1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef

96 350 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền con người cho Phụ nữ và Trẻ em UNICEF
Trường học Học Viện Thanh Thiên Việt Nam
Chuyên ngành Quyền con người và chính sách xã hội
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị thế của người chịu trách nhiệm và người được hưởng quyền không phải là một sự ràng buộc bất di bất dịch đối với một người mà là một quan điểm về vai trò của người đó trong một mối qua

Trang 1

1 GIGI THIEU

“Phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con

người” là tên một chiến lược chương trình nhằm lông ghép các

mô hình và điều khoản của Công ước về quyền trẻ em vào

những chương trình phát triển của UNICEE Cách tiếp cận này

được chính thức đưa ra vào năm 1998 trong một chỉ thị của Ban

Diéu hanh UNICEF va được nhấn mạnh lại trong một bản báo

cáo trình lên Hội đồng Chấp hành của UNICEF năm 19991

Phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người

yêu cầu đặt những mục tiêu chương trình ngắn hạn trong

khuôn khổ các mục tiêu dài hạn nhằm thay đổi cơ bản những

điều kiện sâu xa luôn cản trở việc thực hiện đầy đủ Công ước về

quyền trẻ em và Công ước xóa bỏ tất ca các hình thức phân biệt

đối xử với phụ nữ” Nói cách khác: mục đích cuối cùng của cách

tiếp cận chiến lược này là củng cố những quá trình cải cách xã

hội và văn hóa của đất nước theo hướng tôn trọng và thực hiện

các quyền của trẻ em và phụ nữ”

1 UNICBE: "Hướng dẫn cách thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền

con người", (CF/EXD/1998-04); Chương trình Hợp tác vì Trẻ em và Phụ nữ,

nhìn từ quan điểm quyển con người (E/ICEF/1999/11), Niu Oóc

2 Sđd, Xem thêm UNICBE: "Sách hướng dẫn Chính sách và Quy trình

Chương trình", Niu Oóc, 5-2008, tr.4-12

Sử dụng phương thức “Làm chương trình dựa trên cơ sỞ

quyền con người” không có nghĩa là cách làm việc của UNICEF

từ trước tới nay phải thay đổi hoàn toàn Tuy nhiên, khái niệm này đưa ra một cách nhìn mới về thiết kế, thực hiện và đánh giá chương trình Hai nhận định sau đây là nét quan trọng đối với

cách tiếp cận này: 1 Trẻ em là chủ thể của các quyền; 2 Quyền trẻ em được dựa trên mối quan hệ cơ bản giữa trẻ em — người

được hưởng quyền và có quyền yêu cầu - với tất cả những người lớn trong bộ máy nhà nước, cộng đồng và gia đình là những người có trách nhiệm pháp lý thực hiện các đòi hỏi đói Cách

tiếp cận “Làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người” ủng

hộ cách hiểu mới về trẻ em như là chủ thể của các quyền trong

một thế giới ngày càng phức tạp và trong một xu hướng toàn cầu theo hướng pháp quyền và dân chủ hóa Cách tiếp cận này

nhấn mạnh sự hỗ trợ kỹ thuật để thể chế hóa các quyền của trẻ

em và biến thành trách nhiệm của luật pháp và chính sách, do

đó thúc đẩy việc xây dựng một nhà nước và môi trường gia đình

bạn hữu với trẻ em Một giá trị nữa đối với trẻ em của cách tiếp

cận này là các chương trình dựa trên cơ sở quyền đề cao lòng tự

1 Vị thế của người chịu trách nhiệm và người được hưởng quyền không phải là một sự ràng buộc bất di bất dịch đối với một người mà là một quan điểm về vai trò của người đó trong một mối quan hệ đã xác định về luật pháp, như đã được nêu ra rất thích hợp tại Hội nghị Tư vấn toàn cầu của UNICEF

về “Cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển”: “Một cá nhân thường có hai vị thế: có quyền và chịu trách nhiệm nhưng cho các quyền khác nhau Lập kế hoạch dựa trên cơ sở quyền yêu cầu người ta phải công nhận và làm việc với những người được hưởng quyền ở tất cả các cấp trong xã hội (Hội nghị Tư vấn toàn cầu của UNICEF về cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người, Dar es Salaam (Tanzania), 2009 Báo cáo tóm tắt

va Kién nghi, UNICEF: Niu Oéc, 2002)

Trang 2

trọng, tính sáng tạo và niềm vui (tóm tắt là nhân phẩm) thông

qua những cơ hội ngày càng nhiều để tham gia trong gia đình,

trường học, cộng đồng và xã hội Cách tiếp cận thực hiện chương

trình dựa trên cơ sở quyền cũng đã được các nhà lập kế hoạch

và những người có trách nhiệm thực hiện các quyền dân sự của

trẻ em tiếp nhận Cách nhìn này càng làm cho mọi người quan

tâm hơn đến sự bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, xâm hại, bỏ mặc, bóc

lột và đề ra trong các chương trình nghị sự phát triển những

nhiệm vụ mới như cải cách sự chăm sóc trẻ em ở trung tâm, ở cơ

sở hoặc nâng cao sự thực thi luật pháp chống lại những kẻ xâm

phạm quyền trẻ em

Quan điểm “quyền”, do đó đã làm các cán bộ chương trình

UNICEF quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng pháp luật, các

chính sách công, ngân sách và đến việc thực hiện dịch vụ lồng

ghép liên ngành Quan điểm đó nhấn mạnh sự tham gia của

cộng đồng, thông tin và truyền thông như một phương tiện để

nâng cao quyền lực của người dân Nó làm tăng bản chất của sự

cộng tác giữa UNICBF với các phong trào xã hội dân sự và đề ra

những mục tiêu xây dựng các cơ chế giám sát quyền trẻ em và

xử lý những tố cáo, khiếu nại về vi phạm quyền trẻ em

Chúng ta không nên quên rằng, phương thức làm chương

trình dựa trên cơ sở quyền con người này của UNICEF là sự

tích lũy các bài học thu được từ những chương trình vì trẻ em

trong nửa cuối của thập kỷ trước Trong rất nhiều địp, UNICEF

đã chỉ ra rằng mặc dù các cế gắng phát triển trong những năm

1990 đã rất thành công trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em tuy

nhiên lại ít thành công hơn trong việc đạt những mục tiêu khác

với các nguyên nhân phức tạp hơn, ví dụ như suy dinh dưỡng protêin năng lượng và tử vong bà mẹ Theo quan điểm này, phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người

cố gắng xem xét các bài học này bằng cách giải quyết các vấn

đề phức tạp thông qua các cách tiếp cận mang tính chương trình có chiều sâu hơn!

Xây dựng năng lực để đòi hỏi quyền và thực hiện các nhiệm

vụ là ý kiến chủ đạo thứ hai về những chương trình dựa trên cơ

sở quyền” Có ba năng lực mà các chương trình dựa trên eơ sở quyền cần phải củng cố với những người có trách nhiệm công và

tư Trước hết, thông qua tuyên truyền vận động, hỗ trợ kỹ thuật

và những hoạt động truyền thông, phương thức tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người có thể ảnh hưởng đến những người chịu trách nhiệm thực hiện và những

người được hưởng quyền để thực hiện hay đồi hỏi quyền trẻ

em Thit hai, các chương trình này có thể góp phần xây dựng quyền của người chịu trách nhiệm thực hiện và người được

hưởng quyền thực hiện những hoạt động để thực thi những quyền thông qua việc phát triển pháp luật và chính sách

cũng như qua truyền thông và giáo dục Thứ ba, các chương

trình dựa trên cơ sở quyền có thể hỗ trợ những người có trách nhiệm thực hiện và những người được hưởng quyền tiếp cận các nguồn lực cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ hay đòi hỏi

quyền của họ thông qua tập huấn, cung cấp hàng hóa và hỗ

trợ tài chính”

1, 2, 3 Xem Jonsson, Urban: "CAch tiép cận làm chương trình phát triển dựa trên cơ sở quyền con người", UNICEF, Kenya, 2003, tr.9, 21, 23

Trang 3

Vì mối liên quan giữa người được hưởng quyền và người có

trách nhiệm thực hiện đối với cách tiếp cận dựa trên cơ sở

quyền có tầm quan trọng cốt lõi, nên các chương trình cần phải

được dựa trên sự hiểu biết sâu sắc những điều kiện lịch sử và

chính trị cho việc xây đựng năng lực về quyền con người Vì lý

do đó, cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền có

tác động đặc biệt đối với sự phân tích tình hình và làm kế hoạch

chiến lược Hướng dẫn chương trình của UNICEEF đề xuất ba

mặt cơ bản của sự phân tích chương trình:

1 Phân tích quan hệ nhân quả: mô tả những thách thức lớn

đối với các quyền trẻ em cũng như những nguyên nhân trực

tiếp, sâu xa và mang tính cấu trúc, bao gồm các đề nghị giải

quyết một cách tốt nhất

2 Phân tích cấu trúc mô hình: phân tích tại sao và như

thế nào mà các cá nhân và cơ sở chịu trách nhiệm thực hiện

quyền trẻ em lại không làm đúng trách nhiệm của họ, không

đòi hỏi quyền trẻ em, triển khai các lĩnh vực chính của xây

dựng năng lực và tuyên truyền vận động để khắc phục những

tổn tal

3 Phân tích nguồn lực: xem tất cả các cấp có liên quan của

nhà nước và xã hội có phân bổ và quản lý đẩy đủ các nguồn

nhân lực, tài lực và tổ chức không?!

Từ khi phương thức này được đề ra vào năm 1998, nhiều

cuộc tập huấn và nghiên cứu điển hình được tiến hành trên

1 Xem UNICEE: "Hướng dẫn về Cách tiếp cận làm chương trình dựa

trên cơ sở quyền con người Niu Oóc: CF/EXD/1998-04

khắp thế giới! UNICEF đã thực hiện và xuất bản một nghiên

cứu phân tích rất tốt về lý thuyết và phương pháp? và UNICEF

đã tổ chức một số cuộc họp tư vẫn toàn cầu về cách tiếp cận nay

1 Xem UNICEF Khu vực Đông Phi: "Triển khai Khu vực Đông Phi về Hướng dẫn UNICGBF toàn cầu về làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người", Nairobi, 2001; UNICEF Khu vực Nam A: "Tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người", Kathmandu 2001; UNICEF Pakixtan: "Cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyển con người (RBAP)", Islamabad, 2000; UNICEF Déng A va Thai Binh Dương: "Báo cáo về Tập huấn khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho giảng viên, Băng-cốc, 1998; UNICEF khu vực Mỹ Latinh: "Làm chương trình dựa trên cơ sở quyển ở LAC", Quito, 2003; UNICEE Peru: "Tổng quan chương trình quốc gia UNICEF dua trên cơ sở quyền con người: Trường hợp của Peru", 2002; UNICEF Ecuador: "Ngân sách và quyển", 2003; Rebeca Rios-Kohn: "Lồng ghép cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người trong chương trình quốc gia: Kinh nghiệm của UNICBF ở Gioócđani", 2003; Kari Egge: "Kinh nghiệm của UNICEF Iran về chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh Iraq", Teheran, 2008; Alison Raphael: "Đánh giá ứng dụng HRAP/CCD vào các chương trình HIV/AIDS", Nairobi, 2003; Ruth Phiri "Sự thay đổi chất lượng cuộc sống thông qua cách tiếp cận dựa trên quyền đối với sự quản lý lồng ghép dựa trên cộng đồng các bệnh của trẻ em — Một nghiên cứu điển hình HRAP C-CIMCI ở Malawi", Lilongwe 5-2003; Rebeca Rios-Kohn: "Lam chucng trình dựa trên quyền: Kinh nghiệm của Mali", Mali, 2003; Alison Raphael: "Muéi 1A ké thù: Thực hién CCD để phòng chống sốt rét ở Môdămbích", Maputo, 2003; UNICEF Eritrea: "Tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền: Trường hợp của Britrea", Eritrea, 2003; Joan French: "Biến quyền được học tập trở thành sự thật: Burkina Faso", 2003; Charulata Prasada: "Nghiên cứu trường hợp điển hình: Hoạt động hóa làm chương trình dựa trên cơ sở quyền", UNICEF Nepal, 2001; UNICBE: "Sự tham gia của thiếu niên vào các hoạt động của chương trình trong điều kiện có xung đột và sau xung đột", Niu Oóc,

2003

2 Xem Jonsson, Urban: Sdd

Trang 4

ở châu Phi/Tanzania (2002), ở châu Mỹ Latinh/Ecuador (20083)

và châu Á/Việt Nam! Do những cố gắng này, phương thức làm

chương trình dựa trên cơ sở quyền con người đã trở nên phổ

biến và là một khái niệm được thảo luận sâu rộng ở ƯNICBE

Trong một cuộc khảo sát tại 165 văn phòng UNICBEF ở các nước

trong năm 2002, hầu hết những người quản lý cấp cao đều nói

rất quen thuộc với cách tiếp cận này? Tuy nhiên, khảo sát ấy

cũng cho thấy khái niệm này không được nhiều cán bộ chuyên

môn biết đến, điều này cũng chứng tỏ sự vận dụng thực tế của

cách tiếp cận này chưa được triển khai nhiều như các cuộc thảo

luận có tính khái niệm về cách tiếp cận Một đánh giá những

báo cáo hàng năm của UNICEEF và các văn bản chương trình

khẳng định là cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở

quyền còn hạn chế về phương điện rõ ràng và chưa kết hợp thật

chặt chẽ với những mặt cụ thể của cách tiếp cận này như: luật

pháp, các chính sách công, sự tham gia và tính trách nhiệm”

Phương thức làm chương trình dựa trên quyền con người

không chỉ giới hạn trong nội bộ UNICEF Đó là một phần của

quá trình lịch sử và chính trị hóa rộng lớn của việc điều chỉnh

1 Xem UNICEE: "Hội nghị Tư vấn toàn cầu về cách tiếp cận làm chương

trình dựa trên cơ sở quyền con người", Dar es Salaam, Tanzania, 2002;

UNICEF: "Ky yếu Cuộc họp tư vấn toàn cầu UNICEF lần thứ hai về cách tiếp

cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền ở ƯNICEF", Quito, 2003

2 "Phòng bảo đảm chất lượng và hướng dẫn chương trình, Cần sự hướng

dẫn nào? Cuộc khảo sát nhanh tại cơ sở về hướng dẫn chương trình chính",

UNICEF, Niu Oéc, 2003

3 Xem Caroline và Moser, Annalise: "Tiến lên cùng quyền con người

Đánh giá hoạt động vận dụng thực tế cách tiếp cận dựa vào quyền con người

trong cách làm chương trình của UNICEF", Niu Oóc, 2003

lại hướng hỗ trợ phát triển quốc tế Nội dung chính trị sau sự

xuất hiện của viện trợ phát triển giữa thế kỷ trước —- như đấu

tranh giành độc lập trong thế giới đang phát triển, sự liên kết của thế giới các nước phát triển, sự xung đột chính trị giữa các

siêu cường trong chiến tranh lạnh — đã mất đi rất nhiều Điều

này đã làm cho những nhà lãnh đạo ở các nước phát triển dần dần không quan tâm đến tính chất bức bách về xã hội và chính trị của viện trợ phát triển Sự cam kết tài chính ngày một giảm

cho Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là một minh chứng

của xu hướng này Vì cuộc thảo luận truyền thống về phát triển

đang mất đi sự hấp dẫn về chính trị và tài chính, người ta đã

bắt đầu suy nghĩ lại một cách rộng rãi hơn về viện trợ phát triển và đi tìm những mô hình mới cho sự hợp tác quốc tế Một trong những mô hình đó là cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ

sở quyền con người

Một số ý tưởng và thông lệ chính trị đã đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của cách tiếp cận mới này! Một nguồn quan

trọng cho phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người được những nhà làm luật và các chuyên gia về phát triển hết sức nỗ lực nghiên cứu kỹ càng nhằm khai thác những tác động thực tế của các công ước quốc tế về quyền con người đối với pháp luật, chính sách và chương trình quốc gia Một loạt đầu vào nữa là từ những đòi hỏi xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa của các phong trào nhân dân trên khắp thế giới ví dụ như những phong trào của phụ nữ và người bản địa Một cơ sở thứ

ba của phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con

1 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sự nổi lên của các quyển, Tóm tắt chính sách, 17-8-2003

Trang 5

người đã nổi lên trong các cuộc thảo luận học thuật và chính trị

xung quanh các khái niệm quyền công dân và quản trị Và một

dòng thứ tư nữa có liên quan đến nhận thức lại về vai trò của

nhà nước trong các nước đang phát triển sau những kinh

nghiệm xã hội với hai thập kỷ lẫn lộn giữa các mô hình và chính

sách tân tự do Một số tác giả đã chỉ ra rằng:

“Chương trình phát triển dựa trên cơ sở quyền phải được

đặt trong mối quan hệ với toàn cầu hóa và những tư tưởng tân

tự do trong những năm gần đây đã là động cơ của phát triển

Sau một thời gian nhà nước lui về phía sau, các yêu cầu mới lại

mong muốn nhà nước đóng một vai trò tích cực hơn nữa trong

phát triển Về khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng cộng

đồng quốc tế và các đối tác đang cố gắng căn cứ vào những

chương trình dựa trên cơ sở quyền để định nghĩa lại nhà nước

hiện đại ”

Vô số kinh nghiệm và quan điểm nhiều mặt về một cách

tiếp cận dựa trên cơ sở quyền đang tạo ra một cuộc thảo luận lý

thú trong nhiều tổ chức phát triển về ý nghĩa chính xác và

những tác động thiết thực của khái niệm này

“Mặc dù một số người tin rằng những cách tiếp cận mới dựa

trên cơ sở quyền hứa hẹn tiểm năng cho một sự thay đổi cơ bản

1 Xem Fisher, Ele; Acre, Alberto: "Thiét ché hóa quyền và sự đòi hỏi quyền ở

địa phương", On£rac, số 23, tháng Giêng 2003, tr.7; xem thêm Nelson, Paul J.;

Dorsey, Ellen: "Ở mối quan hệ giữa quyền con người và sự phát triển: Những

phương pháp và chiến lược mới của các tổ chức phi chính phủ toàn cầu" Phớt triển

thế giới, t 31, số 12, tr 2014; Stavenhagen, Rodolfo: "Nhu cầu, quyền và Phát

triển xã hội", Viện Nghiên cứu phát triển xã hội của Liên hợp quốc, 7-2003,

Frankovits, Andre: "Quy tắc cuộc sống Sự tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở

quyển con người" Praxis Chuyén san nghiên cứu phát triển của Đại học Luật và

Ngoại giao Fletcher, Viện Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr 9-17

và tích cực đối với các mối quan hệ của những cơ quan phát triển quốc tế với các chính phủ và xã hội dân sự ở các nước đang tiếp nhận tài trợ, nhiều người khác vẫn còn mơ hồ, lúng túng về tính thích hợp của những phương pháp đó đối với việc thực hiện những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ Một vài nhà quan sát

nghi ngờ rằng các cơ quan đã lạm dụng ngôn ngữ “các quyền” mà không thay đổi niềm tin cơ bản của hợ”

Những người khác đã chỉ ra rằng phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người đã thành công trong việc hướng dẫn các tổ chức quyền con người chủ đạo cũng như các tổ chức phát triển nhằm tiến tới một sự hiểu biết tổng hợp về các quyền chính trị và dân sự, văn hóa, xã hội và kinh tế càng có tầm quan trọng như vậy để thực hiện đầy đủ quyền con người:

“Cho đến gần đây, các chính phủ tài trợ đã quan tâm chủ yếu

đến việc cố gắng định nghĩa khá hẹp về quyền con người có liên quan đến những quyền tự do chính trị và đân sự như là một mặt của việc quản lý tốt Người ta thông hiểu sự tiếp cận dựa trên cơ sở quyền là rộng hơn thế bởi vì tất cả các quyền, trong đó có các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được coi là không thể chia cắt được, có quan hệ tương hỗ và phụ thuộc vào nhau””

1 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sđở, xem thêm: Uvin, Peter: "Về cơ sở đạo đức cao: Sự hợp nhất quyển con người của các cơ sở phát triển", Praxis Chuyên san nghiên cứu phát triển của Đại học Luật và Ngoại giao Fletcher, Viện Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr.19-26 và Slim, Hugo: Cần coi trọng đạo lý: Quyền như cuộc đấy tranh cho công lý và Sự tiến bộ phát triển", Sđd, tr 27-30

2 Xem Viện Nghiên cứu phát triển: Sđởd, xem thêm: Appleyard, Susan:

"Cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở quyển: Các văn kiện chính sách của Liên hợp quốc, các cơ quan phát triển và phi chính phủ nói gì", Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) Băng-cốc 2002 và Nguyen, Flore:

"Những nét nổi lên của chính sách phát triển dựa trên cơ sở quyền của Liên hợp quốc, các cơ quan hợp tác và phát triển và phi chính phủ", OHCHR:

Trang 6

Những tổ chức ủng hộ nhiệt tình nhất phương thức làm

chương trình dựa trên cơ sở quyền con người là các tổ chức xã

hội và các tổ chức phi chính phủ như Radda Barnen! Một vài tổ

chức tài trợ song phương cũng đã nghiên cứu và ủng hộ cách

tiếp cận mới này như Cơ quan phát triển quốc tế Anh (DFTID),

Cơ quan phát triển quốc tế Thụy Sĩ (DEZA) và đặc biệt là Cơ

quan phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida)? Trong khi Ngân

hàng Thế giới còn đang chưa thật đứt khoát với phương thức

làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người này, các cơ

quan Liên hợp quốc đã tiến tới một sự hiểu biết thống nhất sơ

bộ về cách làm chương trình dựa trên cơ sở quyền? Sự hiểu biết

Băng-cốc, 2002

1 Xem Lage Bergström: "Bài học rút ra từ các cuộc thảo luận về quyền trẻ

em: Những kết luận từ các bản báo cáo đánh giá", Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy

Điển, 2001; "Làm chương trình về quyền trẻ em: Làm thế nào để áp dụng những

cách tiếp cận làm chương trình dựa trên cơ sở quyền", Tổ chức cứu trợ trẻ em

Thụy Điển, 2002; Julian Y Kramer: "Làm chương trình về quyền trẻ em — Những

kinh nghiệm từ Tổ chức cứu trợ trẻ em Nauy", Oslo, 2003

2 Xem Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA): "RBM va su tham gia

của trẻ em: Hướng dẫn lồng ghép những kết quả của sự tham gia của trẻ em

vào các chương trình của CIDA", Canada, 2002; Laure-Hélène Piron: "Rút ra

các bài học từ cách tiếp cận Hỗ trợ phát triển dựa trên quyền của Cơ quan

phát triển quốc tế của Anh, ODI, London, 2003; Phil Evans: Lỗổng ghép quyền

con người vào phát triển: Công tác đang triển khai ở Cơ quan Phát triển quốc

tế Anh", Quito, 2003; Sida: "Giáo dục, dân chủ và quyền con người trong Hợp

tác Phát triển Thụy Điển", Thụy Điển, 4-2001

3 Về UNDP và làm chương trình dựa trên cơ sở quyền, xem Hijab,

Nadia: "Điểm lại chương trình dựa vào quyền con người ở UNDP", 10-2002; Về

quan điểm của Ngân hàng Thế giới về cách tiếp cận làm chương trình dựa

trên cơ sở quyền, xem sự phân tích tuyệt vời của Brodnig, Gernot: "Ngân hàng

Thế giới và Quyền con người: Nhiệm vụ không thể thực hiện được?" Prưxis,

Vién Dai hoc Tufts, Tap XVII, 2002, tr.41-51

chung này đòi hỏi các chương trình hợp tác phát triển do Liên

hợp quốc hỗ trợ cần “đẩy mạnh” việc thực hiện quyền con người

như đã được quy định trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con

người và những văn kiện quốc tế về quyền con người khác Các

chương trình phát triển cần nhằm mục đích nâng cao khả năng

của những người thực hiện nhiệm vụ làm tròn nhiệm vụ của họ

và khả năng của những người có quyền thụ hưởng các quyền

của họ!

Sự thống nhất chung về phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền là một bước quan trọng đối với các cơ quan Liên hợp quốc để hỗ trợ cho việc thực hiện Tuyên bố Thiên niên

kỷ với toàn bộ ý nghĩa đầy đủ của nó Tuyên bố Thiên niên kỷ

năm 2000 nhấn mạnh những nguyên tắc quyền con người,

quyền trẻ em, dân chủ và quản trị tốt cho hòa bình thế giới và phát triển: “Chúng ta công nhận rằng, ngoài những trách

nhiệm riêng của chúng ta đối với các xã hội, chúng ta có trách nhiệm chung là đề cao các nguyên tắc về nhân phẩm, bình đẳng

và công lý ở cấp toàn cầu Là người lãnh đạo, chúng ta có trách nhiệm và nhiệm vụ đối với dân chúng toàn thế giới, đặc biệt đối

với những người dễ bị tổn thương nhất, nhất là trẻ em mà tương lai chính sẽ thuộc vào các em””

1 Xem "Cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người đối với Hợp tác và Phát triển: Tiến tới sự hiểu biết chung giữa các cơ quan Liên hợp quốc", Báo cáo của Hội thảo liên cơ quan lần thứ hai về thực hiện cách tiếp cận dựa trên

cơ sở quyền trong khuôn khổ của công cuộc cải tổ Liên hợp quốc, Stamdford, USA, 5 dén 7-5-2003

2 Xem Nghị quyết 55/2 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Tuyên bố Thiên niên bỷ, Niu Oóc, 9-2000

Trang 7

2 QUYỀN TRẺ EM VÀ QUÁ TRÌNH “ĐỔI MỚI”

Ở VIỆT NAM

Việt Nam đang trải qua một quá trình chuyển đổi kinh tế

và xã hội cực kỳ nhanh, phức tạp và khó khăn được biết tới là

quá trình “đổi mới” Quá trình đó là bối cảnh xã hội và chính

trị có tác động đến tình hình quyền trẻ em ở Việt Nam Quá

trình này bắt đầu năm 1986, khi Đại hội lần thứ VI, Đảng

Cộng sản Việt Nam quyết định đổi mới toàn diện đất nước

“Đổi mới” được dựa trên ba quá trình cơ bản: 1) quá độ từ nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có

định hướng xã hội chủ nghĩa và sự quản lý của nhà nước, 9)

tăng cường pháp quyền và sự tham gia của công đân vào quá

trình ra quyết định và 3) có chính sách mở cửa đối với tất cả

các nước trên thế giới Các quá trình đó đã đánh dấu sự phát

triển của xã hội Việt Nam và đã mở đường cho việc đưa những

quyền của trẻ em và phụ nữ vào các chương trình và dự án cho

trẻ em và phụ nữ

Các văn kiện của Đại hội VI đã dùng từ “quyền”, nhưng

ngôn từ này được thể hiện bằng các khái niệm như “dân chủ” và

“quyền”: “Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chế hóa

bằng pháp luật và tổ chức Dân chủ đi đôi với kỷ luật, quyển

hạn và lợi ích đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ Mỗi người đều

phải làm chủ lao động của mình, làm việc có kỷ luật, với năng

suất và hiệu quả cao đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây

dựng đất nước”!

Mặc dù những quy định chung của Đại hội VI là đẩy mạnh cải cách kinh tế nhưng trong một chừng mực nào đó, sự dân chủ hóa, những đường hướng của đại hội cho các lĩnh vực xã hội đặc biệt phù hợp với những đối tác và chương trình của UNICBF vẫn còn gắn chặt vào các tư tưởng truyền thống Những phương châm này tập trung vào một số các vấn đề chính sách xã hội hiện nay

và vẫn được xem là hàng đầu trong chương trình xã hội của Việt Nam như: tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khỏe ban đầu, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục trẻ thơ, giáo dục tiểu học, trung học

và đại học cũng như dạy nghề, văn hóa, bảo hiểm an toàn xã hội

và quan tâm đặc biệt đến dân tộc thiểu số Nhưng trong năm

1986, những chủ đề này mới chỉ được đề cập đến và thiếu hẳn

một loạt vê mục đích và mục tiêu, chiến lược cụ thể

Trong năm 1989, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á chấp nhận và phê chuẩn Công ước về quyển trẻ em và là nước thứ hai trên thế giới đã làm việc này Năm 1989 và những năm sau đó

là sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Tình hình

quốc tế này có tác động sâu sắc đến Việt Nam Các viện trợ tài chính, vật chất và kỹ thuật từ các quốc gia Đông Âu ngừng đột ngột Để đáp ứng với tình hình quốc tế mới, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đẩy nhanh cải cách kinh tế nhưng giữ vững vai

trò lãnh đạo của Đảng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn biện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ VỊ,

Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.111

Trang 8

Thành công của cải cách kinh tế rõ ràng đã làm Ban lãnh

đạo Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 tái khẳng

định và mở rộng đường hướng đã triển khai trong các năm qua

và bổ sung một khung thời gian đầy kỳ vọng: “Từ nay đến năm

2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước

công nghiệp”! Một kế hoạch chi tiết về hiện đại hóa kinh tế đã

được đề ra hỗ trợ cho quyết định này, bao gồm sự thu hút đầu tư

nước ngoài và bảo đảm sở hữu tư nhân nhằm khuyến khích các

nhà tư sản tư nhân đầu tư hoạt động kinh doanh lâu đài

Những văn kiện của Đại hội lúc đó cũng có một chương trình rõ

ràng, tập trung và chi tiết hơn về các chính sách xã hội hơn năm

1986: tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế, kế

hoạch hóa gia đình và đấu tranh chống “các tệ nạn xã hội.” Đây

là lần đầu tiên khái niệm này được đưa vào những chính sách

công Một yêu cầu mạnh mẽ về phân cấp quản lý của bộ máy nhà

nước cũng như cải cách hệ thống tư pháp và đấu tranh chống

tham nhũng cũng xuất hiện vào thời gian này Có nhiều tài liệu

nói đến những nhu cầu của trẻ em và người chưa thành niên,

nhưng không đề cập về quyền trẻ em

Đồng thời, Việt Nam bắt đầu đóng một vai trò quốc tế nổi

bật trong hệ thống Liên hợp quốc Việt Nam được bầu là Phó

Chủ tịch của Hội đồng Chấp hành UNICEF giai đoạn 1996 —

1998, được bầu vào Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc giai

đoạn 1998 — 2000 và vào Hội đồng Chấp hành của UNDP/UNFPA

(Chương trình Phát triển Liên hợp quốc - Quỹ Dân số Liên hợp

quốc) giai đoạn 2000-2002 Tiếp theo, Việt Nam cũng phê chuẩn

Công ước số 182 của Tổ chức Lao động quốc tế (LO) chống lại

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.80

các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em trong năm 2000,

cũng như hai Nghị định không bắt buộc của Công ước về quyền

trẻ em trong năm 2001 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em và Nghị định

thư về việc lôi kéo trẻ em tham gia xung đột vũ trang)

Đại hội Đảng lần thứ IX đã đi theo đường lối của các Đại hội Đảng trước, và còn chi tiết hóa và nhấn mạnh các mục tiêu, kế hoạch và chiến lược cho quá trình cải cách Đại hội Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001- 2010) tiến tới mục tiêu công nghiệp hóa năm 2020, một kế hoạch kinh tế - xã hội 5 nam cũng như nhiều chương trình có cơ

sở bền vững cho người nghèo và người dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, ý tưởng dịch vụ y tế tư nhân cũng được nêu ra (“nhằm

phát triển dịch vụ khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân thử thí điểm liên doanh giữa dịch vụ y tế nhà nước và nước ngoài,

các ngành y tế và được”)

Việc bổ nhiệm ông Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư mới

làm cho mọi người hy vọng sự cam kết mạnh mẽ liên tục của

Đảng đối với quá trình cải cách' Thực vậy, sau Đại hội IX cua

Đảng, Chính phủ đã triển khai nhiều quyết định kinh tế để đẩy

mạnh hơn nữa tốc độ của quá trình cải cách, Việt Nam đã ký một Hiệp ước thương mại song phương với Hoa Kỷ trong tháng

12 năm 2009, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua một quy định cho phép đẳng viên kinh doanh Những quyết định này đã đẩy mạnh thêm sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân Sự phát triển này thực tế đã có sau khi có luật mới về doanh nghiệp tư nhân Theo Ngân hàng Thế giới nếu như năm 1990

1 Xem UNICEF Việt Nam: Béo cáo thường niên năm 2001, tr.2

Trang 9

chỉ có 110 doanh nghiệp tư nhân thì năm 2000 đã có 35.000 và

chắc chắn đã tăng gấp đôi vào năm 2001 Đồng thời, Chính phủ

đã tiến hành một quá trình tổng hợp để đi đến một Chiến lược

toàn điện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo

Quyền trẻ em được công nhận ở Việt Nam

Đại hội Đảng lần thứ IX sử dụng từ “các quyền trẻ em”

lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng: “ Chính sách

chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ

em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an

toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ,

tinh thần và đạo đức”! Việc đưa quyền của trẻ em vào thuật

ngữ của Đảng Cộng sản là một sự đột phá giúp cho UNICEF

và những đối tác của UNICEEF làm việc với các cấp của Nhà

nước và xã hội

“Đổi mới”

Ngày nay, “đổi mới” được coi như một mô hình của một quá

trình chuyển đổi thành công từ một nền kinh tế kế hoạch hóa

tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội

chủ nghĩa “Đổi mới” đã tạo ra những tỷ lệ tăng trưởng hàng

năm khoảng 8% từ năm 1990 và đã tạo ra những cải thiện rất

ấn tượng trong cuộc sống của người dân (Hình 1) Những cải

thiện rất mạnh mẽ về sức khỏe và giáo dục của trẻ em chủ yếu

là nhờ kết quả của sự tăng thu nhập của gia đình, gắn chủ yếu

với sự tự do hóa nền kinh tế nông thôn Tuy nhiên, giai đoạn

sau của đổi mới sẽ đầy thách thức Cơ sở kinh tế - xã hội hiện

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sở, tr.107

nay cao hơn nhiều so với những năm 1980, do đó sự tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện xã hội hơn nữa sẽ đòi hỏi những thay đổi thậm chí còn toàn diện hơn trước đây Những thành quả tăng thêm nữa không phải "tự nhiên mà có" như là kết quả của thu nhập gia đình được tăng lên Mục tiêu đầy kỳ vọng biến Việt Nam thành một xã hội công nghiệp hóa vào năm 2020 đòi

hỏi một khả năng quản lý và kỹ thuật cao hơn nhiều của các cở

quan nhà nước trong những chính sách khác nhau và một sự cân đối cẩn thận giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội để duy trì được sự ổn định về xã hội và chính trị

Hình 1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam

trong giai đoạn 1991-2002

9.54 9.34 8.15

Trang 10

Quá trình đổi mới đã đặt lãnh đạo Đảng trước hai câu hỏi

cơ bản:

1 Làm thế nào để đẩy mạnh sự tự do hóa kinh tế mà vẫn

duy trì được những kết quả xã hội tích cực của chế độ xã hội chủ

nghĩa? Sự triển khai cơ chế thị trường trong nền kinh tế làm

tăng thêm khoảng cách xã hội giữa người giàu và người nghèo

và đặt ra thách thức là làm thế nào để duy trì sự bình đẳng xã

hội ở trong nước?

2 Đảng làm thế nào để bảo đảm sự độc quyền về chính trị

khi nền kinh tế thị trường và mức sống ngày một cải thiện tạo

ra sự mong đợi được hưởng thêm tự do cá nhân, tự do kinh tế và

sự tham gia chính trị của người dân Do đó, các nhà lãnh đạo

chính trị ở Việt Nam sẽ phải tìm những biện pháp để hướng yêu

cầu này bằng cách nêu ra các khả năng và lĩnh vực để người

dân có thể tham gia

Những thách thức chung này cũng xác định các không gian

và ranh giới cho việc ấp dụng phương thức làm chương trình

dựa trên cơ sở quyền ở Việt Nam Trong bối cảnh này, một cuộc

thảo luận sôi nổi về quyền trẻ em đã được tiến hành và cuộc

thảo luận bao gồm phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở

quyền con người để triển khai chương trình hợp tác quốc gia

giữa UNICEF và Chính phủ Việt Nam Những ý tưởng và cuộc

thảo luận như vậy cuối cùng đã phản ánh một nhu cầu bức xúc

phải cải cách luật pháp, chính sách và chương trình đối với trẻ

em nhằm chuẩn bị cho trẻ em phù hợp với những thay đổi to lớn

mà Việt Nam đang trải qua

“Đối mới” và quyền trẻ em

Nhưng tại sao quyền lại cần thiết? Các chương trình vì trẻ

em dua trén cd sd quyén con người có tốt hơn cho trẻ em không? Một chính phủ thực hiện thành công xóa đói giảm nghèo như

Chính phủ Việt Nam đã nêu vấn đề giá trị gia tăng độc đáo của

phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người trong việc lập kế hoạch so với những cách tiếp cận truyền thống theo từng chương trình Có nhiều cách trả lời câu hỏi này Theo quan điểm lịch sử và duy vật, người ta sẽ lý luận rằng sự cần

thiết phải phát triển vị thế của trẻ em như là những người có

quyền về tất cả các phương điện trong cuộc sống đi đôi với việc hiện đại hóa xã hội Sự thay đổi xã hội cực kỳ nhanh mà Việt Nam đang trải qua đặt trẻ em và thanh thiếu niên trước một loạt các cơ hội và vấn đề mà những thế hệ trước, những thế hệ

lớn lên trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ (1954-1975) hầu như không biết đến Các thay đổi này củng cố thêm vai trò của

cá nhân trong những mối quan hệ sản xuất, tài sản và xã hội trong khi các mối ràng buộc với cộng đồng và gia đình — những

môi trường xã hội chủ yếu để nuôi dưỡng và phát triển trẻ em — dần dần trở nên có phần lỏng lẻo Trong tình hình này, quyền

trẻ em là một phương tiện để Nhà nước tăng cường quyền và

bảo vệ trẻ em, vì cơ cấu xã hội truyền thống ở Việt Nam đang có

sự thay đổi

Những vấn đề xã hội mới phát sinh từ quá trình chuyển đổi theo hướng một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ không thể giải quyết được, nếu nhà nước và xã hội giải quyết những vấn đề đó theo kiểu từ thiện truyền thống, hỗ trợ xã hội

từ trên xuống, tuyên truyền (vận động xã hội và truyền thông)

và trừng phạt Đây chính là một phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người tạo ra một chiến lược đầy đủ hơn

và hiệu quả hơn trong một nhà nước hiện đại và một nền kinh

Trang 11

té hién dai 6 đây, các mối quan ngại về kinh tế và pháp luật

cũng như những mối quan tâm cá nhân về kinh doanh và cuộc

sống cá nhân đều ngày một quan trọng Các quyền của trẻ em

nổi lên như một phần tất yếu của sự tiến bộ chung về pháp luật,

pháp quyền và nền kinh tế thị trường Trong các điều kiện kinh

tế và điều kiện xã hội mới, quyền trẻ em là một công cụ chính

sách quan trọng để Nhà nước bảo đảm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em ở

mức độ cao ở thời điểm mà vai trò của Nhà nước trong cuộc sống

kinh tế - xã hội đang giảm bớt do chi phí bao cấp và nhiều

nhiệm vụ kinh tế đang được chuyển dần cho các doanh nhân tư

nhân và gia đình

Quyền trẻ em và quyên con người

Việc triển khai dẫn dẫn quyền trẻ em ở Việt Nam đã có

những tác động xúc tác đối với sự thúc đẩy quyển con người

Quyền trẻ em là lĩnh vực quyền con người mà có thể thảo luận

công khai và rộng rãi ở Việt Nam Chính phủ cũng đã chỉ ra

một cách rõ ràng vấn đề này trong Báo cáo gửi Ủy ban về quyền

trẻ em: “Công ước về quyền trẻ em là một trong những điều ước

Liên hợp quốc quan trọng về quyền con người mà Việt Nam đã

phê chuẩn Hiện tại, thực hiện quyền trẻ em là một trong

những trọng tâm của quyền con người ở Việt Nam”' Mặc đù, sự

cởi mở của Chính phủ trong lĩnh vực quyền trẻ em thật đáng

khích lệ, song chúng ta nên biết rằng những khái niệm liên

quan đến quyền con người nói chung vẫn là vấn đề nhạy cảm

1 Xem: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Báo cáo thực hiện Công

ước về quyền trẻ em gia1 đoạn 1993-1998", Hà Nội, 1999, tr.10

nhất định! Chúng ta có thể thấy điều này một cach dé dàng khi

chúng ta nghiên cứu Khung hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc

(UNDAF) UNDAF giai đoạn 2001-2005 quy định mục tiêu bao trùm của sự hợp tác giữa Liên hợp quốc và Việt Nam: “ hỗ trợ

trong việc thúc đẩy những quyển được ghi trang trọng trong các tuyên ngôn, công ước của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã

ký, nhấn mạnh đặc biệt vào những lĩnh vực được Chính phủ

ưu tiên trong các kế hoạch chiến lược”? Mac dt van bản của tài liệu khung này không nói đến từ “quyền con người một

cách rõ rệt, vấn đề này được đề cập một cách gián tiếp như

những quyền kinh tế - xã hội hay “quyền phát triển” Thí dụ:

liên quan đến vấn đề quản lý và điều hành quốc gia, tài liệu nhấn mạnh đến những nguyên tắc không phân biệt và tham

gia: “tích cực bảo vệ những quyền của người nghèo và những

nhóm người bị thiệt thòi có thể giảm bớt khả năng bị xâm hại

và bị phân biệt Những chính sách, luật pháp bình đẳng và

thích hợp hơn có thể triển khai được khi tất cả các tầng lớp xã

hội đều tham gia nhiều hơn vào đối thoại, chính sách và ra

quyết định ở địa phương””

Ngày nay, Việt Nam đang phải giải quyết vấn đề giữa

những ưu tiên phát triển của đất nước và các tiêu chuẩn toàn

cầu về quyền con người Tình hình này không mới đối với Việt Nam Xã hội Việt Nam đang phải chịu sự thay đổi mạnh mẽ

không phải là từ khi “đổi mới” Những cuộc thảo luận sinh động

về các giá trị “cũ” và “mới”, về các hình thức của những mối

1 Năm 2002 và 2003, ở Quốc hội Mỹ, có một dự luật nhan đề “Dự luật quyền con người ở Việt Nam” đã không được thông qua

2, 3 Xem "Khuôn khổ hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc năm 2000", tr.7

Trang 12

tương tác xã hội đã là những nét phổ biến trong các cuộc thao

luận có tính học thuật ở trong nước từ nửa sau của thế ký XIX

Nhìn từ một quan điểm lịch sử lâu dài, “đổi mới” có thể đã đẩy

nhanh hơn quá trình thay đổi kinh tế - xã hội đã có Tư tưởng

Âu - Mỹ tiếp tục ảnh hưởng đến thanh niên Việt Nam, do trong

cuộc chiến tranh chống Mỹ, khi có nhiều sinh viên miền Bắc

được gửi đi học ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cũng như sinh

viên miền Nam sang Mỹ, Pháp

Trong bối cảnh lịch sử này, những phát hiện trong việc

nghiên cứu điển hình này về phương thức làm chương trình dựa

trên cơ sở quyền đã cho thấy cuộc hội ngộ không dễ dàng giữa

các khái niệm truyền thống về trẻ thơ đã ăn sâu bắt rễ trong các

truyền thống nông thôn Đông A voi những cái nhìn theo phong

cách đô thị mới đối với trẻ em

3 TÍNH PHỔ BIẾN CỦA QUYỀN

Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa là con người ai

cũng có quyền được hưởng những quyền đó và do đó, các quyền

đó phải được tôn trọng, chấp nhận và thực hiện ở tất cả các nước

trên thế giới Để đạt được mục đích này, cần phải có các biện pháp nhằm hỗ trợ sự tiếp thu và chấp nhận quyền con người ở

cấp quốc gia và cấp địa phương thông qua các hoạt động cải

cách luật pháp và thúc đẩy thực hiện các quyền Những quá

trình quan trọng nhất để tiến tới thực hiện giá trị phổ biến của

quyền con người là a) làm hài hòa hệ thống pháp luật và tư pháp quốc gia với các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế; b) đẩy mạnh

sự thay đổi văn hóa để hướng tới một đạo lý quyền con người thông qua những hệ thống truyền thông và giáo dục Cả hai quá trình này cuối cùng đều dẫn đến việc đưa quyền con người vào

các khuôn mẫu có tính tiêu chuẩn của xã hội

Trong trường hợp của trẻ em, sự công nhận thực tế quyền trẻ em được quyết định chủ yếu ở môi trường gia đình Nhưng

tính cách gia trưởng của gia đình ở hầu hết các nước đã hình thành một cách sâu sắc những quan điểm truyền thống về vị trí

của trẻ em và phụ nữ trong xã hội và tạo thành một rào cản văn

hóa rất phổ biến đối với việc thực hiện quyền của trẻ em và phụ

Trang 13

nữ Đó là lý do chính tại sao những quyền của trẻ em và phụ nữ

lại có quan hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau và cần phải được

phân tích cùng với nhau'

Cấu trúc gia đình và những quyền của phụ nữ

Việc xem xét “dựa trên cơ sở quyền” về những điều kiện

trong nước đối với sự thực hiện đầy đủ các quyền trẻ em ở Việt

Nam sẽ phải bắt đầu bằng việc phân tích lịch sử, cấu trúc của

gia đình Việt Nam và những mối quan hệ của nó với các quyền

của phụ nữ Về mặt lịch sử, cấu trúc gia đình từng thấy ở Việt

Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo Khổng và cho đến nay vẫn

có tính gia trưởng Tập quán gia đình Khổng giáo cho người

nam giới đứng đầu gia đình quyền lực tuyệt đối đối với các

thành viên gia đình Phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới

“Theo lễ giáo phong kiến, người phụ nữ bao giờ cũng ở vị trí phụ

thuộc, phải tuân theo tam tòng: khi ở nhà phải theo cha, khi lấy

chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai Trong

suốt cuộc đời của mình, phụ nữ là kẻ hèn mọn”” Đối với trẻ em

cũng vậy, phải hoàn toàn theo ý của người cha “Vợ và con phải

làm việc để gia đình thêm giàu có và không có của cải riêng

Người cha có quyền tuyệt đối đối với cá nhân các thành viên

trong gia đình Cha có thể bán, cho thuê và dùng con làm vật

gán nợ Chồng cũng có quyền như vậy đối với vợ Cha có toàn

1 Xem phần so sánh tuyệt vời giữa sự khác nhau và giống nhau giữa

quyền của trẻ em và quyền của phụ nữ của Goonesekere, Savitri: "Những

quyền của phụ nữ và trẻ em trong cách tiếp cận phát triển dựa trên cơ sở

quyền", Quito, 2003

2 Nguyễn Văn Huyên: Văn minh Viét Nam ngày xưa, Nxb Thế giới, Hà

Nội, 1995, tr.39

quyền trong việc cưới xin của con cái Cha có quyền bắt con cái

sống hoặc thậm chí phải chết”! Cho đến những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, một “đứa trẻ” vẫn là đứa trẻ cho đến khi cha mẹ qua

đời và thật sự chỉ có một số quyền hạn chế khi có gia đình Theo

phong tục xã hội, nữ có thể đi lấy chồng khi 16 tuổi, và nam lấy

vợ khi 20 tuổi Lúc đó, nam thanh niên phải đội khăn và thanh

nữ phải cặp tóc, cài trâm để “tổ ra mình đã đến tuần cập kê”

Cũng có một số quy định pháp lý trước đây nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ phải cho con ăn học và nuôi dưỡng” Nhung

nhìn chung trong nhiều thế kỷ, trẻ em Việt Nam không được

hưởng một quyền nào cả và những quyền của phụ nữ bị cực kỳ hạn chế

Mặc dù đạo Khổng được coi là mô hình chủ đạo trong đời

sống văn hóa của Việt Nam trong nhiều thế kỷ, ý kiến của các

nhà học giả Việt Nam về mức độ ảnh hưởng của Khổng giáo đối với gia đình Việt Nam và đặc biệt là vị thế của phụ nữ trong gia đình khác nhau rất nhiều Rõ ràng là phụ nữ Việt Nam phải lệ thuộc vào nam giới trong khuôn khổ gia đình chịu ảnh hưởng

của Khổng giáo, nhưng sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong

xã hội Việt Nam có thể ít nghiêm trọng hơn ở các nước châu Á khác Mặc dù đúng là một nghìn năm Bắc thuộc đã để lại vết

hằn sâu sắc trong xã hội, xã hội Việt Nam là một sự hòa lẫn

giữa các nền văn hóa dân tộc, đạo Khổng, đạo Phật, đạo Lão cũng như đạo Thiên chúa và tư tưởng phương Tây Lịch sử Việt Nam cũng có rất nhiều truyện và huyền thoại về các vị nữ anh

1, 2, 3 Xem Nguyễn Văn Huyén: Sdd, tr.26, 39, 45

4 Xem giai thich chi tiét cua Lé Thi: Vai tro cua gia đình trong uiệc hình thành nhân cách Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1999, tr.35

Trang 14

hùng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự chủ Thí dụ Hai

Bà Trưng đã lãnh đạo một đạo quân 80.000 người chống lại sự

chiếm đóng của ngoại bang trong năm 43 sau Công nguyên và

có rất nhiều những gương về các nhà lãnh đạo nữ ở Việt Nam

Và phụ nữ Việt Nam cũng sớm có được một số quyền trong pháp

luật quốc gia Thí dụ ngay từ năm 1483, Bộ luật Hồng Đức cũng

đã quy định những quyền của phụ nữ được thừa kế, ly đị và

được bảo vệ không bị bạo luc’

Tuy nhiên, yêu cầu về quyền bình đẳng nam nữ đã trở

thành một đề tài thảo luận ở Việt Nam, chủ yếu là cùng với ảnh

hưởng tri thức ngày càng tăng của phương Tây, nhất là từ Cách

mạng Pháp Đồng thời, trong khi những quyền của phụ nữ bị

xâm phạm rất tàn nhẫn dưới thời Pháp thuộc, các tư tưởng mới

về quyền con người và bình đẳng nam nữ cũng đã thấm sâu vào

những nhà trí thức Việt Nam trẻ Ngay từ năm 1917, nhà văn

Pham Quynh đã viết về “Giáo dục của phụ nữ”:

“Phụ nữ ở nước ta không bị đối xử tổi tệ, nhưng họ bi coi 1a

“kẻ bị lệ thuộc” và suốt đời họ bị lệ thuộc như vậy, không bao giờ

được độc lập, tự chủ và cũng không cần học hành và dậy dỗ

nhiều Liệu suy nghĩ đó có còn phù hợp với ngày nay? Chắc

chắn là không! Chắc chắn phụ nữ không sinh ra đã là lệ thuộc,

thấp hèn hơn nam gidi’”

Những ý tưởng như vậy đã góp phần đẩy mạnh sự luật

hóa quyền của phụ nữ Điển hình của việc triển khai quyền

1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tập tài liệu tóm tắt uê giới, Hà Nội, 2003

2 Dẫn theo Jameson, Neil L.: Tim hiéu Viét Nam, Berkley, Los Angeles,

London: Nha in Dai hoc California, 1993, tr.86

của phụ nữ trong giai đoạn này là Bộ Luật Dân sự Bắc Kỳ

năm 1931 nhấn mạnh quyền của cả nam và nữ được quyết

định việc cưới xin - một điều khoản nhằm chống lại tập tục

truyền thống là “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”: "Không thể có

việc cưới xin nếu không có sự đồng ý của đôi lứa hay một

trong hai người ấy"!

Ngay sau khi đất nước được giải phóng khỏi sự đô hộ của

Pháp, trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 đã nêu lên quyền nam nữ bình đẳng, được đi học và đào tạo Các phong trào xóa mù chữ được phát động để nâng cao trình độ

học vấn của phụ nữ Trong chiến tranh chống Mỹ, phụ nữ cũng

bắt đầu được trao thêm những nhiệm vụ chính trị ở các chính quyền địa phương và cũng đã tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh lâu đài, liên tục giành độc lập Từ năm 1964 đến năm

1975, tỷ lệ đại biểu nữ trong các Hội đồng nhân dân huyện đã

tt 25,5% lên 45,8% và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã trở thành một tổ chức quần chúng mạnh với hàng triệu hội viên” Những năm đài chiến tranh mà Việt Nam phải trải qua trong thế kỹ trước đồng nghĩa với việc cuộc sống gia đình truyền

thống thường bị xáo trộn hoặc ở một số trường hợp không thể tiếp tục tổn tại được nữa Nhiều trẻ em đã chỉ được nuôi dưỡng

bởi các bà mẹ, và các bà mẹ và trẻ em đều phải làm việc cực kỳ

1 Xem Nguyễn Văn Huyên: Sở, tr.28 (Vì chỉ có những nghiên cứu hạn chế về lịch sử và xã hội học về gia đình và các mối quan hệ trong gia đình ở các vùng và các tầng lớp khác nhau nên sự đánh giá xã hội — lịch sử về sự tiến hóa của gia đình Việt Nam trước thế kỷ XX bị hạn chế rất nhiều) (TG)

2 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tập tời liệu tóm tắt uê giới, Hà Nội,

2002, tr.22

Trang 15

vất và để bảo đảm cuộc sống Cả một thế hệ trẻ em khá đông

đã lớn lên thiếu vắng sự chăm sóc của người cha

Sự thống nhất đất nước vào năm 1975 đã dẫn tới việc xây

dựng xã hội chủ nghĩa trên toàn bộ đất nước Gia đình trước

kia, như một thiết chế xã hội, đã mất đi tầm quan trọng và

những chức năng kinh tế - xã hội cơ bản của gia đình đã dần

được các thiết chế của nhà nước đảm nhận:

“Đời sống chính trị và cuộc sống tinh thần cũng như nghề

nghiệp của từng cá nhân đã diễn ra theo một mô hình đặc biệt ở

ngoài gia đình Gia đình đã được thay thế hầu như bởi các thiết

chế xã hội khác về chức năng giáo dục của gia đình Các thành

viên gia đình ở độ tuổi lao động hầu hết đã trở thành công nhân

viên nhà nước, hay xã viên hợp tác xã G1a đình trước đây đã là

một đơn vị sản xuất độc lập thì bây giờ không thực hiện chức

năng kinh tế nữa (đối với các xã viên hợp tác xã, nền kinh tế gia

đình vẫn còn nhưng chỉ đóng một vai trò nhỏ bé) Gia đình trở

thành một đơn vị cung cấp lực lượng lao động cho xã hội Lương

và thu nhập của các thành viên gia đình phụ thuộc vào sự phân

phối của nhà nước và hợp tác xã”"

Những cải cách kinh tế bắt đầu trong năm 1986 đã có tác

động sâu sắc đến mô hình gia đình xã hội chủ nghĩa cũng như

tình hình của phụ nữ Các hộ gia đình bắt đầu phải tự quản lý

những hoạt động kinh tế Các hộ phải tích cực tổ chức để cải

thiện thu nhập gia đình Điều này bao gồm các nhiệm vụ mới

như tự đi tìm việc làm hay thị trường cho các sản phẩm nông

nghiệp Như vậy có nghĩa là có những thúc đẩy và sức ép với gia

1 Xem Lê Thi: Sdd, tr.54

đình phải làm tốt về kinh tế và nếu họ thành công, họ có thể có

được các dịch vụ xã hội cũng như hàng hóa tiêu dùng Tuy nhiên, những cơ hội và khả năng để thành công về kinh tế không đồng đều và vì một tỷ lệ lớn các gia đình sống dưới hay chỉ trên ranh giới nghèo một chút, nhiều gia đình chịu ảnh hưởng rất dễ bị sốc Hiện nay, nhiều gia đình triển khai các hoạt động tạo thu nhập khác nhau theo thời vụ hoặc tham gia vào rất nhiều các hoạt động tăng thu nhập khác nhau cùng một lúc Trong cả hai trường hợp này, gia đình cần nhiều nhân công

để thực hiện các hoạt động này Do đó, hàng triệu trẻ em ở các gia đình nông thôn phải tham gia vào việc tăng thu nhập, làm các công việc nông nghiệp và phi nông nghiệp Nhiều gia đình cũng tạm thời ra các trung tâm đô thị để tìm việc làm Tuy nhiên, do không đáp ứng các tiêu chuẩn, họ thường phải làm các lao động đơn giản và dựa vào những công việc lương thấp,

chủ yếu là ở khu vực phi cơ cấu Phụ nữ, trẻ em và người già thường được sử dụng trong khu vực này Thống kê cho thấy khoảng 1 — 2% số công nhân trong khu vực phi cơ cấu là trẻ em

dưới 15 tuổi và ð-8% số khác là thiếu niên từ lỗ — 18 tuổi Người lao động ở khu vực phi cơ cấu không được pháp luật bảo

vệ về giờ giấc, điều kiện làm việc, lương tối thiểu, tai nạn, ốm đau, về hưu và lương hưu”

Mặc dù việc đi dân có thể có hiệu quả về kinh tế dé bao dam

1 Xem Trần Thị Lan Hương: Tìm hiểu khu uực phi cơ cấu ở Hà Nội, Dự

án đào tạo Thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1999

2 Xem Adam MecCarty: "Những chính sách kinh tế vĩ mô, các hộ gia đình

và trẻ em ở Việt Nam", Dự thảo Báo cáo lần thứ nhất cho Hội nghị kiểm điểm

giữa kỳ UNICHE, Hà Nội, 7-2008

Trang 16

một sự thu nhập cơ bản cho gia đình, song vợ chồng và con cái

thường phải xa nhau trong những thời gian dài Điều này gây

nhiều vấn đề cho trẻ em Nhiều gia đình phải xé lẻ ra và nhiều

trẻ em di dân, em gái cũng như em trai phải làm các công việc

nguy hiểm và độc hại để giúp gia đình Các em dễ bị bóc lột và

xâm hại, kể cả xâm hại tình dục, bạo lực, nghiện ma túy, nhiễm

HIV/AIDS và thậm chí còn bị mua bán Ngoài ra, nhiều hình

thức “cung ứng lao động” mới, có tổ chức (các hội nghề nghiệp)

và không có tổ chức đã ra đời Sự hợp tác giữa những người dân

di cư và gia đình họ thông qua các mạng lưới không chính thức

ở quê là một điều đáng quan tâm đặc biệt Các mạng lưới này

quan tâm đến việc giao lưu qua lại, trao đổi người lao động và

có xu hướng tăng cường lao động trẻ em dưới nhiều hình thức'

Những cải cách kinh tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với

các quyền của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam Việt Nam

là một đất nước mà các vai trò giới đang trong giai đoạn chuyển

đổi Những khuôn mẫu về giới và giá trị về giới không mấy thay

đổi so với những thập kỷ hay thế kỷ trước, mặc dù công việc phụ

nữ thường làm hàng ngày đã thay đổi rất nhiều trong những

năm gần đây “Giải quyết, điều chỉnh những mong ước nhiều

mặt và đôi khi trái ngược nhau này đã tạo nên những căng

thẳng mới cho các thế hệ phụ nữ trẻ của Việt Nam Khối lượng

công việc sản xuất cả ngày hiện nay là ngược lại với các vai trò

và giá trị truyền thống làm cho người phụ nữ muốn tự cố gắng

~222

thực hiện các mong ước đó phải băn khoăn lo nghY”

1 Xem: Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh: Trẻ em làm thuê giúp viéc

gia đình ở Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

2 Xem Liên hợp quốc: Tập tài liệu tóm tắt uề giới, Hà Nội, 2003

Theo một số nhà nghiên cứu, “đổi méi” cũng có những tác

động mặt này, mặt khác đối với phụ nữ Một mặt, phụ nữ Việt Nam đã được hưởng một số mặt tích cực của việc nâng thu nhập

chung và khoảng cách về giới trong giáo dục là tương đối thấp!

Nhưng mặt khác, phụ nữ phải chịu thiệt thòi về cơ cấu theo co

chế thị trường hiện nay Phụ nữ chỉ được tiếp cận đất và vốn rất hạn chế Hầu hết tất cả các giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở Việt Nam đều đứng tên nam giới Chỉ 2,3% giấy chứng nhận

quyền sở hữu đất có tên cả chồng lẫn vợ Do đó, khi người phụ

nữ muốn vay vốn hay muốn giữ của cải sau khi ly đị thường không thành công Hiện nay chỉ 1⁄3 tín dụng chính thức được

dành cho phụ nữ”

Tỷ lệ nam giới và nữ giới ở Việt Nam tham gia hoạt động

kinh tế hầu như bằng nhau (86,8% và 86%) Tuy nhiên, phụ nữ

thường làm việc trong các khu vực phi cơ cấu hoặc một vài

ngành đặc biệt “cho nữ” như công nghiệp dệt Một phân tích giới

về lực lượng lao động trong nước cho thấy rõ là phụ nữ phải chịu

thiệt thòi về mặt cơ cấu — họ có tỷ lệ không nhiều và xứng đáng

trong tất cả các ngành có áp dụng những công nghệ khoa học

1 Chi tiêu xã hội chung của Việt Nam cho thấy khoảng cách giới tương đối nhỏ Thí dụ như tỷ lệ biết đọc biết viết ở nữ đã đạt con số ấn tượng là 94,3% Khoảng cách giữa các trẻ em trai và gái còn lớn hơn ở nhiều nhóm dân tộc thiểu số Tỷ lệ tử vong bà mẹ còn cao, dao động từ 411/100.000 ca đẻ sống tới 45/100.000; bình quân toàn quốc là 165/100.000 ca đẻ sống năm 2002, Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ Rút gần khoảng cách Thiên niên ký", Hà Nội, 2003, tr.30

2 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội:

2009, tr.39; Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Những mục tiêu phát triển Thiên niên

ky Rut gần khoảng cách Thiên niên kỷ", Hà Nội, 2003, tr 18

Trang 17

mới mà cần có trình độ đại học' Điều đó cũng ảnh hưởng đến thu

nhập của phụ nữ, vì lương ở các khu vực này thường cao hơn

Như đã nói ở trên, việc giảm sự bao cấp của nhà nước và chi

phí các địch vụ tăng lên thông qua phí trực tiếp và gián tiếp của

người sử dụng đã tăng sức ép đối với nam cũng như nữ phải đi

kiếm tiền Tình hình này đã thúc đẩy nam giới đi ra thành phố,

để người phụ nữ nông thôn phải gánh vác hai nhiệm vụ: chăm

sóc gia đình và ruộng đồng Các nghiên cứu đã cho thấy phụ nữ

nông thôn làm việc 16 — 18 giờ một ngày — nhiều hơn nam giới ở

nông thôn từ 6 — 8 giờ” Tình hình này đã có tác động tiêu cực

đến sức khỏe thể chất và tỉnh thần của phụ nữ, hạn chế họ rất

nhiều về giáo dục, học nghề và tham gia các ủy ban ra quyết

định ở địa phương

Tóm lại, “đổi mới” đang dẫn đến một sự thay đổi những mối

quan hệ trong nội bộ gia đình và các giá trị Những sự thay đổi

diễn ra tại các trung tâm đô thị lớn nhanh hơn ở khu vực nông

thôn, nơi mà truyền thống xã hội và văn hóa dĩ nhiên sâu sắc

hơn Mặc dù cưới xin rất phổ biến ở Việt Nam, thanh niên

thành phố có xu hướng cưới muộn hơn Ngày càng nhiều thanh

niên Việt Nam có quan hệ tình dục trước hôn nhân và đôi lứa có

ít con hơn Mặc dù trước đây, ba hay nhiều thế hệ cùng sống

dưới một mái nhà, hiện nay khoảng 2/3 số gia đình Việt Nam có

cha mẹ, con cái sống cùng nhau, và dưới 1/3 có ba hay nhiều thế

1 Xem Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2002,

tr.34; Xem thêm: phân tích chi tiết của Đỗ Thị Bình: "Cải tạo kinh tế và

tác động đối với phụ nữ ở nông thôn Việt Nam", Tạp chí Khoa học xã hội

Việt Nam, 6 (02), 2002

2 Xem Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2009, tr.35

hệ cùng chung sống' Thanh niên thành thị lấy vợ lấy chồng

không còn là để giữ gìn gia tộc mà là để mưu cầu tình yêu và hạnh phúc cá nhân Vì vậy, nếu vợ chồng liên tục cãi cọ thì hôn nhân có thể kết thúc Mặc du, ly di hay còn ít và bị xã hội nhìn nhận không hay lắm, nhưng tỷ lệ ly đị vẫn tăng Trong

năm 1989, tỷ lệ ly hôn trên toàn quốc là 0,ð% nhưng tỷ lệ này

tăng lên 1,2% ở vùng thành thị trong năm 1999 Lý do ly dị

chính ở Hà Nội (23.720 vụ) là bạo lực và đối xử tàn tệ (31%), ngoại tình (14,82%) và mâu thuẫn với mẹ chồng (8,83%) Báo

chí tháng 6 năm 2002 ghi nhận rằng chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh đã có trên 11.700 trường hợp ly dị trong năm 2000, tăng 12% kể từ năm 1990 Một sự thay đổi quan trọng nữa trong gia đình Việt Nam là sự chuyển từ gia đình đa thế hệ sang gia đình hạt nhân

Đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng đã tạo ra hay làm gia tăng các hình thức khác nhau của bạo lực và bóc lột trực tiếp

phụ nữ Thí dụ, buôn bán trẻ em gái và phụ nữ chủ yếu vẫn là một vấn đề còn thiếu khá nhiều thông tin vì vấn đề này tương

đối mới và hiện nay mới chỉ có những số liệu hạn chế Về bạo lực trong gia đình, hiện nay chưa có một sự nghiên cứu tổng thể cấp quốc gia được tiến hành, nhưng sự phân tích nhiều

cuộc điều tra quy mô nhỏ cho thấy bạo lực dựa trên cơ sở giới

có cả ở khu vực thành thị và nông thôn và trong tất cả các gia đình với các mức độ thu nhập khác nhau”

1 Xem Nguyễn Linh Khiếu: "Điều tra cơ bản gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong gia đình", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 3 (95),

2008, tr.47-58

2 Liên hợp quốc: "Tập tài liệu tóm tắt về giới", Hà Nội, 2002

Trang 18

Trẻ em với tư cách chủ thể của quyền

Y tưởng rằng trẻ em có quyền là một khái niệm mới về mặt

lịch sử, do đó sự chấp nhận ý tưởng đó không phải là được mặc

nhiên công nhận ở bất cứ xã hội nào Sự tuyên truyền xã hội và

chấp nhận văn hóa về khái niệm mới này chắc chắn sẽ dễ dàng

hơn và nhanh hơn trong các xã hội mà ở đó khái niệm người lớn

có quyền đã được thiết lập vững chắc và pháp quyền đã có nền

nếp 6 những xã hội mà khái niệm về quyền của người lớn chưa

được công nhận hay thực hiện đầy đủ, người lớn có thể thấy khó

hiểu và khó đồng ý với ý tưởng rằng trẻ em là chủ thể của quyền

Việt Nam là một trong số các nước mới bắt đầu triển khai

pháp quyền trong đời sống xã hội và chính trị Quá trình này

bắt đầu từ những năm 1990 Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với

những mục tiêu trong cải cách kinh tế và xóa đói giảm nghèo đã

đẩy mạnh pháp quyển như một nét quan trọng trong quá trình

đổi mới

Sự quản lý đất nước cần phải theo pháp luật, chứ không

phải chỉ theo những khái niệm đạo lý Pháp luật chính là sự

thể chế hóa các đường lối, chính sách của Đảng, sự thể hiện ý

chí của dân, do đó pháp luật phải được thực thi thống nhất

trong cả nước Tôn trọng pháp luật chính là thực hiện các

đường lối và chủ trương của Đảng Quản lý theo pháp luật

yêu cầu phải quan tâm đến việc xây dựng pháp luật Cần

thiết phải từng bước bổ sung sửa đổi và hoàn thiện hệ thống

pháp luật để bảo đảm bộ máy Nhà nước được tổ chức và hoạt

321

động theo pháp luật”

1 Xem Monroy, Gulllermo: Môi trường thiết chế, tr.52

Việc triển khai pháp quyền ở Việt Nam có ý nghĩa gì đối với trẻ em và thanh thiếu niên? Trước hết, điều đó có nghĩa là có một loạt các luật và nghị định Chỉ từ năm 1998 đến năm 2002, Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành trên 110 luật

và văn bản dưới luật liên quan đến trẻ em Những nét chung

của các văn bản này là đẩy mạnh giáo dục trẻ em, củng cố những dịch vụ cho trẻ em và cải thiện sự bảo vệ trẻ em khỏi bị

bạo lực bằng những hình phạt nặng hơn đối với những kẻ vi phạm pháp luật Luật quan trọng nhất được thông qua sau khi phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em là: Luật Bảo vệ, Chăm sóc

và Giáo dục trẻ em năm 1991 — hiện đã được bổ sung, sửa đổi Luật này nhấn mạnh nhiệm vụ của xã hội đối với sự bảo vệ,

chăm sóc trẻ em, yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc đối với vi

phạm quyền trẻ em, công bố quyền của trẻ em được phát biểu ý kiến, quan điểm về các vấn đề có liên quan đến trẻ em và thiết lập sự chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho tất cả các trẻ

em dưới sáu tuổi Những luật quan trọng khác gồm Luật Phổ cập Giáo dục tiểu học năm 1991 đề ra việc giáo dục tiểu học bắt

buộc cho tất cả trẻ em Việt Nam từ 6 đến 14 tuổi và Luật Bảo

vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, nhấn mạnh rằng mọi trẻ em

đều được khám, chữa bệnh và tiêm chủng phòng một số bệnh mién phi’

Bộ luật Hình sự năm 1997 (bổ sung và sửa đổi năm 1999) là một bước tiến mới Bộ Luật này quy định tuổi của trẻ em phải

chịu trách nhiệm hình sự là 14 và coi việc vi phạm các quyền

của trẻ em là có tính chất tội phạm Theo Bộ Luật này, những

1 Xem Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo hai năm thực hiện Công ước uề quyền trẻ em, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hà

Nội, 1999

Trang 19

chế tài đối với người chưa thành niên cần có tính chất giáo duc,

răn đe, ngăn ngừa hơn là trừng phạt Giam tù là biện pháp cuối

cùng và chỉ áp dụng trong các trường hợp đặc biệt nghiêm

trọng Người chưa thành niên bị tù được xem xét để tha sớm Tử

hình và chung thân không được áp dụng đối với trẻ em và người

chưa thành niên' Theo Radda Barnen “việc xây dựng Bộ luật

Hình sự này đã dẫn đến việc nhiều trẻ em rời khỏi các trường

giáo dưỡng và trại giam vào lúc bấy giờ sớm hơn””

Có nhiều văn bản luật và quy định được ban hành từ khi

Công ước về quyển trẻ em được phê chuẩn cho thấy thực tế các

cơ quan Đảng và Nhà nước ngày càng coi trọng và thấy cần

thiết phải có một khung pháp lý về trẻ em Tuy nhiên, “quyền”

và “luật” không phải là những khái niệm đồng nghĩa Số lượng

đơn thuần những văn bản luật mới không nhất thiết có nghĩa là

vị trí pháp lý của trẻ em với tư cách là chủ thể của quyền đã

được cải thiện một cách đáng kể Một nghiên cứu sâu hơn cho

thấy ý tưởng về trẻ em như là chủ thể của quyền chưa phải là cơ

sở cho những nguyên tắc, điều khoản và tiêu chuẩn pháp lý ở

Việt Nam

Hiểu biết về quyền trẻ em

Như đã nói ở trên, ý tưởng về quyền trẻ em là một ý tưởng

mới đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam Quan điểm chung của

1 Xem Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "VỊ thế và việc thực hiện

Công ước về quyền trẻ em ở Việt Nam", Bớo cáo cập nhật uê thực hiện Công

ước uề Quyền trẻ em giai đoạn 1998-2009, Hà Nội, 2002

2 Xem UNICEF/Uy ban Dân số, gia đình và trẻ em: Bớo cáo phân tích

tình hình tư phúp người chưa thành niên ở Việt Nam, Hà Nội, 2003, tr.15

Việt Nam về quyền trẻ em hình như là những quyền đó là một tập hợp các tiêu chí và nguyên tắc được quy định trong Công ước về quyền trẻ em cần phải được bổ sung vào văn bản pháp

luật hiện hành Các quyền của trẻ em không được xem như một

mẫu hình mới đối với việc xây dựng và soạn thảo các luật pháp

và chính sách đối với trẻ em Điều bao trùm trong luật pháp quốc gia là quan điểm truyền thống về trẻ em như là một đối tượng mà Nhà nước cần phải hỗ trợ và bảo vệ chứ không phải là

một chủ thể của quyền Do đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em xác định vai trò của nhà nước đối với trẻ em chủ yếu như là người cung cấp dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu của trẻ em và như là một thiết chế bảo vệ các em khỏi bị

xâm hại thông qua việc bảo đảm an ninh công cộng và trừng

trị những kẻ vi phạm quyền trẻ em Mặc dù bản thân điều này

là tích cực và được các cơ quan Chính phủ coi trọng, quan niệm

đó lại không bao gồm những khía cạnh quan trọng khác của

quyền trẻ em và quyền con người Thí dụ: các luật của Việt

Nam ít đề cập đến những nguyên tắc về tham gia, trao quyền hay thực sự chịu trách nhiệm của Nhà nước Do đó, khả năng các trẻ em và người lớn coi Nhà nước phải chịu trách nhiệm về

sự thực hiện những quyền của họ bị hạn chế, như chúng ta sẽ xem dưới đây

Thành công một phần của việc triển khai ý tưởng trẻ em là

chủ thể các quyển có nhiều nguyên nhân Có những nguyên nhân về tư tưởng, chính trị và triết học Các nguyên nhân khác

có liên quan đến việc thiếu khả năng kỹ thuật và tài chính trong việc xây dựng pháp luật Chương trước đã mô tả một hàng

rào văn hóa có cội rễ sâu xa làm ảnh hưởng đến ý tưởng cho rằng trẻ em là chủ thể của quyền, đó là những truyền thống gia

Trang 20

trưởng của các gia đình và xã hội Việt Nam Những lợi ích của

Nhà nước cuối cùng đã chiếm ưu thế bao trùm lên các công việc

của công dân, giống như người chủ gia đình vượt lên các thành

viên khác trong gia đình Khái niệm về các quyền như là một

tiêu chuẩn bất khả xâm phạm và tự nhiên của con người không

được mạnh mẽ lắm trong lý luận pháp luật của Việt Nam cũng

như trong thực tiễn văn hóa truyền thống Trong tư tưởng xã

hội Khổng giáo ở Việt Nam, con người không có “quyển tự

nhiên”, nhưng giá trị và quyền lực của con người bắt nguồn từ

đóng góp của con người để duy trì trật tự xã hội hiện đang tổn

tại như được quy định bởi nhà nước và các nhà chức trách “Con

người ta vượt trội hơn những người đồng loại của mình chỉ trong

chừng mực họ xứng đáng được đóng góp và hợp tác duy trì

trật tự xã hội, được col như cơ sở hạ tầng nền và mô hình của

trật tự toàn cầu”! Do vậy, các quyền cá nhân không được

đánh giá cao lắm, mặc dù người ta rất coi trọng việc hoàn tất

nhiệm vụ đối với gia đình, cộng đồng và nhà nước Tư tưởng

này trước đây (và hiện nay) là cơ sở cho sự phê phán việc thực

hiện quyền con người của các chính phủ châu Á ở Hội nghị

quốc tế về quyền con người ở Viên, Áo năm 1994? “Trong thực

tế, nếu đối với người phương Tây, ý thức quyền cá nhân là cơ

bản và được khái niệm tư pháp bảo vệ và thực hiện, thì đối

1 Huard, Pierre; Durand, Maurice: Viét Nam - Van minh va Van héa

(Tìm hiểu Việt Nam), (xuất bản lần thứ 3), Trường Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội,

1998, tr.136

2 Xem Lee, Eun-Jeung: "Giá trị châu Á là tư tưởng văn minh nhất", Tạp

chí Xã hội mới, số 155, 1998, tr.111-126; Carolina G.Hernander, "Các nền văn

minh khác nhau như thế nào? Theo cách nhìn châu Á", Tạp chí Xế hội mới, số

155, 1998, tr.157-167

với người theo Khổng giáo, những lợi thế mà ai cũng có thể đòi

hỏi, lại ít được quan tâm ”

Quan điểm này về vai trò của con người trong nhà nước và

xã hội cùng sự ưu tiên của những nhiệm vụ đạo lý đối với những quyền cá nhân có những tác động nhất định đến hệ thống pháp luật Huard và Durand đã nêu lên đặc trưng của những nguyên

tắc chính của luật pháp Việt Nam đến cuối thế kỷ XIX: pháp luật là sự thể hiện ý muốn của đấng tối cao Do đó, không có

luật học hay học thuyết gì Pháp luật không phản ánh những luật hay nguyên tắc chung, phổ biến mà được thảo ra một cách

tùy cơ và giải quyết những vấn đề cụ thể

“Do đó, luật thể hiện sự lẫn lộn giữa quyền và đạo đức Đó

chỉ là một phương tiện để hướng dẫn đạo đức cho cá nhân, gia đình và mọi người Điều này giải thích tại sao tư pháp nghèo

nàn, tính chất hình sự thống nhất của luật này và sự thiếu

vắng các thủ tục tố tụng luật sư và hình thức pháp lý Điều quan tâm của các nhà đạo đức học không phải mối quan tâm của nhà luật học Do đó, khái niệm về nghĩa vụ xóa nhòa hay vượt lên trên khái niệm về quyền và việc quản lý trật tự xã hội hình như lại quan trọng hơn nhiều so với sự quan tâm chăm sóc

đến các giá trị riêng tư”

Mặc dù, có một xu hướng rõ rệt dành cho nhà nước quyền

ưu tiên tuyệt đối so với quyền và nhu cầu cá nhân, nhưng sự ưu tiên đó không phải là không có điều kiện Nhiệm vụ của nhà nước là bảo đảm một mức sống tốt cho nhân dân Điều quan trọng là công dân phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ xã hội và

1, 2 Huard, Pierre; Durand, Maurice: Sdd, tr.136, 147

Trang 21

nhà nước phải làm tốt vấn dé kinh tế, chính là vì quyền lợi kinh

tế chung này mà Nhà nước có thể đề nghị như vậy Do đó,

những quyền lợi của tập thể mà đại diện là nhà nước cuối cùng

đã chiếm ưu thế so với các quyền cá nhân Bộ luật Dân sự của

Việt Nam quy định rõ: “Những quyền dân sự và nghĩa vụ không

được vi phạm các quyền lợi của Nhà nước, những quyền lợi công

cộng và những quyền lợi hợp pháp của các quyền khác”! Theo

Bộ Luật Hình sự: Sẽ là có tội nếu lợi dụng các quyền tự do ngôn

luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp và

các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước

(Điều 258)

Quan niệm Khổng giáo về mối quan hệ giữa công dân và

Nhà nước đã ăn sâu bắt rễ ở nhiều nước trong khu vực, như

đã được nêu ra trong nhiều nghiên cứu về quyền con người ở

Đông Á “Lý tưởng cao nhất về tư tưởng chính trị ở Trung Quốc

không bao giờ là quyền cá nhân mà là sử dụng cá nhân cho xã

hội thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ cá nhân ấy Cá

nhân bao giờ cũng phải phục tùng tập thể; nguyên tắc cao nhất

của tư tưởng Khổng giáo là nhiệm vụ xã hội đối với toàn thể nhà

nước và cộng đồng Việc cải thiện tình hình của cá nhân tự thân

nó không phải là cứu cánh; con người luôn luôn được coi như một

bộ phận của cộng đồng lớn hơn — gia đình, bộ tộc hay Nhà nước”

Những nghiên cứu còn cho rằng ở Đông Á quyền con người

còn “thiếu ý tưởng về những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm

1 Lempert, David: "Đánh giá luật pháp và chính sách quốc gia của Việt

Nam đối với trẻ em và phụ nữ", Hà Nội, 2003 (Phần I, Chương I, diéu 2)

2 Kuenhhardt, Ludger: "Tính phổ biến của quyền con người", Viện Liên

bang thông tin chính trị, Bonn 1991, tr.196

và có trước Nhà nước Nguồn của các quyền công dân không

phải là một quyền tự nhiên của con người Quyền công dân xuất

phát từ tình hình của cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể,

vai trò của cá nhân trong môi trường sản xuất, cấu trúc kinh

tế - xã hội của bản thân Nhà nước ”

Rõ ràng là có khó khăn trong việc hòa hợp một truyền thống chính trị và triết học như mô tả ở trên với những truyền thống triết học và chính trị tạo ra tư tưởng quyền con người Những khái niệm về quyền con người được phát triển như một phần

của cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại quyền lực

chuyên chế của nhà nước phong kiến châu Âu Do đó, tư tưởng

cơ bản về "quyền" là cho công dân có quyền đối với nhà nước và

hạn chế việc sử dụng độc đoán quyền của nhà nước đối với cá

nhân công dân qua các văn bản pháp luật và quyền Chúng ta

có thể nói một cách đơn giản là theo các truyền thống châu Âu,

tính hợp pháp của nhà nước được dựa trên sự tuân thủ pháp

luật và quyền của các nhà cầm quyền

Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, nhiều nhánh hành pháp đặc biệt mạnh Quốc hội là cơ quan xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh trên cơ sở phương châm và đường hướng của Đảng Tuy nhiên về chuyên môn nghiệp vụ và biên chế, Quốc hội không có khả năng thực hiện những nhiệm vụ này Do đó, Quốc hội phải đựa nhiều vào các cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ ở các

Bộ để dự thảo luật Khi cuối cùng Quốc hội thông qua luật, nói chung các luật này chưa có hiệu lực ngay mà còn cần một loạt

những nghị định, quyết định của các cơ quan Chính phủ Quá

1 Sđở, tr.117

Trang 22

trình này thường kéo theo một lượng lớn những quy định và

đem lại cho các cơ quan Nhà nước một vị trí đặc quyền trong

quá trình xây dựng pháp luật

Những khái niệm đang thay đổi

Nhìn chung, những trình bày trên chứng tỏ rằng vị thế của

cá nhân với tư cách là những người có quyền là tương đối yếu

và quyền hạn của người thực thi nhiệm vụ công cộng là lớn

Tuy nhiên, sự không cân bằng giữa những quyền dân sự và

chính trị của cá nhân và các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà

nước đang dần dần thay đổi thông qua quá trình “Đổi mớŸ

Bản báo cáo thứ nhất của Chính phủ Việt Nam gửi Ủy ban của

Liên hợp quốc về quyền trẻ em trong năm 1992 đã nhấn mạnh

sự kiện này trong một phương cách theo hướng cải cách và rất

thẳng thắn: “Nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế tập

trung kế hoạch hóa sang một hệ thống theo hướng thị trường

và sự thay đổi chính trị dần dần đang thúc đẩy sự dân chủ hóa

991

và tôn trọng quyền con người hơn”! Đây không phải là những

lời nói suông Hiến pháp năm 1992 đã đề ra những bảo đảm

luật pháp đối với hệ thống luật pháp của Việt Nam Hầu hết

các đổi mới có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế với

việc đề ra những quyền về sở hữu, như tự do kinh doanh,

quyền sở hữu vốn, tài sản, bất động sản, quyền thừa kế Về các

quyền chính trị, Hiến pháp đã mở ra những không gian quan

trọng cho sự hiện đại hoá hệ thống tư pháp, quy định rằng

không ai có thể bị bắt mà không có quyết định của Tòa án hay

1 Xem Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo hơi năm thực hiện

Công ước của Liên hợp quốc uê quyên trẻ em, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ

em, Hà Nội, 1991, tr.2

nguyên tắc giả định vô tội Hiến pháp cũng nhấn mạnh các quyền công dân như là những quyền con người — quyền chính trị, dân sự, xã hội, kinh tế và văn hóa Đây là văn bản luật

pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có dùng từ “quyền con người” và được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho tất cả các cuộc tập huấn do UNICBF tài trợ về Công ước về quyền trẻ em và Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt với phụ nữ (CEDAW) cho các quan chức Chính phủ'

Những sự thay đổi lớn hơn trong việc thực thi luật pháp

ở Việt Nam cũng có các tác động đối với khái niệm pháp lý

về trẻ em Dần dần, quan điểm nhìn nhận trẻ em như một

đối tượng của sự quan tâm đang dần dần thay đổi Báo cáo

quốc gia đầu tiên gửi Ủy ban về quyền trẻ em nhấn mạnh sự

căng thẳng giữa những khái niệm phổ biến về trẻ em và tầm nhìn mới được ghi nhận trang trọng trong Công ước một cách đáng chú ý và có tính chất tự phê bình Bản Báo cáo

nhấn mạnh đúng đắn giá trị lớn lao mà “gia đình và xã hội Việt Nam dành cho trẻ em”, nhưng cũng ghi nhận một cách

nghiêm túc rằng:

“Chúng ta không thể nói một cách thật tin tưởng rằng cá nhân những người Việt Nam bình thường luôn luôn có thái độ phục vụ những lợi ích tốt nhất của trẻ em ở Việt Nam” Mức

sống thấp ảnh hưởng đến cuộc sống và nếp nghĩ nếp nghĩ có

từ thời phong kiến vẫn còn ảnh hưởng đáng kể: kết quả là ở

nhiều vùng sự phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái và trẻ em

1 Sđở, tr.2

2 Sdd, tr.63

Trang 23

nói chung nhấn mạnh vào sự vâng lời, hiếu lễ và không ủng hộ

quan điểm cho rằng trẻ em là những cá nhân, những thực thể

phức hợp và rất đa dạng”"

Ngoài ra, Báo cáo liên hệ các xu hướng chung về nhà nước

pháp quyền và quyền công dân ở Việt Nam với sự nhấn mạnh

tập trung vào những chính sách chung về trẻ em: “Ở Việt Nam,

nơi mà xưa nay trẻ em là đối tượng được bảo vệ và chăm sóc đặc

biệt, hiện có bảo đảm nào tốt cho những chính sách về trẻ em sẽ

được thực hiện đầy đủ hơn là việc đất nước ngày một giàu có và

các quyền dan chủ được thực hiện một cách kiên quyết, không

thể đảo ngược được?” Thay đổi những quan điểm về trẻ em,

quan hệ của trẻ em với Nhà nước và xã hội được phản ánh trong

các quy định pháp luật về trẻ em Điều 40 của Hiến pháp liên

hệ trực tiếp đến mối quan hệ của trẻ em và xã hội: “Nhiệm vụ

của Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân là đảm bảo chăm

sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em ” Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo

dục trẻ em xác nhận: Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình,

là tương lai của đất nước và là người kế tục sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc” và “trẻ em phải được tôn trọng và bảo vệ về

đời sống, thân thể, nhân phẩm và danh dự; trẻ em có quyền

phát biểu quan điểm và nguyện vọng của mình về các vấn đề

liên quan tới trẻ em”” Những quan điểm như vậy rõ ràng là

chứa đựng những yếu tố về cách tiếp cận của những người có

nhiệm vụ cũng như người có quyền đối với trẻ em

1 Sđd, tr.6

2 Sdd, tr.4

3 Phần sau cho thấy những yếu tố dựa trên cơ sở quyền như quyền trẻ

em được phát biểu quan điểm của mình

Sự thông qua có tính chất lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 về các quyền của trẻ em cũng phản ánh quá

trình thay đổi tư duy về trẻ em và tiến gần hơn nữa tới ý

tưởng cho rằng trẻ em là chủ thể của quyền hơn bất kỳ một

văn bản nào trước đây Đại hội Đảng đã kết hợp ý tưởng về

quyền của trẻ em và sự bảo vệ trẻ em với nhiệm vụ của Nhà

nước và xã hội nhằm đảm bảo điều kiện sống tốt cho tất cả

trẻ em Việt Nam: “ Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em

được sống trong một môi trường an toàn và lành mạnh, phát

triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”'

Trong những năm 1990, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công An) đã

đưa ra những thống kê cho thấy hàng năm ở Việt Nam, số người chưa thành niên phạm tội là từ 11.000 — 14.000 Tội phổ biến nhất

là ăn cắp (48,9%), tiếp theo là nghiện ma túy (4,4%)Ẻ 6 Việt Nam

tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 14 như đã nói ở trên Mức độ bạo lực của các tội phạm ở người chưa thành niên ở Việt Nam được đánh giá là thấp so với tình hình ở các khu vực khác trên thế giới

1 Dang Cong san Viét Nam: Sdd, tr.107

2 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Vi thé va sự thực hiện Công ước

về quyền trẻ em ở Việt Nam Báo cáo cập nhật uê thực hiện Công ước uề quyền

trẻ em giai đoạn 1998-2002, Hà Nội, 2002

Trang 24

Khi một trẻ em làm trái pháp luật, các nhà chức trách Việt

Nam có thể áp dụng hai hình thức xử lý theo luật sau:

Thứ nhất và phổ biến nhất là xử lý vi phạm hành chính, theo

đó, các hội đồng cấp huyện bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân với

những cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của Ủy ban Dân số, Gia đình

và Trẻ em, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên quyết định về mức độ

xử phạt đối với người chưa thành niên làm trái pháp luật và kiểm

tra, giám sát sự thực hiện chế tài đó Xử phạt hành chính thường

được áp dụng cho những người phạm pháp chưa thành niên và

chiếm gần 3⁄4 (73,5%) sự xử lý đối với trẻ em làm trái pháp luật

năm 2001 Hình phạt này bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, bồi thường

và cải tạo có giám sát tại cộng đồng Gần 10% trẻ em được gửi tới

các “trường giáo đưỡng” trong thời gian không quá hai năm!

Trẻ em làm trái pháp luật có thể bị xử lý bằng hệ thống tư

pháp hình sự, nếu đó là những trường hợp vi phạm nghiêm

trọng Người chưa thành niên phải ra trước tòa hình sự và bị

kết án theo luật hình sự Trong năm 2001, có khoảng 2.500 vụ

xử án người chưa thành niên Hình phạt hình sự đối với trẻ em

từ 12-18 tuổi bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, giáo dục tại cộng

đồng, và đưa vào trường giáo dưỡng Phạt tù được coi là vạn

bất đắc đĩ Tuy nhiên, trong năm 2000, có 317 trường hợp

tuyên án tù trên 5 năm” Trẻ em dưới 14 tuổi không thể bị

phạt tù Phạt tù tối đa với trẻ em từ 14 — 16 tuổi là 12 năm,

đối với trẻ em từ 16-18 tuổi là 18 năm và cả hai trường hợp

đều có thể được xem xét thả sớm

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã cải thiện rất nhiều

những quy định và thủ tục pháp lý đối với trẻ em làm trái pháp

1 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sởd

2 Sdd, tr.16

luật Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt chuẩn quốc

tế trên lĩnh vực này

Nhìn chung, trẻ em Việt Nam phạm tội ít nghiêm trọng

được xử lý hành chính mà không bị xử lý hình sự Đây là điều tích cực, tránh cho trẻ em bị coi là có tiền án, tiền sự và giúp trẻ

em dễ tái hòa nhập xã hội Tuy nhiên, hầu như không có sự khác nhau gì giữa chế tài hình sự và hành chính Thí dụ, trẻ em làm trái pháp luật có thể bị gửi đến cùng một trường giáo dưỡng theo cả hai quy định Do đó, cần phải có những tiêu chí rõ ràng hơn nêu rõ trường hợp nào thì áp dụng khung hình phạt nào Những hướng dẫn cụ thể cho các quan chức địa phương cũng thiếu, do đó ít được bảo đảm rằng những thủ tục hành chính

hoàn toàn tôn trọng các quyền của trẻ em Giải quyết những

trường hợp và nêu rõ sự khác biệt giữa hai quá trình này sẽ góp

phần bảo đảm được các lợi ích tốt nhất của trẻ em

Theo hai thủ tục này, quyền tự do có thể bị tước đoạt Theo chuẩn quốc tế, thì đây cũng là một biện pháp bất đắc dĩ Phạt

tù và đưa vào các trường giáo dưỡng không phải là những phương cách hữu hiệu để giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội ngày một tăng Những biện pháp ấy gây hậu quả tiêu cực đối với người chưa thành niên và thanh niên Đối

với họ nhà tù có thể dé dang trở thành một “trường học của tội

phạm”; các cơ sở tập trung là nơi có nhiều rủi ro cao đối với sự

vi phạm quyền trẻ em và thường tốn kém trong việc xây dựng, duy trì và về đội ngũ cán bộ 6 Việt Nam, hầu như chưa có những quy định về đánh giá các trường giáo dưỡng do những

tổ chức bên ngoài thực hiện, mặc dù đây là yêu cầu quốc tế

nhằm đảm bảo việc chăm sóc và đối xử với trẻ em trong các cở

sở đó được tốt và được tôn trọng Ngoài ra, hiện nay ở Việt Nam

Trang 25

chưa có các dịch vụ xã hội đề tái hòa nhập trẻ em làm trái

pháp luật vào cộng đồng

6 Việt Nam, quyết định đưa một trẻ em vào trường giáo

dưỡng không phải chỉ do tòa án, mà còn do Chủ tịch Ủy ban

nhân dân quận, huyện tiến hành Tiêu chí của quyết định này

là tính nghiêm trọng của tội phạm và việc phạm tội nhiều lần

Ngoài ra, hình như còn có khoảng trống lớn không rõ rệt để các

nhà chức trách có thể quyết định, điều này có thể dẫn đến nguy

cơ quyết định tùy tiện Hơn nữa theo quy định hiện hành,

không rõ một thanh niên sẽ bị giam trong bao lâu cho đến khi

trường hợp của người ấy được điều tra và có quyết định chính

thức Dé giúp các nhà chức trách tránh quyết định phạt tù, cần

phải dé ra chi tiết các điều khoản và chương trình về các biện

pháp thay thế giam tù, phục hồi và có những thủ tục thân thiện

với trẻ em

Một điểm chưa hợp lý khác trong hệ thống pháp luật hiện

hành là Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính phân biệt trẻ

em có hộ khẩu thường trú và các trẻ em không có nơi cư trú

nhất định Trong khi đối với các trẻ em làm trái pháp luật có hộ

khẩu thường trú ở địa phương có nhiều khả năng chỉ bị giáo dục

tại cộng đồng, thì trẻ em không có nơi cư trú nhất định có thể bị

gửi đến trường giáo dưỡng ngay Điều này có thể xuất phát từ ý

nghĩ cho rằng giáo dục trong các cơ sở tập trung là tốt cho những

trẻ em trái tính, trái nết, nhất là khi các em không có sự chăm

sóc của gia đình Nhưng những quy định như vậy lại đặt các trẻ

em đường phố vào thế bất lợi vì các em không được bảo vệ về mặt

pháp lý khỏi bị tước đoạt khỏi quyền tự do như các em có hộ khẩu

thường trú Do đó, các quy định như vậy cần phải được bổ sung

để tất cả các em đều được hưởng sự bảo vệ pháp lý như nhau

Thái độ của cảnh sát cũng tạo một thách thức khác đối với

việc cải cách hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam Nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cảnh sát và các chiến dịch nâng cao nhận thức đã cải thiện được rất nhiều ý thức và

nếp suy nghĩ của cảnh sát Việt Nam đối với trẻ em làm trái pháp luật Tuy nhiên vẫn còn có những báo cáo về việc: “Trẻ em

bị bắt quả tang ăn cắp có thể bị đánh Đôi khi cảnh sát đánh trẻ

em, nhưng thường thì là dân phố đánh”! Khảo sát các trẻ em đường phố cho thấy trẻ em rất sợ bị cảnh sát bắt giữ vì có thể bị

đối xử tôi tệ như quát mắng, đánh đập Cần phải ghi nhận rằng

mức độ bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với

nhiều nơi khác trên thế giới Không có bản báo cáo nào về việc

cảnh sát tra tấn nhục hình trẻ em và trẻ em bị “mất tích” như ở một số nước châu Mỹ Latinh

Một quan tâm nữa đối với tư pháp người chưa thành niên

là quyền của trẻ em được hưởng các quy trình thủ tục hợp

pháp mà những quy trình này có thể bị vi phạm trong các cuộc

thu gom của công an: “Cũng có một số bằng chứng rằng những

quyền hợp pháp về thủ tục có thể không được thực hiện Hiện nay, công an thường hay vây bắt ở công viên hay ở những nơi

mà trẻ em thường hay tụ tập sử dụng heroin Họ lùng soát

khắp nơi và bắt những ai sử dụng heroin Họ đưa những người này về đồn công an, tiến hành sàng lọc nhanh và chuyển đến các trại tạm giam

Quyền của trẻ em làm trái pháp luật được có luật sư là một

1, 2 UNICEF/ Uy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em: Báo cáo phân tích tình hình tư pháp người chưa thành niên, Hà Nội, 2008, tr.12, 13

Trang 26

điều kiện cơ bản để củng cố những yêu cầu đúng đắn và bảo vệ

trẻ em cũng cần được tăng cường

Cuối cùng, người ta không rõ các chương trình giáo dục

dựa vào cộng đồng cho người chưa thành niên làm trái pháp

luật có bảo đảm được việc giữ kín cho các em khỏi bị mang

tiếng xấu và bị cộng đồng làm xấu hổ hay không Mặc dù tính

chất của các hình thức xử phạt hành chính không phải là tạo

hồ sơ tiền án tiền sự cho trẻ em bị cáo buộc là vi phạm pháp

luật, nhưng các hồ sơ về thủ tục hành chính này được phổ biến

rộng rãi trong các cơ quan và sau cùng được lưu lại ở những cơ

quan có liên quan như Ủy ban nhân dân, Công an và các tổ

chức quần chúng'

Trẻ em là nạn nhân của bạo lực và xâm hại

Nhà nước cũng quy định và bảo vệ các quyền của trẻ em khi

trẻ em trở thành nạn nhân của bạo lực và xâm hại Nhiều trẻ

em Việt Nam phải đối mặt với tình trạng xâm hại trong và

ngoài gia đình, các em có thể là nạn nhân hay người chứng kiến

những cảnh bạo lực (trong gia đình) Mức độ và tần số các vụ

xâm hại thân thể trẻ em cũng cao như ở các nước khác trên thế

giới và do đó rất đáng lo ngại:

Trong những năm qua, sự bảo vệ về pháp lý phòng chống

một số hình thức xâm hại trẻ em đã được đề ra trong hơn 30

văn bản, chính sách và quy định Nhưng không có một bộ luật

riêng chống xâm hại trẻ em ở Việt Nam Hành hung được coi 1a

một tội trong Bộ Luật hình sự của Việt Nam khi một người bị

1 Sdd, tr.32

thương trên 11% than thé’ Quy định này cũng được áp dụng

với nạn nhân của sự hành hung là trẻ em Trong trường hợp

nạn nhân là trẻ em, hình phạt phải nặng hơn Một định nghĩa

như vậy có nghĩa rằng chỉ bạo lực nghiêm trọng đối với trẻ em

mới bị coi là tội phạm Ví dụ, đánh gãy chân, tay hay mũi của

một trẻ em, hoặc đánh đập làm trẻ em bị tàn tật suốt đời là một

tội hình sự Tuy nhiên, nếu em bị thâm tím chân, tay, mặt, đầu hay các phần khác của co thé, lan roi hay vết cắt do đánh bằng

roi, gậy hoặc phồng nước do một người lớn cố tình làm bỏng trẻ

em thì những điều này lại không bị truy tố theo pháp luật Do

đó, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành

để hoàn toàn bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm hại về thân thể

Khi một trẻ em phải đối mặt với bạo lực trong gia đình, thông thường vị trưởng thôn hay các vị cao niên trong cộng đồng, công an, Hội Phụ nữ, và cán bộ địa phương của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em gặp gỡ và thuyết phục cha mẹ đối

xử tốt hơn với con cái Nếu tình hình không cải thiện, họ sẽ gợi

ý cha mẹ nên để con ở một gia đình khác hay một cơ sở trung

tâm Không a1 có quyền đưa một trẻ ra khỏi gia đình ngược lại ý muốn của cha mẹ trừ khi có quyết định của tòa án Mặc dù hệ

thống bảo vệ trẻ em dựa trên cơ sở cộng đồng là một yếu tố bảo

vệ tích cực, nó cần phải được tăng cường hơn nữa:

“ luật pháp và thông lệ hiện hành đối với việc bảo vệ trẻ

em khỏi bị xâm hại thân thể trong gia đình có thể chưa đủ để

1, 2 Michaelson, Reina: "Xâm hại trẻ em ở Việt Nam, những khái niệm

và phương hướng nghiên cứu", UNICBEF, Hà Nội, 2002, tr.15

Trang 27

bảo vệ một cách đầy đủ trẻ em có cơ bị xâm hại hoặc bị hại thêm

nữa, nhất là khi người phạm tội là cha mẹ lại chối cai là không

có vấn đề gì Cũng tương tự như vậy, những thông lệ và thủ tục

tố tụng hiện hành để giải quyết các trường hợp xâm hại thân

thể trẻ em hình như còn chưa đủ Những quy chế rõ ràng về can

thiệp và tập huấn chuyên môn cho những cán bộ phải giải quyết

các trường hợp nghỉ ngờ trẻ em bị xâm hại có thể cải thiện đáng

kể các phương án giải quyết cho trẻ em ”1,

Trong những năm qua, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

và Hội Phụ nữ Việt Nam đã tiến hành những chiến địch truyền

thông để thúc đẩy quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm

hại và bỏ mặc; nhiều chiến dịch được thực hiện với sự hỗ trợ của

UNIGCEEF và các tổ chức phi chính phủ quốc tế Theo nghiên cứu

đánh giá nói trên của UNICEEF, những chiến dịch này đã nâng

cao ý thức về bạo lực và xâm hại đối với trẻ em trong cộng đồng

và trong các cán bộ chuyên môn làm việc cho trẻ em và gia đình

Tuy nhiên, những chiến dịch này vẫn chưa được mạnh mẽ và

lâu dài để có thể tạo được một sự thay đổi vững chắc những mô

hình giáo dục còn thiếu tích cực Người dân nói chung vẫn ct coi

roi vọt là một biện pháp quan trọng để giáo dục và khép trẻ em

vào kỷ luật Và cũng hình như coi khái niệm “xâm hại trẻ em”

trong thực tế chỉ là hiếp dâm trẻ em gái

1 Sdd, tr.22

4 KHONG PHAN BIET VA BINH DANG

Nguyên tắc “không phân biệt” liên kết mật thiết với nguyên tác “phổ biến” Nếu như nguyên tắc sau hướng đến việc đặt ra các tiêu chuẩn pháp lý, tỉnh thần và đạo lý thì “sự không phân

biệt” thu hút mối quan tâm của chúng ta vào việc thực hiện

quyền con người một cách thực tế: tất cả mọi người đều có thể được hưởng sự thực hiện đầy đủ các quyền của mình trong thực

tế Một trong những rào cản lớn nhất đối với sự thực hiện đầy

đủ quyền con người là sự nghèo đói

Với tư cách là người bảo vệ sự thịnh vượng chung của xã hội, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện

nguyên tắc “không phân biệt” Nhiệm vụ chung của mọi người

là bảo đảm cho tất cả trẻ em thực hiện quyền của các em được

lớn lên trong nhân phẩm với các cơ hội sống một cuộc sống có

ích và hạnh phúc Nhưng đồng thời tất cả người lớn, nhất là

người có thu nhập tốt và tài sản phải có nhiệm vụ chung là đóng

góp vào sự thực hiện các quyền của trẻ em trong một xã hội cụ thể Điều ba của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của khu vực công cộng và khu vực

tư nhân đều phải tính đến những quyền lợi tốt nhất của trẻ em trong những hành động của họ

Tầm quan trọng hàng đầu về nguyên tắc “không phân biệt”

Trang 28

đối với những nhà hoạch định chính sách và thiết kế, thực hiện

chương trình là nhấn mạnh vào sự tiếp cận bình đẳng các dịch

vụ xã hội, tư pháp và quyền tham gia của tất cả những nhóm

dân cư Do đó, cần phải chú ý đặc biệt đến những trẻ em bị gạt

ra ngoài lề xã hội về phương điện kinh tế, thuộc các nhóm bị

phân biệt đối xử về mặt xã hội hoặc bị tước mất khả năng thực

hiện đầy đủ những quyền của các em

Có nhiều lý do về chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế khác

nhau về việc một số nhóm người bị phân biệt đối xử và gạt ra

ngoài lề xã hội Trên khắp thế giới, các gia đình nghèo, phụ nữ

và một số nhóm dân tộc ít người phải chịu những bất lợi về kinh

tế, xã hội, đặc biệt trong việc thực hiện các quyền của họ Thêm

vào đó, HIV/AIDS đã trở thành một nhân tố phổ biến cho sự

phân biệt và bài trừ xã hội Vì vậy, những chương trình dựa

trên cơ sở quyền cần phải tập trung sự thực hiện dịch vụ, hỗ trợ

kỹ thuật, tuyên truyền vận động vào cải thiện tình hình của các

nhóm dân cư bị gạt ra ngoài Các chương trình dựa trên cơ sở

quyền là nhằm với tới những người chưa được với tới này

Có nhiều cấp độ khác nhau của chương trình để giải quyết

vấn đề “phân biệt đối xử” Giải pháp có tính cổ điển đối với việc

bị gạt ra ngoài lề xã hội là cải tiến sự phân phối các địch vụ xã

hội, tăng thêm việc làm trong những chiến lược toàn diện về

giảm đói nghèo Một cách giải quyết khác nữa là tăng cường các

cơ chế phúc lợi xã hội và hệ thống an ninh xã hội như bảo hiểm

y tế, bảo hiểm xã hội và hệ thống hưu trí Những hệ thống như

1 Quỹ Ford vừa xuất bản một Tổng quan rất hay về bảo trợ xã hội ở châu

Á, chủ yếu là các phương án dựa trên nhu cầu và các kế hoạch phúc lợi (Cook,

Barah, Kabeer, Naila; Suwannal, Gary: Bảo trợ xã hội ở châu Á, Quỹ Ford,

Nxb Taj, 2008)

vậy chắc chắn là cách bền vững nhất để giảm thiểu việc bị gạt

ra ngoài lề xã hội và phân biệt đối xử với người dân, bao gồm cả trẻ em Chúng ta cần phải xem xét những chính sách kinh tế

hiện nay, nhất là những chính sách tư nhân hóa và “huy động

xã hội các nguồn vốn cho các dịch vụ xã hội”, đánh giá tác động các chính sách này đối với người nghèo và những khoảng cách

xã hội và nếu cần thiết, đề nghị những thay đổi trong các chính sách kinh tế

Chương này mô tả những thành công của chiến lược và chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam cũng như những khoảng cách xã hội ngày càng tăng do triển khai kinh tế thị trường Sự phân tích bao gồm cả các phương pháp tiếp cận hiện

tại đối với vấn đề thuế, viện trợ của nước ngoài và tài trợ theo

ngành cũng như những chiến lược cải tổ mạng lưới an toàn xã

hội Tình hình các trẻ em dân tộc thiểu số được chú ý quan tâm đặc biệt

Những thành công và thách thức đối với việc thực

hiện phổ biến và không phân biệt các quyền ở Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành tích nổi bật

về sự phổ biến các quyền xã hội của trẻ em Việt Nam giảm

được 1/2 tỷ lệ nghèo đói từ 58% dân số trong năm 1993 xuống

37% trong năm 1998 (Hình 2) Những kết quả sơ bộ về khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2002 cho thấy tỷ lệ đói nghèo đã

giảm hơn nữa, còn 29% dân sốt

1 Cuộc họp giữa năm của nhóm tư vấn: Đứnh giá, cập nhật những phat

trién va cai cach binh tế của Việt Nam, Sa Pa, tháng 6-2003, tr.8

Trang 29

Hinh 2: Giam nghéo dy kién dén nam 2010

Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới ð tuổi

giảm đáng kể (Hình 3) và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ

trén 50% xuống còn 33% - một con số vẫn rất cao (Hình 4) Các

cố gắng nâng tỷ lệ nhập học cực kỳ thành công Việt Nam đã

đạt được 95% tỷ lệ đăng ký nhập học ở cấp tiểu học và đang

phấn đấu tiến tới phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở (Hình 5)

Những tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ có giảm

nhưng chậm hơn Cung cấp nước sạch và vệ sinh còn thiếu Chỉ

một nửa dân số mới được dùng nước sạch và chỉ 38% mới có các

thiết bị vệ sinh an toàn Ý thức của người đân về vệ sinh còn

thấp (Hình 6) Nhưng nhìn chung, so với trẻ em ở nhiều nước có

thu nhập tính theo đầu người cao hơn, Việt Nam đã tạo cho các

trẻ em của mình những cơ hội sống, phát triển tốt ngang hay tốt

hơn như vậy Việt Nam đạt được các thành tựu này sau hai

thập kỷ tái thiết đất nước, từ năm 1975 sau khi hầu như bị

Trang 30

Hình 4: Những xu hướng về suy dinh dưỡng

Hình õ: Tỷ lệ đăng ký nhập học thô ở các bậc tiểu học,

trung học cơ sở và giáo dục cơ sở trong giai đoạn 1993 - 1998

Những khoảng cách xã hội ngày càng tăng

Kèm theo những thành tựu đầy ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống của người dân là các khoảng cách

xã hội ngày càng tăng Sự bất bình đẳng đang gia tăng có lẽ là tác động không mong muốn và ngoài dự kiến nghiêm trọng nhất

của “đổi mới” Bản báo cáo thứ hai của Liên hợp quốc về các mục tiêu Thiên niên kỷ ở Việt Nam đã cung cấp những đữ liệu về

những bất bình đẳng thu nhập ngày một tăng Trong năm 1993,

80

Trang 31

20% dân số nghèo nhất chiếm 8,8% thu nhập toàn quốc và sau

giảm xuống 8% trong năm 1998 Cũng trong thời gian Ấy, người

giầu chiếm tỷ lệ từ 40,4% lên 43,7%! Bản báo cáo Phớt triển

nhân lực Việt Nam đầu tiên cũng rất quan tâm đến vấn đề này:

“ Hệ số GINI về Việt Nam đã tăng lên một cách đáng kể

từ 35,6 năm 1995 lên khoảng 40,7 trong những năm gần đây

Dù như vậy là cũng ngang với mức độ về hệ số GINI dựa trên

thu nhập của Trung Quốc là 40,4; nhưng có thể lo ngại rằng

hình như Việt Nam đi đến những sự bất bình đẳng như vậy

nhanh hơn nhiều và ở mức độ thấp hơn nhiều về thu nhập bình

quân tính theo đầu người so với Trung Quốc”

Những bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng đang

nhanh chóng trở thành những bất bình đẳng xã hội Ví dụ: Mặc

dù những thành công nói chung về y tế công cộng, nghiên cứu

của Ngân hàng thế giới cho thấy trẻ em của 1/5 dân số nghèo

nhất có thể không được hưởng một sự cải thiện nào trong cuộc

sống trong những năm 1990 (Hình 7)

1 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Những mục tiêu Thiên niên kỷ: Đưa Các

mục tiêu phát triển Thiên niên ky gan hon uới người dân, Hà Nội, 11-2002, tr.8

2 Xem Trung tâm xã hội và nhân văn quốc gia: Báo cáo quốc gia vé phat

triển nhân lực năm 2001 - Đối mới va phát triển nhân lực ở Viét Nam, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.8

3 Xem Báo cáo phát triển của Ngân hùng thế giới năm 2009, "Việt Nam

thực hiện lời hứa của mình", Hà Nội, 2003, tr 59

Chương trình chưa được hoàn thành trong chính

sách xã hội

Như đã nói ở trên, thành công của Nhà nước Việt Nam về nâng cao các điều kiện sống của người dân là nổi bật Tuy nhiên còn phải làm nhiều hơn Chương trình chưa được hoàn thành trong chính sách xã hội và những dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm

sự cần thiết giảm hơn nữa tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, giảm tỷ

lệ tử vong người mẹ và tăng sự tiếp cận của gia đình đối với

nước sạch và vệ sinh Tuy nhiên, các tiến bộ về chính sách xã hội yêu cầu phải có những cải cách sâu rộng về cách xây dựng

82

Trang 32

kế hoạch, hỗ trợ và phân phối các dịch vụ xã hội Lấy dinh

dưỡng làm thí dụ Suy đinh dưỡng ở trẻ em không phải chỉ do

trẻ em không nhận đủ lương thực mà còn do sự chăm sóc không

hiệu quả, sự thiếu hiểu biết về cách nuôi dưỡng trẻ em Tiêu

chảy hay sởi đã làm trầm trọng hơn tình hình suy đinh dưỡng

của trẻ em Do vậy, sự tiếp cận nước sạch và các thiết bị vệ sinh

hay sự bảo vệ các em khỏi các bệnh truyền nhiễm cũng quyết

định đối với tình hình định dưỡng của trẻ em Do đó, sự tiến bộ

trong việc chống suy đinh dưỡng tùy thuộc vào nhiều nhân tố

như cha mẹ phải được cập nhật về thông tin, thay đổi hành vi

trong cách chăm sóc trẻ thơ cũng như phải luôn luôn sẵn có các

dịch vụ khác nhau với chất lượng tốt

Một ví dụ nữa là chương trình quốc gia về xóa đói giảm

nghèo được làm theo kế hoạch tập trung Sự phân cấp kế hoạch,

ngân sách, thực hiện, theo đối, giám sát và đánh giá những

chương trình như vậy là cần thiết để đạt nhiều thành tích hơn

nữa trong xóa đói giảm nghèo Người nghèo càng ngày càng tập

trung ở các khu vực nhất định ở nông thôn và thành thị, điều

này yêu cầu nhà chức trách phải hướng những chương trình xóa

đói giảm nghèo và các mạng lưới bảo hiểm xã hội vào những

vùng cần giúp nhất một cách chính xác Những ví dụ này và

nhiều ví dụ khác tương tự cho thấy một điều rằng cách phân

phối dịch vụ theo hàng dọc và theo ngành trước đây là không

đủ để đạt được những cải thiện tốt hơn nữa về sự sống và phát

triển của trẻ em

Những thành công trước đây có thể không bền vững

Những thành tựu xã hội tích cực của công cuộc cải cách

kinh tế vĩ mô trước đây có thể dễ bị nhiều trở lực Mặc dù tỷ lệ

người nghèo ở Việt Nam đã giảm rất mạnh, các nghiên cứu cho thấy nhiều gia đình vẫn còn phải sống kề bên giới hạn nghèo

khổ Năm 20029, khoảng một nửa dân số Việt Nam (47%) được col thuộc diện nghèo hay sát ngưỡng nghèo! (Hình 8)

Hình 8: Cấu trũc nghèo Phân phối phúc lợi hộ gia đình tương quan với giới hạn nghèo ở Việt Nam

Dân số được hưởng

1 Xem Nhóm công tác chong nghéo déi: Gidm bớt ngưy cơ bị tổn thương

va cung cấp sự bảo uệ xã hội: Những chiến lược để đạt được các mục tiêu phát

triển của Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr 4

Trang 33

Tốc độ và phạm vi của tiến bộ xã hội ở Việt Nam có quan

hệ mật thiết với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất ấn

tượng, từ 8% đến 12% trong 10 — lỗ năm qua Tăng trưởng

kinh tế đã dẫn đến sự tăng mạnh thu nhập hộ gia đình và trẻ

em nằm trong số những người được hưởng lợi đầu tiên của

mức sống được nâng cao Nhưng nếu các dự báo kinh tế lạc

quan không được thực hiện, những thành tựu đã đạt được

trong quá khứ về phát triển con người có nguy cơ bị ảnh

hưởng Vì nhiều người dân phải sống kề bên giới hạn nghèo

khổ nên sự giảm dù rất nhỏ về thu nhập cũng có thể lại kéo

họ vào diện nghèo khổ Mặc dù một số thành tựu đã đạt được

trong 1ỗ năm qua như kiến thức về sức khỏe hay trình độ học

vấn của người dân, những thành tựu về mức sống vật chất

vẫn có thể dễ dàng bị đảo ngược, nhất là đối với 20% dân số

nghèo nhất Đã có một số chiều hướng khiến ta phải lo ngại,

ví dụ tỷ lệ tử vong trẻ em trong số 20% dân số nghèo nhất đã

có chiều hướng tăng lên! Nguy cơ có thể mất dần các thành

tựu xã hội trước đây cũng rất cao vì tỉ lệ thất nghiệp và bán

thất nghiệp đang ngày càng tăng lên Hàng năm, có 1,4 triệu

thanh niên tham gia thị trường lao động thường không được

đào tạo nghề nghiệp thích hợp Hầu hết những thanh niên

này cũng sẽ tìm được một việc làm Nhưng trong nhiều

trường hợp, công việc mang tính chất tạm bợ, tiền công thấp

và đôi khi lại còn bất hợp pháp

Sự đánh giá hiện nay của Chính phủ và của cộng đồng tài

trợ đang cho thấy một điều là sự tăng trưởng kinh tế tương lai

sẽ không đem lại lợi ích cho người nghèo như trước đây Do đó,

1 Nhóm công tác Liên hợp quốc ở Việt Nam: Tiến bộ uêề IDT'/ các mục

tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Hà Nội, 2001, tr.13

khoảng cách xã hội có thể ngày càng rộng hơn Ngân hàng thế

giới đã nêu ra trong bản Báo cáo uê phát triển của Việt Nam

năm 2003 như sau:

“Nếu thiếu vắng những hoạt động mạnh, sự bất bình đẳng

có khả năng sẽ tăng lên, có thể rất mạnh trong giai đoạn phát triển mới Điều này là do các tác động của nghèo đói với việc

phân chia lại đất đai ở khu vực nông thôn bây giờ mới thấy

được Đồng thời, sự hòa nhập vào kinh tế thế giới sẽ làm kỹ năng có giá trị hơn, nên sự bất bình đẳng về giáo dục sẽ tăng thêm bất bình đẳng về cơ hội và thu nhập Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn sẽ rộng hơn cũng như sự khác biệt giữa

những người được hưởng đầy đủ các thành quả của toàn cầu hóa

và những người bị bỏ lại phía sau Những bất bình đẳng ngày

càng tăng về dịch vụ y tế cũng không thể giải quyết được ! Nói tóm lại, điều bị đe dọa hiện nay trong phát triển của Việt Nam là bình đẳng xã hội! Do đó, những thách thức đối với các chính sách quốc gia tiến tdi thực hiện phổ biến và không phân biệt các quyền kinh tế - xã hội gồm ba mặt: duy trì những thành tựu xã hội cho toàn thể người dân; đạt được những tiến

bộ hơn nữa trong việc giảm tỷ lệ suy đinh dưỡng, tỷ lệ tử vong

bà mẹ và người dân được sử dụng nước sạch và thiết bị vệ sinh

nhằm chặn lại các xu hướng tăng mạnh của bất bình đẳng xã

hội Những thách thức này đặc biệt lớn đối với các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam

Tài chính cho phát triển xã hội

Một yếu tố cơ bản liên quan đến những bất bình đẳng ngày

1 Xem Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới, 2003, 1i

Trang 34

một tăng lên về tiếp cận những dịch vụ xã hội co bản có chất

lượng tốt là việc thiết lập một hệ thống dịch vụ trả phí Việc này

tạo điều kiện cho các cơ sở công cộng tạo ra thu nhập của họ và

đóng góp vào sự phát triển của dịch vụ tư nhân cho những al có

khả năng chỉ trả Tuy nhiên, xu hướng này làm cho người nghèo

ngày càng khó có khả năng chỉ trả cho dịch vụ chăm sóc sức

khỏe ban đầu và một nền giáo dục chất lượng cho con em ho

Nói chung, Chính phủ thường miễn cho người nghèo bất cứ

một lệ phí trực tiếp nào và chính sách này đã đi vào thực tế cuộc

sống, như ta đã thấy trong những đánh giá ở cấp xã đã chi ra’

Tuy nhiên, điều này vẫn chưa ngăn được những người làm công

tác quản lý nhà trường và cung cấp dịch vụ y tế công cộng bắt

người dân phải trả các phí gián tiếp Tuy nhiên, để được tiêu

chuẩn không mất tiền, gia đình phải rất nghèo: thu nhập

khoảng 100 đôla Mỹ một năm Có những biểu hiện rõ ràng rằng

phương thức tài trợ khu vực xã hội hiện nay là không vì lợi ích

tốt nhất của trẻ em” như sẽ được thảo luận dưới đây

1 Ủy ban Dân tộc và Miền núi/ UNICEE: "Sự đánh giá định tính uê thực

hiện các chính sách uề chăm sóc uò giáo dục đối uới phụ nữ uò trẻ em dân tộc

thiểu số”, Báo cáo tóm tắt, 2009, tr.2

2 Việt Nam cung cấp tài chính cho sự phát triển xã hội chủ yếu qua thuế

trong nước Tổng thu nhập của Nhà nước Việt Nam năm 2001 là 6,7 tỷ đôla Mỹ

Theo số liệu của Bộ Tài chính từ nửa đầu năm 2003, nguồn thu nhập quan trọng

nhất của Nhà nước là thuế lợi tức (24%) và thuế giá trị gia tăng (22%) Thuế thu

nhập cá nhân chỉ chiếm 1,8% thu nhập cả nước (Bộ Tài chính Trang chủ, Hà Nội,

2003) Ngoài ra, nhà nước nhận được khoảng 1, tỷ đôla Mỹ về Viện trợ phát triển

từ nước ngoài (ODA) năm 2001 Giải ngân ODA cho Việt Nam bao gồm 0,134 tỷ

USD về viện trợ không hoàn lại và 1,366 tỷ USD về vốn vay Do đó, ODA chiếm

22% đầu tư công cộng ở Việt Nam Từ 1998-2001, các nhà tài trợ cam kết 19,940

tỷ USD cho Việt Nam Khoảng 84% (12,35 tỷ USD) của số này là tiền vay, 16% là

viện trợ không hoàn lại Khoảng 80% ngân quỹ được dùng cho hạ tầng cơ sở (điện,

giao thông) và phát triển nông thôn, khoảng 20% được đầu tư vào cấp và tiêu

nước, phát triển xã hội, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật và môi trường

Tài chính cho giáo dục

Giáo dục là một ưu tiên hàng đầu trong chương trình phát triển của Việt Nam Khoảng 4,5 % tổng thu nhập quốc dân được đầu tư vào hệ thống giáo dục Như vậy là nhiều hơn chi phí về

giáo dục của hầu hết các nước đang phát triển và rất được mọi

phía hoan nghênh, kể cả các tổ chức phi chính phủ xưa nay vẫn

thường góp ý đối với chính sách của Chính phủ Tổ chức Oxfam (Anh) ghi nhận:

“Chi tiêu về giáo dục tăng mạnh lên khoảng 15% tổng chi

tiêu công cộng vào cuối những năm 1990 Trong phân bổ này có

sự tăng chung về tỷ lệ ngân sách phân bổ cho giáo dục cơ bản

Xu hướng chuyển chi tiêu công cộng từ cấp giáo dục cao xuống

cấp giáo dục thấp hơn thể hiện sự đóng góp quan trọng vào việc thực hiện bình đẳng vì sự tham gia của người nghèo ở các cấp thấp hơn là lớn nhất”!

Chính phủ Việt Nam có kế hoạch tăng đầu tư cho giáo dục thậm chí tới 18% tổng ngân sách Nhà nước năm 2005 và tới

20% năm 2010 (6,9% GDP) Một phần đáng kể của chi tiêu ngày

càng tăng cho giáo dục sẽ do cha mẹ, cộng đồng, khu vực tư

nhân và viện trợ phát triển chính thức (ODA) đóng góp Mặc dù ngân sách Chính phủ trả trên 70% tất cả chỉ phí giáo dục trong

năm 2000, người ta đã có kế hoạch giảm phần này xuống trên

60% vào năm 2010 — Như vậy là những “quỹ phi chính phủ” sẽ đóng góp vào 40%”

1 Oxfam Anh: “Tôi có thể đi học được không?” Báo cáo uê tài trợ cho giáo dục cơ bản ở Việt Nơm, tập trung uào các tỉnh Lào Cai, Trà Vĩnh uà Hà Tĩnh,

Hà Nội, 4-2002, tr.4

2 Diễn đàn Giáo dục Việt Nam: Đổi mới tài trợ uà quản lý giáo dục ở Việt Nam, Ha Nội, 2-2003

Trang 35

Nhằm đạt được sự “vận động xã hội” gây quỹ cần thiết, năm

2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định 10 Nghị định này cho

phép những người cung cấp dịch vụ công cộng quản lý ngân

sách của họ và thu phí của khách hàng Nghị định này là một

công cụ để tách dần ra khỏi ngân sách trung ương và tạo điều

kiện cho địa phương tự quyết định về các nguồn lực tài chính và

nhân lực Nhưng trong ngành giáo dục, sự chỉnh lý cũng có

những hạn chế Chi phí lớn nhất trong quản lý giáo dục là tiền

lương, do bảng lương chính thức của Nhà nước quy định Số giáo

viên trong một trường học tùy thuộc vào tỷ lệ chính thức giữa

học sinh với giáo viên và tùy thuộc vào chương trình học Do đó,

trong thực tế là sự tự do của Ban Giám hiệu nhà trường có thể

quyết định là trả thêm tiền thưởng cho cán bộ, giáo viên và cải

thiện cơ sở vật chất của nhà trường bằng những ngân quỹ vận

động thêm từ cha mẹ học sinh và cộng đồng' Như vậy có nghĩa

là a) gây quỹ trở thành công cụ quan trọng nhất đối với sự phát

triển trường học, b) trường học trong những khu vực kinh tế

phát triển có nhiều điều kiện để cải thiện hơn là các trường ở

cộng đồng nghèo hơn Như trên đã nói, chính sách của Nhà

nước là miễn phí cho các trẻ em nghèo được mọi người tôn

trọng, dù sự áp dụng có thể “không được đầy đủ ở các khu vực

”* Tuy nhiên, thậm chí nếu các gia đình nghèo không

nghèo

phải trả phí trực tiếp, họ cũng có thể khó mà tránh được các

chi phí gián tiếp như xây dựng, các hoạt động nhà trường,

1 Xem du 4n MTEF: Cai tổ tài chính uà quản lý giáo dục, Hà Nội, 2003;

Dự án MTFE: Các phương pháp tài trợ nhà trường, Hà Nội, 2002, Oxfam: Tài

trợ giáo dục cơ sở, Hà Nội, 2003

2 Oxfam: Tời trợ giáo duc cơ sở, Hà Nội, 2008

sách giáo khoa, thiết bị Nhìn chung điều này ảnh hưởng đầu

tiên đến các trẻ em gái

Thách thức chủ yếu đối với tài trợ cho giáo dục là bảo đảm

ngân sách đầy đủ của Chính phủ để thực hiện được một chuẩn

mực giáo dục tiểu học tốt cho các cộng đổng người nghèo và ở những nơi xa xôi hẻo lánh, những cộng đồng quá nghèo không thể đóng góp theo yêu cầu được Điều này sẽ là một nhiệm vụ khó khăn cho nhiều trường tiểu học, vì ngân sách của Nhà nước hiện nay là ưu tiên cho hệ thống giáo dục mầm non Cần phải tăng phân bổ ngân sách đặc biệt cho các trường ở vùng xa xôi, vùng nghèo để tránh một khoảng cách về chất lượng sâu hơn nữa trong giáo dục Việt Nam sẽ phải đề phòng một tình trạng là người nghèo chỉ có thể được vào học ở các trường tiểu học yếu kém, còn

người giàu có thể gửi con tới các cơ sở giáo dục có chất lượng tốt Tài chính cho lĩnh vực y tế

Tình hình trong ngành y tế khác nhiều so với tình hình giáo

dục Mặc dù diện bao phủ của mạng lưới chăm sóc sức khỏe

cộng đồng ở Việt Nam tốt hơn so với nhiều nước đang phát triển, nhưng nhìn chung đầu tư công cộng vào chăm sóc sức

khỏe ở Việt Nam nằm trong số những nước thấp nhất trên thế

giới Nhà nước ch1 chưa đến 4 đôla Mỹ/ đầu người (chưa đến 1%

GDP năm 2001) cho chăm sóc sức khỏe của công dân Tình hình

này tạo ra một mối de dọa đối với quyền được chăm sóc sức khỏe

như Liên hợp quốc ở Việt Nam đã chỉ ra: “Hệ thống phân bổ

ngân sách cho y tế hiện nay ở Việt Nam càng ngày càng dẫn

1 Xem Ngân hàng thế giới và các cơ quan khác: Việt Nưm: Lớn lên mạnh

bhỏc: Xem xét uà đánh giá Ngành y tế Việt Ngm, Hà Nội, 5-2001, tr.48, 58

Trang 36

đến sự tiếp cận không bình đẳng đối với chăm sóc sức khỏe và

những bất bình đẳng về sức khỏe”!

Tình trạng thiếu ngân sách triển miên cho ngành y tế đã

tạo ra một sức ép lớn phải vận động ngân sách bổ sung từ người

bệnh và Chính phủ đã phải cho phép y tế tư nhân hoạt động

trong cả nước Phí dịch vụ y tế được thu từ đầu những năm

1990 Những số liệu về bệnh viện cho thấy tác động sâu sa của

biện pháp này: tiền thu phí và bảo hiểm y tế chỉ chiếm 10%

ngân sách bệnh viện năm 1991 còn 7 năm sau, thu nhập từ bên

ngoài chiếm ð0% ngân sách các bệnh viện trung ương, tỉnh và

quận, huyện? Dịch vụ y tế tư nhân bắt đầu hoạt động từ năm

1986; các quy định trong ngành dược được bổ sung trong năm

1989” Theo số liệu của Bộ Y tế trong năm 2001, đã có trên

56.000 cơ sở y tế tư nhân hoạt động ở Việt Nam, chủ yếu là bác

sỹ (48%), sau đó các cửa hàng thuốc (32%) và lang y (17%)

Kết quả của sự hòa hợp giữa dịch vụ y tế tư nhân và công

cộng là cái gọi là chi tiêu từ “hầu bao” cá nhân cho y tế trở

thành “nguồn tài chính quan trọng nhất ở Việt Nam” Vì chỉ có

13,ð% dân số Việt Nam được bảo hiểm y tế, cấu trúc phân bổ

ngân sách cho dịch vụ y tế hiện nay đã hạn chế lớn đến khả

năng của các gia đình nghèo tiếp cận những địch vụ chăm sóc có

1 Liên hợp quốc tại Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt

Nam, Hà Nội, 6-2008, tr 5, 7

2 Bộ Y Tế, Ban Khoa giáo trung ương: Phí người dùng, bảo hiểm y té va

sử dụng các dich vu y tế năm 2009, tr.31

3 Báo cáo phát triển Ngân hàng thế giới năm 2003, tr.60

4 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt Nam,

Hà Nội, 6-2003

chất lượng “Sự miễn trừ và giá trần đã được ban hành để người

nghèo khỏi phải trả phí nhưng kết quả không như mong đợi, người nghèo vẫn chưa được tiếp cận tự do địch vụ chăm sóc

chữa bệnh” và “có dấu hiệu là nhiều người Việt Nam, nhất là

người nghèo, đã phải xa lánh chăm sóc sức khỏe chuyên môn

sang những người cung cấp dịch vụ rẻ hơn, như người bán thuốc

rong và các lang y”! Người ta dự tính rằng chi tiêu từ hầu bao

cá nhân cho dịch vụ y tế đã làm nghèo thêm đáng kể Khoảng 2,6 triệu người Việt Nam phải sống trong cảnh nghèo cùng cực trong năm 1998 do những chi phí y tế họ phải trả” Báo cáo phát triển của Ngân hàng thế giới xác định bệnh tật là một nguyên

nhân nghèo nàn chính ở Việt Nam”

Sự thay đổi dịch tễ hiện nay làm tình hình thêm xấu đi Thương tật và tai nạn đã trở thành nguyên nhân chính gây tử vong, bệnh tật ở Việt Nam và chi phí y tế liên quan đến thương tật cũng như sự thiếu hụt về thu nhập gia đình do người đi kiếm cơm của gia đình không đi làm được đã gây nên tình hình

"bi đát" cho gia đình bị ảnh hưởng, nếu họ nghèo!

Nhìn từ quan điểm quyền con người, tình hình này là

nghiêm trọng, vì người ốm không có nhiều sự lựa chọn - người

ấy phải trả tiền ngay cho dịch vụ y tế cần thiết, nếu không sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe Vì không có bảo

hiểm, chi phí về y tế không thể đưa vào kế hoạch được như chi

1, 9 Xem Béo cáo phút triển Ngân hùng thế giới năm 2003, tr.61

3 Xem Báo cáo phát triển Ngân hùng thế giới năm 2000: Tến công đói

nghèo, Hà Nội, 2008, tr.4

4 Xem Salazar Volkmamn, Christlan: Báo cáo trình bày tại Hội nghị quốc gia uề chính sách phòng chống tai nạn thương tích, Hà Nội, 2002

Trang 37

phí về giáo dục Các gia đình nghèo nhiều khi phải di vay nóng

với lãi suất rất cao để trang trải các chi tiêu chữa bệnh cho

người ốm hay bị thương Do đó bệnh tật có thể nhấn chìm họ

nếu phân bổ ngân sách y tế không được cải thiện

Một sự lo ngại “dựa trên cơ sở quyền” nữa là thái độ chưa

quan tâm đầy đủ của Nhà nước đối với khu vực tư nhân Sự

thiếu hụt “một khung pháp lý mạnh mẽ cho khu vực tư nhân

và khả năng thực th của Nhà nước đã dẫn đến những vi

phạm nghiêm trọng đến quyền được hưởng thụ sức khỏe của

các cơ sở tư nhân: một số bác sỹ tư đã kê những đơn thuốc với

liều lượng khá nhiều những thuốc như kháng sinh và những

cửa hàng thuốc tư bán những thuốc đã quá hạn sử dụng' Dé

khắc phục những lo ngại của Ủy ban Liên hợp quốc về quyền

trẻ em về tác động của quá trình “đổi mớỉ đối với trẻ em,

UNICEF Viét Nam đã chỉ rõ: “Tuy nhiên, đối với các dịch vụ

tư nhân và công cộng, theo dõi đầy đủ, giám sát có hiệu quả

và phát triển khả năng tại chỗ là những vấn đề chính cần

quan tâm””

Do những tình hình nêu trên, Liên hợp quốc đã khuyến

nghị cần thận trọng trong việc áp dụng Nghị định 10 và tự do

hóa thêm nữa đối với hệ thống y tế:

“Khuyến nghị rằng Chính phủ không nên coi những cơ sở

cung cấp dịch vụ sức khỏe công cộng, bao gồm bệnh viện và các

1 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức bhỏe cho Việt

Nam, Hà Nội, 2008, tr.4

2 Đóng góp thêm cho những câu hỏi của Ủy ban quyén tré em, UNICEF

Viét Nam, 2002

trung tâm y tế là những “thực thể dich vụ nâng cao thu nhập”

Sự thực hiện này sẽ dẫn đến kết quả có hại cho sức khỏe của cá nhân, người bệnh và cả công chúng”!

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đi xa hơn và khuyến nghị

cải tổ mạnh mẽ những hệ thống ngân sách y tế của Việt Nam nhằm bảo đảm mọi người đều có khả năng và được tiếp cận các

dịch vụ y tế một cách bình đẳng”

Tài chính cho nước và vệ sinh

Tác động của các phương thức phân bổ ngân sách cho nước

và vệ sinh đối với việc những gia đình nghèo tiếp cận các dịch

vụ có chất lượng không được quan tâm chú ý như với giáo dục hay y tế Tuy nhiên, những đánh giá gần đây của UNICBF có gợi ý rằng mô hình đầu tư hiện nay và sự trang trải chi phí xem

ra đã không tạo điều kiện cho những người dân tộc thiểu số tiếp

cận nước ăn, nhất là nếu họ sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh,

dân cư thưa thớt Đầu tư vào cấp nước tập trung vào các khu vực đồng dân như trung tâm các xã hay huyện Nói theo thuật ngữ kinh tế, đây là một sự lựa chọn hợp lôgíc Sự thực hiện các

dịch vụ cung cấp nước sạch ở các vùng đó bằng chi phí cấp nước

theo đầu người thấp hơn, trong khi đầu tư vào các vùng nghèo

nhất, xa xôi hẻo lánh có thể tốn kém hơn mức bình thường

Nhưng thậm chí có nhiều gia đình sống gần các trung tâm xã hay thị trấn cũng thường là quá nghèo, không có tiền mặt để trả các thiết bị nước Do đó, những mô hình đầu tư công cộng và ưu

1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: Ngân sách chăm sóc sức khỏe cho Việt Nam,

Hà Nội, 6-2003, tr.5, 7

2, 3 Xem Tổ chức Y tế thế giới: Y tế uờ các dân tộc ít người ở Việt Nam,

Hà Nội, 6-2003, tr.30

Trang 38

tiên cũng như trợ cấp cho các xã dân tộc nghèo sẽ phải được

nghiên cứu lại để giúp đỡ những gia đình từ trước đến nay chưa

được a1 giúp đố

Cải cách các mạng lưới an toàn xã hội

Để đạt được sự bình đẳng, Chính phủ Việt Nam sẽ phải triển

khai một chiến lược về cải cách những chính sách phúc lợi và hỗ

trợ xã hội hiện nay Phân tích các mạng lưới an toàn xã hội hiện

nay cho thấy diện bao phủ của những chương trình này hoàn

toàn hạn chế và trong hầu hết các trường hợp, đa số người hưởng

thụ lại thuộc về những nhóm người giàu trong dân cư Do đó, cần

phải cải tiến những chương trình này để 20% đến 40% người

nghèo nhất được hưởng thụ (Bảng ])

Bỏng 1: Diện bao phủ của các mạng lưới an toàn xã hội

Nguồn: Nhóm công tác xóa đói giảm nghèo

Các dân tộc thiểu số và bất bình đẳng trong giáo dục

Sự cách biệt xã hội ngày càng lớn đặc biệt ảnh hưởng đến

các dân tộc thiểu số trong tất cả các lĩnh vực của đời sống Báo

cáo của Liên hợp quốc về những mục tiêu phát triển Thiên

niên kỷ đã viết “trong số 19 tỉnh yếu kém nhất trong xếp hạng mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, 7 tỉnh bao gồm đa số dân

tộc thiểu số”

Đời sống của nhiều dân tộc thiểu số còn rất nhiều gian khổ

Họ sống ở các vùng xa xôi, đi lại khó khăn và thường không có điện nước Phần lớn họ làm canh tác nương rẫy và làm không

đủ ăn, nên một số gia đình phải đối mặt với nguy cơ không đủ

ăn cho vài tháng trong một năm

Trong thực tế, tất cả các chỉ số xã hội đều xác định sự thiệt

thòi chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Khoảng 75% dân tộc thiểu số sống trong nghèo khổ - so với 31% dân tộc Kinh

Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới một tuổi ở các tỉnh có tỷ lệ cao các nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng cao hơn (nhiều) mức trung bình Thí dụ: tỷ lệ tử vong trẻ em dưới một tuổi ở tỉnh Kon Tum

cao hơn 8 lần so với thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội Bức tranh về tỷ lệ suy đỉnh đưỡng cũng tương tự như vậy

Những khoảng cách về giáo dục cũng là một lo ngại lớn Một nghiên cứu đánh giá các dịch vụ y tế và giáo dục địa phương cho

các dân tộc thiểu số do Ủy ban Dân tộc và Miễn núi tiến hành

1 Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Đưa những mục tiêu phát triển Thiên niên

kỷ gần hơn với người dân", Báo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Hà Nội,

2002, tr.ð1, 10

Trang 39

với sự giúp dd cua UNICEF cho thấy những điều kiện hết sức

đáng lo ngại về giáo dục ở các xã dân tộc ít người:

“Lớp học ở hầu hết các làng bản chỉ là những nhà tre đơn sơ,

tạm bợ và còn thiếu bàn ghế Hầu hết giáo viên phàn nàn là

không có các nguồn lực đầy đủ và nhiều người bắt buộc phải tự

làm các đồ dùng giảng dạy bằng tiền túi của họ Có quá ít phòng

ngủ ở các trường nội trú huyện, như thế có nghĩa là rất nhiều

học sinh phải ở trong các lán trại tạm bợ do cha mẹ các em giúp

đỡ dựng lên Các em có phòng ở thường phải chịu đựng các điều

kiện chật chội, thiếu vệ sinh, lấy giường làm bàn viết, bàn ăn và

nơi ngủ

Chỗ ăn ở của hầu hết giáo viên là ở chung với hai hoặc ba

giáo viên khác Các cặp vợ chồng và những giáo viên có thâm

niên lâu năm được cấp nhà riêng Điện nước ở đâu cũng kém

tiêu chuẩn, nhà vệ sinh không hợp vệ sinh Nhiều xã chưa nối

được vào lưới điện quốc gia và máy phát điện chỉ cung cấp điện

vài giờ buổi tối Khi điện bị cắt, nhiều giáo viên vẫn tiếp tục

soạn giáo án dưới ngọn đèn dầu Nhiều giáo viên và học sinh

phải ra suối tắm, sức khỏe bị đe dọa và nguồn nước bị ô nhiễm

6 một vài vùng, số giáo viên chưa đủ tiêu chuẩn chiếm đến

50% Các giáo viên nói tiếng Việt gặp nhiều khó khăn trong

việc giao tiếp với học sinh ở các vùng dân tộc thiểu số và do đó,

ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Ngoài ra, hầu hết các sách

giáo khoa chỉ bằng tiếng Việt và bài tập không thể làm bằng

ngôn ngữ của họ”!

1 Xem Uỷ ban dân tộc/UNICEF: "Đánh giá định tính về việc thực hiện

các chính sách y tế và giáo dục đối với phụ nữ và trẻ em dân tộc ít người", Báo

cáo tóm tắt năm 2002, tr.2

Ngân hàng Thế giới đã chỉ rất rõ ràng rằng sự bất bình

đẳng trong giáo dục sẽ là một yếu tố cơ bản làm trầm trọng thêm những khoảng cách xã hội ở Việt Nam Bất bình đẳng trong đăng ký nhập học và thành tựu sẽ biến thành những bất bình đẳng lớn hơn về thu nhập và các cơ hội nghề nghiệp trong những năm tới' Do những khoảng cách hiện nay trong việc

tiếp cận nền giáo dục có chất lượng, sự thiệt thòi hiện nay của các dân tộc thiểu số có thể nhiều hơn trong các năm tới Tỷ lệ nhập học của các dân tộc thiểu số thấp hơn 10% so với tỷ lệ của

người Kinh” Đặc biệt, tỷ lệ nhập học ở giáo dục trung học cho

thấy sự khác biệt rất lón? Mặc dù, thống kê giáo dục của Việt Nam cho thấy một sự khác biệt rất nhỏ về giới, cơ hội được đi học của các trẻ em gái dân tộc thiểu số hình như không được bình đẳng Khoảng 70% học sinh bỏ học ở các xã dân tộc thiểu

học của trẻ em Nhà nước Việt Nam đã công nhận quyền các

dân tộc thiểu số được hưởng nền giáo dục song ngữ ngay từ đầu Bau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào năm 1945, Chính phủ Việt Nam đưa ngay tiếng Việt vào trường phổ thông

1, 3 Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới, 2003, tr.ð2, ð4

2, 4 Xem Liên hợp quốc ở Việt Nam: "Đưa những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ gần hơn với người dân", Béo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên

ký Hà Nội, 2009, tr.16, 18

Trang 40

và đại học thay thế tiếng Pháp đang thống trị lúc đó Chỉ sau

một năm, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam quy định quyền các

dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ trong trường

tiểu học Quyền này được nhấn mạnh trong tất cả các lần sửa

đối, bổ sung hiến pháp về sau và từ đó tới nay những chính sách

công ở Việt Nam luôn ủng hộ giáo dục song ngữ trong các

trường tiểu học Tuy nhiên, sự thực hiện chính sách và phổ biến

chữ viết của các dân tộc thiểu số vẫn còn chậm và nhiều nghị

định đã yêu cầu thực hiện tốt hơn việc giáo dục song ngữ trong

các vùng dân tộc ít người trong suốt những thập kỷ vừa qua'

Một trở ngại chính của việc chuyển tiếp và nhận những con

em dân tộc thiểu số vào học các trường phổ thông trung học cơ

sở là chính "chương trình học cho trẻ em dân tộc thiểu số" Mặc

dù một chương trình giáo dục tiểu học chuẩn quốc gia mới cho

trẻ em dân tộc thiểu số được ban hành trong năm học 2002-

2003, nhưng phải đến năm học 2006-2007 mới thực hiện được ở

tất cả năm lớp của trường tiểu học Nói cách khác, trẻ em dân

tộc thiểu số sẽ tiếp tục học theo chương trình 120 tuần so với

chương trình 165 tuần cho học sinh người Kinh Chương trình

120 tuần chỉ có ba môn, trong khi chương trình 165 tuần có 9

môn Về số lượng bài học, trẻ em người Kinh được học 4.801 bài

trong 5 nam học, trong khi đó các học sinh dân tộc ít người chỉ

nhận được 2.160 bài hay ít hơn 1/2 số bài các em người Kinh

nhận được trong giai đoạn tiểu học Vì tất cả các học sinh đủ

tiêu chuẩn vào học phổ thông cơ sở phải qua kỳ thi sát hạch

được chuẩn hóa, nên không lấy gì làm lạ rằng tương đối ít các

1 Xem Hoàng Văn Sít: Giáo dục song ngữ cho các dân tộc thiểu số ở Việt

Nam, Luận án tiến sĩ, Hà Nội, 11-2001, chương 1

em dân tộc thiểu số đủ điều kiện vào các trường phổ thông cơ sở

Một nhân tố quan trọng nữa về việc ít học sinh dân tộc thiểu số được vào cấp học này vì đơn giản là thiếu cơ sở vật chất và giáo

viên Đặc biệt là ở vùng hay các cộng đồng nghèo nhất, đường

tới các trường phổ thông cơ sở gần nhất cũng rất xa; thiếu

trường lớp và giáo viên đủ tiêu chuẩn Điều này lại có ảnh

hưởng đến số nhập học thấp của những nhóm dân tộc thiểu số, nhất là các trẻ em gái là những em sẽ phải sống trong trường nội trú xa nha’

lý do khác trong việc cách biệt các dân tộc thiểu số Trong cuộc

chiến tranh giành độc lập, một số nhóm dân tộc thiểu số đã cộng tác với người Pháp, người Mỹ và do đó phúc lợi kinh tế - xã hội

của họ có thể không cao lắm trong các chương trình phát triển

của Chính phú” Ngày nay, Chính phủ đang tăng cường rất

1 Xem: Góp ý của chương trình giáo dục cho báo cáo hiểm điểm giữa bỳ

cua UNICEF, Hà Nội

2 Xem Nguyễn Minh Quang: "Vai trò của Đạo Tin lành và Thiên chúa giáo trong lịch sử đô hộ thuộc địa ở Việt Nam", Những tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2001

Ngày đăng: 27/05/2014, 05:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tỷ lệ tăng tr−ởng GDP của Việt Nam - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 1 Tỷ lệ tăng tr−ởng GDP của Việt Nam (Trang 9)
Hình 2: Giảm nghèo dự kiến đến năm 2010 - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 2 Giảm nghèo dự kiến đến năm 2010 (Trang 29)
Hình 3: Những chiều h−ớng trong tỷ lệ tử vong d−ới 5 tuổi - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 3 Những chiều h−ớng trong tỷ lệ tử vong d−ới 5 tuổi (Trang 29)
Hình 5: Tỷ lệ đăng ký nhập học thô ở các bậc tiểu học, - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 5 Tỷ lệ đăng ký nhập học thô ở các bậc tiểu học, (Trang 30)
Hình 6: Diện bao phủ toàn quốc về cung cấp n−ớc - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 6 Diện bao phủ toàn quốc về cung cấp n−ớc (Trang 30)
Hình 7. Thành tựu giảm tỷ lệ tử vong trẻ em - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 7. Thành tựu giảm tỷ lệ tử vong trẻ em (Trang 31)
Bảng 1: Diện bao phủ của các mạng l−ới an toàn xã hội - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Bảng 1 Diện bao phủ của các mạng l−ới an toàn xã hội (Trang 38)
Bảng 2: Những mục tiêu của Chương trình Hành động - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Bảng 2 Những mục tiêu của Chương trình Hành động (Trang 43)
Bảng 3: Mục tiêu của Chương trình Hành động quốc gia - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Bảng 3 Mục tiêu của Chương trình Hành động quốc gia (Trang 44)
Hình 9: Ước mong đ−ợc tham gia của ng−ời dân - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 9 Ước mong đ−ợc tham gia của ng−ời dân (Trang 53)
Hình 10: Xu h−ớng phát triển theo lĩnh vực qua những chu kỳ - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 10 Xu h−ớng phát triển theo lĩnh vực qua những chu kỳ (Trang 70)
Hình 11: Giải ngân tiền mặt của UNICEF theo tổ chức nhận - quyền con người cho phụ nữ và trẻ em unicef
Hình 11 Giải ngân tiền mặt của UNICEF theo tổ chức nhận (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w