1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tu sĩ phật giáo nam tông trong đời sống xã hội của người khmer

156 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Tu Sĩ Phật Giáo Nam Tông Trong Đời Sống Xã Hội Của Người Khmer
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành với diện tích tự nhiên gần 40.000 km2, có đường biên giới giáp Campuchia trên 340 km, có dân số khoảng 17,7 triệu người; trong đó, có khoảng 1,3 triệu người Khmer sinh sống tập trung ở thành phố Cần Thơ và các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Vĩnh Long. Đây là vùng có tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế và là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, đối ngoại và an ninh quốc phòng. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các ấp, phum, sóc. Đa số người Khmer đều là tín đồ và cuộc sống của họ hết sức gắn bó với các ngôi chùa. Họ xem Phật giáo Nam tông (PGNT) là một tôn giáo chính thống trong đời sống tinh thần. Bộ máy tự quản truyền thống ở các phum, sóc người Khmer là những người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer do dân làng bầu ra, ngoài ra còn có Ban Quản trị chùa và các vị tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer cũng nằm trong bộ máy tự quản của cộng đồng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành với diện tích tự nhiên gần 40.000 km2,

có đường biên giới giáp Campuchia trên 340 km, có dân số khoảng 17,7 triệungười; trong đó, có khoảng 1,3 triệu người Khmer sinh sống tập trung ở thànhphố Cần Thơ và các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, BạcLiêu, Cà Mau, Hậu Giang, Vĩnh Long Đây là vùng có tiềm năng và lợi thế đểphát triển kinh tế và là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, đốingoại và an ninh quốc phòng

Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các ấp,phum, sóc Đa số người Khmer đều là tín đồ và cuộc sống của họ hết sức gắn

bó với các ngôi chùa Họ xem Phật giáo Nam tông (PGNT) là một tôn giáochính thống trong đời sống tinh thần Bộ máy tự quản truyền thống ở cácphum, sóc người Khmer là những người có uy tín trong đồng bào dân tộcKhmer do dân làng bầu ra, ngoài ra còn có Ban Quản trị chùa và các vị tu sĩPhật giáo Nam tông Khmer cũng nằm trong bộ máy tự quản của cộng đồng.Riêng đối với Phật giáo Nam tông Khmer (PGNTK) thì trong việc thựchành tôn giáo, tu sĩ là người “thay mặt Tam bảo” chăm lo phần tinh thần chocác tín đồ; trong hoạt động Phật sự, xã hội là người điều hành nền hành chínhđạo; trong hoạt động truyền đạo thì họ là trụ cột để phát triển tín đồ Hơn nữa,

họ là người đại diện cho từng chùa, từng phum sóc nên thường xuyên có mốiquan hệ với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cácđoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương Với vai trò quan trọng như vậy, tu sĩPGNTK luôn có vai trò ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống xã hội trongcộng đồng người Khmer

Thực hiện Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư, Chỉ thị số 19-CT/TWngày 10/01/2018, hầu hết các tỉnh, thành trong vùng ban hành nghị quyết

Trang 2

chuyên đề về công tác dân tộc, chương trình hành động, kế hoạch thực hiệncác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đối với dân tộcKhmer Qua đó, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, tạo được sự nhấttrí, ủng hộ của quần chúng nhân dân trong việc thực hiện các chính sách dântộc, nâng cao đời sống cho đồng bào góp phần tích cực vào việc xây dựngkhối đại đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau và giữa đồngbào có và không có tôn giáo, phát huy được nguồn lực của đồng bào có tôngiáo trong phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương,cũng như trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,hội nhập quốc tế của đất nước.

Đặc biệt là trong công tác vận động quần chúng nói chung và công tácvận động tu sĩ PGNTK nói riêng được các cấp ủy Đảng quan tâm, chỉ đạo vàtạo điều kiện cho các vị phối hợp với các ngành chức năng ở địa phương thamgia vận động quần chúng là Phật tử tích cực lao động sản xuất, thực hiện tốtnghĩa vụ công dân, đồng hành cùng dân tộc; có ý thức phòng ngừa và đấutranh với những hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chínhtrị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Tuy nhiên xã hội ngày càng biến động và yêu cầu cần xây dựng một xãhội tốt đẹp, trong đó sự đóng góp của cộng đồng Khmer ở Tây Nam bộ (TNB)

là hết sức quan trọng Trong xã hội biến động thì xã hội người Khmer cũngbiến động hết sức gay gắt và khắc nghiệt Đã một bộ phận người Khmer bỏtôn giáo của mình, bỏ tôn giáo truyền thống, bỏ phong tục tập quán để đi theotôn giáo khác Ngoài ra còn bỏ phum, sóc để đi nơi khác hoặc đi nước ngoàiđịnh cư dẫn đến bản sắc Khmer không còn thuần túy

Bên cạnh đó một số ít tu sĩ PGNTK chưa nhận thức đầy đủ về hiếnpháp và pháp luật Việt Nam, có thái độ thiếu hợp tác với chính quyền đingược lại với những gì tốt đẹp của tôn giáo và lợi ích dân tộc Nhận thức

Trang 3

về vai trò của tu sĩ PGNTK của một bộ phận cán bộ trong hệ thống chínhtrị chưa đầy đủ và thống nhất; còn xem nhẹ công tác vận động họ trong quátrình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương Một số cấp ủyĐảng, chính quyền còn lúng túng trong việc chỉ đạo giải quyết những vấn

đề có liên quan đến PGNTK; chưa thực sự quan tâm tháo gỡ những khókhăn vướng mắc thuộc về cơ chế, chính sách liên quan đến PGNTK, trong

đó, có công tác xây dựng lực lượng cốt cán trong PGNTK chưa được quantâm đúng mức và phát huy hiệu quả chưa cao

Mặc khác, vai trò của tu sĩ PGNT hiện nay trong điều kiện phát triển củađồng sống xã hội đối với người Khmer vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bànluận liên quan đến vấn đề thực hiện tốt Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày15/7/2010 của Chính phủ, về việc tổ chức thực hiện giảng dạy ngôn ngữKhmer, Pali, giáo lý tại các điểm chùa của một số tỉnh, thành chưa được quantâm đúng mức; việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc chưa đượcphát huy một mạnh mẽ Đặc biệt là vấn đề một số ít tu sĩ trẻ tham gia các hội,nhóm đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc; một số chùa còn có biểu hiện mâuthuẫn giữa Trụ trì chùa với Ban Quản trị; gây mất đoàn kết, chia rẽ trong nội

bộ cộng đồng người Khmer, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự

xã hội

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay”

để làm luận án tiến sĩ Chuyên ngành Tôn giáo học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu tổng quát luận án có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:

- Đặc điểm tình hình vùng TNB và PGNTK

- Vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở TNB

- Thực trạng và vấn đề đặt ra đối với tu sĩ PGNT trong đời sống xã hộicủa người Khmer ở TNB

- Đề ra các giải pháp để tiếp tục phát huy vai trò và nâng cao hiệu quảhoạt động của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở TNB

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay”.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: từ năm 1991 đến nay (từ khi có Chỉ thị 68/CT-TW ngày 18/4/1991 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ - me)

Lý thuyết cấu trúc - chức năng của tôn giáo; lý thuyết vùng văn hóa; lý thuyếtthực thể tôn giáo…

Trang 5

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận án này, chúng tôi vận dụng các phương pháp luậnnghiên cứu tôn giáo học mác xít, lý thuyết cấu trúc, chức năng của tôn giáo, lýthuyết thực thể tôn giáo, lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết hành động xã

hội Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp cụ thể như phương

pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh,quan sát, điền dã, phỏng vấn, khảo sát, tham gia phương pháp nghiên cứuchuyên ngành và liên ngành như: phương pháp tôn giáo học, sử học, xã hội họctôn giáo

4.3 Cách tiếp cận

Cách tiếp cận dân tộc học và tôn giáo học: Dùng lý thuyết thực thể tôngiáo (niềm tin, thực hành, cộng đồng) để xem xét mối tương tác giữa tu sĩPGNT trong cộng đồng người Khmer

Cách tiếp cận sử học: Được áp dụng nghiên cứu về lịch sử quá trìnhhình thành cộng đồng người Khmer và PGNTK ở TNB

Cách tiếp cận triết học: Được áp dụng nghiên cứu về vai trò của tôngiáo như một thành tố của thuộc kiến trúc thượng tầng tác động đến các thành

tố khác của kiến trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở như: Kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án nghiên cứu một cách hệ thống “Vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay” Qua đó, đề xuất

những giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực về vai trò của tu sĩPGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở TNB hiện nay; hạn chế nhữngmặt tiêu cực còn tồn tại trong đời sống xã hội Đồng thời, khuyến nghị Đảng

và Nhà nước về việc thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc nói chung; chínhsách đối với PGNTK và dân tộc Khmer nói riêng

Trang 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần bổ sung cho lý thuyết tôn giáo học đương đại về vaitrò của tu sĩ nói chung, PGNTK nói riêng Luận án góp phần cung cấp cơ sở lýluận, thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách về dân tộc, tôn giáo nóichung, dân tộc Khmer và PGNTK nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tếnhư hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả luận án cung cấp những luận cứ khoa học để bổ sung và hoànthiện chính sách đặc thù đối với PGNTK nói chung, tu sĩ PGNTK nói riêng.Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cáccông trình nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập chuyên ngành tôn giáohọc và các lĩnh vực khác có liên quan

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,nội dung chính của luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài Chương 2: Khái quát Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ Chương 3: Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội

người Khmer Tây Nam Bộ: thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Chương 4: Giải pháp và kiến nghị phát huy vai trò của tu sĩ Phật giáo

Nam tông đối với cộng đồng người Khmer Tây Nam Bộ trong thời gian tới

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1.1 Nhóm công trình liên quan đến vấn đề dân tộc Khmer

Trước năm 1975, vấn đề dân tộc Khmer Nam Bộ - Việt Nam đượcnhiều học giả người nước ngoài nghiên cứu, tuy nhiên các công trình của họchủ yếu đề cập đến từng khía cạnh riêng biệt về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúcchùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân gian, thơ ca dân gian Thời điểm này,

đáng chú ý là công trình“Người Việt gốc Miên” của Lê Hương [62] xuất bản (1969) tại Sài Gòn và bản ghi chép “Chân lạp phong thổ ký” của Châu Đạt

Quan do Lê Hương dịch (1973), có thể xem là những công trình đầu tiên trìnhbày tổng quan khá đầy đủ về người Khmer Nam Bộ - Việt Nam, cụ thể là vềnguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôngiáo, văn hóa, giáo dục, kinh tế, địa danh, lịch sử, … Bên cạnh đó, tác giảcũng có đề cập đến vấn đề Phật giáo trong cộng đồng người Khmer Tuynhiên tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi ở tỉnh Vĩnh Bình (tỉnh Trà Vinhhiện nay) qua các mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng; đây là

tư liệu quí để chúng tôi làm cơ sở nghiên cứu luận án

Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu liên quan đến người KhmerNam Bộ liên tục được chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm; trong đó

phải kể đến nhà nghiên cứu Phan An, với các công trình tiêu biểu như: “Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và Camphuchia” (1980);

“Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long - Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long” (1984); “Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)”(1984);

Trang 8

“Nghiên cứu người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long” (1985) [1]… Qua

các bài viết, tác giả đã khái quát đầy đủ các khía cạnh về đời sống xã hội củangười Khmer ở Nam Bộ trong những thập niên 80 của thế kỷ XX; đây là cơ

sở để chúng tôi so sánh sự chuyển biến trong đời sống xã hội của ngườiKhmer trước và sau thời kỳ đổi mới

Năm 1981, công trình sách “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ Thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX” của tác giả

Mạc Đường [45] đã khái quát được quá trình hình thành các tộc người Việt,Khmer, Hoa và Chăm; đồng thời, làm rõ đặc điểm của các cộng đồng tộcngười này ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm làm cơ sở nghiên cứu nhữngđặc trưng riêng của từng tộc người ở vùng đất Nam Bộ

Công trình “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” do Huỳnh Lứa [68]

chủ biên đã được Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào năm1987; đến năm 2017, công trình này có chỉnh sửa, bổ sung và tái bản; côngtrình bằng tiếng Việt, dày 355 trang; các tác giả đã trình bày tiến trình nhândân ta khai khẩn và mở mang vùng đất Nam Bộ từ nữa thế kỷ XVII đến giữathế kỷ XX, trước hết là để phục vụ việc tìm hiểu sâu và kỷ hơn về hiện trạng,động thái, tiềm năng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam

Bộ Công trình này đã giúp chúng ta nắm được quá trình hình thành và pháttriển của các dân cư sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Công trình “Vấn đề Dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long” [99] Nxb.

Khoa học xã hội, 1991, Hà Nội do Viện Khoa học Xã hội tại thành phố HồChí Minh thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên; công trình dày 324trang, gồm 7 bài nghiên cứu bằng tiếng Việt do các tác giả: (1) Mạc Đường:

Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long; (2) Đinh Văn Liên: Đặc điểm môi sinh và dân số ở vùng người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, (3) Phan An: Một số vấn đề

Trang 9

kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long, (4) Phan Thị Yến Tuyết: Một số đặc điểm về văn hóa vật chất của người Khmer

và người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long, Truyền thống đấu tranh cách

mạng của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; (5) Phan Văn Dốp và

Nguyễn Việt Cường: Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long Công trình

đã phát họa bức tranh tổng thể các dân tộc chủ yếu đang có mặt ở đồng bằngsông Cửu Long; đồng thời, đề cập đến khía cạnh của các vấn đề khoa học xãhội qua nhiều đợt điều tra nối tiếp nhau tại các vùng dân tộc Khmer từ cuốinăm 1977 đến 1986 sẽ giúp ích cho chúng tôi nghiên cứu về tình hình trongvùng đồng bào dân tộc trước thời kỳ đổi mới; đồng thời ứng dụng cho việcvạch định chính sách và giải pháp phù hợp trong thời kỳ đổi mới

Nguyễn Khắc Cảnh (2000) “Các loại hình phum, sóc của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long” [33], tác giả dựa trên những quan sát về các loại

hình phum, sóc của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ranhững nhận định về cấu trúc, tính chất, mối quan hệ xã hội của người Khmer

Nam Bộ Song song đó, với hai bài viết “Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII” và “Sự hình thành cộng đồng người Khmer vùng ĐBSCL” trong “Văn hoá Nam Bộ trong không gian văn hoá Đông Nam Á” (2000), tác giả Nguyễn Khắc Cảnh đã làm rõ quá trình hình thành cộng đồng tộc người của người Khmer nhằm “đánh giá đúng những mối quan hệ mang tính tộc người, giữa bộ phận người Khmer ở Nam

Bộ - Việt Nam và người Khmer ở Campuchia” Với những nghiên cứu này

giúp chúng tôi nhận diện mối quan hệ xã hội, các đặc trưng về văn hoá tộcngười của người Khmer Nam Bộ

Đề tài khoa học: Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer Nam bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1939-1975) [96], do cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam bộ thực hiện năm 2000-

Trang 10

2001 đã trình bày khá đầy đủ chi tiết các cuộc đấu tranh chống lại những bấtcông của đồng bào dân tộc Khmer; cũng như sự đoàn kết đấu tranh giữa cácdân tộc công cư trong vùng nhằm chống lại giặc xâm lượt để bảo vệ quêhương, bảo vệ Tổ quốc từ khi có Đảng đến kết thúc cuộc kháng chiến chống

Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

Năm 2002, tác giả Nguyễn Mạnh Cường viết về Vài nét về người Khmer Nam bộ [37] Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Công trình giới thiệu về người

Khmer Nam bộ như một cộng đồng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc ViệtNam với nhiều cách tiếp cận: nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, vănhóa và tôn giáo của người Khmer trong bối cảnh của Nam bộ Thành công nhấtcủa công trình là những tư liệu, ghi chép của tác giả về “văn hóa người KhmerNam bộ”, tác giả giành nhiều trang viết về phong tục, tập quán, lễ hội, tâm lýlối sống đến các chùa, tranh tượng, nhạc cụ; ngoài ra, tác giả cũng phản ánh

“vấn đề Phật giáo Khmer” mà giới nghiên cứu Phật giáo Việt Nam rất quan tâm Song song đó, tác giả còn có công trình “Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Nxb Phương Đông, 2004, Hà

Nội; với 488 trang, 07 chương đã trình bày bức tranh tổng thể những nét cơbản về các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long; cũng như về tôn giáo, tínngưỡng của từng tộc người cụ thể Tác giả Nguyễn Mạnh Cường vàNguyễn Minh Ngọc đã dành hai chương (II, III) để nói những vấn đề liên

quan đến người Khmer, chương IV nói về người Chăm ở Châu Đốc,chương V, nói về người Hoa ở miền TNB và Chương V, nói về người Việt ở

vùng đồng bằng sông Cửu Long.Nhìn chung, qua nội dung công trình các tác giả đánh giá được sự thayđổi và sự lớn mạnh không ngừng của vùng đồng bằng sông Cửu Long trongquá trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế Người dânvùng đồng bằng sông Cửu Long đang hàng ngày, hàng giờ giàu mạnh hơntrước đây Các dân tộc anh em cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết với nhau

Trang 11

trong niềm tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các mặtkinh tế, văn hóa- xã hội, chính trị, ngoại giao và an ninh quốc phòng nhằmchống lại các thế lực thù địch trên mọi mặt trận, nhất là mặt trận tư tưởng, tôngiáo, tín ngưỡng Nội dung công trình đã góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóatộc người, tìm hiểu sâu hơn về quá trình tâm linh- hay đức tin- cái cốt lõi cho

sự bảo tồn và phát triển văn hóa của các tộc người: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm.Đây là tài liệu góp phần rất lớn cho các nhà quản lý nhà nước về công tác dântộc, tôn giáo trong vùng TNB; hiểu hơn về đồng bào dân tộc và hiểu hơn vềcác tôn giáo tránh xảy ra các xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo như một sốnước trong khu vực Đông Nam Á

Năm 2005, tác giả Đinh Lê Thư chủ biên sách “ Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long” [89], công trình dày 384, gồm 5 chương; trong đó chương 3 giới thiệu về “Giáo dục song ngữ và tình hình song ngữ Việt - Khmer ở đồng bằng song Cửu Long” và Chương 5 viết về “Vai trò nhà chùa trong hoạt động văn hóa - giáo dục ở vùng dân tộc Khmer Nam Bộ”

tác giả giới thiệu các chức năng của chùa và tập trung đánh giá vai trò dạy họcchữ Khmer và chữ Pali cho con em trong cộng đồng Khmer tại các điểm chùaKhmer ở Nam Bộ

Năm 2006, Ủy ban Dân tộc thực hiện dự án “Điều tra cơ bản tình hình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ năm 2006” [97] do Cơ quan Thường trực khu vực đồng bằng

sông Cửu Long thực hiện - Phạm Văn Thới (chủ nhiệm) Nội dung kỷ yếubằng tiếng Việt, dày 221 trang; nội dung của dự án được triển khai thực hiện

gồm 4 chuyên đề: (1) Tác dụng, hiệu quả của Chương trình 135; (2) Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với các xã thuộc Chương trình 135 giai đoạn II ở vùng dân tộc Khmer Nam Bộ; (3) Các giải pháp để phát huy hiệu quả giai đoạn I và thực hiện tốt giai đoạn II Chương trình 135 ở vùng dân tộc

Trang 12

Khmer Nam Bộ; (4) Đề xuất chính sách và giải pháp mạng tính bức phá cho các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc Khmer Nam Bộ.

Ngoài ra, trong kỷ yếu có nhiều bài báo cáo tham luận của các cơ quanlàm công tác dân tộc ở Nam Bộ đã khái quát được tình hình phát kinh tế xãhội vùng đồng bào Khmer của từng địa phương tại thời điểm năm 2006; qua

đó, đặt ra những vấn đề khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện triển khai thựchiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong vùng đồng bào dântộc thiểu số ở Nam Bộ cần giải quyết; đồng thời, đưa ra những giải pháp vàkiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách đối với vùng đồngbào dân tộc Khmer

Năm 2007, Luận án Chuyên ngành Lịch sử “Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước trong cộng đồng người Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long 1992-2002”, Học viện Khoa học Xã hội

vùng Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, bằng tiếng Việt, dày 216 trang Tácgiả Nguyễn Hoàng Sơn [86] đã khái quát được đặc điểm kinh tế - văn hóa - xãhội truyền thống của cộng đồng người Khmer đồng bằng sông Cửu Long; qua

đó tác giả phân tích được tính chất đặc thù về thực trạng, đặc điểm, nguyênnhân dẫn đến nghèo đói của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long; hệthống hóa các kết quả đã đạt được, rút ra thành tựu, kinh nghiệm và nhữngvấn đề đặt ra; đồng thời kiến nghị các giải pháp thực hiện nhằm góp phần xóađói giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer

Đặc biệt, năm 2009, tác giả Phan An có sách “Dân tộc Khmer Nam Bộ” [2] Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, công trình dày 188 trang của

giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch sử, thực trạng đời sống kinh tế xã hội, bảnsắc văn hóa dân tộc của cộng đồng cư dân Khmer tại đồng bằng sông CửuLong; bên cạnh đó, tài liệu còn giới thiệu về điều kiện địa lý, dân cư và đặcbiệt là những sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc của cư dân Khmer và các dân

Trang 13

tộc trong đại gia đình dân tộc đang sinh sống cộng cư Đồng thời, tác giảcũng đưa ra những dự báo về sự phát triển đời sống chính trị, kinh tế, xãhội của đồng bào Khmer trong tương lai nhằm giúp cho các bộ, ban, ngành,các đơn vị làm công tác dân tộc từ địa phương đến trung ương có nhữngứng dụng để đưa ra các giải pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình trongcộng đồng dân tộc Khmer vùng TNB.

Năm 2012, trong sách “Văn hóa Khmer Nam bộ - Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Phương Hạnh [54], công trình dày

328 trang, tác giả đã khái quát được một số nét về người Khmer Nam Bộ; đồngthời giới thiệu được nét văn hóa đặc trưng của người Khmer Nam bộ gồm cảvăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; đồng thời, đưa ra một số giải pháp nhằmphát huy nét đẹp, những mặt tích cực, những tiềm năng, thế mạnh của dân tộcKhmer trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trongthời kỳ phát triển mới của đất nước Ngoài ra, các tác giả còn sư tầm nhữnghình ảnh, tư liệu làm nổi bật hơn nét đặc sắc, những thành tự đã đạt được củađồng bào Khmer trong thời gian qua, nhất là về mặt văn hóa; từ đó khẳngđịnh sự quan tâm, chăm sóc và tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước đối với

sự phát triển mọi mặt của đồng bào Khmer Nam Bộ

Năm 2015, Luận án chuyên ngành Nhân học “Quan hệ tộc người của người Khmer ở hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia (khu vực Tây Nam Bộ)” Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, công trình dày 145 trang [82] Tác

giả Nguyễn Thuận Quý đã phân tích mối quan hệ của người Khmer ở khu vựcbiên giới TNB qua các mối quan hệ trong lĩnh vực của đời sống xã hội Đồngthời, phân tích ý thức và hành động của người Khmer đối với quốc gia - Tổquốc Việt Nam Tuy nhiên, với đặc trưng đa tộc người, đa tôn giáo thì vùngđất TNB vẫn còn nhiều nguy cơ mất ổn định do nhiều nguyên nhân khác nhaumang tính chủ quan và khách quan Đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra một số

Trang 14

kiến nghị đề xuất những giải pháp nhằm góp phần cho công tác quản lý nhànước về công tác dân tộc được hiểu quả hơn.

1.1.2 Nhóm công trình liên quan đến Phật giáo Nam tông Khmer

Đề tài khoa học cấp bộ (1999-2000), “Vai trò của chùa Khmer đối với đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ“ của Ủy ban Dân tộc và

Miền núi cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ do Sơn Phước Hoan(chủ nhiệm) [95]; công trình bằng tiếng Việt, tuy dày chỉ 64 trang nhưngnhóm tác giả đã trình bày khái quát được thực trạng về đời sống xã hội trongcộng đồng người Khmer đến năm 2000; khái quát đặc điểm về Phật giáo,trong đó phân tích khá sâu về vai trò của PGNT đối với đời sống tinh thần củacộng đồng Khmer Nam Bộ Song song đó, nhóm tác giả tập trung phân tíchvai trò của chùa đối với đời sống văn hóa của người Khmer; công trình có đề

ra một số kiến nghị nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tụcphát huy vai trò của chùa đối với đời sống văn hóa của người Khmer Nam Bộtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Năm 2000, tác giả Trần Hồng Liên xuất bản tác phẩm Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ - Việt Nam (Từ thế kỷ XVII đến 1975), Nxb.

Khoa học Xã hội, Hà Nội [65] Tác phẩm trình bày tìm hiểu tiến trình pháttriển của lịch sử Phật giáo tại vùng đất mới, vai trò của đạo Phật trong đời sốngvăn hóa - xã hội của người Việt, làm rõ được tính địa phương và tính dân tộccủa Phật giáo Nam bộ, những đóng góp của PGNT và Bắc tông trong Phật giáoViệt Nam Bên cạnh đó có so sánh một số nét cơ bản của PGNT trong ngườiViệt và người Khmer, mối quan hệ qua lại giữa văn hóa Phật giáo của ba dântộc Kinh, Khmer, Hoa ở Nam bộ Song song đó, tác giả còn đi sâu nghiên cứuđối với các hình thức thực hành tôn giáo của các tôn giáo này

Năm 2004, Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc Khmer Nam Bộ” [109] do Vụ Văn hoá dân tộc tổ chức tại Hà Nội, tập hợp

Trang 15

các bài viết xoay quanh thực trạng xây dựng đời sống văn hoá cho vùng dântộc Khmer trong giai đoạn hiện nay và các giải pháp mới Trong đó có một số

bài viết liên quan đến đề tài là “Để hiểu sâu thêm về Pháp (Dharma), một trong “Tam pháp báo” của Phật giáo Theravada của người Khmer Nam Bộ” của Ngô Văn Doanh “Đạo Phật Tiểu thừa Khmer Nam Bộ ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long:Chức năng xã hội truyền thống và động thái xã hội” của Nguyễn Xuân Nghĩa, “Ảnh hưởng của Phật giáo Theravada trong tang ma người Khmer Nam Bộ” của Nguyễn Mạnh Cường Đây là nguồn tư

liệu quan trọng để chúng tôi nghiên cứu về vai trò của tu sĩ PGNTK trong đờisống xã hội Tuy nhiên, hạn chế của các bài viết là thiếu tính thực tiễn trongkhi nghiên cứu do các nhà nghiên cứu còn chưa có điều kiện xâm nhập thực tế

ở các vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer

Năm 2008, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã xuất bản công trình:

Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại), Nxb Tôn giáo, Hà Nội

[36] Công trình bằng tiếng việt, dày 310 trang, đây là chuyên đề nghiêncứu sâu về đồng bào dân tộc Khmer, mô tả đời sống tinh thần của ngườiKhmer Nam Bộ gắn liền với PGNT, những định hướng và những đề xuấtcác chủ trương, chính sách phù hợp với tâm tư, nguyện vọng với ngườiKhmer Trong công trình này, tác giả đã nêu lịch sử hình thành và pháttriển vùng đồng bằng sông Cửu Long, quá trình hình thành người Khmer

ở Nam bộ, sự hình thành người Khmer khu vực Đông Nam Á, ngườiKhmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mối quan hệ giữa người Mônvới người Khmer

Công trình khoa học của Nguyễn Tiến Dũng (2014) "Phật giáo Nam tông với đời sống tinh thần của người Khmer Nam bộ trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay" [40] Qua nghiên cứu cho thấy, tác giả đã phân tích và đánh giá

khá toàn diện những mặt tồn tại của PGNT trong đời sống xã hội của người

Trang 16

Khmer Nam bộ Tuy nhiên, tác giả chủ yếu làm rõ các vấn đề tích cực màchưa nêu lên được những yếu tố tiêu cực liên quan Chẳng hạn như công nghệthông tin phát triển tràn làn, các nhà sư Khmer có nhiều điều kiện hơn trongviệc cập nhật kiến thức và nâng cao sự hiểu biết, nhưng nếu không có sự cảnhgiác và quản lý chặt chẽ sẽ dễ dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp.

Kỷ yếu hội thảo khoa học với đề tài nhánh: “Chính sách đối với tổ chức, hội đoàn, chức sắc, nhà tu hành, cơ sở thờ tự của Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ” (10/2014), do PGS.TS Hoàng Minh Đô (chủ

nhiệm) [43], Kỷ yếu dày 389 trang và bằng tiếng Việt tập hợp được 17 bài viếtcủa các nhà nghiên cứu, nhà quản lý về công tác dân tộc, tôn giáo đầu ngành.Đây là tài liệu có các bải viết nghiên cứu sâu về vùng đất, cư dân, về các thểchế chính trị trong lịch sử; về tình hình tôn giáo trong cộng đồng người Khmer.Ngoài ra, các tác giả cũng đặt ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết và đưa

ra những giải pháp góp phần để bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với tổchức, hội đoàn, chức sắc, nhà tu hành, cơ sở thờ tự của PGNTK và đồng bàoKhmer vùng TNB đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến PGNTK - qua quá trình du nhập vàphát triển nơi đây, Phật giáo đến với người Khmer, những triết lý Phật giáo vàkinh kệ mà người Khmer đã thực hành trong hành đạo, PGNT qua quá trìnhlịch sử thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ Mỹ Ngụy Song song đó, tác giả có đềcập đến vai trò của Sư sãi đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội củangười Khmer, vai trò của Phật giáo trong quản lý cộng đồng phum sóc, vai tròcủa chùa trong đời sống người Khmer, một số nghi thức tụng niệm kinh kệtrong PGNTK Đồng thời, nêu lên hiện trạng PGNTK và đưa ra những giảipháp cho sự phát triển bền vững của vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trang Thiếu Hùng, “Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đối với tư tưởng và đạo đức người Khmer tỉnh Trà Vinh” Tác giả luận án nhận định:

Trang 17

“Số lượng thanh thiếu niên Khmer xuất gia (đi tu) ngày càng ít đi không phải

là vấn đề đáng lo ngại, người không xuất gia cũng là người có đạo đức tốt nếuđược giáo dục đầy đủ và sống trong môi trường tốt” Nhận định trên đặt ra haivấn đề đáng quan tâm Trước hết, “số lượng thanh thiếu niên Khmer xuất giangày càng ít đi” có phần đúng với thực tế, nhưng cũng cần khảo sát lại chothỏa đáng Bởi lẽ, thời gian tu học của sư sãi Khmer không bắt buộc Họ cóthể tu học vài ngày, vài tháng, vài năm rồi hoàn tục

Do đó, lấy sự hiện diện của số sư sãi Khmer trong chùa ở một thờiđiểm nào đó để đánh giá hiện trạng tu học tăng hay giảm sẽ không tránh khỏiphiến diện Còn về nhận định “người không xuất gia cũng là người có đạođức tốt nếu được giáo dục đầy đủ và sống trong môi trường tốt” cũng có phầnđúng Thực tế cho thấy, trước sự tiến bộ xã hội hiện nay, đại bộ phận thanhthiếu niên, bất luận là tộc người nào đều hướng đến cuộc sống hiện đại Với

hệ thống giáo dục các cấp được mở rộng, việc học tập ở các trường lớp đốivới thanh thiếu niên là điều dễ thấy, và đó là điều kiện để họ trau dồi đạo đức

và hoàn thiện nhân cách sống tốt hơn Bài viết đã phản ánh đầy đủ các mặttồn tại của PGNTK trong cộng đồng người Khmer đồng bằng sông Cửu Longnói chung và người Khmer ở Trà Vinh nói riêng, đặc biệt là việc tu học, hànhđạo của tu sĩ PGNTK cũng như thanh thiếu niên dân tộc Khmer

Bài viết của tác giả Trần Hồng Liên “Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở Trà Vinh hiện nay” [66] trình bày khái quát sự chuyển đổi tôn

giáo trong người Khmer ở Trà Vinh Đồng thời, nêu lên một số nguyên nhân

từ những biến đổi trong sinh hoạt của tu sĩ PGNTK đưa đến tình trạng cải đạo

và đưa ra dự báo xu hướng truyền đạo vào cộng đồng người Khmer thời giantới Tác giả đã đưa ra một số suy nghĩ về hiện tượng cải đạo của ngườiKhmer: Do sự tiếp và giao lưu văn hóa từ bên ngoài đã làm cho phong tục tậpquán của người Khmer dần bị thay đổi, ngôi chùa ngày càng ít thanh niên

Trang 18

Khmer vào tu, một số vị sư cả đánh mất sự ảnh hưởng của mình đối với tínđồ; Về phía các điểm nhóm Tin Lành chưa được cấp phép hoạt động, họ cần

có ngay một số lượng người theo đạo để có điều kiện được cấp phép nên tìmmọi cách để lôi kéo người Khmer vào đạo; vẫn còn những bất cập trong việcthực hiện chính sách nhà nước, đặc biệt là Chương trình 134, 135; Việc tu sĩKhmer ngày càng ít đi, trình độ Phật học và thế học có phần hạn chế là cơ hội

để các tôn giáo khác tạo sự ảnh hưởng đối với người Khmer

Bài viết của Nguyễn Nghị Thanh “Vài nét về biến động của Phật giáo Nam tông Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long” [87] gồm 3 phần: Đôi nét về

người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; Những biến động trong lịch sử vàhiện tại của PGNTK ở đồng bằng sông Cửu Long; Một số nhận định và ý kiến

để giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của PGNTK ở nước ta

Tác giả đưa ra một vài nhận xét như sau: Địa bàn sinh sống của ngườiKhmer ở nước ta khá phức tạp nên việc tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi, dựng vợ gảchồng với người Khmer Campuchia là không tránh khỏi, đây là điều kiệnthuận lợi để các tổ chức phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằmchia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta Trình độ nhận thức củangười Khmer đồng bằng sông Cửu Long còn hạn chế nên khó khăn trong việctiếp nhận, nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng vàNhà nước Các cấp ủy Đảng và Nhà nước cần quan tâm tạo điều kiện thuậnlợi để cho đồng bào Khmer yên tâm sinh hoạt tôn giáo; hỗ trợ và giúp đỡ cácchùa tổ chức các lớp dạy và học chữ Khmer, chữ Pali; quan tâm đến việc tuhọc của thanh thiếu niên Khmer; bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóadân tộc Khmer

Bên cạnh đó, còn có các công trình sách của các tác giả như: Thạch Voi

(1988), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam bộ, NXB Tổng hợp Hậu

Giang [108], trình bày về truyền thống văn hóa, các lễ, hội văn hóa, tín

Trang 19

ngưỡng, quá trình hình thành dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trường Lưu (1993), Văn hóa người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, NXB

Văn hóa dân tộc, trình bày khái quát về tín ngưỡng- tôn giáo, phong tục, tậpquán, lễ, hội, văn hóa, nghệ thuật âm nhạc và biểu diễn, nghệ thuật tạo hình

của người Khmer ở TNB Đoàn Thanh Nô (2002), Người Khmer ở Kiên Giang, NXB Văn hóa dân tộc, khảo tả về tên tộc người, dân số, phong tục, tập

quán, tín ngưỡng, tôn giáo, cư trú, sản xuất, họ người Khmer; văn hóa truyềnthống phi vật thể và vật thể; một số di tích lịch sử - văn hóa người Khmer tỉnh

Kiên Giang Huỳnh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu long, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Tác giả trình bày khá

đặc sắc về những giá trị văn hóa, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong pháthuy giá trị văn hóa, phương hướng và giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóaKhmer vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay…Tuy đây lànhững công trình nghiên cứu sâu về văn hóa nhưng chúng tôi có thể vậndụng làm tài liệu tham khảo các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo,kiến trúc, lễ, hội truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông CửuLong để đưa ra các đặc điểm của dân tộc Khmer nói chung, đặc điểm củaPGNTK nói riêng

Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu các công trình, bài viết đăng tải

trên các tạp chí như: Phật giáo trong đời sống của người Khmer Nam bộ của Phan An, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2003; Phật giáo tiểu thừa Khmer ở vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long: chức năng xã hội truyền thống và động thái của xã hội của Nguyễn Xuân Nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2003 Phật giáo Nam tông Khmer trong bối cảnh thống nhất và hội nhập của Phật giáo Việt Nam của Dương Nhơn, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2008; Giáo dục truyền thống của người Khmer (nghiên cứu ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh),

Trang 20

Tạp chí Dân tộc học, số 4/2002; Đời sống đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau của Danh Xương, Tạp chí Dân vận, số 6/2002; Nghiên cứu về người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Phan An - Tạp chí Dân tộc học, số 3 - 1985; Một số vấn đề về văn hóa tâm linh của người Khmer hiện nay dưới góc độ tâm lý học của Hoàng Minh Đoàn, Tạp chí Dân tộc học, số 4/2006; Đời sống văn hóa cơ sở ở Phum, Sóc Khmer của Trần Văn Ánh, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 6/2008; Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Kiên Giang và những vấn đề đáng quan tâm của Nguyễn Đức Dũng và Danh Lắm, tạp chí nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á số 4/2013; Văn hóa Phật giáo của người Khmer Nam bộ của Cao Xuân Phổ, Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á số 2/2004

Những công trình nêu trên nghiên cứu khá sâu ở một số khía cạnh vềPGNT trong quá trình hội nhập và phát triển, và đi sâu vào tìm hiểu về ngườiKhmer ở đồng bằng sông Cửu Long cũng như đời sống văn hóa, giáo dụctruyền thống của người Khmer Nam Bộ Dưới những góc độ khác nhau cáccông trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh liên quan đến văn hóa Khmer, vaitrò ảnh hưởng của Phật giáo Khmer Nam bộ đối với đời sống của Nhân dânđồng bằng sông Cửu Long Qua đó, đã khái quát được bức tranh khá toàndiện về đặc điểm tự nhiên, lịch sử hình thành vùng đất và nơi cư trú, sinh hoạtcác dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp chúng tôi có nhiều tài liệu

để tham khảo Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi vàonghiên cứu về vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ởvùng TNB

Nhìn chung, dưới những góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứucủa các tác giả đã khái quát được bức tranh khá toàn diện về đặc điểm tựnhiên, lịch sử hình thành vùng đất; nơi cư trú, sinh hoạt của các dân tộc ởvùng đồng bằng sông Cửu Long; các tác giả đã cập đến nhiều khía cạnh liên

Trang 21

quan đến đồng bào Khmer và vai trò ảnh hưởng của PGNTK đối với đời sống

xã hội của người Khmer ở Nam Bộ Đây là những công trình góp phần tácđộng và có tầm ảnh hưởng rộng đối với công chúng; là những công trình rất

bổ ích, giúp chúng tôi được tiếp cận tìm hiểu, nghiên cứu, tổng hợp và chắclọc các kết quả đã nghiên cứu để kế thừa hoàn thiện đề tài luận án

1.1.3 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu

Đề tài luận án “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay” là bước nghiên cứu phát triển tiếp theo của đề tài luận văn thạc sĩ “Vai trò của sư sãi Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở thành phố Cần Thơ hiện nay” tại

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tuy nhiên, ở cấp độ cao học, luậnvăn chủ yếu dừng lại ở việc khảo tả vấn đề trong phạm vi hẹp của một địaphương mà chưa đi sâu luận giải vấn đề mang tính lý luận Mặt khác, vai tròcủa tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở TNB hiện nay chưađược nghiên cứu một cách hệ thống và mang tính chuyên đề nên có rất nhiềuvấn đề còn bỏ ngõ cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ Để thực hiện được đềtài này chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu các nội dung sau:

Một, vận dụng những phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo

Hai, tiếp tục tìm hiểu vai trò của tu sĩ PGNTK trong đời sống xã hội của

người Khmer ở TNB; đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm giúp các vị tu sĩPGNTK tiếp tục phát huy vai trò của mình trong bối cảnh hội nhập quốc tếnhư hiện nay

Mặt khác, để thực hiện đề tài luận án “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay”, chúng

tôi tập trung nghiên cứu có hệ thống để trả lời các câu hỏi sau:

Một, đặc điểm và tình hình PGNTK ở TNB hiện nay như thế nào?

Trang 22

Hai, vai trò của tu sĩ PGNTK đối với đời sống xã hội trong cộng đồng

người Khmer ở TNB hiện nay ra làm sao?

Ba, những vấn đề cần giải quyết trong hoạt động của tu sĩ PGNTK hiện nay? Bốn, giải pháp nào để tu sĩ PGNTK tiếp tục phát huy vai trò của mình

đối với cộng đồng người Khmer trong bối cảnh như hiện nay?

1.1.4 Giả thuyết nghiên cứu

Một, tu sĩ PGNTK thực sự có vai trò đối với cộng đồng người

Khmer không?

Hai, phải chăng, hoạt động của tu sĩ PGNTK đang có những những vấn

đề bất cập cần giải quyết?

Ba, cần phải có chính sách đặc thù gì đối với tu sĩ PGNTK để các tu sĩ có

điều kiện phát huy vai trò của mình trong cộng đồng người Khmer?

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.2.1 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu liên ngành là vận

dụng, sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học để làm rõ các vấn đề đặt ra

thông qua các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu đề tài: “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay”.

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Hệ thống - cấu trúc là nhằm tiếp

cận hệ thống đi từ chỉnh thể đến các thành tố hợp thành Qua đó, phân tíchcấu trúc tôn giáo của PGNTK qua đặc điểm tôn giáo, xu hướng phát triển theoquy luật trong một chỉnh thể thống nhất nhàm làm rõ thực trạng hoạt động, xuhướng hoạt của tu sĩ PGNTK

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích tài liệu là sử dụng những

thông tin trong tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết đáp ứng mục tiêunghiên cứu của đề tài; phương pháp này thu thập thông tin gián tiếp, không

Trang 23

tiếp xúc với đối tượng khảo sát, chủ yếu được thực hiện trong thư viện, thưphòng Bên cạnh đó, với sự bùng nổ của khoa học công nghệ giúp nguồnthông tin thêm đa dạng, phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho chúng tôi dễdàng thu thập và xử lý thông tin.

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Tôn giáo là một thể văn hóa thống nhất nhiều tầng diện và là hiệntượng văn hóa - xã hội khá phức tạp; có quan hệ chặt chẽ đến sự vận độngbiến đổi của văn hóa tinh thần nên chuyên ngành Tôn giáo học hiện nay sửdụng rất nhiều lý thuyết trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên trong luận ánnày, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số lý thuyết để vận dụng phân tích cácvấn đề tương ứng, phù hợp với đề tài như sau:

Chúng tôi vận dụng phương pháp luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo để phân tích và lý giảinhững vấn đề đặt ra trong đề tài luận án nhằm làm rõ hơn vai trò của PGNTKnói chung, tu sĩ PGNTK nói riêng trong đời sống xã hội ở vùng TNB

Sử học tôn giáo: Sử học tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với sử học,

khảo cổ học; nó nghiên cứu tôn giáo thông qua mô tả lịch sử, khảo sát ngônngữ, thực tiễn khảo cổ Sử học tôn giáo là xuất phát từ lịch sử phát triển màtôn giáo đã trải qua để nhận thức về bản chất tôn giáo; nhiệm vụ của nó lànghiên cứu sự thật lịch sử của các loại tôn giáo, vạch ra con đường phát triểnlịch sử của nó Chúng tôi sử dụng lý thuyết này để chiếu rọi những sự kiệnlịch sử đã diễn ra trong quá trình tồn tại và phát riển của PGNTK trên vùngđất Nam Bộ - Việt Nam

- Xã hội học tôn giáo: Xã hội học tôn giáo cho rằng tôn giáo chính là

nhân tố kết cấu của xã hội loài người có nội dung hết sức hiện thực Xã hộihọc tôn giáo khi lý giải tôn giáo thường sử dụng chức năng (thuyết chứcnăng), nhấn mạnh chức năng, tác dụng của tôn giáo trong đoàn thể xã hội Sử

Trang 24

dụng lý thuyết này, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến chức năng xã hội củaPGNTK nói chung, tu sĩ PGNTK nói riêng đối với cộng đồng người Khmer ởNam Bộ - Việt Nam.

1.2.3 Khung lý thuyết nghiên cứu

1.2.3.1 Lý thuyết thực thể tôn giáo

Nghiên cứu bài viết “Tiếp cận hệ thống về thực thể tôn giáo: Một cách nhìn khác về tôn giáo”, Nghiên cứu tôn giáo, số 3 (129) phát hành năm 2014

của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn, chúng tôi nhận thấy: Khái niệm thực thể tôngiáo đã được giới nghiên cứu ở Phương Tây đề cập đến từ khá lâu, nhưng nómới được sử dụng trong những thập niên gần đây Năm 1992, khái niệm

“thực thể tôn giáo”, xuất hiện trong cuốn sách cùng tên của JeanDeelumeau và trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trong giới học thuật pháp

và Châu Âu (Đức, Bỉ Năm 2002, Régis Débray công bố bài: Thực thể tôngiáo: các định nghĩa và vấn đề làm rõ hơn thuật ngữ thực thể tôn giáo vàchỉ ra ba đặc tính của nó: (1) Là thực thể nhận biết và thừa nhận của tất cảmọi người; (2) Là thực thể không bị xét đoán về bản chất, trạng thái luân lý

và đạo đức cũng như nhận thức lý luận khi thừa nhận; (3) là thực thế mangtính toàn thể

Tại Việt Nam, qua bài viết “Một số lý thuyết nghiên cứu tôn giáo đương đại” Nghiên cứu tôn giáo, số 02 (170), 2018 của tác giả Nguyễn Phú

Lợi cho rằng: Trước đây cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đềtôn giáo chủ yếu dưới góc độ là hình thái ý thức xã hội, thậm chí còn đồngnhất tôn giáo với ý thức hệ Một ví dụ điển hình là trong tập bài giảng về tínngưỡng, tôn giáo dành cho lớp cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chínhtrị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1997, viết: “Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng

về bản chất, tôn giáo chỉ là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xãhội” Sau khi có sự đổi mới về công tác tôn giáo (đánh dấu bằng sự ra đời

Trang 25

Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị); vấn đề tôn giáo được nhận thức lại rằng:tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xãhội đúng theo tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin Việc nghiên cứu tôn giáovới tư cách là một thực thể xã hội của giới nghiên cứu ở Việt Nam qua haigiai đoạn gắn với hai mô hình lý thuyết “tứ tố” (bốn yếu tố) và lý thuyết “ ngũtính” (năm tính chất) Cụ thể như sau:

Mô hình lý thuyết “tứ tố”: Đặng Nghiêm Vạn là người đầu tiên coi tôn

giáo là một “thực thể” khách quan của xã hội trong cuốn Bước đầu tìm hiểuđạo Cao Đài, xuất bản năm 1995 Theo ông, quan điểm này đã được K Marxkhẳng định qua luận điểm nổi tiếng: “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôngiáo” và được các nhà tôn giáo học quyền uy như M Weber, É.Durkhiemthừa nhận Theo tác giả, sở dĩ coi tôn giáo là một thực thể xã hội, bởi vì nó

“mang tính cộng đồng, tính xã hội”. Hơn nữa, ông còn cho rằng: “Trong tôngiáo có vấn đề ý thức hệ, nhưng cũng không hẳn chỉ là ý thức hệ, mà còn gắnvới văn hóa với lối sống của nhà tôn giáo học dân tộc, từng khu vực” Tánthành quan điểm của nhà tôn giáo học người Pháp Y.Lambert, và người tôngiáo học ngưới Nga, G.V.Plekhanov, tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng một

tôn giáo gồm có bốn yếu tố cấu thành: “có một niềm tin, một nội dung, những nghi thức, những quy chế về tổ chức, những kiêng cử của nó” Ông viết:

“một tôn giáo nào cũng bao gồm một hệ thống niềm tin, được hình thành

do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo biểu hiện rất khác nhau,

…được quy định bởi một nội dung mang tính siêu thực (hay siêu nghiệm), nhằm tập hợp những thành viên thành một cộng đồng có tính xã hội”.

Theo tác giả, một cộng đồng tôn giáo bao giờ cũng có hai bộ phận: nhữngngười quản lý điều hành theo thiết chế được định ra (tổ chức quản lý haygọi là tổ chức giáo hội) và những tín đồ thường Thuyết “tứ tố” (tức bốnyếu tố: niềm tin, nội dung hay giáo lý, giáo luật; nghi lễ hay thực hành

Trang 26

đức tin và cộng đồng) trên đã được tác giả phân tích khá sâu sắc trong cuốnsách Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam do Nhà xuất bảnChính trị quốc gia ấn hành năm 2003.

Quan điểm trên được hầu hết giới nghiên cứu trong nước thừa nhận và

đã được dựa vào giảng dạy từ nhiều năm nay Tập Đề cương bài giảng về tínngưỡng và tôn giáo (cùng cho các lớp bồi dưỡng kiến thức lý luận về tínngưỡng và tôn giáo (dùng cho các lớp bồi dưỡng kiến thức lý luận về tínngưỡng và tôn giáo) của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1997,

viết: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội” Cuốn những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam viết:

“Tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một hình thể xã hội Với

tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo luôn phản ánh tồn tại xã hội”.

Tập bài giảng dành cho hệ đào tạo lý luận chính trị của Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến nay đều viết “Chủ nghĩa Mác-Lênincho rằng, về bản chất, tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn làmột thực thể xã hội”

Nhìn chung, cách tiếp cận lý thuyết “thực thể tôn giáo” để nghiên cứu

đã khắc phục được cách nhìn nhận phiến điện về tôn giáo trên phương diện làmột “hình thái ý thức xã hội” Mặc dù cách tiếp cận tôn giáo theo thuyết thựcthể với bốn yếu tố (niềm tin; giáo lý, giáo luật; nghi lễ và tổ chức) này đượcgiới khoa học Việt Nam và luật pháp Việt Nam thừa nhận phổ biến Tuynhiên, nó chưa được làm rõ về mặt lý thuyết Nói cách khác tiếp cận tôn giáotheo thuyết “bốn yếu tố”, trên thực tế mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra các cấutrúc trong cấu thành của một tôn giáo, nghĩa là cái nội tại bản thân tôn giáochứ chưa thấy được tôn giáo là một tiểu hệ thống bên cạnh các tiểu hệ thốngkhác của tổng thể xã hội

Mô hình thuyết “ngũ tính”: Trước đây, tôn giáo được nhìn nhận tôn

giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội nhưng nghiên cứu tôn giáo ở

Trang 27

Việt Nam đã có quan điểm đổi mới với việc nhìn nhận tôn giáo là một thựcthể xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhận thức xã hội, về vấn

đề tôn giáo đã được nâng cao Thậm chí ngày nay không chỉ người ta nhìnnhận tôn giáo với tư cách là “một thực thể khách quan của xã hội” Mà còn là

“một một nguồn lực trí tuệ”, “một nguồn lực xã hội”, “một nguồn vốn xã hội”

có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội Rõ ràng, với cáchnhìn nhận như vậy thì việc tiếp cận tôn giáo theo thuyết “tứ tố” sẽ không thỏamãn được yêu cầu, đòi hỏi của tôn giáo trong xã hội hiện đại Vì thế, một sốnhà tôn giáo học đặt lại vấn đề cần có cách tiếp cận thực thể tôn giáo mộtcách thực tế hơn và rộng lớn hơn Người nêu lên vấn đề này là tác giả NguyễnQuốc Tuấn, khi ông cho rằng, việc nhìn nhận tôn giáo là một thực thể kháchquan của xã hội đã được các nhà khoa học Việt Nam như Đặng Nghiêm Vạn,Nguyễn Duy Hinh đề cập tới, nhưng chưa làm rõ nội hàm của nó

Từ cách đặt vấn đề đó, qua các bài viết: Tiếp cận hệ thống về thực thểtôn giáo và triển khai lý thuyết thực thể tôn giáo đăng trên tạp chí nghiên cứuTôn giáo số tháng 3 và tháng 10 năm 2014, dựa vào các công trình nghiên cứu

lý luận của các học giả Phương Tây, Nguyễn Quốc Tuấn đã làm rõ nội hàm lýthuyết thực thể tôn giáo Theo đó một thực thể tôn giáo được xem là một tiểu

hệ thống trong tổng thể xã hội, bao gồm năm đặc tính (ngũ tính), để phân biệt

nó với thực thể xã hội khác theo hai chiều thời gian và không gian, một thuộc

về lịch sử và bốn thuộc về thiết chế xã hội

Theo đó, thực hiện tôn giáo vừa là một thực thể lịch sử (hay tính lịchsử), đồng thời là một thực thể xã hội với bốn đặc tính: tính tập thể, tính vật thểhay tính tài liệu, tính biểu tượng, và tính trải nghiệm và nhạy cảm Năm đặctính đó đều song tồn không thể chia tách hay phân biệt theo thứ tự thời gianlẫn vị trí không gian cao thấp như một thực thể xã hội. Chúng tạo thành một

hệ thống trong tổng thể xã hội Theo tác giả một xã hội có thể chia làm năm

Trang 28

tiểu hệ thống cơ bản: (1) kinh tế, (2) văn hóa, (con người sáng tạo), (3) nhànước - thể chế chính trị, (4) tôn giáo (tâm linh), (5) hệ sinh thái và môitrường Năm tiểu hệ thống này không tồn tại riêng rẽ mà chúng có sự liên hệ,tương tác và xung đột, biểu lộ bằng sự cân bằng hoặc mất cân bằng tùy thờiđiểm và không gian lịch sử Năm tiểu hệ thống này đến lượt nó lại là một hệthống của các hệ thống dưới cho đến các hệ thống vi mô, có nghĩa, chỉnh thể

xã hội là một cấu trúc tổng thể mà mỗi hệ thống nhỏ hơn là một thực thể xãhội của tổng thể

Như vậy, thực thể tôn giáo là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ thựcthể tôn giáo tồn tại trong lịch sử đồng thời là một thiết chế và kết cấu của đờisống xã hội, chịu tác động từ các mối quan hệ và tương tác với các thiết chế

xã hội khác Thực thể xã hội là một tiểu hệ thống có vai trò trong hệ thống xãhội tổng thể, có một cấu trúc riêng so với các tiểu hệ thống khác, nhưng cóquan hệ tương tác (cả chiều thuận lẫn chiều nghịch) đối với các tiểu hệ thốngkhác: tôn giáo và chính trị, tôn giáo và kinh tế, tôn giáo và giáo dục, tôn giáo

và sức khỏe…Khi xác định tôn giáo như một thực thể xã hội gồm “ngũ tính”(5 tính chất): tính lịch sử, tính tập thể, tính vật chất, tính biểu tượng, tính trảinghiệm và nhạy cảm, có nghĩa là một thực thể tôn giáo, nhìn theo hệ thốngluận là một tiểu hệ thống của tổng thể xã hội Ở cấp độ tiểu hệ thống, có thểcoi thực thể tôn giáo được phân tích như một tổng thể xã hội, nhưng tự thân,

nó cũng là một cấu trúc được vận hành trên bốn nguyên tắc tương tác với cáctiểu hệ thống khác như một quan hệ chỉnh thể, trên cơ sở tổ chức của chính nó

và của cả hệ thống xã hội, trong mối quan hệ nhân quả và đan chéo, phức tạp,làm nên phức hợp tôn giáo - văn hóa - chính trị của tổng thể xã hội.

Như vậy, lý thuyết thực thể tôn giáo đã và đang được áp dụng nghiêncứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm hai mô hình: mô hình thuyết “tứ tố” và môhình thuyết “ngũ tính” Đây không phải là hai mô hình tách biệt nhau, mà là

Trang 29

sự tiếp nối trong nghiên cứu nhằm làm rõ hơn tôn giáo với tư cách là một thựcthể xã hội Nghiên cứu thực thể tôn giáo theo thuyết “tứ tố” sẽ có điều kiện đisâu làm rõ các yếu tố tạo thành cái tôn giáo nói chung hay của một tôn giáo cụthể nói riêng Trong khi, nghiên cứu thực thể tôn giáo cụ thể nói riêng Trongkhi, nghiên cứu thực thể tôn giáo theo thuyết “ngũ tính” sẽ có điều kiện đi sâulàm rõ các yếu tố tạo thành tôn giáo với tư cách là tiểu hệ thống trong các mốiquan hệ với các thực thể xã hội khác (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môitrường), của tổng thể xã hội Hai mô hình lý thuyết này đã và đang đượcnghiên cứu để bổ trợ cho nhau góp phần nghiên cứu sâu hơn về tôn giáo nóichung và phát huy giá trị tích cực của tôn giáo nói riêng cho sự nghiệp pháttriển đất nước.

Những nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 19,20, như: Auguste Comte,Herbert Spencer, Karl Marx, Émile Durkheim, Max Weber, vàSigmund Freud, tất cả đều tin rằng với sự phát triển của xã hội côngnghiệp, tôn giáo sẽ mất dần tầm quan trọng và sẽ không còn có ýnghĩa đối với xã hội hiện đại Lý thuyết thế tục hóa về sự suy tàn của

tôn giáo tập trung vào hai luận điểm chính: Một là, sự hình thành một thế giới quan duy lý dẫn đến sự xói mòn niềm tin tôn giáo Hai là, sự

chuyên biệt hóa chức năng xã hội trong xã hội công nghiệp dẫn đếnsự

Trang 30

suy yếu chức năng của các tổ chức tôn giáo đối với đời sống xã hội

và hệ lụy của nó là sự suy yếu của chính tôn giáo [60]

Tuy nhiên, theo quan điểm của các nhà lý luận của thuyết thế tục hóađương đại, thế tục là sự chuyển giao quyền lực từ tổ chức tôn giáo cho tổ chứcthế tục, bao gồm hai khía cạnh: chủ quan và khách quan Khía cạnh chủ quanliên quan đến tư tưởng tôn giáo, cảm giác và hình ảnh thu được từ sự hiểu biết

về sự vật trên thế giới khiến cho tôn giáo không còn tồn tại như một lực lượngđộc lập, hoặc chỉ giới hạn ở sự thờ phụng cái siêu việt trừu tượng Điều đódẫn đến tình trạng con người thực hiện các nghĩa vụ, giải quyết và tổ chứccuộc sống hàng ngày không cần đến thần thánh Nói đúng hơn là con người

đã dành lại vị trí trung tâm thay vì Chúa để có thể quyết định vận mệnh củamình Về khách quan, thế tục hóa là quá trình bộ máy tôn giáo, các tổ chức vànghi lễ tôn giáo đi váo cuộc sống công cộng như trong giáo dục, lập pháp,hành chính và chính phủ Nó làm giảm bớt vai trò của giới luật và nghi thứctôn giáo trong hoạt động hằng ngày của cá nhân và nhóm xã hội Như vậytheo quan điểm thế tục mới, trong khi nhận thấy sự gia tăng ổn định của thếtục hóa, nó vẫn nhấn mạnh đến sự tác động của tôn giáo đến xã hội hiện đại ởnhững mức độ đậm nhạt khác nhau

Tại Việt Nam, lý thuyết thế tục hóa đã được giới nghiên cứu áp dụng từlâu trong nghiên cứu tôn giáo và đã đạt được những thành tựu nhất định TheoNguyễn Thị Minh Ngọc, lý thuyết thế tục hóa đương đại có ba mô hình chủđạo Mô hình thứ nhất cho rằng, trong xã hội hiện đại, các giá trị tôn giáokhông nhất thiết làm cho tôn giáo suy giảm trong xã hội, mà nó vẫn có vai trònhất định trong xã hội hiện đại Mô hình thứ ba: thế tục hóa là sự tự giới hạn

mở đường cho sự hồi sinh hoặc đổi mới tôn giáo mà là cho người có đức tingắn ý tưởng và thực hành tôn giáo của họ với thế giới trần tục nhằm khẳngđịnh tầm quan trọng của sự linh thiêng.

Trang 31

Nhìn chung, lý thuyết thế tục hóa đương đại xem xét tôn giáo ở hai gócđộ: thứ nhất, sự suy giảm quyền lực tôn giáo trong đời sống cá nhân, thể hiện

ở sự suy giảm niềm tin tôn giáo giáo cá nhân, giảm sút sự tham gia hoạt độngtôn giáo cá nhân diễn ra khá phổ biến trên thế giới Thứ hai, tôn giáo hòa nhậpvào đời sống xã hội Thế tục hóa diễn ra hai phương diện: về thể chế là sựtách tôn giáo khỏi chính trị (nhà nước), khỏi các lĩnh vực công, và trong thựchành niềm tin tôn giáo là sự giảm bớt tính thiêng, nhập thế sâu hơn vào đờisống xã hội Thế tục hóa còn diễn ra trên ba cấp độ: cá nhân, tổ chức và xãhội Ở cấp độ cá nhân, là sự giảm sút thực hành tôn giáo và niềm tin truyềnthống, được thể hiện ở những mức độ khác nhau của các chiều kích tôn giáokhác nhau Ở cấp độ tổ chức, thể hiện sự tác động của các định chế và ứng xử

xã hội vào tôn giáo Ở cấp độ xã hội, là quá trình tách nhà nước (chính trị),giáo dục, luật pháp, kể cả đạo đức khỏi giáo hội, nhà thờ tôn giáo, tôn giáo.

Tóm lại, lý thuyết thế tục hóa đương đại đưa ra một “mô hình mới”,theo đó, tôn giáo không còn chiếm ưu thế trong xã hội hiện đại, song nó cũngkhông bị mất đi hoàn toàn Thế tục hóa không phải là quá trình đơn hướng mà

là một quá trình đa hướng và phức tạp, trong khi xuất hiện một số hiện tượngchứng tỏ sự suy giảm của tôn giáo, cũng xuất hiện các hiện tượng ngược lại,điển hình là sự xuất hiện và bùng phát của các hiện tượng tôn giáo mới.Những biến đổi và sự đa dạng của tôn giáo trong quá trình thế tục hóa, mộtmặt thể hiện sự suy giảm sự ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội,mặt khác chứng tỏ tôn giáo đang tự điều chỉnh để thích nghi với xã hội hiệnđại Thế tục không làm cho tôn giáo mất đi, nhưng diện mạo của nó có nhiềuthay đổi, xuất hiện định hướng giá trị đa dạng, cục diện tôn giáo thống trị bịthay đổi bởi trạng thái đa dạng háo, tạo cơ hội cho các tôn giáo, nhất là tôngiáo nhóm nhỏ bình đẳng trước nhà nước (pháp luật) các tổ chức tôn giáo ứng

xử với nhau trên tinh thần khoan dung và tự do cạnh tranh, tôn giáo không chỉ

Trang 32

mất đi sự độc quyền cung cấp các gái trị mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức phi tôn giáo trong xã hội hiện đại.

1.3 MỘT SỐ THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

- Thuật ngữ “Vùng”: Vùng là thuật ngữ địa lý được sử dụng theo nhiều

cách khác nhau tùy theo từng ngành khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vinghiên cứu của đề tài luận án, khái niệm Vùng hoặc Vùng TNB) được hiểu: làdiện tích trung bình của một vùng đất hoặc theo cách hiểu thông thường,một vùng là một bộ phận giới hạn của không gian trái đất

- Khái niệm “Tôn giáo”: Thuật ngữ “Tôn giáo” có rất nhiều định nghĩa,

Từ Điển Tôn Giáo của tác giả Marguerite-Marie Thiollier, do Lê Diên dịch từ

nguyên bản tiếng Pháp, đã đưa ra định nghĩa về tôn giáo như sau: Tôn giáobao hàm, một mặt, một sự tìm kiếm sự thật về nguồn gốc của thế giới vàcứu cánh của nó, về nguồn gốc con người và những quan hệ của nó vớithần thánh, mặt khác, một tập hợp những tín ngưỡng, một nhu cầu thươngyêu và xúc cảm, một quan hệ hài hòa giữa vũ trụ vi mô và vũ trụ vĩ mô; nó

là sự thể hiện của cái thiêng và sự tổ chức những nghi thức cá nhân và xã hộitheo định chế

Tại Việt Nam, thuật ngữ “tôn giáo” được định nghĩa rất ngắn gọn trongLuật Tín ngưỡng, tôn giáo như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồntại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý,giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [75, tr.08]

- Khái niệm “Phật giáo”: Phật giáo là một “tôn giáo” được thiết lập nên

bởi đức Phật Thích Ca, vì phúc lợi của chúng sanh, vì hạnh phúc của chúngsanh và vì sự tiến bộ của thế giới con người nhằm hướng dẫn và phát triển conngười bằng cách làm cho thân tâm trong sạch (thông qua con đường đạo đức);làm cho thân tâm bình lặng (thông qua con đường thiền tập), và làm khai sángtâm linh con người (thông qua con đường trí tuệ) Phật giáo là một tôn giáochủ trương

Trang 33

sự thực hành của chính bản thân mỗi người Chỉ có mình mới thực hành mình,giải quyết vấn đề tâm linh và những đau khổ của mình và chính mình giảithoát cho mình Và sau đó, giúp đỡ người khác đi theo con đường đạo vì lòng

từ bi và để tu dưỡng thêm lòng từ bi đối với họ

- Khái niệm “hệ phái Nam tông” và “hệ phái Bắc tông”: Tên gọi Nam

tông, Bắc tông đã cho thấy sự khác biệt rõ nét của hai tông phái Phật giáo lớnnhất tại Việt Nam Tuy nhiên, dù có sự khác biệt về cách thức tu tập, giáo lý,nhưng Nam tông và Bắc tông vẫn có sự tương đồng cơ bản Điều này chothấy, Phật giáo cho dù có phân chia về hình thức, nhưng vẫn chung một tônchỉ, đó là sự giác ngộ tuyệt đối để thoát khỏi sự luân hồi, thoát khỏi vòng sinh

tử Những điểm tương đồng của hai hệ phái có thể tóm tắt như sau:

Một là, cả Nam tông và Bắc tông đều nhìn nhận Đức Phật là bậc đạo

sư, là người thầy đầu tiên của Phật giáo Đức Phật là người khai ngộ trí tuệcho con người, chỉ ra cho con người con đường giác ngộ, từ bỏ được sân si để

đi đến giải thoát; là một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần có nhiềuquyền năng

Hai là, cả hai tông phái đều phủ nhận về đấng tối cao sáng tạo và ngự

trị thế giới Điều này khác với nhiều tôn giáo hữu thần khác Vì vậy, nhiều ýkiến cho rằng, Phật giáo là một hệ tư tưởng triết học chứ không phải là mộttôn giáo, hoặc đó là tôn giáo vô thần

Ba là, Nam tông hay Bắc tông đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ

thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi, Thập nhị nhân duyên…; đều chấp nhậnTam pháp Ấn: khổ, không, Vô ngã; đều chấp nhận con đường tu tập: Giới,Định, Tuệ

Sự tương đồng giữa Bắc tông và Nam tông là nền móng căn bản củacủa giáo lý nhà Phật, là cơ sở tất yếu để hai hệ phái tồn tại và phát triển.Nhưng theo sự phát triển của mình, hai hệ phái với sự khác biệt mà phần lớn

về bề nổi, đã bộc lộ rõ những ưu điểm cũng như hạn chế của mình

Trang 34

- Khái niệm “Đời sống xã hội”: Khi bàn đến về thuật ngữ “đời sống xã

hội”, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà cách tiếp cận đưa ra những luậngiải thích khác nhau về thuật ngữ này Tuy nhiên, thuật ngữ “Đời sống xãhội” cũng đã có rất nhiều tài liệu đã đề cập đến; cụ thể theo tác giả LươngVăn Úc có quan niệm rằng:

Đời sống xã hội được hiểu là tổng thể các hiện tượng phát sinh do sựtác động lẫn nhau của các chủ thể xã hội và cộng đồng tồn tại trongnhững không gian nhất định, là tổng thể hoạt động của xã hội nhằmđáp ứng các nhu cầu của con người Thông qua các hoạt động củacác bộ phận cấu trúc xã hội, mỗi cá nhân bằng nổ lực của mình tạodựng cuộc sống riêng cho mình Cuộc sống của cá nhân trước hếtphụ thuộc vào chính bản thân họ như: sức khỏe, trí thông minh, nhâncách, sự cần cù, bền bỉ trong học tập và lao động, các đặc tính tâm lý

cá nhân Tiếp đó phụ thuộc vào môi trường và hoàn cảnh xã hội như:gia đình, xóm làng, nhà trường, các tổ chức xã hội, chế độ chính sách

và pháp luật của Nhà nước, sự phát triển kinh tế xã hội và các điềukiện sống và làm việc [85, tr.192]

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi hiểu: Đời sống xã hội là tổng thể cáchiện tượng phát sinh do sự tác động lẫn nhau của các chủ thể xã hội và cộngđồng tồn tại trong những không gian và thời gian nhất định, là tổng thể hoạtđộng của xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người Theo cách hiểunày, đời sống xã hội là một phạm trù rất rộng lớn, nhưng trong phạm vi luận

án, chúng tôi tiếp cận đời sống xã hội trên 03 phương diện cơ bản đó là: đờisống kinh tế - xã hội, đời sống chính trị và đời sống văn hóa - xã hội, cụ thểnhư sau:

Đời sống kinh tế xã hội: bao gồm tổng thể các điều kiện về kinh tế

-xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách -xã hội cũng như quá trình

Trang 35

triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội Nền kinh tế - xã hộiphát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc đảm bảo đờisống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân Ngược lại, khi nền kinh tế

- xã hội phát triển chậm, thiếu bền vững sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới chấtlượng cuộc sống cho đối tượng này

Đời sống chính trị: là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của

đất nước nói chung, của mỗi địa phương nói riêng ở từng giai đoạn lịch sửnhất định, gồm đời sống chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cấp ủyĐảng ở địa phương và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chínhtrị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị; cùng với đó nền dânchủ xã hội và bầu không khí chính trị - xã hội

Đời sống văn hóa - xã hội: là môi trường gắn liền với một phạm vi

không gian - xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng xã hội tổ chứccác hoạt động sống, lao động, sinh hoạt, cùng nhau tạo dựng, thừa nhận vàchia sẻ các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, lối sống, phong tục, tập quán, tôn giáo,tín ngưỡng

- Khái niệm“tu sĩ”: Nghiên cứu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam chúng tôi không thấy đề cập đến thuật ngữ “tu sĩ” mà chỉ đề cập đến “nhà tu hành” Do đó, khi nghiên cứu tài liệu Bách khoa toàn thư mở có định nghĩa:

“Tu sĩ hay nhà tu hành, thầy tu là người tu dưỡng tôn giáo khổ hạnh, sống một mình hoặc với một nhóm các thầy tu khác trong tu viện Thầy tu có thể là người cống hiến cuộc đời mình để phụng sự chúng sinh hoặc là một người tu hành khổ hạnh tránh xa trần thế để sống cuộc sống cầu nguyện và chiêm nghiệm cuộc đời” Tuy nhiên, chúng tôi nhận định rằng định nghĩa trên chỉ

mang tính tương đối và chưa hoàn toàn phù hợp với từng tôn giáo cụ thể Bởi

vì không phải tôn giáo nào cũng “khổ hạnh” và không phải tu sĩ nào cũng

Trang 36

“tránh xa trần thế”, trường hợp tu sĩ PGNTK là một ví dụ điển hình Các tu sĩKhmer luôn thực hành theo giáo lý và tuân thủ giới luật Đức Phật nhưng chưaphải là những người tu khổ hạnh Hơn nữa, tu sĩ Khmer không tránh xa trầnthế, họ vừa thực hành theo giáo lý nhà Phật, học kinh kệ, thực hiện các nghi lễtôn giáo…nhưng vẫn tham gia công tác xã hội, vẫn tới lui thăm gia đình,người thân của mình và giúp đỡ cộng đồng dân tộc trong việc tổ chức và sinhhoạt văn hóa.

Chữ “tu” mang ý nghĩa rèn luyện, chỉnh sửa, thay đổi, uốn nắn bảnthân cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức nào đó Chữ “sĩ” có nghĩa làngười có học thức, người có hiểu biết sâu rộng Trong PGNT nói chung, tu sĩ

là các nhà sư, chư tăng, tăng sĩ, bần tăng, sư sãi, là bậc xuất gia và sinh sốngtrong các ngôi chùa Họ luôn trau dồi phẩm hạnh và đạo đức, rèn luyện vàuốn nắn bản thân cho phù hợp với giới luật của Đức Phật và Hiến chương củaGiáo hội Phật giáo Việt Nam và đóng góp công sức cho sự phát triển của tôngiáo và dân tộc Tu sĩ chính là người xuất gia tu học Do đó, tu sĩ Khmer cóvai trò quan trọng trong đời sống xã hội của người Khmer, nếu họ tránh xatrần thế thì chắc chắn rằng văn hóa Khmer sẽ sớm bị mai một và tan biến theo

thời gian Trong phạm vi bài viết các thuật ngữ và khái niệm như: tu sĩ, tăng

sĩ, bần tăng, nhà sư, sư sãi, chư tăng, người xuất gia, nhà tu hành đều có

nghĩa như nhau

- Dân tộc Khmer: Ngày 02/3/1979, Tổng cục Thống kê đã ra Quyết định số: 121-TCTK/PPCĐ chính thức ban hành “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam” để dùng thống nhất trong cuộc tổng điều tra dân số năm

1979, cũng như trong công tác thống kê thường xuyên, công tác nghiên cứu

Theo đó, trong danh mục các dân tộc Việt Nam thì tên dân tộc “Khmer” (tên được cộng đồng người Khmer Nam Bộ quen dùng hiện nay) được viết là:

“Khơ-me; tên gọi khác là: Cur, Cul, Cu, thổ, Việt gốc Miên, Khơ-me Krôm”

Trang 37

Tuy nhiên, ngày 29/9/1981, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Chỉ

thị số 117/CT-TW về công tác đối với đồng bào Khmer để “thống nhất cách dùng tên gọi dân tộc Khmer, người Khmer, người Việt (người Kinh), không được dùng những tên gọi không chính xác hoặc hàm ý miệt thị như người Miên, người Thổ, người Việt gốc Miên, Duôn v.v ”

Mặc khác, trong thực tiễn, việc áp dụng tên dân tộc: “Khơ-me” hoặc

“Khmer” vẫn chưa thống nhất trong các văn bản của các cơ quan trong hệ thống chính trị ở Việt Nam nhưng việc sử dụng dân tộc “Khmer” đang được

thể hiện trong tác phẩm báo chí và nghiên cứu khoa học cũng vậy Trong hệ

thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), với tên gọi “Phật giáo Nam tông Khmer” đã và đang được sử dụng vượt khởi biên giới quốc gia dân tộc.

Do đó, chúng tôi việc sử dụng tên dân tộc “Khmer” theo tinh thần của Chỉ thị 117/CT-TW thay vì sử dụng từ “Khơ-me” theo Quyết định số: 121- TCTK/PPCĐ Nếu trong chuyên đề hoặc luận án có sử dụng dân tộc “Khơ- me” (do trích dẫn nguyên văn của các tác giả) thì cũng được hiểu là dân tộc

“Khmer”; nghĩa là dân tộc “Khơ-me” và “Khmer” là cùng một tộc người ở

Việt Nam

- Phật giáo Nam tông Khmer: Năm 1950, tại Đại hội Liên hữu Phật

giáo Thế giới (WFB) ở Srilanka đã có qui định cách gọi Phật giáo Tiểuthừa (Theravada) Phật giáo Nguyên thủy - Thượng tọa bộ thành PGNThoặc Phật giáo Nam truyền, từ đó khái niệm Phật giáo Bắc tông(Mahayana) Phật giáo Bắc truyền và PGNT ra đời và sử dụng đến hiện nay

Hiện nay thuật ngữ “Phật giáo Nam tông Khmer” được dùng trong hệ

thống GHPGVN để phân biệt PGNT của người Kinh và PGNT trong cộngđồng người Khmer ở Nam Bộ Do vậy, trong Phật giáo Việt Nam có cáctên gọi riêng cho các tổ chức, hệ phái khác nhau, trong đó có PGNT Kinh

và PGNTK

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Tôn giáo và dân tộc là hai vấn đề lớn luôn được nhiều quốc gia trên thếgiới đặc biệt quan tâm Tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới đời sống và tiến trìnhphát triển của nhiều dân tộc, quốc gia Việt Nam là nước đa tôn giáo, Phậtgiáo với hai hệ phái Nam tông, Bắc tông là một trong những tôn giáo có mặtsớm nhất ở Việt Nam PGNT tồn tại và phát triển chủ yếu trong đồng bàoKhmer ở Nam Bộ (tập trung chủ yếu ở 09 tỉnh, thành phố ở TNB) PGNT làmột trong những tông phái Phật giáo có nguồn gốc từ Phật giáo ở Ấn Độ Hệphái này được du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XIIIsau Công nguyên bằng con đường hàng hải quốc tế

Thời kỳ Vương quốc Phù Nam, nơi đây là một trung tâm lớn giao lưubuôn bán đường biển giữa Ấn Độ với các nước Đông Nam Á, do đó, Vươngquốc này đã chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Ấn Độ Khi PGNT đến đâyđược người Khmer đón nhận một cách nồng nhiệt và nhanh chóng đã chiếmlĩnh được vị trí trong đời sống tinh thần của người Khmer Qua quá trình chọnlọc, người Khmer đã chọn PGNT làm tôn giáo cho mình và đã ăn sâu vàotrong tâm hồn của người Khmer đã có sức ảnh hưởng gần như đến mọi mặtcủa đời sống xã hội của dân tộc này

Phật giáo Nam tông có sức ảnh hưởng rộng rãi, với triết lý nhân sinhcao cả, nhằm hướng con người đến việc giải thoát khỏi nổi khổ, hướng đếnchân - thiện - mỹ, sống hòa thuận và yêu thương Bởi vậy, đạo Phật thực sự làchỗ dựa tinh thần cho một bộ phận đông đảo quần chúng trong xã hội Trảiqua nhiều thế kỷ, PGNT đã đem đến vùng đất Nam Bộ một sắc thái riêng biệttrong việc thực hành tôn giáo … Nét riêng đó là bản sắc văn hóa của vùngđồng bào Khmer Nam Bộ

Người Khmer ở Nam Bộ coi PGNT là tôn giáo truyền thống duy nhấtkhông thể thiếu được trong đời sống tâm linh và trong sinh hoạt đời thường

Trang 39

của họ Nói đến dân tộc Khmer ở Nam bộ cũng chính là nói đến tôn giáo củangười Khmer ở khu vực này, và ngược lại khi nói đến PGNTK cũng là nóiđến đồng bào Khmer đang sinh sống ở đây Tôn giáo và dân tộc đối với đồngbào Khmer ở Nam Bộ có quan hệ hữu cơ không thể tách rời.

Tuy nhiên, PGNTK ở TNB, cũng có những tác động tiêu cực đến đờisống của người Khmer, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như vị tríđịa lý, lịch sử dân tộc, kinh tế, chính trị, PGNT làm cho người Khmer lốisống thụ động, cam chịu Với quan niệm cuộc sống ở trần gian chỉ là tạm bợnên người Khmer luôn bằng lòng, chấp nhận cuộc sống thiếu thốn ở đời này

và chăm chỉ lo tích đức cho đời sau; sự lệ thuộc quá nhiều của người Khmervào Phật giáo và sự đóng góp cho Phật giáo quá lớn so với thực lực kinh tếlàm cho đời sống kinh tế của người Khmer thêm nghèo đói Bên cạnh đó,với tâm lý sống gửi thác về, người Khmer cũng ít quan tâm đến chuyện họchành, nâng cao trình độ hiểu biết Đặc biệt, những năm gần đây, PGNTK ởTNB đã và đang bị sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện chiếnlược diễn biến hòa bình ở Việt Nam

Do đó, việc giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp củaPGNTK nói chung, tạo điều kiện để tu sĩ PGNTK phát huy vai trò của mìnhtrong xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của đồng bào Khmer trước những biến động của xã hội cũng nhưhạn chế việc lợi dụng tu sĩ và Phật tử Khmer để chia rẽ khối đại đoàn kết dântộc, tôn giáo của các thế lực thù địch là rất cần thiết

Trang 40

Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG TÂY NAM BỘ

VÀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÙNG TÂY NAM BỘ

2.1.1 Đặc điểm vị trí, địa lý

Tây Nam Bộ có 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre,Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang Diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha, bờ biểndài 743 km, vùng lãnh hải rộng 36.000 km2, có 143 hòn đảo (trong đó có 44đảo có dân cư sinh sống) Môi trường tự nhiên ở TNB phong phú và đa dạng,

có đồng bằng, có núi, có rừng, có biển, có đảo, có nhiều sông lớn với hệ thốngkênh rạch trằn trịt tạo nên nguồn lực dồi dào về lương thực và thực phẩm.Nhìn chung, vùng TNB có tài nguyên thiên nhiên trù phú, màu mỡ, làđiều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và lợi thếnày đã được khai thác, tận dụng tối đa trong nhiều năm qua Tuy nhiên, trình

độ sản xuất và năng lực lao động của vùng nói chung, vùng đồng bào dân tộcKhmer nói riêng còn kém so với mặt bằng chung cả nước Điều này cũng gâynên những hạn chế nhất định như chất lượng tăng trưởng thấp, kém bền vững,

ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn tài nguyên Thực tế này đòi hỏi các cấp

ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Đoàn thể chính trị

-xã hội phải có những chiến lược phát triển mới phù hợp với bối cảnh hiện tạinhằm ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của vùng trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của cả nước

2.1.2 Đặc điểm về tộc người

Quá trình hình thành tộc người được diễn ra nhờ sự tiếp xúc giữa nhữngngười trong tộc người Điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ sống bên cạnh nhau,

Ngày đăng: 26/06/2023, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (1985), "Nghiên cứu về người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Dân tộc học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về người Khmer ở Đồng bằng sông CửuLong
Tác giả: Phan An
Năm: 1985
2. Phan An (2009), Dân tộc Khmer Nam bộ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Khmer Nam bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
3. Phạm Minh Anh (2016), "Lý thuyết xã hội trong nghiên cứu tôn giáo", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (6), tr.112-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết xã hội trong nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Phạm Minh Anh
Năm: 2016
4. Ban Bí Thư (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ - me trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của Ban Bíthư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác ở vùngđồng bào dân tộc Khơ - me trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí Thư
Năm: 2018
5. Ban Cán sự Đảng Ủy ban Dân tộc (2017), Báo cáo số 108, Tổng kết 25 năm thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 108, Tổng kết 25năm thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thưTrung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộcKhmer
Tác giả: Ban Cán sự Đảng Ủy ban Dân tộc
Năm: 2017
6. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2009), Báo cáo số 03-BC/BCĐTNB ngày 06/02 về Phật giáo Nam tông Khmer và Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 03-BC/BCĐTNB ngày06/02 về Phật giáo Nam tông Khmer và Hội Đoàn kết sư sãi yêunước
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
Năm: 2009
7. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2016), Báo cáo kinh tế - xã hội, giai đoạn 2011-2015, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế - xã hội, giai đoạn2011-2015
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
Năm: 2016
8. Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh (2013), Báo cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội Đoànkết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
9. Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh (2014), Báo cáo kết quả tọa đàm về “Tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và giải pháp”, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả tọa đàm về “Tổ chức và hoạt độngcủa Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tôngKhmer - Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
10. Ban Dân Vận Trung ương (2006), Báo cáo số 03 ngày 11/10/2006 của Ban Dân vận Trung ương “Tổng kết việc tổ chức thực hiện Chỉ thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân Vận Trung ương (2006)
Tác giả: Ban Dân Vận Trung ương
Năm: 2006
11. Ban Dân vận Tỉnh ủy Trà Vinh (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt,động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tôngKhmer
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Trà Vinh
Năm: 2013
12. Ban Dân vận Tỉnh ủy Sóc Trăng (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer, Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng, tổ chứchoạt, động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Namtông Khmer
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Sóc Trăng
Năm: 2013
13. Ban Dân vận Thành ủy Cần Thơ (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng, tổ chứchoạt, động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Namtông Khmer
Tác giả: Ban Dân vận Thành ủy Cần Thơ
Năm: 2013
14. Ban Dân vận Trung ương (2014), Tài liệu Tọa đàm về Tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và giải pháp, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tọa đàm về Tổ chức và hoạtđộng của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tôngKhmer - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Năm: 2014
15. Ban Dân vận Trung ương (2014), Tài liệu Tọa đàm về “Tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tồng Khmer - Thực trạng và giải pháp”, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tọa đàm về “Tổ chức và hoạtđộng của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong Phật giáo Nam tồngKhmer - Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Năm: 2014
16. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở ViệtNam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) thành phố Cần Thơ (2013), Báo cáo tình hình Phật giáo Nam tông Khmer thành phố Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hìnhPhật giáo Nam tông Khmer thành phố Cần Thơ
Tác giả: Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) thành phố Cần Thơ
Năm: 2013
18. Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh An Giang (2013), Báo cáo tình hình Phật giáo tỉnh An Giang, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình Phậtgiáo tỉnh An Gian
Tác giả: Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh An Giang
Năm: 2013
19. Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh Bạc Liêu (2013), Báo cáo tình hình Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Bạc Liêu, Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo tình hình Phậtgiáo Nam tông Khmer tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh Bạc Liêu
Năm: 2013
20. Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh Cà Mau (2013), Báo cáo tình hình Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Cà Mau, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình Phậtgiáo Nam tông Khmer tỉnh Cà Mau
Tác giả: Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh Cà Mau
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w