Dự luật quyền con người ở Việt Nam” đã không được thông qua
2, 3 Xem "Khuôn khổ hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc năm 2000", tr.7
Trang 12tương tác xã hội đã là những nét phổ biến trong các cuộc thao
luận có tính học thuật ở trong nước từ nửa sau của thế ký XIX
Nhìn từ một quan điểm lịch sử lâu dài, “đổi mới” có thể đã đẩy
nhanh hơn quá trình thay đổi kinh tế - xã hội đã có Tư tưởng
Âu - Mỹ tiếp tục ảnh hưởng đến thanh niên Việt Nam, do trong
cuộc chiến tranh chống Mỹ, khi có nhiều sinh viên miền Bắc
được gửi đi học ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cũng như sinh
viên miền Nam sang Mỹ, Pháp
Trong bối cảnh lịch sử này, những phát hiện trong việc
nghiên cứu điển hình này về phương thức làm chương trình dựa
trên cơ sở quyền đã cho thấy cuộc hội ngộ không dễ dàng giữa
các khái niệm truyền thống về trẻ thơ đã ăn sâu bắt rễ trong các
truyền thống nông thôn Đông A voi những cái nhìn theo phong
cách đô thị mới đối với trẻ em
3 TÍNH PHỔ BIẾN CỦA QUYỀN
Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa là con người ai
cũng có quyền được hưởng những quyền đó và do đó, các quyền
đó phải được tôn trọng, chấp nhận và thực hiện ở tất cả các nước
trên thế giới Để đạt được mục đích này, cần phải có các biện pháp nhằm hỗ trợ sự tiếp thu và chấp nhận quyền con người ở
cấp quốc gia và cấp địa phương thông qua các hoạt động cải
cách luật pháp và thúc đẩy thực hiện các quyền Những quá
trình quan trọng nhất để tiến tới thực hiện giá trị phổ biến của
quyền con người là a) làm hài hòa hệ thống pháp luật và tư pháp quốc gia với các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế; b) đẩy mạnh
sự thay đổi văn hóa để hướng tới một đạo lý quyền con người thông qua những hệ thống truyền thông và giáo dục Cả hai quá trình này cuối cùng đều dẫn đến việc đưa quyền con người vào
các khuôn mẫu có tính tiêu chuẩn của xã hội
Trong trường hợp của trẻ em, sự công nhận thực tế quyền trẻ em được quyết định chủ yếu ở môi trường gia đình Nhưng
tính cách gia trưởng của gia đình ở hầu hết các nước đã hình thành một cách sâu sắc những quan điểm truyền thống về vị trí
của trẻ em và phụ nữ trong xã hội và tạo thành một rào cản văn
hóa rất phổ biến đối với việc thực hiện quyền của trẻ em và phụ
Trang 13nữ Đó là lý do chính tại sao những quyền của trẻ em và phụ nữ
lại có quan hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau và cần phải được
phân tích cùng với nhau'
Cấu trúc gia đình và những quyền của phụ nữ
Việc xem xét “dựa trên cơ sở quyền” về những điều kiện
trong nước đối với sự thực hiện đầy đủ các quyền trẻ em ở Việt
Nam sẽ phải bắt đầu bằng việc phân tích lịch sử, cấu trúc của
gia đình Việt Nam và những mối quan hệ của nó với các quyền
của phụ nữ Về mặt lịch sử, cấu trúc gia đình từng thấy ở Việt
Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo Khổng và cho đến nay vẫn
có tính gia trưởng Tập quán gia đình Khổng giáo cho người
nam giới đứng đầu gia đình quyền lực tuyệt đối đối với các
thành viên gia đình Phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới
“Theo lễ giáo phong kiến, người phụ nữ bao giờ cũng ở vị trí phụ
thuộc, phải tuân theo tam tòng: khi ở nhà phải theo cha, khi lấy
chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai Trong
suốt cuộc đời của mình, phụ nữ là kẻ hèn mọn”” Đối với trẻ em
cũng vậy, phải hoàn toàn theo ý của người cha “Vợ và con phải
làm việc để gia đình thêm giàu có và không có của cải riêng
Người cha có quyền tuyệt đối đối với cá nhân các thành viên
trong gia đình Cha có thể bán, cho thuê và dùng con làm vật
gán nợ Chồng cũng có quyền như vậy đối với vợ Cha có toàn
1 Xem phần so sánh tuyệt vời giữa sự khác nhau và giống nhau giữa
quyền của trẻ em và quyền của phụ nữ của Goonesekere, Savitri: "Những
quyền của phụ nữ và trẻ em trong cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở
quyền", Quito, 2003
2 Nguyễn Văn Huyên: Văn minh Viét Nam ngày xưa, Nxb Thế giới, Hà
Nội, 1995, tr.39
quyền trong việc cưới xin của con cái Cha có quyền bắt con cái
sống hoặc thậm chí phải chết”! Cho đến những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, một “đứa trẻ” vẫn là đứa trẻ cho đến khi cha mẹ qua
đời và thật sự chỉ có một số quyền hạn chế khi có gia đình Theo
phong tục xã hội, nữ có thể đi lấy chồng khi 16 tuổi, và nam lấy
vợ khi 20 tuổi Lúc đó, nam thanh niên phải đội khăn và thanh
nữ phải cặp tóc, cài trâm để “tổ ra mình đã đến tuần cập kê”
Cũng có một số quy định pháp lý trước đây nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ phải cho con ăn học và nuôi dưỡng” Nhung
nhìn chung trong nhiều thế kỷ, trẻ em Việt Nam không được
hưởng một quyền nào cả và những quyền của phụ nữ bị cực kỳ hạn chế
Mặc dù đạo Khổng được coi là mô hình chủ đạo trong đời
sống văn hóa của Việt Nam trong nhiều thế kỷ, ý kiến của các
nhà học giả Việt Nam về mức độ ảnh hưởng của Khổng giáo đối với gia đình Việt Nam và đặc biệt là vị thế của phụ nữ trong gia đình khác nhau rất nhiều Rõ ràng là phụ nữ Việt Nam phải lệ thuộc vào nam giới trong khuôn khổ gia đình chịu ảnh hưởng
của Khổng giáo, nhưng sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong
xã hội Việt Nam có thể ít nghiêm trọng hơn ở các nước châu Á khác Mặc dù đúng là một nghìn năm Bắc thuộc đã để lại vết
hằn sâu sắc trong xã hội, xã hội Việt Nam là một sự hòa lẫn
giữa các nền văn hóa dân tộc, đạo Khổng, đạo Phật, đạo Lão cũng như đạo Thiên chúa và tư tưởng phương Tây Lịch sử Việt Nam cũng có rất nhiều truyện và huyền thoại về các vị nữ anh
1, 2, 3 Xem Nguyễn Văn Huyén: Sdd, tr.26, 39, 45
4 Xem giai thich chi tiét cua Lé Thi: Vai tro cua gia đình trong uiệc hình thành nhân cách Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1999, tr.35
Trang 14hùng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự chủ Thí dụ Hai
Bà Trưng đã lãnh đạo một đạo quân 80.000 người chống lại sự
chiếm đóng của ngoại bang trong năm 43 sau Công nguyên và
có rất nhiều những gương về các nhà lãnh đạo nữ ở Việt Nam
Và phụ nữ Việt Nam cũng sớm có được một số quyền trong pháp
luật quốc gia Thí dụ ngay từ năm 1483, Bộ luật Hồng Đức cũng
đã quy định những quyền của phụ nữ được thừa kế, ly đị và
được bảo vệ không bị bạo luc’
Tuy nhiên, yêu cầu về quyền bình đẳng nam nữ đã trở
thành một đề tài thảo luận ở Việt Nam, chủ yếu là cùng với ảnh
hưởng tri thức ngày càng tăng của phương Tây, nhất là từ Cách
mạng Pháp Đồng thời, trong khi những quyền của phụ nữ bị
xâm phạm rất tàn nhẫn dưới thời Pháp thuộc, các tư tưởng mới
về quyền con người và bình đẳng nam nữ cũng đã thấm sâu vào
những nhà trí thức Việt Nam trẻ Ngay từ năm 1917, nhà văn
Pham Quynh đã viết về “Giáo dục của phụ nữ”:
“Phụ nữ ở nước ta không bị đối xử tổi tệ, nhưng họ bi coi 1a
“kẻ bị lệ thuộc” và suốt đời họ bị lệ thuộc như vậy, không bao giờ
được độc lập, tự chủ và cũng không cần học hành và dậy dỗ
nhiều Liệu suy nghĩ đó có còn phù hợp với ngày nay? Chắc
chắn là không! Chắc chắn phụ nữ không sinh ra đã là lệ thuộc,
thấp hèn hơn nam gidi’”
Những ý tưởng như vậy đã góp phần đẩy mạnh sự luật
hóa quyền của phụ nữ Điển hình của việc triển khai quyền
1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tập tài liệu tóm tắt uê giới, Hà Nội, 2003
2 Dẫn theo Jameson, Neil L.: Tim hiéu Viét Nam, Berkley, Los Angeles,
London: Nha in Dai hoc California, 1993, tr.86
của phụ nữ trong giai đoạn này là Bộ Luật Dân sự Bắc Kỳ
năm 1931 nhấn mạnh quyền của cả nam và nữ được quyết
định việc cưới xin - một điều khoản nhằm chống lại tập tục
truyền thống là “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”: "Không thể có
việc cưới xin nếu không có sự đồng ý của đôi lứa hay một
trong hai người ấy"!
Ngay sau khi đất nước được giải phóng khỏi sự đô hộ của
Pháp, trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 đã nêu lên quyền nam nữ bình đẳng, được đi học và đào tạo Các phong trào xóa mù chữ được phát động để nâng cao trình độ
học vấn của phụ nữ Trong chiến tranh chống Mỹ, phụ nữ cũng
bắt đầu được trao thêm những nhiệm vụ chính trị ở các chính quyền địa phương và cũng đã tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh lâu đài, liên tục giành độc lập Từ năm 1964 đến năm
1975, tỷ lệ đại biểu nữ trong các Hội đồng nhân dân huyện đã
tt 25,5% lên 45,8% và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã trở thành một tổ chức quần chúng mạnh với hàng triệu hội viên” Những năm đài chiến tranh mà Việt Nam phải trải qua trong thế kỹ trước đồng nghĩa với việc cuộc sống gia đình truyền
thống thường bị xáo trộn hoặc ở một số trường hợp không thể tiếp tục tổn tại được nữa Nhiều trẻ em đã chỉ được nuôi dưỡng
bởi các bà mẹ, và các bà mẹ và trẻ em đều phải làm việc cực kỳ
1 Xem Nguyễn Văn Huyên: Sở, tr.28 (Vì chỉ có những nghiên cứu hạn chế về lịch sử và xã hội học về gia đình và các mối quan hệ trong gia đình ở các vùng và các tầng lớp khác nhau nên sự đánh giá xã hội — lịch sử về sự tiến hóa của gia đình Việt Nam trước thế kỷ XX bị hạn chế rất nhiều) (TG)
2 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tập tời liệu tóm tắt uê giới, Hà Nội,
2002, tr.22
Trang 15vất và để bảo đảm cuộc sống Cả một thế hệ trẻ em khá đông
đã lớn lên thiếu vắng sự chăm sóc của người cha
Sự thống nhất đất nước vào năm 1975 đã dẫn tới việc xây
dựng xã hội chủ nghĩa trên toàn bộ đất nước Gia đình trước
kia, như một thiết chế xã hội, đã mất đi tầm quan trọng và
những chức năng kinh tế - xã hội cơ bản của gia đình đã dần
được các thiết chế của nhà nước đảm nhận:
“Đời sống chính trị và cuộc sống tinh thần cũng như nghề
nghiệp của từng cá nhân đã diễn ra theo một mô hình đặc biệt ở
ngoài gia đình Gia đình đã được thay thế hầu như bởi các thiết
chế xã hội khác về chức năng giáo dục của gia đình Các thành
viên gia đình ở độ tuổi lao động hầu hết đã trở thành công nhân
viên nhà nước, hay xã viên hợp tác xã G1a đình trước đây đã là
một đơn vị sản xuất độc lập thì bây giờ không thực hiện chức
năng kinh tế nữa (đối với các xã viên hợp tác xã, nền kinh tế gia
đình vẫn còn nhưng chỉ đóng một vai trò nhỏ bé) Gia đình trở
thành một đơn vị cung cấp lực lượng lao động cho xã hội Lương
và thu nhập của các thành viên gia đình phụ thuộc vào sự phân
phối của nhà nước và hợp tác xã”"
Những cải cách kinh tế bắt đầu trong năm 1986 đã có tác
động sâu sắc đến mô hình gia đình xã hội chủ nghĩa cũng như
tình hình của phụ nữ Các hộ gia đình bắt đầu phải tự quản lý
những hoạt động kinh tế Các hộ phải tích cực tổ chức để cải
thiện thu nhập gia đình Điều này bao gồm các nhiệm vụ mới
như tự đi tìm việc làm hay thị trường cho các sản phẩm nông
nghiệp Như vậy có nghĩa là có những thúc đẩy và sức ép với gia
1 Xem Lê Thi: Sdd, tr.54
đình phải làm tốt về kinh tế và nếu họ thành công, họ có thể có
được các dịch vụ xã hội cũng như hàng hóa tiêu dùng Tuy nhiên, những cơ hội và khả năng để thành công về kinh tế không đồng đều và vì một tỷ lệ lớn các gia đình sống dưới hay chỉ trên ranh giới nghèo một chút, nhiều gia đình chịu ảnh hưởng rất dễ bị sốc Hiện nay, nhiều gia đình triển khai các hoạt động tạo thu nhập khác nhau theo thời vụ hoặc tham gia vào rất nhiều các hoạt động tăng thu nhập khác nhau cùng một lúc Trong cả hai trường hợp này, gia đình cần nhiều nhân công
để thực hiện các hoạt động này Do đó, hàng triệu trẻ em ở các gia đình nông thôn phải tham gia vào việc tăng thu nhập, làm các công việc nông nghiệp và phi nông nghiệp Nhiều gia đình cũng tạm thời ra các trung tâm đô thị để tìm việc làm Tuy nhiên, do không đáp ứng các tiêu chuẩn, họ thường phải làm các lao động đơn giản và dựa vào những công việc lương thấp,
chủ yếu là ở khu vực phi cơ cấu Phụ nữ, trẻ em và người già thường được sử dụng trong khu vực này Thống kê cho thấy khoảng 1 — 2% số công nhân trong khu vực phi cơ cấu là trẻ em
dưới 15 tuổi và ð-8% số khác là thiếu niên từ lỗ — 18 tuổi Người lao động ở khu vực phi cơ cấu không được pháp luật bảo
vệ về giờ giấc, điều kiện làm việc, lương tối thiểu, tai nạn, ốm đau, về hưu và lương hưu”
Mặc dù việc đi dân có thể có hiệu quả về kinh tế dé bao dam
1 Xem Trần Thị Lan Hương: Tìm hiểu khu uực phi cơ cấu ở Hà Nội, Dự
án đào tạo Thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1999
2 Xem Adam MecCarty: "Những chính sách kinh tế vĩ mô, các hộ gia đình
và trẻ em ở Việt Nam", Dự thảo Báo cáo lần thứ nhất cho Hội nghị kiểm điểm
giữa kỳ UNICHE, Hà Nội, 7-2008
Trang 16một sự thu nhập cơ bản cho gia đình, song vợ chồng và con cái
thường phải xa nhau trong những thời gian dài Điều này gây
nhiều vấn đề cho trẻ em Nhiều gia đình phải xé lẻ ra và nhiều
trẻ em di dân, em gái cũng như em trai phải làm các công việc
nguy hiểm và độc hại để giúp gia đình Các em dễ bị bóc lột và
xâm hại, kể cả xâm hại tình dục, bạo lực, nghiện ma túy, nhiễm
HIV/AIDS và thậm chí còn bị mua bán Ngoài ra, nhiều hình
thức “cung ứng lao động” mới, có tổ chức (các hội nghề nghiệp)
và không có tổ chức đã ra đời Sự hợp tác giữa những người dân
di cư và gia đình họ thông qua các mạng lưới không chính thức
ở quê là một điều đáng quan tâm đặc biệt Các mạng lưới này
quan tâm đến việc giao lưu qua lại, trao đổi người lao động và
có xu hướng tăng cường lao động trẻ em dưới nhiều hình thức'
Những cải cách kinh tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
các quyền của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam Việt Nam
là một đất nước mà các vai trò giới đang trong giai đoạn chuyển
đổi Những khuôn mẫu về giới và giá trị về giới không mấy thay
đổi so với những thập kỷ hay thế kỷ trước, mặc dù công việc phụ
nữ thường làm hàng ngày đã thay đổi rất nhiều trong những
năm gần đây “Giải quyết, điều chỉnh những mong ước nhiều
mặt và đôi khi trái ngược nhau này đã tạo nên những căng
thẳng mới cho các thế hệ phụ nữ trẻ của Việt Nam Khối lượng
công việc sản xuất cả ngày hiện nay là ngược lại với các vai trò
và giá trị truyền thống làm cho người phụ nữ muốn tự cố gắng
~222
thực hiện các mong ước đó phải băn khoăn lo nghY”
1 Xem: Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh: Trẻ em làm thuê giúp viéc
gia đình ở Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
2 Xem Liên hợp quốc: Tập tài liệu tóm tắt uề giới, Hà Nội, 2003
Theo một số nhà nghiên cứu, “đổi méi” cũng có những tác
động mặt này, mặt khác đối với phụ nữ Một mặt, phụ nữ Việt Nam đã được hưởng một số mặt tích cực của việc nâng thu nhập
chung và khoảng cách về giới trong giáo dục là tương đối thấp!
Nhưng mặt khác, phụ nữ phải chịu thiệt thòi về cơ cấu theo co
chế thị trường hiện nay Phụ nữ chỉ được tiếp cận đất và vốn rất hạn chế Hầu hết tất cả các giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở Việt Nam đều đứng tên nam giới Chỉ 2,3% giấy chứng nhận
quyền sở hữu đất có tên cả chồng lẫn vợ Do đó, khi người phụ
nữ muốn vay vốn hay muốn giữ của cải sau khi ly đị thường không thành công Hiện nay chỉ 1⁄3 tín dụng chính thức được
dành cho phụ nữ”
Tỷ lệ nam giới và nữ giới ở Việt Nam tham gia hoạt động
kinh tế hầu như bằng nhau (86,8% và 86%) Tuy nhiên, phụ nữ
thường làm việc trong các khu vực phi cơ cấu hoặc một vài
ngành đặc biệt “cho nữ” như công nghiệp dệt Một phân tích giới
về lực lượng lao động trong nước cho thấy rõ là phụ nữ phải chịu
thiệt thòi về mặt cơ cấu — họ có tỷ lệ không nhiều và xứng đáng
trong tất cả các ngành có áp dụng những công nghệ khoa học
1 Chi tiêu xã hội chung của Việt Nam cho thấy khoảng cách giới tương đối nhỏ Thí dụ như tỷ lệ biết đọc biết viết ở nữ đã đạt con số ấn tượng là 94,3% Khoảng cách giữa các trẻ em trai và gái còn lớn hơn ở nhiều nhóm dân tộc thiểu số Tỷ lệ tử vong bà mẹ còn cao, dao động từ 411/100.000 ca đẻ sống tới 45/100.000; bình quân toàn quốc là 165/100.000 ca đẻ sống năm 2002, Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ Rút gần khoảng cách Thiên niên ký", Hà Nội, 2003, tr.30
2 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội:
2009, tr.39; Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Những mục tiêu phát triển Thiên niên
ky Rut gần khoảng cách Thiên niên kỷ", Hà Nội, 2003, tr 18
Trang 17mới mà cần có trình độ đại học' Điều đó cũng ảnh hưởng đến thu
nhập của phụ nữ, vì lương ở các khu vực này thường cao hơn
Như đã nói ở trên, việc giảm sự bao cấp của nhà nước và chi
phí các địch vụ tăng lên thông qua phí trực tiếp và gián tiếp của
người sử dụng đã tăng sức ép đối với nam cũng như nữ phải đi
kiếm tiền Tình hình này đã thúc đẩy nam giới đi ra thành phố,
để người phụ nữ nông thôn phải gánh vác hai nhiệm vụ: chăm
sóc gia đình và ruộng đồng Các nghiên cứu đã cho thấy phụ nữ
nông thôn làm việc 16 — 18 giờ một ngày — nhiều hơn nam giới ở
nông thôn từ 6 — 8 giờ” Tình hình này đã có tác động tiêu cực
đến sức khỏe thể chất và tỉnh thần của phụ nữ, hạn chế họ rất
nhiều về giáo dục, học nghề và tham gia các ủy ban ra quyết
định ở địa phương
Tóm lại, “đổi mới” đang dẫn đến một sự thay đổi những mối
quan hệ trong nội bộ gia đình và các giá trị Những sự thay đổi
diễn ra tại các trung tâm đô thị lớn nhanh hơn ở khu vực nông
thôn, nơi mà truyền thống xã hội và văn hóa dĩ nhiên sâu sắc
hơn Mặc dù cưới xin rất phổ biến ở Việt Nam, thanh niên
thành phố có xu hướng cưới muộn hơn Ngày càng nhiều thanh
niên Việt Nam có quan hệ tình dục trước hôn nhân và đôi lứa có
ít con hơn Mặc dù trước đây, ba hay nhiều thế hệ cùng sống
dưới một mái nhà, hiện nay khoảng 2/3 số gia đình Việt Nam có
cha mẹ, con cái sống cùng nhau, và dưới 1/3 có ba hay nhiều thế
1 Xem Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2002,
tr.34; Xem thêm: phân tích chi tiết của Đỗ Thị Bình: "Cải tạo kinh tế và
tác động đối với phụ nữ ở nông thôn Việt Nam", Tạp chí Khoa học xã hội
Việt Nam, 6 (02), 2002
2 Xem Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2009, tr.35
hệ cùng chung sống' Thanh niên thành thị lấy vợ lấy chồng
không còn là để giữ gìn gia tộc mà là để mưu cầu tình yêu và hạnh phúc cá nhân Vì vậy, nếu vợ chồng liên tục cãi cọ thì hôn nhân có thể kết thúc Mặc du, ly di hay còn ít và bị xã hội nhìn nhận không hay lắm, nhưng tỷ lệ ly đị vẫn tăng Trong
năm 1989, tỷ lệ ly hôn trên toàn quốc là 0,ð% nhưng tỷ lệ này
tăng lên 1,2% ở vùng thành thị trong năm 1999 Lý do ly dị
chính ở Hà Nội (23.720 vụ) là bạo lực và đối xử tàn tệ (31%), ngoại tình (14,82%) và mâu thuẫn với mẹ chồng (8,83%) Báo
chí tháng 6 năm 2002 ghi nhận rằng chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh đã có trên 11.700 trường hợp ly dị trong năm 2000, tăng 12% kể từ năm 1990 Một sự thay đổi quan trọng nữa trong gia đình Việt Nam là sự chuyển từ gia đình đa thế hệ sang gia đình hạt nhân
Đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng đã tạo ra hay làm gia tăng các hình thức khác nhau của bạo lực và bóc lột trực tiếp
phụ nữ Thí dụ, buôn bán trẻ em gái và phụ nữ chủ yếu vẫn là một vấn đề còn thiếu khá nhiều thông tin vì vấn đề này tương
đối mới và hiện nay mới chỉ có những số liệu hạn chế Về bạo lực trong gia đình, hiện nay chưa có một sự nghiên cứu tổng thể cấp quốc gia được tiến hành, nhưng sự phân tích nhiều
cuộc điều tra quy mô nhỏ cho thấy bạo lực dựa trên cơ sở giới
có cả ở khu vực thành thị và nông thôn và trong tất cả các gia đình với các mức độ thu nhập khác nhau”
1 Xem Nguyễn Linh Khiếu: "Điều tra cơ bản gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong gia đình", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 3 (95),
2008, tr.47-58
2 Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2002
Trang 18Trẻ em với tư cách chủ thể của quyền
Y tưởng rằng trẻ em có quyền là một khái niệm mới về mặt
lịch sử, do đó sự chấp nhận ý tưởng đó không phải là được mặc
nhiên công nhận ở bất cứ xã hội nào Sự tuyên truyền xã hội và
chấp nhận văn hóa về khái niệm mới này chắc chắn sẽ dễ dàng
hơn và nhanh hơn trong các xã hội mà ở đó khái niệm người lớn
có quyền đã được thiết lập vững chắc và pháp quyền đã có nền
nếp 6 những xã hội mà khái niệm về quyền của người lớn chưa
được công nhận hay thực hiện đầy đủ, người lớn có thể thấy khó
hiểu và khó đồng ý với ý tưởng rằng trẻ em là chủ thể của quyền
Việt Nam là một trong số các nước mới bắt đầu triển khai
pháp quyền trong đời sống xã hội và chính trị Quá trình này
bắt đầu từ những năm 1990 Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với
những mục tiêu trong cải cách kinh tế và xóa đói giảm nghèo đã
đẩy mạnh pháp quyển như một nét quan trọng trong quá trình
đổi mới
Sự quản lý đất nước cần phải theo pháp luật, chứ không
phải chỉ theo những khái niệm đạo lý Pháp luật chính là sự
thể chế hóa các đường lối, chính sách của Đảng, sự thể hiện ý
chí của dân, do đó pháp luật phải được thực thi thống nhất
trong cả nước Tôn trọng pháp luật chính là thực hiện các
đường lối và chủ trương của Đảng Quản lý theo pháp luật
yêu cầu phải quan tâm đến việc xây dựng pháp luật Cần
thiết phải từng bước bổ sung sửa đổi và hoàn thiện hệ thống
pháp luật để bảo đảm bộ máy Nhà nước được tổ chức và hoạt
321
động theo pháp luật”
1 Xem Monroy, Gulllermo: Môi trường thiết chế, tr.52
Việc triển khai pháp quyền ở Việt Nam có ý nghĩa gì đối với trẻ em và thanh thiếu niên? Trước hết, điều đó có nghĩa là có một loạt các luật và nghị định Chỉ từ năm 1998 đến năm 2002, Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành trên 110 luật
và văn bản dưới luật liên quan đến trẻ em Những nét chung
của các văn bản này là đẩy mạnh giáo dục trẻ em, củng cố những dịch vụ cho trẻ em và cải thiện sự bảo vệ trẻ em khỏi bị
bạo lực bằng những hình phạt nặng hơn đối với những kẻ vi phạm pháp luật Luật quan trọng nhất được thông qua sau khi phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em là: Luật Bảo vệ, Chăm sóc
và Giáo dục trẻ em năm 1991 — hiện đã được bổ sung, sửa đổi Luật này nhấn mạnh nhiệm vụ của xã hội đối với sự bảo vệ,
chăm sóc trẻ em, yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc đối với vi
phạm quyền trẻ em, công bố quyền của trẻ em được phát biểu ý kiến, quan điểm về các vấn đề có liên quan đến trẻ em và thiết lập sự chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho tất cả các trẻ
em dưới sáu tuổi Những luật quan trọng khác gồm Luật Phổ cập Giáo dục tiểu học năm 1991 đề ra việc giáo dục tiểu học bắt
buộc cho tất cả trẻ em Việt Nam từ 6 đến 14 tuổi và Luật Bảo
vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, nhấn mạnh rằng mọi trẻ em
đều được khám, chữa bệnh và tiêm chủng phòng một số bệnh mién phi’
Bộ luật Hình sự năm 1997 (bổ sung và sửa đổi năm 1999) là một bước tiến mới Bộ Luật này quy định tuổi của trẻ em phải
chịu trách nhiệm hình sự là 14 và coi việc vi phạm các quyền
của trẻ em là có tính chất tội phạm Theo Bộ Luật này, những
1 Xem Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo hai năm thực hiện Công ước uề quyền trẻ em, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hà
Nội, 1999
Trang 19chế tài đối với người chưa thành niên cần có tính chất giáo duc,
răn đe, ngăn ngừa hơn là trừng phạt Giam tù là biện pháp cuối
cùng và chỉ áp dụng trong các trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng Người chưa thành niên bị tù được xem xét để tha sớm Tử
hình và chung thân không được áp dụng đối với trẻ em và người
chưa thành niên' Theo Radda Barnen “việc xây dựng Bộ luật
Hình sự này đã dẫn đến việc nhiều trẻ em rời khỏi các trường
giáo dưỡng và trại giam vào lúc bấy giờ sớm hơn””
Có nhiều văn bản luật và quy định được ban hành từ khi
Công ước về quyển trẻ em được phê chuẩn cho thấy thực tế các
cơ quan Đảng và Nhà nước ngày càng coi trọng và thấy cần
thiết phải có một khung pháp lý về trẻ em Tuy nhiên, “quyền”
và “luật” không phải là những khái niệm đồng nghĩa Số lượng
đơn thuần những văn bản luật mới không nhất thiết có nghĩa là
vị trí pháp lý của trẻ em với tư cách là chủ thể của quyền đã
được cải thiện một cách đáng kể Một nghiên cứu sâu hơn cho
thấy ý tưởng về trẻ em như là chủ thể của quyền chưa phải là cơ
sở cho những nguyên tắc, điều khoản và tiêu chuẩn pháp lý ở
Việt Nam
Hiểu biết về quyền trẻ em
Như đã nói ở trên, ý tưởng về quyền trẻ em là một ý tưởng
mới đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam Quan điểm chung của
1 Xem Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "VỊ thế và việc thực hiện
Công ước về quyền trẻ em ở Việt Nam", Bớo cáo cập nhật uê thực hiện Công
ước uề Quyền trẻ em giai đoạn 1998-2009, Hà Nội, 2002
2 Xem UNICEF/Uy ban Dân số, gia đình và trẻ em: Bớo cáo phân tích
tình hình tư phúp người chưa thành niên ở Việt Nam, Hà Nội, 2003, tr.15
Việt Nam về quyền trẻ em hình như là những quyền đó là một tập hợp các tiêu chí và nguyên tắc được quy định trong Công ước về quyền trẻ em cần phải được bổ sung vào văn bản pháp
luật hiện hành Các quyền của trẻ em không được xem như một
mẫu hình mới đối với việc xây dựng và soạn thảo các luật pháp
và chính sách đối với trẻ em Điều bao trùm trong luật pháp quốc gia là quan điểm truyền thống về trẻ em như là một đối tượng mà Nhà nước cần phải hỗ trợ và bảo vệ chứ không phải là
một chủ thể của quyền Do đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em xác định vai trò của nhà nước đối với trẻ em chủ yếu như là người cung cấp dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu của trẻ em và như là một thiết chế bảo vệ các em khỏi bị
xâm hại thông qua việc bảo đảm an ninh công cộng và trừng
trị những kẻ vi phạm quyền trẻ em Mặc dù bản thân điều này
là tích cực và được các cơ quan Chính phủ coi trọng, quan niệm
đó lại không bao gồm những khía cạnh quan trọng khác của
quyền trẻ em và quyền con người Thí dụ: các luật của Việt
Nam ít đề cập đến những nguyên tắc về tham gia, trao quyền hay thực sự chịu trách nhiệm của Nhà nước Do đó, khả năng các trẻ em và người lớn coi Nhà nước phải chịu trách nhiệm về
sự thực hiện những quyền của họ bị hạn chế, như chúng ta sẽ xem dưới đây
Thành công một phần của việc triển khai ý tưởng trẻ em là
chủ thể các quyển có nhiều nguyên nhân Có những nguyên nhân về tư tưởng, chính trị và triết học Các nguyên nhân khác
có liên quan đến việc thiếu khả năng kỹ thuật và tài chính trong việc xây dựng pháp luật Chương trước đã mô tả một hàng
rào văn hóa có cội rễ sâu xa làm ảnh hưởng đến ý tưởng cho rằng trẻ em là chủ thể của quyền, đó là những truyền thống gia
Trang 20trưởng của các gia đình và xã hội Việt Nam Những lợi ích của
Nhà nước cuối cùng đã chiếm ưu thế bao trùm lên các công việc
của công dân, giống như người chủ gia đình vượt lên các thành
viên khác trong gia đình Khái niệm về các quyền như là một
tiêu chuẩn bất khả xâm phạm và tự nhiên của con người không
được mạnh mẽ lắm trong lý luận pháp luật của Việt Nam cũng
như trong thực tiễn văn hóa truyền thống Trong tư tưởng xã
hội Khổng giáo ở Việt Nam, con người không có “quyển tự
nhiên”, nhưng giá trị và quyền lực của con người bắt nguồn từ
đóng góp của con người để duy trì trật tự xã hội hiện đang tổn
tại như được quy định bởi nhà nước và các nhà chức trách “Con
người ta vượt trội hơn những người đồng loại của mình chỉ trong
chừng mực họ xứng đáng được đóng góp và hợp tác duy trì
trật tự xã hội, được col như cơ sở hạ tầng nền và mô hình của
trật tự toàn cầu”! Do vậy, các quyền cá nhân không được
đánh giá cao lắm, mặc dù người ta rất coi trọng việc hoàn tất
nhiệm vụ đối với gia đình, cộng đồng và nhà nước Tư tưởng
này trước đây (và hiện nay) là cơ sở cho sự phê phán việc thực
hiện quyền con người của các chính phủ châu Á ở Hội nghị
quốc tế về quyền con người ở Viên, Áo năm 1994? “Trong thực
tế, nếu đối với người phương Tây, ý thức quyền cá nhân là cơ
bản và được khái niệm tư pháp bảo vệ và thực hiện, thì đối
1 Huard, Pierre; Durand, Maurice: Viét Nam - Van minh va Van héa
(Tìm hiểu Việt Nam), (xuất bản lần thứ 3), Trường Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội,
1998, tr.136
2 Xem Lee, Eun-Jeung: "Giá trị châu Á là tư tưởng văn minh nhất", Tạp
chí Xã hội mới, số 155, 1998, tr.111-126; Carolina G.Hernander, "Các nền văn
minh khác nhau như thế nào? Theo cách nhìn châu Á", Tạp chí Xế hội mới, số
155, 1998, tr.157-167
với người theo Khổng giáo, những lợi thế mà ai cũng có thể đòi
hỏi, lại ít được quan tâm ”
Quan điểm này về vai trò của con người trong nhà nước và
xã hội cùng sự ưu tiên của những nhiệm vụ đạo lý đối với những quyền cá nhân có những tác động nhất định đến hệ thống pháp luật Huard và Durand đã nêu lên đặc trưng của những nguyên
tắc chính của luật pháp Việt Nam đến cuối thế kỷ XIX: pháp luật là sự thể hiện ý muốn của đấng tối cao Do đó, không có
luật học hay học thuyết gì Pháp luật không phản ánh những luật hay nguyên tắc chung, phổ biến mà được thảo ra một cách
tùy cơ và giải quyết những vấn đề cụ thể
“Do đó, luật thể hiện sự lẫn lộn giữa quyền và đạo đức Đó
chỉ là một phương tiện để hướng dẫn đạo đức cho cá nhân, gia đình và mọi người Điều này giải thích tại sao tư pháp nghèo
nàn, tính chất hình sự thống nhất của luật này và sự thiếu
vắng các thủ tục tố tụng luật sư và hình thức pháp lý Điều quan tâm của các nhà đạo đức học không phải mối quan tâm của nhà luật học Do đó, khái niệm về nghĩa vụ xóa nhòa hay vượt lên trên khái niệm về quyền và việc quản lý trật tự xã hội hình như lại quan trọng hơn nhiều so với sự quan tâm chăm sóc
đến các giá trị riêng tư”
Mặc dù, có một xu hướng rõ rệt dành cho nhà nước quyền
ưu tiên tuyệt đối so với quyền và nhu cầu cá nhân, nhưng sự ưu tiên đó không phải là không có điều kiện Nhiệm vụ của nhà nước là bảo đảm một mức sống tốt cho nhân dân Điều quan trọng là công dân phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ xã hội và
1, 2 Huard, Pierre; Durand, Maurice: Sdd, tr.136, 147
Trang 21nhà nước phải làm tốt vấn dé kinh tế, chính là vì quyền lợi kinh
tế chung này mà Nhà nước có thể đề nghị như vậy Do đó,
những quyền lợi của tập thể mà đại diện là nhà nước cuối cùng
đã chiếm ưu thế so với các quyền cá nhân Bộ luật Dân sự của
Việt Nam quy định rõ: “Những quyền dân sự và nghĩa vụ không
được vi phạm các quyền lợi của Nhà nước, những quyền lợi công
cộng và những quyền lợi hợp pháp của các quyền khác”! Theo
Bộ Luật Hình sự: Sẽ là có tội nếu lợi dụng các quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp và
các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước
(Điều 258)
Quan niệm Khổng giáo về mối quan hệ giữa công dân và
Nhà nước đã ăn sâu bắt rễ ở nhiều nước trong khu vực, như
đã được nêu ra trong nhiều nghiên cứu về quyền con người ở
Đông Á “Lý tưởng cao nhất về tư tưởng chính trị ở Trung Quốc
không bao giờ là quyền cá nhân mà là sử dụng cá nhân cho xã
hội thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ cá nhân ấy Cá
nhân bao giờ cũng phải phục tùng tập thể; nguyên tắc cao nhất
của tư tưởng Khổng giáo là nhiệm vụ xã hội đối với toàn thể nhà
nước và cộng đồng Việc cải thiện tình hình của cá nhân tự thân
nó không phải là cứu cánh; con người luôn luôn được coi như một
bộ phận của cộng đồng lớn hơn — gia đình, bộ tộc hay Nhà nước”
Những nghiên cứu còn cho rằng ở Đông Á quyền con người
còn “thiếu ý tưởng về những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm
1 Lempert, David: "Đánh giá luật pháp và chính sách quốc gia của Việt
Nam đối với trẻ em và phụ nữ", Hà Nội, 2003 (Phần I, Chương I, diéu 2)
2 Kuenhhardt, Ludger: "Tính phổ biến của quyền con người", Viện Liên
bang thông tin chính trị, Bonn 1991, tr.196
và có trước Nhà nước Nguồn của các quyền công dân không
phải là một quyền tự nhiên của con người Quyền công dân xuất
phát từ tình hình của cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể,
vai trò của cá nhân trong môi trường sản xuất, cấu trúc kinh
tế - xã hội của bản thân Nhà nước ”
Rõ ràng là có khó khăn trong việc hòa hợp một truyền thống chính trị và triết học như mô tả ở trên với những truyền thống triết học và chính trị tạo ra tư tưởng quyền con người Những khái niệm về quyền con người được phát triển như một phần
của cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại quyền lực
chuyên chế của nhà nước phong kiến châu Âu Do đó, tư tưởng
cơ bản về "quyền" là cho công dân có quyền đối với nhà nước và
hạn chế việc sử dụng độc đoán quyền của nhà nước đối với cá
nhân công dân qua các văn bản pháp luật và quyền Chúng ta
có thể nói một cách đơn giản là theo các truyền thống châu Âu,
tính hợp pháp của nhà nước được dựa trên sự tuân thủ pháp
luật và quyền của các nhà cầm quyền
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, nhiều nhánh hành pháp đặc biệt mạnh Quốc hội là cơ quan xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh trên cơ sở phương châm và đường hướng của Đảng Tuy nhiên về chuyên môn nghiệp vụ và biên chế, Quốc hội không có khả năng thực hiện những nhiệm vụ này Do đó, Quốc hội phải đựa nhiều vào các cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ ở các
Bộ để dự thảo luật Khi cuối cùng Quốc hội thông qua luật, nói chung các luật này chưa có hiệu lực ngay mà còn cần một loạt
những nghị định, quyết định của các cơ quan Chính phủ Quá
1 Sđở, tr.117
Trang 22trình này thường kéo theo một lượng lớn những quy định và
đem lại cho các cơ quan Nhà nước một vị trí đặc quyền trong
quá trình xây dựng pháp luật
Những khái niệm đang thay đổi
Nhìn chung, những trình bày trên chứng tỏ rằng vị thế của
cá nhân với tư cách là những người có quyền là tương đối yếu
và quyền hạn của người thực thi nhiệm vụ công cộng là lớn
Tuy nhiên, sự không cân bằng giữa những quyền dân sự và
chính trị của cá nhân và các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà
nước đang dần dần thay đổi thông qua quá trình “Đổi mớŸ
Bản báo cáo thứ nhất của Chính phủ Việt Nam gửi Ủy ban của
Liên hợp quốc về quyền trẻ em trong năm 1992 đã nhấn mạnh
sự kiện này trong một phương cách theo hướng cải cách và rất
thẳng thắn: “Nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế tập
trung kế hoạch hóa sang một hệ thống theo hướng thị trường
và sự thay đổi chính trị dần dần đang thúc đẩy sự dân chủ hóa
991
và tôn trọng quyền con người hơn”! Đây không phải là những
lời nói suông Hiến pháp năm 1992 đã đề ra những bảo đảm
luật pháp đối với hệ thống luật pháp của Việt Nam Hầu hết
các đổi mới có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế với
việc đề ra những quyền về sở hữu, như tự do kinh doanh,
quyền sở hữu vốn, tài sản, bất động sản, quyền thừa kế Về các
quyền chính trị, Hiến pháp đã mở ra những không gian quan
trọng cho sự hiện đại hoá hệ thống tư pháp, quy định rằng
không ai có thể bị bắt mà không có quyết định của Tòa án hay
1 Xem Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo hơi năm thực hiện
Công ước của Liên hợp quốc uê quyên trẻ em, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ
em, Hà Nội, 1991, tr.2
nguyên tắc giả định vô tội Hiến pháp cũng nhấn mạnh các quyền công dân như là những quyền con người — quyền chính trị, dân sự, xã hội, kinh tế và văn hóa Đây là văn bản luật
pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có dùng từ “quyền con người” và được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho tất cả các cuộc tập huấn do UNICBF tài trợ về Công ước về quyền trẻ em và Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt với phụ nữ (CEDAW) cho các quan chức Chính phủ'
Những sự thay đổi lớn hơn trong việc thực thi luật pháp
ở Việt Nam cũng có các tác động đối với khái niệm pháp lý
về trẻ em Dần dần, quan điểm nhìn nhận trẻ em như một
đối tượng của sự quan tâm đang dần dần thay đổi Báo cáo
quốc gia đầu tiên gửi Ủy ban về quyền trẻ em nhấn mạnh sự
căng thẳng giữa những khái niệm phổ biến về trẻ em và tầm nhìn mới được ghi nhận trang trọng trong Công ước một cách đáng chú ý và có tính chất tự phê bình Bản Báo cáo
nhấn mạnh đúng đắn giá trị lớn lao mà “gia đình và xã hội Việt Nam dành cho trẻ em”, nhưng cũng ghi nhận một cách
nghiêm túc rằng:
“Chúng ta không thể nói một cách thật tin tưởng rằng cá nhân những người Việt Nam bình thường luôn luôn có thái độ phục vụ những lợi ích tốt nhất của trẻ em ở Việt Nam” Mức
sống thấp ảnh hưởng đến cuộc sống và nếp nghĩ nếp nghĩ có
từ thời phong kiến vẫn còn ảnh hưởng đáng kể: kết quả là ở
nhiều vùng sự phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái và trẻ em
1 Sđở, tr.2
2 Sdd, tr.63
Trang 23nói chung nhấn mạnh vào sự vâng lời, hiếu lễ và không ủng hộ
quan điểm cho rằng trẻ em là những cá nhân, những thực thể
phức hợp và rất đa dạng”"
Ngoài ra, Báo cáo liên hệ các xu hướng chung về nhà nước
pháp quyền và quyền công dân ở Việt Nam với sự nhấn mạnh
tập trung vào những chính sách chung về trẻ em: “Ở Việt Nam,
nơi mà xưa nay trẻ em là đối tượng được bảo vệ và chăm sóc đặc
biệt, hiện có bảo đảm nào tốt cho những chính sách về trẻ em sẽ
được thực hiện đầy đủ hơn là việc đất nước ngày một giàu có và
các quyền dan chủ được thực hiện một cách kiên quyết, không
thể đảo ngược được?” Thay đổi những quan điểm về trẻ em,
quan hệ của trẻ em với Nhà nước và xã hội được phản ánh trong
các quy định pháp luật về trẻ em Điều 40 của Hiến pháp liên
hệ trực tiếp đến mối quan hệ của trẻ em và xã hội: “Nhiệm vụ
của Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân là đảm bảo chăm
sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em ” Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo
dục trẻ em xác nhận: Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình,
là tương lai của đất nước và là người kế tục sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc” và “trẻ em phải được tôn trọng và bảo vệ về
đời sống, thân thể, nhân phẩm và danh dự; trẻ em có quyền
phát biểu quan điểm và nguyện vọng của mình về các vấn đề
liên quan tới trẻ em”” Những quan điểm như vậy rõ ràng là
chứa đựng những yếu tố về cách tiếp cận của những người có
nhiệm vụ cũng như người có quyền đối với trẻ em
1 Sđd, tr.6
2 Sdd, tr.4
3 Phần sau cho thấy những yếu tố dựa trên cơ sở quyền như quyền trẻ
em được phát biểu quan điểm của mình
Sự thông qua có tính chất lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 về các quyền của trẻ em cũng phản ánh quá
trình thay đổi tư duy về trẻ em và tiến gần hơn nữa tới ý
tưởng cho rằng trẻ em là chủ thể của quyền hơn bất kỳ một
văn bản nào trước đây Đại hội Đảng đã kết hợp ý tưởng về
quyền của trẻ em và sự bảo vệ trẻ em với nhiệm vụ của Nhà
nước và xã hội nhằm đảm bảo điều kiện sống tốt cho tất cả
trẻ em Việt Nam: “ Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em
được sống trong một môi trường an toàn và lành mạnh, phát
triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”'
Trong những năm 1990, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công An) đã
đưa ra những thống kê cho thấy hàng năm ở Việt Nam, số người chưa thành niên phạm tội là từ 11.000 — 14.000 Tội phổ biến nhất
là ăn cắp (48,9%), tiếp theo là nghiện ma túy (4,4%)Ẻ 6 Việt Nam
tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 14 như đã nói ở trên Mức độ bạo lực của các tội phạm ở người chưa thành niên ở Việt Nam được đánh giá là thấp so với tình hình ở các khu vực khác trên thế giới
1 Dang Cong san Viét Nam: Sdd, tr.107
2 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Vi thé va sự thực hiện Công ước
về quyền trẻ em ở Việt Nam Báo cáo cập nhật uê thực hiện Công ước uề quyền
trẻ em giai đoạn 1998-2002, Hà Nội, 2002
Trang 24Khi một trẻ em làm trái pháp luật, các nhà chức trách Việt
Nam có thể áp dụng hai hình thức xử lý theo luật sau:
Thứ nhất và phổ biến nhất là xử lý vi phạm hành chính, theo
đó, các hội đồng cấp huyện bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân với
những cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của Ủy ban Dân số, Gia đình
và Trẻ em, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên quyết định về mức độ
xử phạt đối với người chưa thành niên làm trái pháp luật và kiểm
tra, giám sát sự thực hiện chế tài đó Xử phạt hành chính thường
được áp dụng cho những người phạm pháp chưa thành niên và
chiếm gần 3⁄4 (73,5%) sự xử lý đối với trẻ em làm trái pháp luật
năm 2001 Hình phạt này bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, bồi thường
và cải tạo có giám sát tại cộng đồng Gần 10% trẻ em được gửi tới
các “trường giáo đưỡng” trong thời gian không quá hai năm!
Trẻ em làm trái pháp luật có thể bị xử lý bằng hệ thống tư
pháp hình sự, nếu đó là những trường hợp vi phạm nghiêm
trọng Người chưa thành niên phải ra trước tòa hình sự và bị
kết án theo luật hình sự Trong năm 2001, có khoảng 2.500 vụ
xử án người chưa thành niên Hình phạt hình sự đối với trẻ em
từ 12-18 tuổi bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, giáo dục tại cộng
đồng, và đưa vào trường giáo dưỡng Phạt tù được coi là vạn
bất đắc đĩ Tuy nhiên, trong năm 2000, có 317 trường hợp
tuyên án tù trên 5 năm” Trẻ em dưới 14 tuổi không thể bị
phạt tù Phạt tù tối đa với trẻ em từ 14 — 16 tuổi là 12 năm,
đối với trẻ em từ 16-18 tuổi là 18 năm và cả hai trường hợp
đều có thể được xem xét thả sớm
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã cải thiện rất nhiều
những quy định và thủ tục pháp lý đối với trẻ em làm trái pháp
1 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sởd
2 Sdd, tr.16
luật Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt chuẩn quốc
tế trên lĩnh vực này
Nhìn chung, trẻ em Việt Nam phạm tội ít nghiêm trọng
được xử lý hành chính mà không bị xử lý hình sự Đây là điều tích cực, tránh cho trẻ em bị coi là có tiền án, tiền sự và giúp trẻ
em dễ tái hòa nhập xã hội Tuy nhiên, hầu như không có sự khác nhau gì giữa chế tài hình sự và hành chính Thí dụ, trẻ em làm trái pháp luật có thể bị gửi đến cùng một trường giáo dưỡng theo cả hai quy định Do đó, cần phải có những tiêu chí rõ ràng hơn nêu rõ trường hợp nào thì áp dụng khung hình phạt nào Những hướng dẫn cụ thể cho các quan chức địa phương cũng thiếu, do đó ít được bảo đảm rằng những thủ tục hành chính
hoàn toàn tôn trọng các quyền của trẻ em Giải quyết những
trường hợp và nêu rõ sự khác biệt giữa hai quá trình này sẽ góp
phần bảo đảm được các lợi ích tốt nhất của trẻ em
Theo hai thủ tục này, quyền tự do có thể bị tước đoạt Theo chuẩn quốc tế, thì đây cũng là một biện pháp bất đắc dĩ Phạt
tù và đưa vào các trường giáo dưỡng không phải là những phương cách hữu hiệu để giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội ngày một tăng Những biện pháp ấy gây hậu quả tiêu cực đối với người chưa thành niên và thanh niên Đối
với họ nhà tù có thể dé dang trở thành một “trường học của tội
phạm”; các cơ sở tập trung là nơi có nhiều rủi ro cao đối với sự
vi phạm quyền trẻ em và thường tốn kém trong việc xây dựng, duy trì và về đội ngũ cán bộ 6 Việt Nam, hầu như chưa có những quy định về đánh giá các trường giáo dưỡng do những
tổ chức bên ngoài thực hiện, mặc dù đây là yêu cầu quốc tế
nhằm đảm bảo việc chăm sóc và đối xử với trẻ em trong các cở
sở đó được tốt và được tôn trọng Ngoài ra, hiện nay ở Việt Nam
Trang 25chưa có các dịch vụ xã hội đề tái hòa nhập trẻ em làm trái
pháp luật vào cộng đồng
6 Việt Nam, quyết định đưa một trẻ em vào trường giáo
dưỡng không phải chỉ do tòa án, mà còn do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân quận, huyện tiến hành Tiêu chí của quyết định này
là tính nghiêm trọng của tội phạm và việc phạm tội nhiều lần
Ngoài ra, hình như còn có khoảng trống lớn không rõ rệt để các
nhà chức trách có thể quyết định, điều này có thể dẫn đến nguy
cơ quyết định tùy tiện Hơn nữa theo quy định hiện hành,
không rõ một thanh niên sẽ bị giam trong bao lâu cho đến khi
trường hợp của người ấy được điều tra và có quyết định chính
thức Dé giúp các nhà chức trách tránh quyết định phạt tù, cần
phải dé ra chi tiết các điều khoản và chương trình về các biện
pháp thay thế giam tù, phục hồi và có những thủ tục thân thiện
với trẻ em
Một điểm chưa hợp lý khác trong hệ thống pháp luật hiện
hành là Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính phân biệt trẻ
em có hộ khẩu thường trú và các trẻ em không có nơi cư trú
nhất định Trong khi đối với các trẻ em làm trái pháp luật có hộ
khẩu thường trú ở địa phương có nhiều khả năng chỉ bị giáo dục
tại cộng đồng, thì trẻ em không có nơi cư trú nhất định có thể bị
gửi đến trường giáo dưỡng ngay Điều này có thể xuất phát từ ý
nghĩ cho rằng giáo dục trong các cơ sở tập trung là tốt cho những
trẻ em trái tính, trái nết, nhất là khi các em không có sự chăm
sóc của gia đình Nhưng những quy định như vậy lại đặt các trẻ
em đường phố vào thế bất lợi vì các em không được bảo vệ về mặt
pháp lý khỏi bị tước đoạt khỏi quyền tự do như các em có hộ khẩu
thường trú Do đó, các quy định như vậy cần phải được bổ sung
để tất cả các em đều được hưởng sự bảo vệ pháp lý như nhau
Thái độ của cảnh sát cũng tạo một thách thức khác đối với
việc cải cách hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam Nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cảnh sát và các chiến dịch nâng cao nhận thức đã cải thiện được rất nhiều ý thức và
nếp suy nghĩ của cảnh sát Việt Nam đối với trẻ em làm trái pháp luật Tuy nhiên vẫn còn có những báo cáo về việc: “Trẻ em
bị bắt quả tang ăn cắp có thể bị đánh Đôi khi cảnh sát đánh trẻ
em, nhưng thường thì là dân phố đánh”! Khảo sát các trẻ em đường phố cho thấy trẻ em rất sợ bị cảnh sát bắt giữ vì có thể bị
đối xử tôi tệ như quát mắng, đánh đập Cần phải ghi nhận rằng
mức độ bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với
nhiều nơi khác trên thế giới Không có bản báo cáo nào về việc
cảnh sát tra tấn nhục hình trẻ em và trẻ em bị “mất tích” như ở một số nước châu Mỹ Latinh
Một quan tâm nữa đối với tư pháp người chưa thành niên
là quyền của trẻ em được hưởng các quy trình thủ tục hợp
pháp mà những quy trình này có thể bị vi phạm trong các cuộc
thu gom của công an: “Cũng có một số bằng chứng rằng những
quyền hợp pháp về thủ tục có thể không được thực hiện Hiện nay, công an thường hay vây bắt ở công viên hay ở những nơi
mà trẻ em thường hay tụ tập sử dụng heroin Họ lùng soát
khắp nơi và bắt những ai sử dụng heroin Họ đưa những người này về đồn công an, tiến hành sàng lọc nhanh và chuyển đến các trại tạm giam
Quyền của trẻ em làm trái pháp luật được có luật sư là một
1, 2 UNICEF/ Uy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em: Báo cáo phân tích tình hình tư pháp người chưa thành niên, Hà Nội, 2008, tr.12, 13
Trang 26điều kiện cơ bản để củng cố những yêu cầu đúng đắn và bảo vệ
trẻ em cũng cần được tăng cường
Cuối cùng, người ta không rõ các chương trình giáo dục
dựa vào cộng đồng cho người chưa thành niên làm trái pháp
luật có bảo đảm được việc giữ kín cho các em khỏi bị mang
tiếng xấu và bị cộng đồng làm xấu hổ hay không Mặc dù tính
chất của các hình thức xử phạt hành chính không phải là tạo
hồ sơ tiền án tiền sự cho trẻ em bị cáo buộc là vi phạm pháp
luật, nhưng các hồ sơ về thủ tục hành chính này được phổ biến
rộng rãi trong các cơ quan và sau cùng được lưu lại ở những cơ
quan có liên quan như Ủy ban nhân dân, Công an và các tổ
chức quần chúng'
Trẻ em là nạn nhân của bạo lực và xâm hại
Nhà nước cũng quy định và bảo vệ các quyền của trẻ em khi
trẻ em trở thành nạn nhân của bạo lực và xâm hại Nhiều trẻ
em Việt Nam phải đối mặt với tình trạng xâm hại trong và
ngoài gia đình, các em có thể là nạn nhân hay người chứng kiến
những cảnh bạo lực (trong gia đình) Mức độ và tần số các vụ
xâm hại thân thể trẻ em cũng cao như ở các nước khác trên thế
giới và do đó rất đáng lo ngại:
Trong những năm qua, sự bảo vệ về pháp lý phòng chống
một số hình thức xâm hại trẻ em đã được đề ra trong hơn 30
văn bản, chính sách và quy định Nhưng không có một bộ luật
riêng chống xâm hại trẻ em ở Việt Nam Hành hung được coi 1a
một tội trong Bộ Luật hình sự của Việt Nam khi một người bị
1 Sdd, tr.32
thương trên 11% than thé’ Quy định này cũng được áp dụng
với nạn nhân của sự hành hung là trẻ em Trong trường hợp
nạn nhân là trẻ em, hình phạt phải nặng hơn Một định nghĩa
như vậy có nghĩa rằng chỉ bạo lực nghiêm trọng đối với trẻ em
mới bị coi là tội phạm Ví dụ, đánh gãy chân, tay hay mũi của
một trẻ em, hoặc đánh đập làm trẻ em bị tàn tật suốt đời là một
tội hình sự Tuy nhiên, nếu em bị thâm tím chân, tay, mặt, đầu hay các phần khác của co thé, lan roi hay vết cắt do đánh bằng
roi, gậy hoặc phồng nước do một người lớn cố tình làm bỏng trẻ
em thì những điều này lại không bị truy tố theo pháp luật Do
đó, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành
để hoàn toàn bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm hại về thân thể
Khi một trẻ em phải đối mặt với bạo lực trong gia đình, thông thường vị trưởng thôn hay các vị cao niên trong cộng đồng, công an, Hội Phụ nữ, và cán bộ địa phương của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em gặp gỡ và thuyết phục cha mẹ đối
xử tốt hơn với con cái Nếu tình hình không cải thiện, họ sẽ gợi
ý cha mẹ nên để con ở một gia đình khác hay một cơ sở trung
tâm Không a1 có quyền đưa một trẻ ra khỏi gia đình ngược lại ý muốn của cha mẹ trừ khi có quyết định của tòa án Mặc dù hệ
thống bảo vệ trẻ em dựa trên cơ sở cộng đồng là một yếu tố bảo
vệ tích cực, nó cần phải được tăng cường hơn nữa:
“ luật pháp và thông lệ hiện hành đối với việc bảo vệ trẻ
em khỏi bị xâm hại thân thể trong gia đình có thể chưa đủ để
1, 2 Michaelson, Reina: "Xâm hại trẻ em ở Việt Nam, những khái niệm
và phương hướng nghiên cứu", UNICBEF, Hà Nội, 2002, tr.15
Trang 27bảo vệ một cách đầy đủ trẻ em có cơ bị xâm hại hoặc bị hại thêm
nữa, nhất là khi người phạm tội là cha mẹ lại chối cai là không
có vấn đề gì Cũng tương tự như vậy, những thông lệ và thủ tục
tố tụng hiện hành để giải quyết các trường hợp xâm hại thân
thể trẻ em hình như còn chưa đủ Những quy chế rõ ràng về can
thiệp và tập huấn chuyên môn cho những cán bộ phải giải quyết
các trường hợp nghỉ ngờ trẻ em bị xâm hại có thể cải thiện đáng
kể các phương án giải quyết cho trẻ em ”1,
Trong những năm qua, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
và Hội Phụ nữ Việt Nam đã tiến hành những chiến địch truyền
thông để thúc đẩy quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm
hại và bỏ mặc; nhiều chiến dịch được thực hiện với sự hỗ trợ của
UNIGCEEF và các tổ chức phi chính phủ quốc tế Theo nghiên cứu
đánh giá nói trên của UNICEEF, những chiến dịch này đã nâng
cao ý thức về bạo lực và xâm hại đối với trẻ em trong cộng đồng
và trong các cán bộ chuyên môn làm việc cho trẻ em và gia đình
Tuy nhiên, những chiến dịch này vẫn chưa được mạnh mẽ và
lâu dài để có thể tạo được một sự thay đổi vững chắc những mô
hình giáo dục còn thiếu tích cực Người dân nói chung vẫn ct coi
roi vọt là một biện pháp quan trọng để giáo dục và khép trẻ em
vào kỷ luật Và cũng hình như coi khái niệm “xâm hại trẻ em”
trong thực tế chỉ là hiếp dâm trẻ em gái
1 Sdd, tr.22
4 KHONG PHAN BIET VA BINH DANG
Nguyên tắc “không phân biệt” liên kết mật thiết với nguyên tác “phổ biến” Nếu như nguyên tắc sau hướng đến việc đặt ra các tiêu chuẩn pháp lý, tỉnh thần và đạo lý thì “sự không phân
biệt” thu hút mối quan tâm của chúng ta vào việc thực hiện
quyền con người một cách thực tế: tất cả mọi người đều có thể được hưởng sự thực hiện đầy đủ các quyền của mình trong thực
tế Một trong những rào cản lớn nhất đối với sự thực hiện đầy
đủ quyền con người là sự nghèo đói
Với tư cách là người bảo vệ sự thịnh vượng chung của xã hội, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện
nguyên tắc “không phân biệt” Nhiệm vụ chung của mọi người
là bảo đảm cho tất cả trẻ em thực hiện quyền của các em được
lớn lên trong nhân phẩm với các cơ hội sống một cuộc sống có
ích và hạnh phúc Nhưng đồng thời tất cả người lớn, nhất là
người có thu nhập tốt và tài sản phải có nhiệm vụ chung là đóng
góp vào sự thực hiện các quyền của trẻ em trong một xã hội cụ thể Điều ba của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của khu vực công cộng và khu vực
tư nhân đều phải tính đến những quyền lợi tốt nhất của trẻ em trong những hành động của họ
Tầm quan trọng hàng đầu về nguyên tắc “không phân biệt”
Trang 28đối với những nhà hoạch định chính sách và thiết kế, thực hiện
chương trình là nhấn mạnh vào sự tiếp cận bình đẳng các dịch
vụ xã hội, tư pháp và quyền tham gia của tất cả những nhóm
dân cư Do đó, cần phải chú ý đặc biệt đến những trẻ em bị gạt
ra ngoài lề xã hội về phương điện kinh tế, thuộc các nhóm bị
phân biệt đối xử về mặt xã hội hoặc bị tước mất khả năng thực
hiện đầy đủ những quyền của các em
Có nhiều lý do về chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế khác
nhau về việc một số nhóm người bị phân biệt đối xử và gạt ra
ngoài lề xã hội Trên khắp thế giới, các gia đình nghèo, phụ nữ
và một số nhóm dân tộc ít người phải chịu những bất lợi về kinh
tế, xã hội, đặc biệt trong việc thực hiện các quyền của họ Thêm
vào đó, HIV/AIDS đã trở thành một nhân tố phổ biến cho sự
phân biệt và bài trừ xã hội Vì vậy, những chương trình dựa
trên cơ sở quyền cần phải tập trung sự thực hiện dịch vụ, hỗ trợ
kỹ thuật, tuyên truyền vận động vào cải thiện tình hình của các
nhóm dân cư bị gạt ra ngoài Các chương trình dựa trên cơ sở
quyền là nhằm với tới những người chưa được với tới này
Có nhiều cấp độ khác nhau của chương trình để giải quyết
vấn đề “phân biệt đối xử” Giải pháp có tính cổ điển đối với việc
bị gạt ra ngoài lề xã hội là cải tiến sự phân phối các địch vụ xã
hội, tăng thêm việc làm trong những chiến lược toàn diện về
giảm đói nghèo Một cách giải quyết khác nữa là tăng cường các
cơ chế phúc lợi xã hội và hệ thống an ninh xã hội như bảo hiểm
y tế, bảo hiểm xã hội và hệ thống hưu trí Những hệ thống như
1 Quỹ Ford vừa xuất bản một Tổng quan rất hay về bảo trợ xã hội ở châu
Á, chủ yếu là các phương án dựa trên nhu cầu và các kế hoạch phúc lợi (Cook,
Barah, Kabeer, Naila; Suwannal, Gary: Bảo trợ xã hội ở châu Á, Quỹ Ford,
Nxb Taj, 2008)
vậy chắc chắn là cách bền vững nhất để giảm thiểu việc bị gạt
ra ngoài lề xã hội và phân biệt đối xử với người dân, bao gồm cả trẻ em Chúng ta cần phải xem xét những chính sách kinh tế
hiện nay, nhất là những chính sách tư nhân hóa và “huy động
xã hội các nguồn vốn cho các dịch vụ xã hội”, đánh giá tác động các chính sách này đối với người nghèo và những khoảng cách
xã hội và nếu cần thiết, đề nghị những thay đổi trong các chính sách kinh tế
Chương này mô tả những thành công của chiến lược và chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam cũng như những khoảng cách xã hội ngày càng tăng do triển khai kinh tế thị trường Sự phân tích bao gồm cả các phương pháp tiếp cận hiện
tại đối với vấn đề thuế, viện trợ của nước ngoài và tài trợ theo
ngành cũng như những chiến lược cải tổ mạng lưới an toàn xã
hội Tình hình các trẻ em dân tộc thiểu số được chú ý quan tâm đặc biệt
Những thành công và thách thức đối với việc thực
hiện phổ biến và không phân biệt các quyền ở Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành tích nổi bật
về sự phổ biến các quyền xã hội của trẻ em Việt Nam giảm
được 1/2 tỷ lệ nghèo đói từ 58% dân số trong năm 1993 xuống
37% trong năm 1998 (Hình 2) Những kết quả sơ bộ về khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2002 cho thấy tỷ lệ đói nghèo đã
giảm hơn nữa, còn 29% dân sốt
1 Cuộc họp giữa năm của nhóm tư vấn: Đứnh giá, cập nhật những phat
trién va cai cach binh tế của Việt Nam, Sa Pa, tháng 6-2003, tr.8
Trang 29Hinh 2: Giam nghéo dy kién dén nam 2010
Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới ð tuổi
giảm đáng kể (Hình 3) và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ
trén 50% xuống còn 33% - một con số vẫn rất cao (Hình 4) Các
cố gắng nâng tỷ lệ nhập học cực kỳ thành công Việt Nam đã
đạt được 95% tỷ lệ đăng ký nhập học ở cấp tiểu học và đang
phấn đấu tiến tới phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở (Hình 5)
Những tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ có giảm
nhưng chậm hơn Cung cấp nước sạch và vệ sinh còn thiếu Chỉ
một nửa dân số mới được dùng nước sạch và chỉ 38% mới có các
thiết bị vệ sinh an toàn Ý thức của người đân về vệ sinh còn
thấp (Hình 6) Nhưng nhìn chung, so với trẻ em ở nhiều nước có
thu nhập tính theo đầu người cao hơn, Việt Nam đã tạo cho các
trẻ em của mình những cơ hội sống, phát triển tốt ngang hay tốt
hơn như vậy Việt Nam đạt được các thành tựu này sau hai
thập kỷ tái thiết đất nước, từ năm 1975 sau khi hầu như bị
Trang 30Hình 4: Những xu hướng về suy dinh dưỡng
Hình õ: Tỷ lệ đăng ký nhập học thô ở các bậc tiểu học,
trung học cơ sở và giáo dục cơ sở trong giai đoạn 1993 - 1998
Những khoảng cách xã hội ngày càng tăng
Kèm theo những thành tựu đầy ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống của người dân là các khoảng cách
xã hội ngày càng tăng Sự bất bình đẳng đang gia tăng có lẽ là tác động không mong muốn và ngoài dự kiến nghiêm trọng nhất
của “đổi mới” Bản báo cáo thứ hai của Liên hợp quốc về các mục tiêu Thiên niên kỷ ở Việt Nam đã cung cấp những đữ liệu về
những bất bình đẳng thu nhập ngày một tăng Trong năm 1993,
80
Trang 3120% dân số nghèo nhất chiếm 8,8% thu nhập toàn quốc và sau
giảm xuống 8% trong năm 1998 Cũng trong thời gian Ấy, người
giầu chiếm tỷ lệ từ 40,4% lên 43,7%! Bản báo cáo Phớt triển
nhân lực Việt Nam đầu tiên cũng rất quan tâm đến vấn đề này:
“ Hệ số GINI về Việt Nam đã tăng lên một cách đáng kể
từ 35,6 năm 1995 lên khoảng 40,7 trong những năm gần đây
Dù như vậy là cũng ngang với mức độ về hệ số GINI dựa trên
thu nhập của Trung Quốc là 40,4; nhưng có thể lo ngại rằng
hình như Việt Nam đi đến những sự bất bình đẳng như vậy
nhanh hơn nhiều và ở mức độ thấp hơn nhiều về thu nhập bình
quân tính theo đầu người so với Trung Quốc”
Những bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng đang
nhanh chóng trở thành những bất bình đẳng xã hội Ví dụ: Mặc
dù những thành công nói chung về y tế công cộng, nghiên cứu
của Ngân hàng thế giới cho thấy trẻ em của 1/5 dân số nghèo
nhất có thể không được hưởng một sự cải thiện nào trong cuộc
sống trong những năm 1990 (Hình 7)
1 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Những mục tiêu Thiên niên kỷ: Đưa Các
mục tiêu phát triển Thiên niên ky gan hon uới người dân, Hà Nội, 11-2002, tr.8
2 Xem Trung tâm xã hội và nhân văn quốc gia: Báo cáo quốc gia vé phat
triển nhân lực năm 2001 - Đối mới va phát triển nhân lực ở Viét Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.8
3 Xem Báo cáo phát triển của Ngân hùng thế giới năm 2009, "Việt Nam
thực hiện lời hứa của mình", Hà Nội, 2003, tr 59
Chương trình chưa được hoàn thành trong chính
sách xã hội
Như đã nói ở trên, thành công của Nhà nước Việt Nam về nâng cao các điều kiện sống của người dân là nổi bật Tuy nhiên còn phải làm nhiều hơn Chương trình chưa được hoàn thành trong chính sách xã hội và những dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm
sự cần thiết giảm hơn nữa tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, giảm tỷ
lệ tử vong người mẹ và tăng sự tiếp cận của gia đình đối với
nước sạch và vệ sinh Tuy nhiên, các tiến bộ về chính sách xã hội yêu cầu phải có những cải cách sâu rộng về cách xây dựng
82
Trang 32kế hoạch, hỗ trợ và phân phối các dịch vụ xã hội Lấy dinh
dưỡng làm thí dụ Suy đinh dưỡng ở trẻ em không phải chỉ do
trẻ em không nhận đủ lương thực mà còn do sự chăm sóc không
hiệu quả, sự thiếu hiểu biết về cách nuôi dưỡng trẻ em Tiêu
chảy hay sởi đã làm trầm trọng hơn tình hình suy đinh dưỡng
của trẻ em Do vậy, sự tiếp cận nước sạch và các thiết bị vệ sinh
hay sự bảo vệ các em khỏi các bệnh truyền nhiễm cũng quyết
định đối với tình hình định dưỡng của trẻ em Do đó, sự tiến bộ
trong việc chống suy đinh dưỡng tùy thuộc vào nhiều nhân tố
như cha mẹ phải được cập nhật về thông tin, thay đổi hành vi
trong cách chăm sóc trẻ thơ cũng như phải luôn luôn sẵn có các
dịch vụ khác nhau với chất lượng tốt
Một ví dụ nữa là chương trình quốc gia về xóa đói giảm
nghèo được làm theo kế hoạch tập trung Sự phân cấp kế hoạch,
ngân sách, thực hiện, theo đối, giám sát và đánh giá những
chương trình như vậy là cần thiết để đạt nhiều thành tích hơn
nữa trong xóa đói giảm nghèo Người nghèo càng ngày càng tập
trung ở các khu vực nhất định ở nông thôn và thành thị, điều
này yêu cầu nhà chức trách phải hướng những chương trình xóa
đói giảm nghèo và các mạng lưới bảo hiểm xã hội vào những
vùng cần giúp nhất một cách chính xác Những ví dụ này và
nhiều ví dụ khác tương tự cho thấy một điều rằng cách phân
phối dịch vụ theo hàng dọc và theo ngành trước đây là không
đủ để đạt được những cải thiện tốt hơn nữa về sự sống và phát
triển của trẻ em
Những thành công trước đây có thể không bền vững
Những thành tựu xã hội tích cực của công cuộc cải cách
kinh tế vĩ mô trước đây có thể dễ bị nhiều trở lực Mặc dù tỷ lệ
người nghèo ở Việt Nam đã giảm rất mạnh, các nghiên cứu cho thấy nhiều gia đình vẫn còn phải sống kề bên giới hạn nghèo
khổ Năm 20029, khoảng một nửa dân số Việt Nam (47%) được col thuộc diện nghèo hay sát ngưỡng nghèo! (Hình 8)
Hình 8: Cấu trũc nghèo Phân phối phúc lợi hộ gia đình tương quan với giới hạn nghèo ở Việt Nam
Dân số được hưởng
1 Xem Nhóm công tác chong nghéo déi: Gidm bớt ngưy cơ bị tổn thương
va cung cấp sự bảo uệ xã hội: Những chiến lược để đạt được các mục tiêu phát
triển của Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr 4
Trang 33Tốc độ và phạm vi của tiến bộ xã hội ở Việt Nam có quan
hệ mật thiết với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất ấn
tượng, từ 8% đến 12% trong 10 — lỗ năm qua Tăng trưởng
kinh tế đã dẫn đến sự tăng mạnh thu nhập hộ gia đình và trẻ
em nằm trong số những người được hưởng lợi đầu tiên của
mức sống được nâng cao Nhưng nếu các dự báo kinh tế lạc
quan không được thực hiện, những thành tựu đã đạt được
trong quá khứ về phát triển con người có nguy cơ bị ảnh
hưởng Vì nhiều người dân phải sống kề bên giới hạn nghèo
khổ nên sự giảm dù rất nhỏ về thu nhập cũng có thể lại kéo
họ vào diện nghèo khổ Mặc dù một số thành tựu đã đạt được
trong 1ỗ năm qua như kiến thức về sức khỏe hay trình độ học
vấn của người dân, những thành tựu về mức sống vật chất
vẫn có thể dễ dàng bị đảo ngược, nhất là đối với 20% dân số
nghèo nhất Đã có một số chiều hướng khiến ta phải lo ngại,
ví dụ tỷ lệ tử vong trẻ em trong số 20% dân số nghèo nhất đã
có chiều hướng tăng lên! Nguy cơ có thể mất dần các thành
tựu xã hội trước đây cũng rất cao vì tỉ lệ thất nghiệp và bán
thất nghiệp đang ngày càng tăng lên Hàng năm, có 1,4 triệu
thanh niên tham gia thị trường lao động thường không được
đào tạo nghề nghiệp thích hợp Hầu hết những thanh niên
này cũng sẽ tìm được một việc làm Nhưng trong nhiều
trường hợp, công việc mang tính chất tạm bợ, tiền công thấp
và đôi khi lại còn bất hợp pháp
Sự đánh giá hiện nay của Chính phủ và của cộng đồng tài
trợ đang cho thấy một điều là sự tăng trưởng kinh tế tương lai
sẽ không đem lại lợi ích cho người nghèo như trước đây Do đó,
1 Nhóm công tác Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tiến bộ uêề IDT'/ các mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Hà Nội, 2001, tr.13
khoảng cách xã hội có thể ngày càng rộng hơn Ngân hàng thế
giới đã nêu ra trong bản Báo cáo uê phát triển của Việt Nam
năm 2003 như sau:
“Nếu thiếu vắng những hoạt động mạnh, sự bất bình đẳng
có khả năng sẽ tăng lên, có thể rất mạnh trong giai đoạn phát triển mới Điều này là do các tác động của nghèo đói với việc
phân chia lại đất đai ở khu vực nông thôn bây giờ mới thấy
được Đồng thời, sự hòa nhập vào kinh tế thế giới sẽ làm kỹ năng có giá trị hơn, nên sự bất bình đẳng về giáo dục sẽ tăng thêm bất bình đẳng về cơ hội và thu nhập Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn sẽ rộng hơn cũng như sự khác biệt giữa
những người được hưởng đầy đủ các thành quả của toàn cầu hóa
và những người bị bỏ lại phía sau Những bất bình đẳng ngày
càng tăng về dịch vụ y tế cũng không thể giải quyết được ! Nói tóm lại, điều bị đe dọa hiện nay trong phát triển của Việt Nam là bình đẳng xã hội! Do đó, những thách thức đối với các chính sách quốc gia tiến tdi thực hiện phổ biến và không phân biệt các quyền kinh tế - xã hội gồm ba mặt: duy trì những thành tựu xã hội cho toàn thể người dân; đạt được những tiến
bộ hơn nữa trong việc giảm tỷ lệ suy đinh dưỡng, tỷ lệ tử vong
bà mẹ và người dân được sử dụng nước sạch và thiết bị vệ sinh
nhằm chặn lại các xu hướng tăng mạnh của bất bình đẳng xã
hội Những thách thức này đặc biệt lớn đối với các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam
Tài chính cho phát triển xã hội
Một yếu tố cơ bản liên quan đến những bất bình đẳng ngày
1 Xem Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới, 2003, 1i
Trang 34một tăng lên về tiếp cận những dịch vụ xã hội co bản có chất
lượng tốt là việc thiết lập một hệ thống dịch vụ trả phí Việc này
tạo điều kiện cho các cơ sở công cộng tạo ra thu nhập của họ và
đóng góp vào sự phát triển của dịch vụ tư nhân cho những al có
khả năng chỉ trả Tuy nhiên, xu hướng này làm cho người nghèo
ngày càng khó có khả năng chỉ trả cho dịch vụ chăm sóc sức
khỏe ban đầu và một nền giáo dục chất lượng cho con em ho
Nói chung, Chính phủ thường miễn cho người nghèo bất cứ
một lệ phí trực tiếp nào và chính sách này đã đi vào thực tế cuộc
sống, như ta đã thấy trong những đánh giá ở cấp xã đã chi ra’
Tuy nhiên, điều này vẫn chưa ngăn được những người làm công
tác quản lý nhà trường và cung cấp dịch vụ y tế công cộng bắt
người dân phải trả các phí gián tiếp Tuy nhiên, để được tiêu
chuẩn không mất tiền, gia đình phải rất nghèo: thu nhập
khoảng 100 đôla Mỹ một năm Có những biểu hiện rõ ràng rằng
phương thức tài trợ khu vực xã hội hiện nay là không vì lợi ích
tốt nhất của trẻ em” như sẽ được thảo luận dưới đây
1 Ủy ban Dân tộc và Miền núi/ UNICEE: "Sự đánh giá định tính uê thực
hiện các chính sách uề chăm sóc uò giáo dục đối uới phụ nữ uò trẻ em dân tộc
thiểu số”, Báo cáo tóm tắt, 2009, tr.2
2 Việt Nam cung cấp tài chính cho sự phát triển xã hội chủ yếu qua thuế
trong nước Tổng thu nhập của Nhà nước Việt Nam năm 2001 là 6,7 tỷ đôla Mỹ
Theo số liệu của Bộ Tài chính từ nửa đầu năm 2003, nguồn thu nhập quan trọng
nhất của Nhà nước là thuế lợi tức (24%) và thuế giá trị gia tăng (22%) Thuế thu
nhập cá nhân chỉ chiếm 1,8% thu nhập cả nước (Bộ Tài chính Trang chủ, Hà Nội,
2003) Ngoài ra, nhà nước nhận được khoảng 1, tỷ đôla Mỹ về Viện trợ phát triển
từ nước ngoài (ODA) năm 2001 Giải ngân ODA cho Việt Nam bao gồm 0,134 tỷ
USD về viện trợ không hoàn lại và 1,366 tỷ USD về vốn vay Do đó, ODA chiếm
22% đầu tư công cộng ở Việt Nam Từ 1998-2001, các nhà tài trợ cam kết 19,940
tỷ USD cho Việt Nam Khoảng 84% (12,35 tỷ USD) của số này là tiền vay, 16% là
viện trợ không hoàn lại Khoảng 80% ngân quỹ được dùng cho hạ tầng cơ sở (điện,
giao thông) và phát triển nông thôn, khoảng 20% được đầu tư vào cấp và tiêu
nước, phát triển xã hội, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật và môi trường
Tài chính cho giáo dục
Giáo dục là một ưu tiên hàng đầu trong chương trình phát triển của Việt Nam Khoảng 4,5 % tổng thu nhập quốc dân được đầu tư vào hệ thống giáo dục Như vậy là nhiều hơn chi phí về
giáo dục của hầu hết các nước đang phát triển và rất được mọi
phía hoan nghênh, kể cả các tổ chức phi chính phủ xưa nay vẫn
thường góp ý đối với chính sách của Chính phủ Tổ chức Oxfam (Anh) ghi nhận:
“Chi tiêu về giáo dục tăng mạnh lên khoảng 15% tổng chi
tiêu công cộng vào cuối những năm 1990 Trong phân bổ này có
sự tăng chung về tỷ lệ ngân sách phân bổ cho giáo dục cơ bản
Xu hướng chuyển chi tiêu công cộng từ cấp giáo dục cao xuống
cấp giáo dục thấp hơn thể hiện sự đóng góp quan trọng vào việc thực hiện bình đẳng vì sự tham gia của người nghèo ở các cấp thấp hơn là lớn nhất”!
Chính phủ Việt Nam có kế hoạch tăng đầu tư cho giáo dục thậm chí tới 18% tổng ngân sách Nhà nước năm 2005 và tới
20% năm 2010 (6,9% GDP) Một phần đáng kể của chi tiêu ngày
càng tăng cho giáo dục sẽ do cha mẹ, cộng đồng, khu vực tư
nhân và viện trợ phát triển chính thức (ODA) đóng góp Mặc dù ngân sách Chính phủ trả trên 70% tất cả chỉ phí giáo dục trong
năm 2000, người ta đã có kế hoạch giảm phần này xuống trên
60% vào năm 2010 — Như vậy là những “quỹ phi chính phủ” sẽ đóng góp vào 40%”
1 Oxfam Anh: “Tôi có thể đi học được không?” Báo cáo uê tài trợ cho giáo dục cơ bản ở Việt Nơm, tập trung uào các tỉnh Lào Cai, Trà Vĩnh uà Hà Tĩnh,
Hà Nội, 4-2002, tr.4
2 Diễn đàn Giáo dục Việt Nam: Đổi mới tài trợ uà quản lý giáo dục ở Việt Nam, Ha Nội, 2-2003
Trang 35Nhằm đạt được sự “vận động xã hội” gây quỹ cần thiết, năm
2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định 10 Nghị định này cho
phép những người cung cấp dịch vụ công cộng quản lý ngân
sách của họ và thu phí của khách hàng Nghị định này là một
công cụ để tách dần ra khỏi ngân sách trung ương và tạo điều
kiện cho địa phương tự quyết định về các nguồn lực tài chính và
nhân lực Nhưng trong ngành giáo dục, sự chỉnh lý cũng có
những hạn chế Chi phí lớn nhất trong quản lý giáo dục là tiền
lương, do bảng lương chính thức của Nhà nước quy định Số giáo
viên trong một trường học tùy thuộc vào tỷ lệ chính thức giữa
học sinh với giáo viên và tùy thuộc vào chương trình học Do đó,
trong thực tế là sự tự do của Ban Giám hiệu nhà trường có thể
quyết định là trả thêm tiền thưởng cho cán bộ, giáo viên và cải
thiện cơ sở vật chất của nhà trường bằng những ngân quỹ vận
động thêm từ cha mẹ học sinh và cộng đồng' Như vậy có nghĩa
là a) gây quỹ trở thành công cụ quan trọng nhất đối với sự phát
triển trường học, b) trường học trong những khu vực kinh tế
phát triển có nhiều điều kiện để cải thiện hơn là các trường ở
cộng đồng nghèo hơn Như trên đã nói, chính sách của Nhà
nước là miễn phí cho các trẻ em nghèo được mọi người tôn
trọng, dù sự áp dụng có thể “không được đầy đủ ở các khu vực
”* Tuy nhiên, thậm chí nếu các gia đình nghèo không
nghèo
phải trả phí trực tiếp, họ cũng có thể khó mà tránh được các
chi phí gián tiếp như xây dựng, các hoạt động nhà trường,
1 Xem du 4n MTEF: Cai tổ tài chính uà quản lý giáo dục, Hà Nội, 2003;
Dự án MTFE: Các phương pháp tài trợ nhà trường, Hà Nội, 2002, Oxfam: Tài
trợ giáo dục cơ sở, Hà Nội, 2003
2 Oxfam: Tời trợ giáo duc cơ sở, Hà Nội, 2008
sách giáo khoa, thiết bị Nhìn chung điều này ảnh hưởng đầu
tiên đến các trẻ em gái
Thách thức chủ yếu đối với tài trợ cho giáo dục là bảo đảm
ngân sách đầy đủ của Chính phủ để thực hiện được một chuẩn
mực giáo dục tiểu học tốt cho các cộng đổng người nghèo và ở những nơi xa xôi hẻo lánh, những cộng đồng quá nghèo không thể đóng góp theo yêu cầu được Điều này sẽ là một nhiệm vụ khó khăn cho nhiều trường tiểu học, vì ngân sách của Nhà nước hiện nay là ưu tiên cho hệ thống giáo dục mầm non Cần phải tăng phân bổ ngân sách đặc biệt cho các trường ở vùng xa xôi, vùng nghèo để tránh một khoảng cách về chất lượng sâu hơn nữa trong giáo dục Việt Nam sẽ phải đề phòng một tình trạng là người nghèo chỉ có thể được vào học ở các trường tiểu học yếu kém, còn
người giàu có thể gửi con tới các cơ sở giáo dục có chất lượng tốt Tài chính cho lĩnh vực y tế
Tình hình trong ngành y tế khác nhiều so với tình hình giáo
dục Mặc dù diện bao phủ của mạng lưới chăm sóc sức khỏe
cộng đồng ở Việt Nam tốt hơn so với nhiều nước đang phát triển, nhưng nhìn chung đầu tư công cộng vào chăm sóc sức
khỏe ở Việt Nam nằm trong số những nước thấp nhất trên thế
giới Nhà nước ch1 chưa đến 4 đôla Mỹ/ đầu người (chưa đến 1%
GDP năm 2001) cho chăm sóc sức khỏe của công dân Tình hình
này tạo ra một mối de dọa đối với quyền được chăm sóc sức khỏe
như Liên hợp quốc ở Việt Nam đã chỉ ra: “Hệ thống phân bổ
ngân sách cho y tế hiện nay ở Việt Nam càng ngày càng dẫn
1 Xem Ngân hàng thế giới và các cơ quan khác: Việt Nưm: Lớn lên mạnh
bhỏc: Xem xét uà đánh giá Ngành y tế Việt Ngm, Hà Nội, 5-2001, tr.48, 58
Trang 36đến sự tiếp cận không bình đẳng đối với chăm sóc sức khỏe và
những bất bình đẳng về sức khỏe”!
Tình trạng thiếu ngân sách triển miên cho ngành y tế đã
tạo ra một sức ép lớn phải vận động ngân sách bổ sung từ người
bệnh và Chính phủ đã phải cho phép y tế tư nhân hoạt động
trong cả nước Phí dịch vụ y tế được thu từ đầu những năm
1990 Những số liệu về bệnh viện cho thấy tác động sâu sa của
biện pháp này: tiền thu phí và bảo hiểm y tế chỉ chiếm 10%
ngân sách bệnh viện năm 1991 còn 7 năm sau, thu nhập từ bên
ngoài chiếm ð0% ngân sách các bệnh viện trung ương, tỉnh và
quận, huyện? Dịch vụ y tế tư nhân bắt đầu hoạt động từ năm
1986; các quy định trong ngành dược được bổ sung trong năm
1989” Theo số liệu của Bộ Y tế trong năm 2001, đã có trên
56.000 cơ sở y tế tư nhân hoạt động ở Việt Nam, chủ yếu là bác
sỹ (48%), sau đó các cửa hàng thuốc (32%) và lang y (17%)
Kết quả của sự hòa hợp giữa dịch vụ y tế tư nhân và công
cộng là cái gọi là chi tiêu từ “hầu bao” cá nhân cho y tế trở
thành “nguồn tài chính quan trọng nhất ở Việt Nam” Vì chỉ có
13,ð% dân số Việt Nam được bảo hiểm y tế, cấu trúc phân bổ
ngân sách cho dịch vụ y tế hiện nay đã hạn chế lớn đến khả
năng của các gia đình nghèo tiếp cận những địch vụ chăm sóc có
1 Liên hợp quốc tại Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt
Nam, Hà Nội, 6-2008, tr 5, 7
2 Bộ Y Tế, Ban Khoa giáo trung ương: Phí người dùng, bảo hiểm y té va
sử dụng các dich vu y tế năm 2009, tr.31
3 Báo cáo phát triển Ngân hàng thế giới năm 2003, tr.60
4 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt Nam,
Hà Nội, 6-2003
chất lượng “Sự miễn trừ và giá trần đã được ban hành để người
nghèo khỏi phải trả phí nhưng kết quả không như mong đợi, người nghèo vẫn chưa được tiếp cận tự do địch vụ chăm sóc
chữa bệnh” và “có dấu hiệu là nhiều người Việt Nam, nhất là
người nghèo, đã phải xa lánh chăm sóc sức khỏe chuyên môn
sang những người cung cấp dịch vụ rẻ hơn, như người bán thuốc
rong và các lang y”! Người ta dự tính rằng chi tiêu từ hầu bao
cá nhân cho dịch vụ y tế đã làm nghèo thêm đáng kể Khoảng 2,6 triệu người Việt Nam phải sống trong cảnh nghèo cùng cực trong năm 1998 do những chi phí y tế họ phải trả” Báo cáo phát triển của Ngân hàng thế giới xác định bệnh tật là một nguyên
nhân nghèo nàn chính ở Việt Nam”
Sự thay đổi dịch tễ hiện nay làm tình hình thêm xấu đi Thương tật và tai nạn đã trở thành nguyên nhân chính gây tử vong, bệnh tật ở Việt Nam và chi phí y tế liên quan đến thương tật cũng như sự thiếu hụt về thu nhập gia đình do người đi kiếm cơm của gia đình không đi làm được đã gây nên tình hình
"bi đát" cho gia đình bị ảnh hưởng, nếu họ nghèo!
Nhìn từ quan điểm quyền con người, tình hình này là
nghiêm trọng, vì người ốm không có nhiều sự lựa chọn - người
ấy phải trả tiền ngay cho dịch vụ y tế cần thiết, nếu không sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe Vì không có bảo
hiểm, chi phí về y tế không thể đưa vào kế hoạch được như chi
1, 9 Xem Béo cáo phút triển Ngân hùng thế giới năm 2003, tr.61
3 Xem Báo cáo phát triển Ngân hùng thế giới năm 2000: Tến công đói
nghèo, Hà Nội, 2008, tr.4
4 Xem Salazar Volkmamn, Christlan: Báo cáo trình bày tại Hội nghị quốc gia uề chính sách phòng chống tai nạn thương tích, Hà Nội, 2002
Trang 37phí về giáo dục Các gia đình nghèo nhiều khi phải di vay nóng
với lãi suất rất cao để trang trải các chi tiêu chữa bệnh cho
người ốm hay bị thương Do đó bệnh tật có thể nhấn chìm họ
nếu phân bổ ngân sách y tế không được cải thiện
Một sự lo ngại “dựa trên cơ sở quyền” nữa là thái độ chưa
quan tâm đầy đủ của Nhà nước đối với khu vực tư nhân Sự
thiếu hụt “một khung pháp lý mạnh mẽ cho khu vực tư nhân
và khả năng thực th của Nhà nước đã dẫn đến những vi
phạm nghiêm trọng đến quyền được hưởng thụ sức khỏe của
các cơ sở tư nhân: một số bác sỹ tư đã kê những đơn thuốc với
liều lượng khá nhiều những thuốc như kháng sinh và những
cửa hàng thuốc tư bán những thuốc đã quá hạn sử dụng' Dé
khắc phục những lo ngại của Ủy ban Liên hợp quốc về quyền
trẻ em về tác động của quá trình “đổi mớỉ đối với trẻ em,
UNICEF Viét Nam đã chỉ rõ: “Tuy nhiên, đối với các dịch vụ
tư nhân và công cộng, theo dõi đầy đủ, giám sát có hiệu quả
và phát triển khả năng tại chỗ là những vấn đề chính cần
quan tâm””
Do những tình hình nêu trên, Liên hợp quốc đã khuyến
nghị cần thận trọng trong việc áp dụng Nghị định 10 và tự do
hóa thêm nữa đối với hệ thống y tế:
“Khuyến nghị rằng Chính phủ không nên coi những cơ sở
cung cấp dịch vụ sức khỏe công cộng, bao gồm bệnh viện và các
1 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt
Nam, Hà Nội, 2008, tr.4
2 Đóng góp thêm cho những câu hỏi của Ủy ban quyén tré em, UNICEF
Viét Nam, 2002
trung tâm y tế là những “thực thể dich vụ nâng cao thu nhập”
Sự thực hiện này sẽ dẫn đến kết quả có hại cho sức khỏe của cá nhân, người bệnh và cả công chúng”!
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đi xa hơn và khuyến nghị
cải tổ mạnh mẽ những hệ thống ngân sách y tế của Việt Nam nhằm bảo đảm mọi người đều có khả năng và được tiếp cận các
dịch vụ y tế một cách bình đẳng”
Tài chính cho nước và vệ sinh
Tác động của các phương thức phân bổ ngân sách cho nước
và vệ sinh đối với việc những gia đình nghèo tiếp cận các dịch
vụ có chất lượng không được quan tâm chú ý như với giáo dục hay y tế Tuy nhiên, những đánh giá gần đây của UNICBF có gợi ý rằng mô hình đầu tư hiện nay và sự trang trải chi phí xem
ra đã không tạo điều kiện cho những người dân tộc thiểu số tiếp
cận nước ăn, nhất là nếu họ sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh,
dân cư thưa thớt Đầu tư vào cấp nước tập trung vào các khu vực đồng dân như trung tâm các xã hay huyện Nói theo thuật ngữ kinh tế, đây là một sự lựa chọn hợp lôgíc Sự thực hiện các
dịch vụ cung cấp nước sạch ở các vùng đó bằng chi phí cấp nước
theo đầu người thấp hơn, trong khi đầu tư vào các vùng nghèo
nhất, xa xôi hẻo lánh có thể tốn kém hơn mức bình thường
Nhưng thậm chí có nhiều gia đình sống gần các trung tâm xã hay thị trấn cũng thường là quá nghèo, không có tiền mặt để trả các thiết bị nước Do đó, những mô hình đầu tư công cộng và ưu
1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức khỏe cho Việt Nam,
Hà Nội, 6-2003, tr.5, 7
2, 3 Xem Tổ chức Y tế thế giới: Y tế uờ các dân tộc ít người ở Việt Nam,
Hà Nội, 6-2003, tr.30
Trang 38tiên cũng như trợ cấp cho các xã dân tộc nghèo sẽ phải được
nghiên cứu lại để giúp đỡ những gia đình từ trước đến nay chưa
được a1 giúp đố
Cải cách các mạng lưới an toàn xã hội
Để đạt được sự bình đẳng, Chính phủ Việt Nam sẽ phải triển
khai một chiến lược về cải cách những chính sách phúc lợi và hỗ
trợ xã hội hiện nay Phân tích các mạng lưới an toàn xã hội hiện
nay cho thấy diện bao phủ của những chương trình này hoàn
toàn hạn chế và trong hầu hết các trường hợp, đa số người hưởng
thụ lại thuộc về những nhóm người giàu trong dân cư Do đó, cần
phải cải tiến những chương trình này để 20% đến 40% người
nghèo nhất được hưởng thụ (Bảng ])
Bỏng 1: Diện bao phủ của các mạng lưới an toàn xã hội
Nguồn: Nhóm công tác xóa đói giảm nghèo
Các dân tộc thiểu số và bất bình đẳng trong giáo dục
Sự cách biệt xã hội ngày càng lớn đặc biệt ảnh hưởng đến
các dân tộc thiểu số trong tất cả các lĩnh vực của đời sống Báo
cáo của Liên hợp quốc về những mục tiêu phát triển Thiên
niên kỷ đã viết “trong số 19 tỉnh yếu kém nhất trong xếp hạng mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, 7 tỉnh bao gồm đa số dân
tộc thiểu số”
Đời sống của nhiều dân tộc thiểu số còn rất nhiều gian khổ
Họ sống ở các vùng xa xôi, đi lại khó khăn và thường không có điện nước Phần lớn họ làm canh tác nương rẫy và làm không
đủ ăn, nên một số gia đình phải đối mặt với nguy cơ không đủ
ăn cho vài tháng trong một năm
Trong thực tế, tất cả các chỉ số xã hội đều xác định sự thiệt
thòi chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Khoảng 75% dân tộc thiểu số sống trong nghèo khổ - so với 31% dân tộc Kinh
Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới một tuổi ở các tỉnh có tỷ lệ cao các nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng cao hơn (nhiều) mức trung bình Thí dụ: tỷ lệ tử vong trẻ em dưới một tuổi ở tỉnh Kon Tum
cao hơn 8 lần so với thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội Bức tranh về tỷ lệ suy đỉnh đưỡng cũng tương tự như vậy
Những khoảng cách về giáo dục cũng là một lo ngại lớn Một nghiên cứu đánh giá các dịch vụ y tế và giáo dục địa phương cho
các dân tộc thiểu số do Ủy ban Dân tộc và Miễn núi tiến hành
1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Đưa những mục tiêu phát triển Thiên niên
kỷ gần hơn với người dân", Báo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Hà Nội,
2002, tr.ð1, 10
Trang 39với sự giúp dd cua UNICEF cho thấy những điều kiện hết sức
đáng lo ngại về giáo dục ở các xã dân tộc ít người:
“Lớp học ở hầu hết các làng bản chỉ là những nhà tre đơn sơ,
tạm bợ và còn thiếu bàn ghế Hầu hết giáo viên phàn nàn là
không có các nguồn lực đầy đủ và nhiều người bắt buộc phải tự
làm các đồ dùng giảng dạy bằng tiền túi của họ Có quá ít phòng
ngủ ở các trường nội trú huyện, như thế có nghĩa là rất nhiều
học sinh phải ở trong các lán trại tạm bợ do cha mẹ các em giúp
đỡ dựng lên Các em có phòng ở thường phải chịu đựng các điều
kiện chật chội, thiếu vệ sinh, lấy giường làm bàn viết, bàn ăn và
nơi ngủ
Chỗ ăn ở của hầu hết giáo viên là ở chung với hai hoặc ba
giáo viên khác Các cặp vợ chồng và những giáo viên có thâm
niên lâu năm được cấp nhà riêng Điện nước ở đâu cũng kém
tiêu chuẩn, nhà vệ sinh không hợp vệ sinh Nhiều xã chưa nối
được vào lưới điện quốc gia và máy phát điện chỉ cung cấp điện
vài giờ buổi tối Khi điện bị cắt, nhiều giáo viên vẫn tiếp tục
soạn giáo án dưới ngọn đèn dầu Nhiều giáo viên và học sinh
phải ra suối tắm, sức khỏe bị đe dọa và nguồn nước bị ô nhiễm
6 một vài vùng, số giáo viên chưa đủ tiêu chuẩn chiếm đến
50% Các giáo viên nói tiếng Việt gặp nhiều khó khăn trong
việc giao tiếp với học sinh ở các vùng dân tộc thiểu số và do đó,
ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Ngoài ra, hầu hết các sách
giáo khoa chỉ bằng tiếng Việt và bài tập không thể làm bằng
ngôn ngữ của họ”!
1 Xem Uỷ ban dân tộc/UNICEF: "Đánh giá định tính về việc thực hiện
các chính sách y tế và giáo dục đối với phụ nữ và trẻ em dân tộc ít người", Báo
cáo tóm tắt năm 2002, tr.2
Ngân hàng Thế giới đã chỉ rất rõ ràng rằng sự bất bình
đẳng trong giáo dục sẽ là một yếu tố cơ bản làm trầm trọng thêm những khoảng cách xã hội ở Việt Nam Bất bình đẳng trong đăng ký nhập học và thành tựu sẽ biến thành những bất bình đẳng lớn hơn về thu nhập và các cơ hội nghề nghiệp trong những năm tới' Do những khoảng cách hiện nay trong việc
tiếp cận nền giáo dục có chất lượng, sự thiệt thòi hiện nay của các dân tộc thiểu số có thể nhiều hơn trong các năm tới Tỷ lệ nhập học của các dân tộc thiểu số thấp hơn 10% so với tỷ lệ của
người Kinh” Đặc biệt, tỷ lệ nhập học ở giáo dục trung học cho
thấy sự khác biệt rất lón? Mặc dù, thống kê giáo dục của Việt Nam cho thấy một sự khác biệt rất nhỏ về giới, cơ hội được đi học của các trẻ em gái dân tộc thiểu số hình như không được bình đẳng Khoảng 70% học sinh bỏ học ở các xã dân tộc thiểu
học của trẻ em Nhà nước Việt Nam đã công nhận quyền các
dân tộc thiểu số được hưởng nền giáo dục song ngữ ngay từ đầu Bau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào năm 1945, Chính phủ Việt Nam đưa ngay tiếng Việt vào trường phổ thông
1, 3 Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới, 2003, tr.ð2, ð4
2, 4 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Đưa những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ gần hơn với người dân", Béo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên
ký Hà Nội, 2009, tr.16, 18
Trang 40và đại học thay thế tiếng Pháp đang thống trị lúc đó Chỉ sau
một năm, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam quy định quyền các
dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ trong trường
tiểu học Quyền này được nhấn mạnh trong tất cả các lần sửa
đối, bổ sung hiến pháp về sau và từ đó tới nay những chính sách
công ở Việt Nam luôn ủng hộ giáo dục song ngữ trong các
trường tiểu học Tuy nhiên, sự thực hiện chính sách và phổ biến
chữ viết của các dân tộc thiểu số vẫn còn chậm và nhiều nghị
định đã yêu cầu thực hiện tốt hơn việc giáo dục song ngữ trong
các vùng dân tộc ít người trong suốt những thập kỷ vừa qua'
Một trở ngại chính của việc chuyển tiếp và nhận những con
em dân tộc thiểu số vào học các trường phổ thông trung học cơ
sở là chính "chương trình học cho trẻ em dân tộc thiểu số" Mặc
dù một chương trình giáo dục tiểu học chuẩn quốc gia mới cho
trẻ em dân tộc thiểu số được ban hành trong năm học 2002-
2003, nhưng phải đến năm học 2006-2007 mới thực hiện được ở
tất cả năm lớp của trường tiểu học Nói cách khác, trẻ em dân
tộc thiểu số sẽ tiếp tục học theo chương trình 120 tuần so với
chương trình 165 tuần cho học sinh người Kinh Chương trình
120 tuần chỉ có ba môn, trong khi chương trình 165 tuần có 9
môn Về số lượng bài học, trẻ em người Kinh được học 4.801 bài
trong 5 nam học, trong khi đó các học sinh dân tộc ít người chỉ
nhận được 2.160 bài hay ít hơn 1/2 số bài các em người Kinh
nhận được trong giai đoạn tiểu học Vì tất cả các học sinh đủ
tiêu chuẩn vào học phổ thông cơ sở phải qua kỳ thi sát hạch
được chuẩn hóa, nên không lấy gì làm lạ rằng tương đối ít các
1 Xem Hoàng Văn Sít: Giáo dục song ngữ cho các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ, Hà Nội, 11-2001, chương 1
em dân tộc thiểu số đủ điều kiện vào các trường phổ thông cơ sở
Một nhân tố quan trọng nữa về việc ít học sinh dân tộc thiểu số được vào cấp học này vì đơn giản là thiếu cơ sở vật chất và giáo
viên Đặc biệt là ở vùng hay các cộng đồng nghèo nhất, đường
tới các trường phổ thông cơ sở gần nhất cũng rất xa; thiếu
trường lớp và giáo viên đủ tiêu chuẩn Điều này lại có ảnh
hưởng đến số nhập học thấp của những nhóm dân tộc thiểu số, nhất là các trẻ em gái là những em sẽ phải sống trong trường nội trú xa nha’
lý do khác trong việc cách biệt các dân tộc thiểu số Trong cuộc
chiến tranh giành độc lập, một số nhóm dân tộc thiểu số đã cộng tác với người Pháp, người Mỹ và do đó phúc lợi kinh tế - xã hội
của họ có thể không cao lắm trong các chương trình phát triển
của Chính phú” Ngày nay, Chính phủ đang tăng cường rất
1 Xem: Góp ý của chương trình giáo dục cho báo cáo hiểm điểm giữa bỳ
cua UNICEF, Hà Nội
2 Xem Nguyễn Minh Quang: "Vai trò của Đạo Tin lành và Thiên chúa giáo trong lịch sử đô hộ thuộc địa ở Việt Nam", Những tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2001