Những hoạt động nghiên cứu do các cơ quan Việt Nam thực hiện dưới sự hỗ trợcủa M4P có chủ đề bao quát nhiều vấn đềchính sách liên quan đến phát triển thịtrường theo hướng giảm nghèo, tro
Trang 2Quan điểm trình bày trong cuốn sách này là quan điểm của các tác giả Nhữngquan điểm này không nhất thiết phản ánh quan điểm và chính sách của Ngânhàng Phát triển Châu á hay của Ban điều hành Ngân hàng hay của các chínhphủ mà các nhà quản lý ngân hàng đại diện.
Ngân hàng Phát triển Châu á không đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu
được trình bày trong ấn phẩm này và không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quảnào do việc sử dụng các dữ liệu này gây ra
Việc sử dụng thuật ngữ đất nước, nước không hàm ý sự bình luận của các tácgiả hoặc của ngân hàng Phát triển Châu á về tư cách pháp nhân hay các vịthế khác của bất cứ vùng lãnh thổ nào
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 3Thị trường và Phát triển
Hà Nội, 2007
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 5Lời nói đầu 3
Bản tin Thị trường và Phát triển: Nghiên cứu và Thảo luận về việc Nâng cao hiệu quả Thị trường cho người nghèo tại Việt Nam năm 2004-2007 5
Kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc xuất bản Bản tin Thị trường và Phát triển (MDB) 17
Tăng giá trị ngành gạo của Việt Nam và Tăng thu nhập cho người nghèo 21
Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng – một hình thức liên kết người nông dân với thị trường 31
Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn 41
Nhãn, mác và thương hiệu cho nông sản Việt Nam - một giải pháp để cải thiện cuộc sống của nông dân nghèo 51
Bước phát triển tiếp theo: Chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp 61
Lao động nhập cư và lao động địa phương: Vị thế và cơ hội 71
Sự tham gia của người nghèo vào Siêu thị và các Chuỗi Phân phối gia tăng giá trị khác 81
Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất sản xuất và kinh doanh phi nông nghiệp: ảnh hưởng đa chiều tới người nghèo 89
Để hành động tập thể mang lại hiệu quả cho người nghèo 99
Quan hệ hợp tác khu vực công cộng và tư nhân nhằm cải thiện dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam 107
Để thị trường hoạt động hiệu quả hơn tại đáy kim tự tháp 117
Di cư và thị trường lao động nông thôn: Tác động và Giải pháp .127
ấn phẩm M4P 141
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 6Nâng cao hiệu quả Thị trường cho người nghèo là một Dự án hỗ trợ kỹ thuật khu
vực do ADB, DFID, AusAID và Viện nghiên cứu của ADB có trụ sở chính ở Tokyo
đồng tài trợ Tại Việt Nam, M4P hỗ trợ những nghiên cứu và điều tra do các nhànghiên cứu trong nước tiến hành với sự trợ giúp của các chuyên gia quốc tế Trong quá
trình đó, dự án giúp xây dựng năng lực cho các nghiên cứu định hướng chính sách ở mỗiquốc gia và thúc đẩy đối thoại giữa các cơ quan chính phủ, các cơ quan liên quan, khốitư nhân và các đối tác phát triển Những nghiên cứu này tập trung vào những lĩnh vực
mà tại đó cơ chế thị trường còn chưa được phát triển đúng mức hoặc còn chưa hoạt độngvì lợi ích của người nghèo
Kết quả của những hoạt động nghiên cứu được phổ biến thông qua nhiều loại ấn phẩm,trong đó bao gồm Kỷ yếu Hội thảo, Sách, Báo cáo dự án, Tài liệu tham luận và Tóm lượctổng quan Một số những vấn đề nổi lên từ các nghiên cứu được tổng kết và xuất bảntrong "Bản tin Thị trường và Phát triển" (MDB) ra 2 tháng 1 kỳ với sự phối hợp củaChương trình Phát triển Kinh tế Tư nhân (MPDF - IFC), và Viện Quản lý Kinh tế Trung
ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư
Thông tin trong loạt Bản tin Thị trường và Phát triển được trình bày theo một cách khác
so với những ấn phẩm khác của M4P Bản tin Thị trường và Phát triển được viết theo mộtngôn ngữ gần gũi, đi thẳng vào vấn đề, và nêu bật những khía cạnh cụ thể của các kếtquả nghiên cứu Bản tin Thị trường và Phát triển là một ấn phẩm tương đối ngắn với 4trang, trong đó 2 trang trình bày những kết quả từ nghiên cứu và 2 trang còn lại dànhcho "thảo luận" - những ý kiến bình luận, gợi ý từ các đối tượng liên quan xung quanhchủ đề của Bản tin Việc có các ý kiến thảo luận từ các bên liên quan khiến Bản tin trởnên thú vị hơn, với nhiều luồng quan điểm khác nhau xung quanh chủ đề
Đến nay tổng cộng đã có trên 180.000 bản in của các số Bản tin được phổ biến cho các
đối tượng liên quan trong cả nước Những ý kiến phản hồi từ lực lượng độc giả rộng lớnnày đã được sử dụng để cải tiến chất lượng của Bản tin và để đảm bảo các chủ đề thựchiện là hợp lý và mang lại nhiều thông tin có ích cho người đọc
Cuốn sách này là tập hợp đầy đủ 12 số Bản tin Thị trường và Phát triển đầu tiên đượcxuất bản trong thời gian từ năm 2004 - 2007 Mỗi Bản tin đều bao gồm phần tóm tắt kếtquả nghiên cứu và phần "thảo luận" xung quanh mỗi chủ đề Chúng tôi rất muốn giớithiệu cuốn sách này tới bạn đọc - những người quan tâm đến hoạt động của thị trườngViệt Nam trong bối cảnh hội nhập nói chung, và những tác động của nó lên người nghèonói riêng
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 71 Giới thiệu về Dự án Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho người nghèo
Nâng cao hiệu quả Thị trường cho ngườinghèo là một Dự án hỗ trợ kỹ thuật khuvực với thời gian 3 năm do ADB, DFID vàViện nghiên cứu của ADB có trụ sở chính
ở Tokyo đồng tài trợ Tại Việt Nam, M4P
hỗ trợ những nghiên cứu và điều tra docác nhà nghiên cứu trong nước tiến hànhvới sự trợ giúp của các chuyên gia quốc tế
Trong quá trình đó, dự án giúp xây dựngnăng lực cho các nghiên cứu định hướngchính sách ở mỗi quốc gia và thúc đẩy đốithoại giữa các cơ quan chính phủ, các cơ
quan liên quan, khối tư nhân và các đốitác phát triển Những nghiên cứu này tậptrung vào những lĩnh vực mà tại đó cơ chếthị trường còn chưa được phát triển đúngmức hoặc còn chưa hoạt động vì lợi íchcủa người nghèo
Mục đích phát triển tổng quát của M4P là
hỗ trợ sự phát triển của các thị trườngnhằm thúc đẩy một sự phát triển kinh tếmang lại lợi ích cho người nghèo theohướng bền vững và những lợi ích từ sựphát triển đó được phân chia một cáchcông bằng hơn đóng góp vào công cuộcxoá đói giảm nghèo
Mục tiêu của M4P là (a) thực hiện những
phân tích về sự vận hành của thị trường và
mức độ người nghèo có thể được lợi từ đó,(b) xây dựng thể chế thông qua các hoạt
động nghiên cứu, mạng lưới và sự thúc
đẩy đối thoại chính sách ở 3 nước trongvùng dự án
Những hoạt động nghiên cứu do các cơ
quan Việt Nam thực hiện dưới sự hỗ trợcủa M4P có chủ đề bao quát nhiều vấn đềchính sách liên quan đến phát triển thịtrường theo hướng giảm nghèo, trong đóbao gồm: (1) Thị trường các yếu tố sảnxuất, tập trung vào mối quan hệ của thịtrường đất, thị trường lao động, tăngtrưởng và giảm nghèo; (2) Thị trường vàSinh kế: phát triển và thử nghiệm phươngpháp đáng giá sinh kế và thị trường có sựtham gia của người dân tại khu vực thànhthị và nông thôn Việt Nam; (3) Sự tham giacủa người nghèo và các chuỗi giá trị Nôngnghiệp, trong đó bao gồm các nghiên cứudựa trên hàng hoá (gạo, chè, cây luồng,
và sắn), và những nghiên cứu cắt ngangnhư vai trò của siêu thị trong các chuỗi giá
trị, sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng,hành động tập thể, nhãn mác và thươnghiệu; (4) Các vấn đề cắt ngang, bao gồmvai trò của những thể chế liên quan đến thịtrường đối với tăng trưởng dài hạn; chínhthức hoá doanh nghiệp, nghiên cứu điểnhình về doanh nhân, các mối quan hệ giữanghiên cứu và phát triển chính sách, thịtrường và cung cấp các dịch vụ và phát triểnhoạt động truyền thông hiệu quả cho M4P
Bản tin Thị trường và Phát triển:
Nghiên cứu và Thảo luận về việc
Nâng cao hiệu quả Thị trường
cho người nghèo tại Việt Nam
năm 2004-2007
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 82 Bản tin Thị trường và Phát triển
Số lượng các hoạt động nghiên cứu thựchiện trong M4P mang lại một khối lượnglớn các kết quả nghiên cứu trong một loạtchủ đề khác nhau Một trong những tháchthức chính với M4P là phải làm thế nào đểngày càng nhiều các đối tượng liên quantiếp cận được với những kết quả nghiêncứu và thảo luận với một hình thức thíchhợp với họ
(www.markets4poor.org) là một nguồnhoàn chỉnh các thông tin và tài liệu của Dự
án ở cả Tiếng Anh và Tiếng Việt Tuynhiên, M4P nhận thấy việc tiếp cậnInternet vẫn còn tương đối hạn chế ở ViệtNam, đặc biệt là đối với người nghèo, vànhiều người vẫn thích nhận tài liệu trênbản in hơn là nhận trên bản điện tử Vì thế,các ấn phẩm in ở nhiều hình thức khácnhau vẫn tiếp tục tạo thành trục chínhtrong hoạt động truyền thông các kết quả
nghiên cứu của Dự án, đặc biệt là đối vớinhững độc giả Việt Nam
Kết quả của những hoạt động nghiên cứu
được phổ biến thông qua nhiều loại ấnphẩm, trong đó bao gồm Kỷ yếu Hội thảo,Sách, Báo cáo dự án, Tài liệu tham luận
và Tóm lược tổng quan Một số những vấn
đề nổi lên trong các nghiên cứu được tổngkết và xuất bản trong "Bản tin Thị trường
và Phát triển" (MDB) ra 2 tháng 1 kỳ với sựphối hợp của Chương trình Phát triển Kinh
tế Tư nhân (MPDF - IFC), và Viện Quản lýKinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kếhoạch Đầu tư
Thông tin trong loạt Bản tin Thị trường vàPhát triển được trình bày theo một cáchkhác so với những ấn phẩm khác củaM4P Bản tin Thị trường và Phát triển đượcviết theo một ngôn ngữ gần gũi, đi thẳngvào vấn đề, và nêu bật những khía cạnh
cụ thể của các kết quả nghiên cứu Bản tinThị trường và Phát triển là một ấn phẩmtương đối ngắn với 4 trang, trong đó 2trang trình bày những kết quả từ nghiêncứu và 2 trang còn lại dành cho "thảo luận"với những ý kiến bình luận, gợi ý từ các đốitượng liên quan xung quanh chủ đề củaBản tin Việc có các ý kiến thảo luận từ cácbên liên quan khiến Bản tin trở nên thú vịhơn, với nhiều luồng quan điểm khác nhauxung quanh chủ đề Điều này có thểkhuyến khích những tranh cãi và thảo luậngiữa những người đọc về Bản tin
Cho đến nay, đã có 12 Bản tin Thị trường
và Phát triển được xuất bản, và mỗi sốtrung bình có 16.000 bản được in Bản tin
được gửi đến tất cả các tỉnh, thành phốtrong cả nước, và tới trên 2/3 số xã tại ViệtNam, tới những đối tượng có liên quan vàcác tổ chức như các trường đại học, cơquan báo chí, các viện nghiên cứu, cácthư viện Đại đa số Bản tin được in rabằng Tiếng Việt
Quyển sách này tập hợp lại đầy đủ nhữngBản tin đã được phát hành, trong đó baogồm phần kết quả nghiên cứu, phần thảoluận Dưới đây là phần tóm tắt ngắn nộidung của 12 số Bản tin:
Số 1: Tăng giá trị ngành gạo của Việt Nam và Tăng thu nhập cho người nghèo - Việt Nam là nước xuất khẩu gạo
lớn thứ hai thế giới xét về khối lượng,nhưng lại chỉ xếp hàng thứ tư thế giới xét
về giá trị xuất khẩu Việt Nam hoàn toàn
có thể tăng được giá trị gạo xuất khẩu nếunhư cải thiện được chất lượng gạo để bán
được giá cao hơn Tuy nhiên, việc nângcao chất lượng gạo sẽ đòi hỏi ngành gạoViệt Nam có những thay đổi trong hệthống chế biến và tiếp thị
Một vấn đề khác là trong hơn một thập kỷqua, nhờ gia tăng đáng kể về năng suất ởmột số vùng, Việt Nam đã từng đạt được
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 9kỷ lục trong khu vực về sản lượng lúa vàlợi nhuận tính theo hecta, song do hầu hếtnông dân đều chỉ có diện tích trồng lúanhỏ nên sẽ không thể thoát nghèo nếu chỉtrồng lúa
Số 2: Sản xuất nông nghiệp theo hợp
đồng – một hình thức liên kết người nông dân với thị trường - Hợp đồng là
một cơ chế quan trọng để điều phối việcsản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm,
là công cụ gắn kết giữa các chủ thể củamột chuỗi giá trị Hiện nay, ngành nôngnghiệp Việt Nam đang trong quá trình hiện
đại hoá và thương mại hoá nên chuỗi giá
trị nông nghiệp sẽ ngày càng trở nên quantrọng Bản tin này sẽ thảo luận 4 vấn đềchính liên quan đến sản xuất nông nghiệptheo hợp đồng tại Việt Nam Đó là: mốiquan hệ giữa các bên tham gia vào hợp
đồng, tổ chức các thành viên tham giatrong hệ thống hợp đồng, tính hợp lý củacác loại sản phẩm để thực hiện hợp đồng,
và hình thức hợp đồng sử dụng Nhữngvấn đề này đóng vai trò quan trọng đối vớithành công của việc phát triển hệ thốngsản xuất nông nghiệp theo hợp đồng tạiViệt Nam
Số 3: Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn -
Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rấtlớn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các hộ gia đình nôngthôn Có được quyền sử dụng đất chínhthức giúp người nghèo yên tâm đầu tư lâudài Việc cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cũng làm tăng tiện ích kinh tếcủa đất bởi người dân có quyền thế chấp,cho thuê, trao đổi và chuyển giao quyền
sử dụng Việc thực hiện các giao dịch đất
đai trên thị trường tương đối nhanh vàthuận tiện Tuy nhiên mặc dù có nhữngtiến bộ như vậy, nhiều hộ gia đình nghèo
ở nông thôn vẫn gặp phải nhiều rào cảnkhi muốn tham gia vào thị trường đất chínhthức Bản tin này sẽ đề cập các vấn đề
chính của thị trường đất không chính thức
ở nông thôn, các nguyên nhân cơ bảncùng các giải pháp
Số 4: Nhãn, mác và thương hiệu cho nông sản Việt Nam - một giải pháp để cải thiện cuộc sống của nông dân nghèo - Việc phát triển nhãn, mác và
thương hiệu cho các sản phẩm Việt Nam,
đặc biệt là mặt hàng nông sản, đã được
đẩy mạnh trong những năm gần đây Việcnày sẽ góp phần cải thiện rõ rệt giá trị vàhình ảnh của hàng hóa Việt Nam trên thịtrường nội địa cũng như thế giới Do ngườinghèo tham gia vào quá trình sản xuấtphần lớn những sản phẩm này, nên họ sẽ
có thể được hưởng lợi từ việc phát triểnnhãn, mác và thương hiệu cho hàng nôngsản Tuy nhiên, điều quan trọng là phảinhận thức được rằng việc phát triển nhãn,mác và thương hiệu cho các sản phẩmphải được coi là một phần của toàn bộ quá
trình nâng cấp chuỗi giá trị cho sản phẩm
Số 5: Bước phát triển tiếp theo: Chuyển
đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp – Từ khi Luật Doanh nghiệp có
hiệu lực năm 2000 đã có một số lượng lớn
hộ kinh doanh cá thể đăng ký và trở thànhcác doanh nghiệp Mặc dù quá trình nàydiễn ra khá mạnh trong 5 năm qua, khuvực kinh tế cá thể (bao gồm hộ kinh doanhcá thể) chiếm một tỷ trọng lớn trong nềnkinh tế Việt Nam Phần đầu bản tin nàycung cấp một số thông tin tổng quan vềtình hình hộ kinh doanh cá thể của ViệtNam Phần tiếp theo đề cập tới một số lợiích và chi phí trong việc chuyển thànhdoanh nghiệp Bản tin cũng nêu lên nhữngyếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển
từ hộ kinh doanh cá thể thành doanhnghiệp Phần cuối của bản tin đưa ra một
số đề xuất về quản lý nhà nước ở cấptrung ương và địa phương nhằm tạo điềukiện thúc đẩy cho quá trình chuyển đổi hộkinh doanh thành doanh nghiệp
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 10Số 6: Lao động nhập cư và lao động địa phương: Vị thế và cơ hội - Trong những
năm gần đây, các dòng di chuyển lao
động ở Việt Nam tăng lên rất mạnh do nhucầu đầu tư mới và tốc độ đô thị hoá diễn
ra nhanh chóng Lao động nhập cư vì thế
đã trở thành một bộ phận đáng kể cấuthành lực lượng lao động của nhiều doanhnghiệp nhất là các doanh nghiệp ở cáckhu công nghiệp mới
Các chính sách của nhà nước về nguyêntắc đều được áp dụng không có sự phânbiệt giữa người lao động địa phương và lao
động nhập cư Tuy nhiên trong thực tế, vịthế và cơ hội của lao động nhập cư so vớilao động địa phương không phải luôn luôngiống nhau do nhiều nguyên nhân khácnhau Bản tin này sẽ đề cập đến nhữngthực tế khác biệt này và chủ yếu tập trungvào các vấn đề đối với lao động làm việctrong các ngành công nghiệp Việt Nam
Bên cạnh đó, các nguyên nhân và cáckiến nghị chính sách cho các vấn đề liênquan cũng sẽ được phân tích và thảo luận
Số 7: Sự tham gia của người nghèo vào Siêu thị và các Chuỗi Phân phối gia tăng giá trị khác - Với ưu điểm tiện dụng,
bán các sản phẩm đúng tiêu chuẩn, giá cả
niêm yết rõ ràng và sự hấp dẫn của tínhhiện đại, siêu thị đang ngày càng chiếmmột thị phần lớn trong thị trường cung cấpthực phẩm cho một số lượng ngày càngtăng những người tiêu dùng đô thị Từ con
số 0 vào năm 1990, hiện tại Việt Nam đã
có trên 120 siêu thị với 9 trung tâm bánbuôn Với nhiều cải tiến và tăng trưởng
về quy mô kinh tế, siêu thị có thể cónhững tác động mạnh đến các chuỗi cungcấp tại địa phương do nhu cầu về nguồncung cấp thường xuyên trên quy mô lớnnhững sản phẩm rau quả đạt tiêu chuẩn
Điều này đặt ra những thách thức đồngthời cả những cơ hội cho người nghèo
Bản tin sẽ tóm lược một nghiên cứu gần
đây của M4P và Malica (Quan hệ giữa
Thị trường và Nông nghiệp cho nhữngthành phố châu á) trong đó có thảo luậnnhững thách thức nói trên cũng như đềxuất một số giải pháp Đồng thời, bản tincũng thảo luận những tác động của siêuthị đối với người nghèo trong ba vai trò:người tiêu dùng, người buôn bán và ngườinông dân
Số 8: Chuyển đổi đất nông nghiệp sang
đất sản xuất và kinh doanh phi nông nghiệp: ảnh hưởng đa chiều tới người nghèo - Việc chuyển đổi đất nông nghiệp
sang mục đích sản xuất và kinh doanh
đang là vấn đề lớn ảnh hưởng tới nhiều hộgia đình nghèo ở vùng nông thôn và ven
đô tại Việt Nam Quá trình chuyển đổi nàytác động tới vấn đề nghèo đói theo nhiềuhướng khác nhau Khó khăn trong việctiếp cận được đất với giá hợp lý là một ràocản lớn cho sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân – khu vực được coi là một trongnhững động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo việc làm và giảm nghèo Chuyển
đổi đất nông nghiệp tạo một nguồn cungcấp đất quan trọng cho khu vực tư nhân.Tuy nhiên, chuyển đổi đất đai có thể cónhiều tác động tiêu cực tới các hộ dân bị
di dời do bị phá vỡ sinh kế và phải thay đổimôi trường văn hoá xã hội Ngoài ra, vấn
đề an ninh lương thực cũng là vấn đề đang
được quan tâm hiện nay sau khi có sựchuyển đổi một diện tích đất trồng lúa lớn.Bản tin này sẽ đề cập đến một số vấn đềchính liên quan đến những quy trình và thủtục hành chính về chuyển đổi đất nôngnghiệp và những tác động của nó lên các
hộ sản xuất nông nghiệp và doanhnghiệp Ngoài ra, bản tin cũng đưa ranhững gợi ý nhằm cải thiện việc thực thicủa những quy trình này Những nội dungthảo luận trong bản tin được dựa trên kếtquả một nghiên cứu do Trung tâm Quản lý
Đô thị (UMC - Đại học Kiến trúc Hà Nội),Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung
ương (CIEM) và Trung tâm Điều tra và
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 11nông thôn Việt Nam có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc giảm nghèo Nôngnghiệp là ngành mang lại công ăn việclàm cho phần lớn bộ phận dân cư (trên70% dân số), và phần lớn người nghèo
đều sống ở khu vực nông thôn Trong khikhu vực nông nghiệp tất yếu sẽ được hiện
đại hoá và thương mại hoá, phần lớn sảnxuất nông nghiệp trong tương lai sẽ tiếptục được các chủ sản xuất nhỏ đảm trách
Việc tổ chức nông dân vào các nhóm/hộinhỏ thông qua hành động tập thể là rấtcần thiết trong hoàn cảnh của Việt Nam
Thông qua việc hợp tác với nhau, nhữngngười nông dân sản xuất nhỏ có thể tăngsức mua để tiếp cận được với nhữngnguồn cung và thiết bị tốt hơn, đồng thờithu được lợi nhuận cao hơn từ việc mởrộng quy mô sản xuất
Để hành động tập thể trở nên hiệu quả
-đặc biệt trong việc cải thiện sinh kế củangười nghèo - cần có một số “nhân tốthành công” Trong khi những tranh luận
về tính hiệu quả của hành động tập thểhiện nay có xu hướng tập trung vào hìnhthức pháp lý của nhóm, nghiên cứu của
Dự án Nâng cao Hiệu quả Thị trường chongười nghèo (M4P) do Bộ môn Hệ thốngNông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệpViệt Nam thực hiện đưa ra gợi ý rằng tínhhiệu quả của hành động tập thể liên quannhiều đến cơ chế quản lý bên trong và
định hướng thị trường của nhóm hơn làhình thức pháp lý của chúng Các khuyếnnghị đưa ra trong Bản tin này nhằm cảithiện những nhân tố ảnh hưởng này thôngqua việc tăng cường năng lực thành viên
và năng lực lãnh đạo nhóm đông thời tăng
sự thừa nhận về mặt luật pháp đối với cáchình thức hành động tập thể
Số 10: Quan hệ hợp tác khu vực công cộng và tư nhân nhằm cải thiện dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam - Nhu cầu về
hợp tác công tư (PPP) trong cung cấp cácdịch vụ cơ sở hạ tầng đang ngày càng
được thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam Đây
là cách để cải thiện chất lượng và quy mô
của các dịch vụ cơ sở hạ tầng nhờ vàoviệc huy động được các nguồn lực và kinhnghiệm chuyên môn từ khu vực tư nhân
Nhưng để thu được tính hiệu quả và nhữngkết quả từ giá trị đồng vốn mà hình thứcmua sắm theo PPP có thể mang lại, cầnphải có những cam kết chính trị từ các cấpchính quyền Trung ương và địa phương
Cũng cần phải xác định rõ và tìm giải phápmột số những cản trở cho PPP để có thểthúc đẩy PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Ngoài ra nên phát triển và công bố rộngrãi một danh mục các Dự án PPP Cùngvới đó, một đơn vị chuyên sâu về PPPhoặc đơn vị trung tâm trong Chính phủ cóthể giúp giảm bớt sự phức tạp và chồngchéo trong quá trình phê duyệt Dự ánPPP Cải cách và phát triển năng lực của
tự tháp kinh tế thế giới và những lợi íchtiềm năng có được từ việc đẩy mạnh cácmối liên hệ của phân khúc đáy kim tự thápnày với thị trường Khái niệm mới về phânkhúc đáy kim tự tháp cho thấy ngườinghèo có thể tham gia vào thị trường trong
và ngoài nước trong cả vai trò của ngườitiêu thụ hàng hoá, dịch vụ và người sảnxuất nguyên liệu đầu vào cho sản xuấtcông nghiệp và các chuỗi giá trị Bản tinnày sẽ xem xét khái niệm BOP, minh họabằng một số ví dụ tại Việt Nam và thảoluận các biện pháp khả thi để tăng tính
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 12hiệu quả của việc mua và bán hàng hoá,dịch vụ tại đáy kim tự tháp
Số 12: Di cư và Thị trường lao động nông thôn: Tác động và Giải pháp: Quá
trình công nghiệp hoá đang diễn ramạnh mẽ tại Việt Nam tất yếu dẫn tớinhững dòng di cư lao động lớn từ nôngthôn ra thành thị Trong hoàn cảnh đó Dự
án Nâng cao Hiệu quả Thị trường chongười nghèo (M4P) đã thực hiện mộtnghiên cứu về "Thị trường lao động nôngthôn và vấn đề di cư" để xem xét nhữngtác động của việc di cư lên những khu vựcnông thôn có người lao động ra đi Bản tin
này sẽ xem xét tình hình chung của thịtrường và vấn đề di cư lao động nông thôntại Việt Nam, các tác động lên phát triểnnông thôn và đưa ra một vài giải pháp
3 Phản hồi từ bạn đọc Bản tin
Nhằm làm cho Bản tin Thị trường và Pháttriển trở nên hữu dụng và hấp dẫn hơn vớibạn đọc, mỗi Bản tin gửi đi còn được đínhkèm một Bản thông tin phản hồi miễn phíbưu điện (xem Hộp 1) để lấy ý kiến, nhậnxét và gợi ý từ người đọc
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 1311Hộp 1: Thông tin Phản hồi
Đối với 10 số Bản tin đầu tiên, tổng cộng đã có 602 phản hồi nhận được (xem Bảng 1)
THÔNG TIN PHảN HồI
“Bản tin Thị trường và Phát triển”
ý kiến phản hồi, quan điểm và nhận xét của quí vị sẽ giúp chúng tôi làm cho bản tin trở nên hiệu quả và hấp dẫn hơn để bản tin có thể đóng góp nhiều hơn nữa trong việc tạo lập một thị trường hoạt động hiệu quả hơn cho người nghèo ở Việt Nam.
Kính mong quí vị dành chút thời gian cung cấp một số thông tin theo câu hỏi dưới đây và gửi lại cho
chúng tôi qua email, fax hoặc bưu điện Phí gửi bưu điện là hoàn toàn miễn phí.
I Bản tin có cung cấp được những thông tin hữu ích cho Ông/Bà không?
Có Theo Ông/Bà phần nào là hay nhất?
Không Đề nghị Ông/Bà góp ý phần nào cần làm tốt hơn:
II Kết quả phân tích và những quan điểm nhận xét trong bản tin này có giúp ích gì cho Ông/Bà không?
Có Ông/Bà sẽ sử dụng thông tin này như thế nào:
Lĩnh vực hoạt động của cơ quan Ông/Bà:
Các thông tin liên quan khác của Ông/Bà: Email:
Số điện thoại (Cơ quan/di động)
XIN CảM ƠN!
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 14Như đã thấy trong Bảng 1, số lượng phảnhồi do người đọc gửi về tăng đều đặn vớimỗi số Bản tin Dù số lượng phản hồi nhận
được chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với sốBản tin phát hành (0,5%), nhưng cũng cầnlưu ý rằng những phản hồi nhận được đến
từ nhiều đối tượng người đọc khác nhau,
và từ nhiều vùng khác nhau Trong sốnhững độc giả gửi phản hồi, trên 99% câutrả lời là từ những độc giả Việt Nam
Như trong Bảng 2, trong số những độc giảtrả lời Bản tin rất có ích, phần lớn cho rằngphần phân tích là hay và có ích nhất Một
tỷ lệ độc giả nhỏ hơn cho rằng phần thảoluận hay hơn phần phân tích, trong khi đómột tỷ lệ nhỏ hơn cho rằng tất cả các phầntrong Bản tin đều hay và hữu ích với họ
Những người gửi phản hồi cũng chỉ ra họ
có thể sử dụng thông tin từ Bản tin Thịtrường và Phát triển như thế nào Theonhư Bảng 3 dưới đây, hơn 32% người trả
lời nói Bản tin rất có ích cho công việc của
họ, khoảng 1/4 người được hỏi cho rằngBản tin giúp họ có thêm kiến thức, và trên
19% nói Bản tin rất hữu ích cho công việcquản lý nhà nước của họ Đặc biệt quantrọng với một Dự án có mục đích phổ biếnthông tin ra rộng như M4P, trên 16% ngườitrả lời nói rằng họ sẽ sử dụng thông tin củaBản tin để tuyên truyền cho những ngườikhác
Bản tin TT&PT số 6: Lao động nhập cư và lao động địa phương: Vị thế và cơ hội
Bản tin TT&PT số 7: Sự tham gia của người nghèo vào siêu thị Bản tin TT&PT số 8: Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất sản xuất
và kinh doanh: ảnh hưởng đa chiều tới người nghèo Bản tin TT&PT số 9: Để hành động tập thể mang lại hiệu quả cho người nghèo
Bản tin TT&PT số 10: Quan hệ hợp tác công tư nhằm cải thiện các dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
Tổng số
Số phản hồi nhận được
2 44 52 53 75 83 82 89 83 39
602
Phần nào của Bản tin là hay và hữu ích nhất
Không có ý kiến Phần phân tích là hay nhất Phần thảo luận là hay nhất Toàn bộ Bản tin đều hay và hữu ích
Trang 15Trong tờ Thông tin phản hồi, độc giả cũng
được hỏi để đưa ra những nhận xét cụ thể
về Bản tin Thị trường và Phát triển
Khoảng 2/3 số người gửi phản hồi đã đưa
ra những nhận xét cụ thể này Phần lớnnhững nhận xét đều mang tính tích cựchoặc phê phán có tính xây dựng có thểtiếp thu để cải tiến Bản tin Một ví dụ trong
số đó là nhận xét về phông chữ sử dụngtrong Bản tin là quá nhỏ - điều này đã
được tiếp thu trong những số tiếp theo
Một lượng lớn người đọc mong muốn Bản
tin nên được xuất bản thường xuyên hơn
và được phổ biến rộng rãi hơn Số lượngBản tin đã được phân phối nhiều hơntrước, và đến với nhiều đối tượng độc giả
hơn Tuy nhiên, vì nguồn nhân lực có hạn,tần số ra mắt Bản tin đã không thể đượcnâng lên
Nhìn chung, Ban Biên tập đã xem xét tấtcả những phản hồi được gửi đến và rấtcảm ơn những độc giả đã gửi ý kiến phảnhồi
Bảng 3
Ông/Bà sẽ sử dụng thông tin này như thế nào:
Không có ý kiến Bản tin giúp tôi có thêm thông tin, kiến thức Bản tin rất hữu ích cho công việc của tôi Bản tin rất hữu ích cho công việc quản lý nhà nước của tôi Bản tin rất có ích cho mục đích tuyên truyền
Bản tin nên được phân phát rộng rãi hơn, phân phát nhiều bản hơn; Mong nhận được Bản tin thường xuyên
Các ý kiến đóng góp/gợi ý khác (thêm thông tin, thêm ý kiến thảo luận, phổ biến trên các phương tiện thông tin khác (ví dụ báo chí …), so sánh với kinh nghiệm các nước …)
Bản tin nên được xuất bản thường xuyên hơn Một vài ý kiến khác (sửa lại địa chỉ để tránh thất lạc, phân phát muộn …)
Trang 16Các nhà nghiên cứu rất cần những thông tin như thế này Chúng tôi/thư viện của chúng tôi muốn đăng
ký nhận Bản tin thường xuyên Chúng tôi cũng muốn được đóng góp ý kiến trong phần thảo luận
Ngô Văn Hải, Nghiên cứu viên chính, Viện Kinh tế Nông nghiệp
Đây là một Bản tin/Diễn đàn rất hay để tuyên truyền và nâng cao nhận thức của mọi người Xin hãy tạo nhiều cơ hội hơn cho nhiều người tham gia
Đàm Quốc Việt, Chủ tịch, Hội nông dân Quế Phong, Nghệ An
Bản tin tuy nhỏ nhưng nó đưa ra những thông tin rất cơ bản và quan trọng
Nguyễn Thành Tâm, Giám đốc, Sở Thương mại và Du lịch Phú Yên
Tôi hy vọng Bản tin sẽ được phân phối xuống đơn vị ấp, tình hình ở ấp rất thiếu tài liệu học hỏi liên quan
đến vấn đề thị trường và phát triển.
Võ Văn Dũng, Trưởng ấp Ông Nhan Tây, Mộc Hoá, Long An
Bản tin là nguồn thông tin có độ tin cậy cao, có quan điểm và lý luận chặt chẽ về nông thôn và nông nghiệp Chúng tôi vận dụng trong chỉ đạo nông dân phát triển kinh tế địa phương
Lê Văn Hoa, Chủ tịch Hội nông dân huyện Lạng Chánh, Thanh Hoá
Tôi biết được những thông tin cơ bản về xoá đói giảm nghèo nhờ vào Bản tin.
K Krang, Chủ tích UBND xã Dak R Măng, Dak Nông
Bản tin nên in với phông chữ lớn hơn và nhiều trang hơn Bản tin cũng nên được xuất bản và phân phối thường xuyên hơn
Mai Văn Hợi, Phó giám đốc, Sở Công nghiệp Hải Dương
Trình bày địa chỉ trang web nổi bật hơn, có thêm nhiều thông tin về thư mục trên website
Adam McCarty, Kinh tế trưởng, Mekong Economics
Sử dụng hình thức phân phối qua email.
Đàm Anh Nguyệt, Phóng viên Kinh tế, Báo Quốc tế
Lựa chọn những người nhận thích hợp cho mỗi số Bản tin.
Nguyễn Văn Bạt, Phó Giám đốc, Sở Giao thông Vận tải Huế
Những ý kiến phản hồi cũng đưa ra trên
350 gợi ý mà họ nghĩ là thích hợp chonhững chủ đề các số Bản tin tiếp theo 20chủ đề được gợi ý nhiều nhất được sắpxếp trong Bảng 5 dưới đây Một vài chủ đề
đã được được thực hiện thành các số Bản
tin, ví dụ như Chuyển đổi hộ kinh doanh cáthể thành doanh nghiệp, Nhãn mác vàThương hiệu, Hành động tập thể, Sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng và nhữngvấn đề trong quá trình sử dụng và chuyển
đổi quyền sử dụng đất
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 17Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Chuyển đổi doanh nghiệp Nhãn mác và Thương hiệu
Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng
Hệ thống quản lý đất đai Phúc lợi xã hội/các hình thức bảo vệ người lao động ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ sinh học trong sản xuất nông nghiệp
Hệ thống thông tin nông nghiệp Tính cạnh tranh của sản phẩm Xoá đói giảm nghèo
Chất lượng sản phẩm nông nghiệp/ An toàn thực phẩm Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp
WTO và Nông nghiệp Việt Nam Thị trường đất không chính thức WTO và những tác động lên nền kinh tế Việt Nam
Số người đọc gợi ý
67 52 31 31 30 28 27 23 18 16 16 15 15 13 12 12 12 12 12 11 11
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 19Giới thiệu chung về Bản tin Thị trường và Phát triển MDB
Khối lượng lớn các hoạt động nghiên cứu
được tiến hành trong khuôn khổ dự ánM4P đã đem lại một số lượng đáng kểnhững kết quả nghiên cứu thuộc nhiều lĩnhvực khác nhau Một trong những tháchthức lớn đặt ra cho M4P là việc tạo điềukiện cho càng nhiều người có liên quancàng tốt tiếp cận được với các kết quả
nghiên cứu mà họ quan tâm và thảo luận
về những kết quả đó theo phương thứcphù hợp
(www.markets4poor.org) là một nguồnthông tin và tài liệu đầy đủ thu được từ dự
án, được đăng tải bằng cả tiếng Anh vàtiếng Việt Tuy nhiên M4P xác định rằngviệc tiếp cận với Internet ở Việt Nam vẫncòn hạn chế, đặc biệt là đối với nhữngngười nghèo, và nhiều người vẫn cònmuốn xem các bản in trên giấy hơn làthông tin điện tử Chính vì thế các ấnphẩm vẫn còn là nền tảng của công táctruyền thông các kết quả nghiên cứu của
dự án, đặc biệt là đối với độc giả Việt Nam
Kết quả của những hoạt động nghiên cứu
do dự án hỗ trợ đã được phổ biến bằngnhiều loại ấn phẩm khác nhau, như tài liệuhội nghị, hội thảo, sách, báo cáo dự án, tài
liệu thảo luận, thông báo ngắn Tuy nhiêncần phải phổ biến rộng hơn nữa những kếtquả nghiên cứu này nhằm chia sẻ thôngtin, góp phần xây dựng các mạng lướinghiên cứu Những kết quả nghiên cứucũng cần phải đóng góp cho việc đối thoạichính sách về các thị trường trọng yếu vànhững vấn đề có liên quan đến phát triển
Những bản tin chính xác và được phổ biếnrộng rãi về những kết quả nghiên cứu này
là một cách để góp phần đạt được mụctiêu trên
Tháng 6 năm 2003, Chương trình Pháttriển Kinh tế tư nhân (MDPF) và PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI) đã khởi xướng thành công Bản tinMôi trường Kinh doanh (BIB), xuất bản haitháng một số, hiện nay được phát hànhrộng rãi tại Việt Nam Chú ý tới sự thànhcông của BIB, M4P đề xuất với MDPFrằng cần phải nhân rộng mô hình nàybằng cách đưa ra một dòng những bản tinmới chứa đựng những vấn đề phát triển cóliên quan đến thị trường Hình thức và kháiniệm về Bản tin “Thị trường và Phát triển(MDB) dựa trên định dạng của BIB và
được phát hành hai tháng một số - nhưngvào những tháng mà bản tin BIB khôngphát hành Vào cuối năm 2004, M4P vàMPDF đạt được thỏa thuận về việc đồngtài trợ việc sản xuất MDB trên cơ sở 50%-50%
Kinh nghiệm và bài học rút ra từ
việc xuất bản bản tin thị trường
phát triển (MDB)
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 20Khái niệm
ý tưởng về MDB là M4P sẽ hợp tác vớiMPDF và Viện Quản lý Kinh tế Trung ương(CIEM) cùng triển khai, xuất bản và pháthành một bản tin chuyên đề về các vấn đềthị trường có liên quan đến giảm nghèo vàphát triển kinh tế Ba nhóm tham gia cùngtriển khai các đề tài cho bản tin, và M4P
đóng vai trò đi đầu trong việc triển khaicác nội dung cơ bản nhất của bản tin
Nội dung của các bản tin dựa trước hếtvào các kết quả nghiên cứu mà M4P thựchiện Mục tiêu của các bản tin là phổ biếncác kết quả nghiên cứu của M4P và tạodiễn đàn trao đổi thông tin và ý kiến, qua
đó góp phần vào đối thoại chính sách vềnhững vấn đề thị trường và phát triển đượclựa chọn
Mục đích của bản tin là:
ã Giúp các cán bộ trung ương và địaphương và các nhà hoạch định chínhsách tiếp cận với hàng loạt những cáchnhìn nhận khác nhau về những vấn đề
cụ thể có liên quan đến mối liên hệ giữathị trường và giảm nghèo;
ã Giúp các cán bộ địa phương hiểu rõhơn về những vấn đề thị trường có liênquan và việc các địa phương khác xử lývấn đề đó như thế nào;
ã Thông tin cho cộng đồng và các nhà tàitrợ về những vấn đề thị trường có liênquan để giúp họ tương tác một cáchhiệu quả hơn với chính phủ và các nhàhoạch định chính sách;
Nội dung của Bản tin Thị trường và Phát triển
Bản tin là tài liệu gồm 4 trang in trên giấykhổ nhỏ hơn A4 một chút Hai trang đầuchứa đựng nội dung tổng quát về một vấn
đề cụ thể của nghiên cứu M4P, thườnggồm một phần tổng quan, các ví dụ cụ thể
và các đề xuất Hai trang tiếp theo trìnhbày ý kiến của nhiều người có liên quankhác nhau về vấn đề đó, bao gồm:
ã Cán bộ cấp bộ có liên quan nghiên cứu
về vấn đề cụ thể này
ã Cán bộ của bộ khác nghiên cứu về vấn
đề này (ví dụ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, v.v.)
ã Chuyên gia thuộc cơ quan nghiêncứu/cố vấn địa phương nghiên cứu vềvấn đề này (ví dụ Viện Quản lý Kinh tếTrung ương CIEM, Văn phòng Nghiêncứu của Thủ tướng, Viện Kinh tế Thếgiới, v.v.)
ã Đại diện của cộng đồng doanh nghiệp(ví dụ: một hoặc hai hội doanh nghiệphoặc doanh nghiệp nổi tiếng)
ã Các cán bộ chính phủ hoặc một hoặchai địa phương bị ảnh hưởng đặc biệtbởi vấn đề này, hoặc những người cónhững hướng xử lý vấn đề cần đượcnêu bật
ã Chuyên gia nước ngoài, những người
có thể đưa ra quan điểm quốc tế/tươngquan về vấn đề này
ã Các đại biểu Quốc hội
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 21ã Các tổ chức quần chúng, các tổ chứcphi chính phủ (của cả địa phương vànước ngoài)
ã Các đại sứ quán nước ngoài và các dự
án tài trợ hoạt động trong lĩnh vực pháttriển doanh nghiệp
ã Các viện nghiên cứu và các trường đạihọc;
Mỗi bản tin có tổng số 15.000 bản bằngtiếng Việt và 2.000 bản bằng tiếng Anh
được lưu hành Bảng dưới đây cho thấymô hình phát hành bản tin
Thời gian thực hiện
Từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 12 năm
2006, Bản tin Thị trường và Phát triển MDB
đã xuất bản được 12 số trong khuôn khổgiai đoạn một của dự án Thỏa thuận liênkết ban đầu quy định việc xuất bản 6 số
Sau khi xuất bản 3 số đầu tiên, M4P,MPDF và CIEM đánh giá hiệu quả củathỏa thuận liên kết này và đưa ra những
điều chỉnh cần thiết đối với thỏa thuận hiệnhành Sau khi hoàn thành 6 số đầu tiên, tấtcả các bên nhất trí sẽ ký thỏa thuận mới vàtiếp tục xuất bản 6 số tiếp theo
Bài học rút ra
Nhiều bài học đã được rút ra từ việc xuấtbản Bản tin Thị trường và Phát triển
Những lĩnh vực chính đem lại bài học là:
tầm quan trọng của việc phân tích phảnhồi từ độc giả, sắp xếp hợp lý thời gian
biểu và quy trình sản xuất và chuẩn bịhàng loạt công việc biên tập trong cùngmột thời gian
Phản hồi: Số lượng phiếu phản hồi nhận
được vượt quá sự mong đợi của tất cả cácbên Sau khi xuất bản 6 số đầu tiên thì
nhận thấy rằng một lượng lớn những thôngtin có thể rất hữu ích vẫn chưa được sửdụng thích đáng Và thế là những ngườitham gia cố gắng ghi chép một cách có hệthống và phân tích những phản hồi nhận
được Như đã nêu trong phần giới thiệucuốn sách này, phản hồi và đề xuất nhận
được từ độc giả là một phần quan trọngcủa nỗ lực duy trì bản tin này sao cho hữuích và thích hợp nhất có thể
Sắp xếp hợp lý các quy trình: Sản xuất
một bản tin 2 tháng một số có nghĩa là cótổng thời gian 2 tháng từ khi viết bản thảolần đầu cho tới khi in ra bản tin hoàn thiện
Với ba bên tham gia, việc cố gắng sắp xếp
Bản tin này cũng có thể tải xuống từ trang web M4P
Người nhận
Các cán bộ trung ương (25 bộ x 50)
Giới nghiên cứu/cố vấn địa phương
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp Cán bộ cấp tỉnh và huyện (61 tỉnh x 50 cán bộ: 3050 bản) (20 huyện x 15 tỉnh x 15 cán bộ: 4500 bản) Quốc hội
Báo chí Khác Cộng đồng Quốc tế
500 500 3.000 700
15.000
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 22hợp lý quy trình sản xuất là hết sức quantrọng, sao cho tất cả các bên có đủ thờigian đưa ra những phản hồi có ý nghĩa và
có tính chất xây dựng về bản thảo củaMDB trước khi hoàn tất Việc sắp xếp tuânthủ 3 nguyên tắc chính:
ã Phiên bản chính của MDB khi ở dạngbản thảo được viết bằng tiếng Việt
Điều này phản ánh một thực tế là đa số
độc giả của MDB là người Việt Nam
Trong quá trình sản xuất MDB, ba bên
sẽ đưa ra nhận xét và phản hồi với bảnthảo bằng tiếng Việt
ã Nội dung chính của MDB do nhómM4P tại Hà Nội biên tập dựa trên kếtquả những công tình nghiên cứu do dự
án M4P hỗ trợ Điều này sẽ đẩy nhanhtiến độ thẩm tra và hiệu đính
ã Văn bản chính và những đoạn thảoluận có thể được hiệu đính để nhấtquán với nhau
Lịch trình được hợp lý hóa như sau: trong
2 tuần đầu của tháng thứ nhất, các bảnthảo của văn bản chính được M4P tập hợplại (bằng tiếng Việt) và phân phát để lấy ýkiến Trong hai tuần cuối của tháng thứnhất, phần dành cho các đoạn thảo luận
được M4P chuẩn bị (bằng tiếng Việt) vàgửi đi để lấy ý kiến
Vào cuối tháng thứ nhất, những nhận xét
về bản thảo đầu tiên đã được thu về Bảnthảo được hiệu đính vào cuối tuần thứ nhấtcủa tháng thứ hai, và sau khi xem lại lầncuối cùng, các bản tiếng Việt và tiếng Anh
được hoàn thiện và xuất bản vào cuốitháng thứ hai
Chuẩn bị trước nội dung của MDB: Cần
phải chuẩn bị song song văn bản chínhcủa ít nhất hai số MDB để có ngay bảnthay thế trong trường hợp trục trặc xảy ravới bản dự kiến xuất bản
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 23Giới thiệu chung
Gạo là nguồn lương thực chính của đại đa
số người dân Việt Nam với số hộ trồng lúachiếm tới hai phần ba tổng số hộ của cả
nước Đối với khoảng một phần năm dân
số Việt Nam - thuộc nhóm nghèo nhất,gạo chiếm 35% trong tổng chi tiêu của gia
đình Tầm quan trọng của gạo đối với nềnkinh tế quốc dân cũng được thể hiện rõqua cơ cấu chỉ số giá tiêu dùng với tỷ trọngmặt hàng gạo chiếm tới 20% Hơn nữaxuất khẩu gạo còn là một trong nhữngnguồn thu ngoại tệ chính của đất nước
Một trong những đặc điểm của ngành lúagạo Việt Nam là sản lượng và thời vụ củamỗi vùng trồng lúa rất khác nhau Hiệnnay, năng suất lúa trung bình ở Việt Nam
là 4,3 tấn/ha/năm Trong khi đó, một sốvùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long cóthể đạt tới sản lượng 10 - 12 tấn/ha, cònmột số nơi khác chỉ đạt được 2,4 tấn/ha
Hai thập kỷ trước đây, Việt Nam còn thiếugạo trầm trọng Tuy nhiên, nhờ một loạtcải cách mang tính tự do hoá như traoquyền tự chủ sản xuất và quyền sử dụng
đất cho hộ gia đình, sản lượng gạo đã tănglên đáng kể, tạo ra lương thực dư thừa vàtăng thu nhập của người trồng lúa, gópphần đáng kể vào công cuộc xoá đói giảmnghèo Năm 2003, sản lượng lúa của ViệtNam đạt hơn 34 triệu tấn so với 12 triệutấn năm 1981 Kể từ năm 1996, Việt Nam
đã thường xuyên xuất khẩu hơn 3 triệu tấngạo mỗi năm và trở thành nước xuất khẩugạo lớn thứ hai thế giới xét về khối lượng,chỉ sau Thái Lan Tuy nhiên, trong tươnglai, khả năng để tăng giá trị gạo xuất khẩu
và cải thiện thu nhập cho nông dân nghèocủa Việt Nam có thể sẽ khó khăn hơn Mộtnghiên cứu gần đây về “chuỗi giá trị”
ngành gạo Việt Nam cho thấy một số vấn
đề cần được giải quyết để cải thiện chấtlượng và thu nhập từ lúa gạo.1
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới xét về khối lượng, nhưng lại chỉ xếp hàng thứ tư thế giới xét về giá trị xuất khẩu Việt Nam hoàn toàn có thể tăng được giá trị gạo xuất khẩu nếu như cải thiện được chất lượng gạo để bán được giá cao hơn Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng gạo sẽ đòi hỏi ngành gạo Việt Nam có những thay đổi trong hệ thống chế biến và tiếp thị
Một vấn đề khác là trong hơn một thập kỷ qua, nhờ gia tăng đáng kể về năng suất ở một
số vùng, Việt Nam đã từng đạt được kỷ lục trong khu vực về sản lượng lúa và lợi nhuận tính theo hecta, song do hầu hết nông dân đều chỉ có diện tích trồng lúa nhỏ nên sẽ không thể thoát nghèo nếu chỉ trồng lúa.
Tăng giá trị ngành gạo của Việt
Nam và Tăng thu nhập cho người
nghèo
1 Phần giới thiệu chung của bản tin này (gồm cả các số liệu) được trích từ Bản tóm tắt Nghiên cứu “Kết nối người nghèo với chuỗi giá trị gạo” của công ty Tư vấn Nông phẩm Quốc tế (ACI) Trong bản tóm tắt này, chuỗi giá trị được định nghĩa
là “Một chu trình các hoạt động sản xuất hoặc dịch vụ kể từ giai đoạn sáng chế, qua các quá trình sản xuất, phân phối
đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như xử lý phế thải”
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 24Những chính sách của Chính phủ đối với ngành gạo
Trong những năm trước đây, an ninh lươngthực luôn là một trong những ưu tiên hàng
đầu của Chính phủ Việt Nam Điều nàythể hiện qua các chính sách ưu tiên pháttriển diện tích canh tác lúa và hệ thống hạtầng thuỷ lợi, cũng như những chính sáchhạn chế chuyển đổi đất trồng lúa sang cácmục đích sử dụng khác
Nhờ những chính sách nói trên và một loạtcác biện pháp trong lĩnh vực thuế, hạnngạch và đầu tư vào hệ thống khuyếnnông, quy mô và năng suất trồng lúa đã
được cải thiện Sản lượng lúa dư thừa liêntục từ giữa những năm 90 đã làm giảm mối
lo về an ninh lương thực, nhờ đó các chínhsách đảm bảo đất trồng lúa cũng được nớilỏng Trong những năm gần đây, Chính phủ
đã chuyển từ mục tiêu nâng cao năng suất
và mở rộng diện tích trồng lúa sang đadạng và tối đa hoá thu nhập Nhờ ảnhhưởng của xu hướng tự do hoá gần đây, lĩnhvực gạo xuất khẩu cũng được mở rộng với
sự tham gia của nhiều nhà xuất khẩu hơn
Các vấn đề đặt ra
Phân tích về “chuỗi giá trị gạo” đã đặt ranhững vấn đề chính sau đây:
ã Những hộ nông dân nhỏ sẽ không thểthoát nghèo nếu chỉ trồng lúa Trongnhững năm qua, năng suất và sản lượnglúa đã tăng lên, nhưng nông hộ nhỏ ởViệt Nam hiện nay vẫn gặp khó khăn dodiện tích đất canh tác của họ quá nhỏnên không có đủ thu nhập nếu chỉ trồnglúa Biểu đồ 1 (trang 2) cho thấy chi phí
và thu nhập của một hộ nông dân trồnglúa điển hình với bốn nhân khẩu Vớidiện tích đất canh tác trung bình ở đồngbằng sông Hồng là 0,256 ha, hộ nông
dân này có thể trang trải được các nhucầu tiêu dùng tối thiểu, song mức thunhập như vậy vẫn còn thấp hơn nhiều sovới chuẩn đói nghèo chính thức do BộLao động, Thương binh và Xã hội đưa ra
ã Thị trường gạo bị chi phối bởi các hợp
đồng xuất khẩu lớn giữa các chính phủ,dẫn đến tình trạng thị trường gạo bị chiphối bởi khối lượng chứ không phải chấtlượng Nhiều khi, để đáp ứng yêu cầucủa các hợp đồng này, những nhà máyxay xát và nhà xuất khẩu lớn chỉ lãi rất ít,thậm chí lỗ Điều đó có nghĩa là các nhàmáy xay xát và các nhà xuất khẩu lớn chỉlãi nhờ bán khối lượng lớn hoặc bán sảnphẩm phụ (ví dụ như cám gạo)
ã Công nghệ chế biến gạo lạc hậu làm chocác sản phẩm chế biến từ gạo như bánh,mì hay kẹo có ít giá trị gia tăng
Các giải pháp ở cấp độ
hộ nông dân
Đa dạng hoá ngoài trồng lúa
Những nông dân sống phụ thuộc vào diệntích canh tác nhỏ có thể có thu nhập caohơn từ các loại cây trồng khác hoặc nếu
được tuyển dụng vào làm trong các xínghiệp Tuy nhiên, khả năng thực tiễn củanhững hoạt động đa dạng hóa này còn phụthuộc vào các cơ hội có được cũng như chiphí và mức độ rủi ro của các cơ hội này.Người nông dân cần được khuyến khích,
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 25được cung cấp thông tin và các nguồn lựccần thiết để thay đổi Chính phủ có thể hỗtrợ quá trình đa dạng hoá này bằng cách
hỗ trợ nông dân nâng cấp hệ thống sảnxuất của họ hoặc chuyển tới những vùng
có cơ hội công ăn việc làm tốt hơn
Hoạt động tập thể để tăng khả năng tham gia thị trường của nông hộ nhỏ
Các sáng kiến về thể chế có thể giúp cácnông hộ nhỏ phối hợp hoạt động với nhau
Hoạt động tập thể sẽ giúp các nhà sảnxuất cá thể tăng khả năng tham gia thịtrường để đạt được những điều khoản giaodịch có lợi hơn Ví dụ, việc mua nguyênliệu đầu vào với số lượng lớn giúp mỗi cá
nhân trong nhóm mua với giá rẻ hơn Việcphối hợp cùng thu hoạch cũng sẽ giúpgiảm chi phí thu hoạch và tăng thu nhập
Có rất nhiều hình thức “hoạt động tập thể”
khác nhau như hợp tác xã, hiệp hội haycâu lạc bộ Những hình thức hợp tác nàycũng có thể mở rộng ra ngoài phạm vi các
hộ nông dân sang các đối tượng khác như
các nhà sản xuất và xay xát
Nâng cao chất lượng giống
Việc cải thiện chất lượng gạo cần phải
được bắt đầu từ việc cải thiện giống và cácdịch vụ khuyến nông cho nông dân
Những thay đổi cơ bản trong lĩnh vực nhângiống có thể mang lại động cơ thương mạithực sự để sản xuất các giống lúa Hiệnnay, việc thiếu những quy định về quyền
được bảo hộ của người gây giống và cáctiêu chuẩn thực thi quyền này đã làm giảm
động cơ nâng cao chất lượng của cáccông ty sản xuất giống
Sự tham gia hiệu quả của “bốn nhà” và cơ
chế phối hợp sản xuất
Sự phối hợp giữa “bốn nhà” gồm nhà nông,nhà nước, nhà khoa học và nhà doanhnghiệp trong quá trình sản xuất lúa gạocần được tăng cường chặt chẽ hơn Tuynhiên, sự phản hồi và liên kết trong lĩnhvực khuyến nông giữa nhà nông với nhàkhoa học hiện vẫn còn tương đối yếu Một
số ý kiến cho rằng sự phối hợp đa dạnggồm nhiều bên - có thể là thương mại hoá
Thu nhập từ trồng lúa Diện tích đất tối thiểu mà một hộ gia đình 4 nhân khẩu cần để sinh sống
Diện tích gieo trồng hằng năm (ha)
Chuẩn đói nghèo của Bộ LĐ, TB, XH 2001-2005
Trang 26dịch vụ khuyến nông - sẽ đáp ứng đượccác nhu cầu của nông dân hiệu quả hơn
Các giải pháp mang tính thị trường
Tăng giá trị sản phẩm bằng cách sản xuất các “sản phẩm đặc sản”
Hiện nay một số vùng miền núi phía Bắc
và phía Nam đang đa dạng hóa các giốnglúa để sản xuất các loại gạo đặc sản khácnhau như gạo thơm, gạo nếp, gạo “sạch”,
và gạo để chế biến các sản phẩm đặc biệtnhắm tới các mảng thị trường khác nhau
Nhờ vậy, thậm chí nông dân nghèo ở cácvùng xa xôi hẻo lánh cũng có thể tham giacác cơ hội này bằng cách trồng các giốnglúa đặc sản của vùng cao hay trồng lúasạch không dùng phân bón
Hỗ trợ việc cấp chứng nhận và xây dựng thương hiệu sản phẩm
Giải pháp sản xuất gạo đặc sản đáp ứngcác mảng thị trường khác nhau có thànhcông hay không còn phụ thuộc vào khả
năng xây dựng được một hệ thống các loạigiấy chứng nhận để phân biệt giữa gạo
xứ được bảo hộ (PDO) và giấy chứng nhậnquốc tế đối với sản phẩm “sạch” Khi lựachọn xin cấp loại giấy chứng nhận nào, cầnxem xét một số yếu tố cơ bản như: chấtlượng sản phẩm, độ an toàn thực phẩm, tínhxác thực (đối với các sản phẩm có tên gọixuất xứ được bảo hộ và sản phẩm “sạch”)
và khả năng xác định xuất xứ Do việc xingiấy chứng nhận có thể tốn kém, đặc biệt là
đối với thị trường xuất khẩu, nên phạm vichứng nhận nên được xác định cho phù hợpvới yêu cầu của thị trường mục tiêu Ngoài
ra, việc gia tăng giá trị do hàng hóa đượccấp chứng nhận cũng đi kèm với nguy cơlàm giả giấy chứng nhận hay lạm dụng việccấp phép của những người có thẩm quyền
Để chuyển đổi từ bán gạo “nguyên liệu”
sang bán gạo “thành phẩm” còn có nhiều
thách thức khác nữa Bán gạo thành phẩm
là một công việc phức tạp hơn nhiều vì sẽcần nhiều kỹ năng kinh doanh và tiếp thịhơn để có thể quảng bá được thương hiệu,xây dựng được hệ thống bán lẻ phù hợp vàduy trì được nguồn cung cấp đều đặn để
đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng
Phát triển các sản phẩm và các quy trình
Tạo ra sản phẩm mới cũng như sự khácbiệt của sản phẩm là những chiến lượcmấu chốt để tăng thêm giá trị cho sảnphẩm Đặc biệt, những sản phẩm đã chếbiến thường mang lại lợi nhuận cao hơn.Việt Nam có nhiều tiềm năng sản xuất cácsản phẩm làm từ gạo có giá trị gia tăngcao hơn như mì, bánh ngọt và kẹo Tuynhiên, để làm được điều này, cần nângcao năng lực và công nghệ chế biến cũngnhư kỹ năng tiếp thị và bán lẻ Ngoài ra,tạo ra các động lực hấp dẫn để khuyếnkhích các doanh nghiệp chế biến các sảnphẩm từ gạo có những sáng kiến tạo ra vàtận dụng triệt để các cơ hội của mình cũng
là một việc làm rất quan trọng
Nâng cao chất lượng và giảm chi phí trong chuỗi giá trị gạo
Liên kết chiều dọc và quản lý chuỗi giá trị
Xu thế quốc tế trong việc phát triển nhữngngành dựa vào nông nghiệp là áp dụng môhình hợp tác theo chiều dọc giữa các nhân
tố trong chuỗi giá trị như: liên kết giữa nôngdân - nhà chế biến – nhà xuất khẩu – nhànhập khẩu Xu thế này chủ yếu được địnhhướng vì lợi nhuận, ngoài ra còn do các yếu
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 27tố khác như các nhu cầu ngày càng tăngcủa thị trường về chất lượng, an toàn thựcphẩm, tính xác thực và xuất xứ của sảnphẩm Tăng cường phối hợp giữa các bêntham gia vào ngành hàng là một phươngthức hiệu quả để có thể kiểm soát được cácyếu tố này Trong ngành gạo, tăng cườngphối hợp trong quá trình chế biến và tiếp thị
sẽ làm giảm đáng kể chi phí giao dịch cũngnhư cải thiện chất lượng và mức độ tiêuchuẩn hoá của sản phẩm
Có hai động lực thúc đẩy các bên tham giavào ngành hàng tăng cường phối hợp vớinhau Thứ nhất, xu hướng tiếp tục tự do hoá
khu vực xuất khẩu sẽ đặt ra yêu cầu chocác nhà xuất khẩu, đặc biệt là những
“gương mặt” mới, phải nâng cao chất lượnggạo của Việt Nam Thứ hai, việc bán đượcnhiều hơn các loại gạo đã có “thương hiệu”
có giá trị cao hơn ngay tại thị trường nội địa
sẽ hướng các hộ nông dân, kể cả nhữngnông dân nghèo ở vùng sâu vùng xa, sangtrồng lúa đặc sản Nhờ bán được gạo có giá
trị cao hơn ở cả thị trường trong và ngoàinước, các nhà xuất khẩu/bán lẻ, nhà xay xát
và nhà sản xuất sẽ có động lực hợp tác vớinhau chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo chấtlượng sản phẩm Sự hợp tác hiệu quả hơnnày chính là cách để đảm bảo rằng các loạigạo và chất lượng gạo được cung cấp từnhững nguồn tin cậy Mối liên kết chặt chẽhơn giữa nhà sản xuất và nhà chế biến vàviệc hợp lý hóa hệ thống xay xát hai lần sẽgiúp giảm thiểu các vấn đề như sự pha tạpcác loại gạo khác nhau vì sự pha tạp này cónghĩa là chi phí xay xát cao hơn và tỷ lệ gạotấm nhiều hơn Tuy nhiên, cũng cần nhậnthức rằng sự hợp lý hoá hệ thống xay xátnày lại đồng nghĩa với việc làm giảm bớt sốlượng các cơ sở xay xát nhỏ lẻ
Thảo luận
Các vấn đề tồn tại
Nông dân ít có khả năng tăng thunhập từ trồng lúa
Huyện Chợ Mới tỉnh An Giang đất ít người
đông, diện tích canh tác bình quân theo
đầu người thấp, chỉ vào khoảng 487m2,làm cho thu nhập từ trồng lúa của nôngdân thấp Vì vậy, nhiều hộ nông dân ở xã
Mỹ Luông, huyện Chợ Mới đã chuyểnsang trồng màu, làm vườn, chăn nuôi để
có thu nhập cao hơn Chẳng hạn nôngdân trồng bắp non theo hợp đồng tiêu thụvới nhà máy chế biến có thể quay vòng 6lần/công bắp/năm, thu nhập cao hơn trồnglúa Có hộ bỏ trồng lúa để trồng cỏ nuôi
bò, và nuôi cá, đạt doanh thu 100 triệu
đồng/năm trên diện tích 0,4ha
Ông Đỗ Đức Lung, Nông dân ấp Mỹ Quý, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang.
Khó khăn trong thu mua gạo theohợp đồng giữa doanh nghiệp vànông dân
Tỉnh An Giang đã triển khaihình thức hợp đồng tiêu thụsản phẩm được vài năm naytheo Quyết định 80 của Thủtướng Chính phủ, nhưng hiệuquả của những hợp đồng đó không cao vì
giá lúa trong hợp đồng bao tiêu không thuhút được nông dân Ví dụ, AFIEX ký hợp
đồng bao tiêu với nông dân trên 7.000 ha
so với chỉ tiêu trên giao là 10.000ha trong
vụ đông xuân 2004, nhưng thực tế sảnlượng thu mua chỉ đạt 5%-10% sản lượng
đã ký trong hợp đồng Hầu hết các hộ nôngdân đều thích bán tại đồng chứ không chởlúa đến bán tại kho hoặc tại các điểm tậpkết của doanh nghiệp, vì như vậy họ khôngtốn chi phí vận chuyển; ngoài ra điều kiệnthu mua của thương lái cũng linh động hơncho nông dân, như về độ ẩm: trong khidoanh nghiệp quy định độ ẩm tối đa cho
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 28phép là 16% thì thương lái có thể chấpnhận đến 18, 19%.
Ông Phạm Tấn Hòa, Trưởng phòng Kế hoạch, Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm An Giang (AFIEX).
Chất lượng gạo không đồng nhất,thiếu thương hiệu
Là một doanh nghiệp xayxát, một trong những khókhăn chúng tôi gặp phải làchủng loại lúa không đồng
đều làm ảnh hưởng đến chấtlượng xay xát (tỷ lệ lúa lép lẫn vào gạonhiều hơn, tỷ lệ hạt gãy cao hơn) và làmtăng chi phí Nông dân Việt Nam trồngnhiều giống lúa khác nhau và khi doanhnghiệp thu mua, thường loại gạo nào đạttiêu chuẩn về độ ẩm, kích thước hạt là đểchung vào xay lẫn chứ không phân loạiriêng theo giống
Tuy biết rằng nếu xay xát trực tiếp từ lúathì tỷ lệ thu hồi thành phẩm sẽ cao hơn,nhưng các nhà máy lớn không có điềukiện đi thu mua lúa trực tiếp của nông dânngay tại đồng mà chủ yếu mua gạo lứt (đã
bóc vỏ trấu tại các nhà máy vệ tinh) từthương lái để khâu vận chuyển đỡ tốn kémhơn và tiện việc kiểm tra
Ông Trần Ngọc Trung, Giám đốc Công
ty TNHH Nông sản Vinh Phát
Gạo xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là gạotrắng hạt dài, chưa có thương hiệu đểnâng cao giá trị gạo Tiêu chuẩn gạo xuấtkhẩu tập trung vào hình dáng, màu sắc,thành phần tấm, độ ẩm là chính Mặc dùhiện nay nông dân ở An Giang chỉ còndùng khoảng năm, sáu bộ giống cải tiếntheo khuyến cáo của ngành nông nghiệpnhưng do tổ chức sản xuất, thu mua vàchế biến chưa tốt, người tiêu dùng cuốicùng vẫn phải ăn loại gạo hỗn hợp hai, baloại giống Chính vì lý do đó mà giá bán
gạo Việt Nam không cao, ảnh hưởng đếnthu nhập của người nông dân
Ông Phạm Tấn Hòa, Trưởng phòng Kế hoạch, Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm An Giang (AFIEX).
Các giải pháp
Xây dựng ngành hàng gạo đặc sản
để tăng giá trị
Để giúp nông dân tăng thunhập từ lúa gạo thì nênkhuyến khích họ đa dạnghoá giống lúa chất lượngcao, khôi phục sản xuất cácgiống cổ truyền có chất lưượng được thịtrường ưa chuộng, xây dựng ngành hànggạo đặc sản để tiêu thụ ở thị trường trongnước mà chúng tôi cho là rất có tiềm năng.Việc phát triển các giống đặc sản địaphương phụ thuộc vào điều kiện sinh tháicủa từng vùng và không đòi hỏi thâm canhquá cao cho nên thích hợp với ngườinghèo Vì vậy, đây là một giải pháp giúpngười nghèo tham gia sản xuất lúa gạotránh được việc cạnh tranh với những hộquy mô lớn ở những vùng thuận lợi khi sảnxuất các giống lúa năng suất cao
Hiện nay, Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp,Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp đanggiúp phục tráng lại giống lúa Tám xoanHải Hậu nổi tiếng và tổ chức Hiệp hội sảnxuất-tiêu thụ loại gạo này Sản phẩm gạoTám xoan Hải Hậu được đảm bảo tiêuchuẩn chất lượng thông qua kiểm soát cáckhâu sản xuất và lưu thông, nhãn mác (vớimục tiêu đăng ký tên gọi xuất xứ), đã đượctiêu thụ rất tốt ở thị trường Hà Nội Mô hìnhnày cho thấy sức mua gạo đặc sản ở HàNội và các thành phố lớn là rất lớn Đồngthời mô hình này còn thu hút được sự thamgia của người nghèo ở Hải Hậu là những
hộ nông dân chỉ dựa vào sản xuất lúa
Đặc điểm của mô hình này là phải tác
26
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 29động tổng hợp trong cả khâu sản xuất vàlưu thông
Tiến sỹ Đào Thế Anh, Trưởng Bộ môn
Hệ thống Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VASI).
Nâng cao chất lượng gạo thôngqua chất lượng giống
Nhằm giúp bà con nông dân
sử dụng giống đúng chấtlượng để cho ra nông sảnhàng hoá đạt chất lượng tốthơn, giá trị cao hơn, từ năm
2000 đến nay Trung tâm Khuyến nông(TTKN) An Giang tổ chức huấn luyện kỹnăng chọn tạo giống lúa cho bà con nôngdân Khi tham gia mạng lưới này và đăng
ký ở TTKN cấp huyện, thị, nông dân cóquyền lợi là được ưu tiên mua giống lúanguyên chủng, được kỹ thuật viên nôngnghiệp hỗ trợ kỹ thuật trong suốt quá trìnhsản xuất, ngoài ra tuỳ theo từng năm còn
có thể được hỗ trợ giá giống Nông dântham gia vào các lớp tập huấn này sẽ tạothành mạng lưới sản xuất giống để cungcấp cho cộng đồng địa phương Chấtlượng giống đại trà sản xuất từ giốngnguyên chủng sẽ được Ban điều hànhgiống các cấp (tỉnh, huyện) và kỹ thuậtviên cấp xã đánh giá xem có đạt tiêuchuẩn không trước khi người nông dân
đem bán và trao đổi trên thị trường Theotổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn An Giang, đến cuối năm 2003,hơn 90% nông dân trong tỉnh đã sử dụnggiống chất lượng cao
Ông Huỳnh Hiệp Thành, Phó Giám đốc, Trung tâm Khuyến nông An Giang, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang.
Nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu Việt Nam đã đạt được mục tiêu an toànlương thực quốc gia vào năm 1993 vàthậm chí còn sản xuất dư thừa gạo để xuấtkhẩu - chủ yếu là thông qua các hợp đồng
giữa các chính phủ Mặc dù chất lượng gạoxuất khẩu đã được cải thiện trong nhữngnăm qua nhưng phần lớn số gạo xuất khẩusang các thị trường Tây Phi, In-đô-nê-xia,Phi-líp-pin và I-rắc là gạo chất lượng trungbình hoặc thấp Giá gạo ký trong các hợp
đồng xuất khẩu có khi thấp hơn chi phí vì
Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trongthương mại quốc tế và không có một chiếnlược nhằm giảm thiểu rủi ro
Việt Nam cần phải chuyển sang đa dạnghóa các mặt hàng gạo xuất khẩu để bán ởcác thị trường cao cấp hơn nếu muốncạnh tranh với các nước láng giềng trongviệc sản xuất gạo chất lượng cao Điềunày đòi hỏi phải thay đổi không chỉ côngnghệ sản xuất và xay xát mà cả kỹ năngtiếp thị, xây dựng thương hiệu sản phẩm
và tăng cường các mối liên kết trong chuỗigiá trị Những thay đổi đó sẽ tạo nên mộtchiến lược xuất khẩu gạo mang tính kinhdoanh nhiều hơn và thu hút sự tham gianhiều hơn của khu vực tư nhân trong hoạt
động xuất khẩu
Francesco Goletti, Chủ tịch Công ty tư
vấn Nông phẩm quốc tế
Nâng cao chất lượng dịch vụ và tổ chức hợp
- Trong thoả thuận tiêu thụ sản phẩmgiữa doanh nghiệp và hợp tác xã,doanh nghiệp có thể thuê cán bộkhuyến nông huấn luyện nông dân,theo dõi, đôn đốc sản xuất, đảm bảo cósản phẩm theo chất lưượng mà doanhnghiệp cần Hoặc;
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 30- Khi hợp tác xã cần vay vốn ngân hàng
để sản xuất theo hợp đồng với cácdoanh nghiệp, ngân hàng có thể thuêcán bộ khuyến nông theo dõi, giúpnông dân về kỹ thuật sản xuất để thựchiện thành công được hợp đồng vớidoanh nghiệp, như vậy là cũng giúp
đảm bảo khả năng trả được nợ ngânhàng của hợp tác xã Với vai trò này,cán bộ khuyến nông sẽ được ngânhàng chi một phần hoa hồng
Giáo sư Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang.
Thành lập các hiệp hội sản xuấtcủa nông dân
Xã Mỹ Luông đã thành lậphợp tác xã Hoà Thuận với 97xã viên tham gia góp vốn
Hợp tác xã Hoà Thuận làmcác dịch vụ như bơm, tướitiêu, cày, xới, làm đất; làm đại lý thu muabắp non từ nông dân cho nhà máy đônglạnh; đầu tư vốn cho các xã viên nuôi bòrồi chia lãi mỗi bên một nửa Lúc đầu vận
động bà con tham gia hợp tác xã cũng khókhăn vì họ nghĩ đó là hợp tác xã hay tập
đoàn sản xuất kiểu cũ, làm theo công
điểm Hiện nay mô hình hợp tác xã này
được bà con tín nhiệm, xã viên thậm chícòn muốn đóng thêm vốn để mở rộngthêm dịch vụ
Ông Đỗ Đức Lung, Nông dân ấp Mỹ Quý, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh
mà các hộ nông dân cá thể khó tự thực
hiện được Những tổ chức nông dân này
sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, nhờ đó cóthể dùng chi phí tiết kiệm được để đầu tưnâng cao chất lượng sản xuất Nhữngnông dân tham gia hiệp hội sẽ có đượcthông tin thị trường tốt hơn, được hưởng lợi
từ các dịch vụ khuyến nông, tiếp thị, tư vấn
về quản lý, thương mại; họ cũng có thểmua chung các vật tư đầu vào rẻ hơn,giảm được giá thành sản xuất, đảm bảochất lượng ổn định, đồng nhất và điều phối
được thu mua một cách chủ động hơn để
đáp ứng được các hợp đồng thương mại.Tuỳ theo mức độ chuyên môn hoá mà cáchiệp hội có thể hình thành các hợp tác xãchuyên ngành có mức độ tổ chức chặt chẽhơn
Tiến sỹ Đào Thế Anh, Trưởng Bộ môn
Hệ thống Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VASI).
Vai trò của thương lái trong ngànhhàng gạo:
Khi không thu mua được đủ sản lượng gạotrực tiếp từ nông dân theo hợp đồng,doanh nghiệp phải mua lúa thông qua hệthống thương lái Lực lượng thương lái ở
Đồng bằng sông Cửu Long rất lớn và cóvai trò rất quan trọng trong việc thu mualúa gạo Bản thân họ cũng là người nôngdân, có phương tiện để thu mua từ nôngdân, chở đến cơ sở tư nhân xay xát rồigiao gạo lứt cho doanh nghiệp Một mặtcác doanh nghiệp, nhất là các doanhnghiệp nhà nước, vẫn ký hợp đồng vớinông dân theo chỉ đạo của nhà nước (hơn
là trông chờ thu gom đủ sản lượng gạotheo hợp đồng từ họ), mặt khác vẫn thumua phần lớn lượng lúa từ bộ phận thươnglái Lực lượng thương lái này được thừanhận trên thực tế là kênh tiêu thụ lúa gạo
ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Vấn
đề là ai (cơ quan nào) sẽ quản lý lực lượngnày: doanh nghiệp hay hợp tác xã? Nếuhợp tác xã quản lý thì các hợp tác xã sẽ có
28
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 31điều kiện tăng giá trị sản phẩm của mình,
còn nếu doanh nghiệp quản lý bộ phận
này thì doanh nghiệp sẽ chủ động được
lực lượng thu mua của mình xuống tận
ruộng của người nông dân
Về lâu dài, để xuất khẩu các loại gạo “đặc
sản” hoặc gạo chất lượng cao từ giống
thuần chủng gắn với tên thương hiệu (như
Jasmine, 1490), thu mua qua thương lái
không hẳn đã tốt Khi đó, doanh nghiệp
phải tự tổ chức thu mua trực tiếp từ nông
dân thông qua các thoả thuận về đầu tư và
bao tiêu sản phẩm một cách sòng phẳng,
như vậy mới quản lý được quy trình chặt chẽ
ngay từ đầu Vấn đề này cần có sự tham gia
của nhà khoa học (chọn tạo giống) và Nhà
nước (quy hoạch vùng sản xuất)
làm vùng sản xuất nguyên liệu, tiến tới
hình thức cho xã viên mua cổ phần trong
doanh nghiệp để họ có quyền lợi ràng
buộc với doanh nghiệp và có cơ hội được
chia lợi nhuận Chúng ta đã có tiền đề tốt
về cách làm này là Công ty mía đường
Lam Sơn tại Thanh Hoá Còn hình thức ký
hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân
thì không hiệu quả vì mạnh ai nấy bán,
mạnh ai nấy mua, kết quả là cả hai bên
đều chịu thiệt thòi
Mối liên kết giữa ba nhà bao gồm nhà
nước, nhà doanh nghiệp và nhà nông cần
phải bền vững như kiềng ba chân Nhànước phải có chính sách để doanh nghiệpgắn với hợp tác xã Khi mối quan hệ chặtchẽ giữa doanh nghiệp với hợp tác xã đã
được thiết lập, doanh nghiệp phải đưa cán
bộ kỹ thuật xuống giúp nông dân sản xuất,cho họ vay tiền để ứng dụng kỹ thuật Cácnhà khoa học sẽ cung cấp những kỹ thuậtmới nhất cho doanh nghiệp và hợp tác xã,
và các ngân hàng sẽ cung cấp tín dụngcho nông dân để ứng dụng kỹ thuật, pháttriển sản xuất
Giáo sư Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang.
ý kiến người tiêu dùng: Sẵn sàngmua gạo ngon với giá cao hơn
Đối với gạo cũng như cácmặt hàng thực phẩm nóichung, tiêu chuẩn quantrọng nhất là an toàn, vệsinh và chất lượng sảnphẩm Người tiêu dùng đều biết rằng để
có được sản phẩm có chất lượng cao, đảmbảo vệ sinh thì giá thành phải cao hơn
Bản thân tôi rất mong muốn được muanhững loại gạo chất lượng cao và sẵnsàng chấp nhận mua với giá cao hơn nếugạo đó thực sự ngon Tuy nhiên, chấtlượng gạo bán trên thị trường hiện nay lạikhông được đảm bảo và trên thực tế, gạogiá cao không chắc đã là gạo ngon Nhiềukhi giá gạo bị đẩy lên để người bán kiếmlợi chứ thu nhập của người nông dânkhông hề tăng lên, còn người tiêu dùngphải trả nhiều tiền mà vẫn không thể mua
được loại gạo “tiền nào của đấy” Tôi chưatìm được một loại gạo nào vừa ý trên thịtrường vì bây giờ chỉ toàn gạo trộn, không
rõ xuất xứ, chọn mua loại nào hoàn toàndựa vào sự chào hàng của người bán lẻchứ không thấy có một cửa hàng hay công
ty bán gạo nào đủ độ tin cậy đối với ngườitiêu dùng Gạo Việt Nam cần phải cóthương hiệu và có uy tín về chất lượng,
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 32không chỉ vì mục tiêu xuất khẩu mà còn đểtiêu dùng trong nước Người Việt Nam cóquyền được tiêu dùng loại gạo có chấtlượng cao mà họ biết rõ nguồn gốc, tiêuchuẩn và chính họ sẽ là những người tiếpthị cho gạo Việt Nam ở cả thị trường trong
nước và nước ngoài
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chi, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Người tiêu dùng Nữ, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 33Bối cảnh chung
Trong phạm vi bản tin này, hợp đồng sảnxuất nông nghiệp được hiểu là thoả thuậngiữa người nông dân và người chế biến đểsản xuất và cung ứng các sản phẩm nôngnghiệp với khối lượng, chất lượng và mứcgiá định trước Chức năng chính của hợp
đồng là tạo cơ sở để xây dựng mối quan
hệ hợp tác giữa người nông dân và ngườichế biến Hợp đồng là cơ sở cho hai bêncùng tham gia quyết định, chia sẻ rủi ro vàlợi ích trong quá trình sản xuất nôngnghiệp
Hình thức hợp đồng thường được vậnhành tốt hơn đối với những thị trường ổn
định, có yêu cầu cao về chất lượng sảnphẩm và cần có sự điều phối trong chuỗigiá trị Nếu sản xuất kém chuyên môn hoá
và sản phẩm ít tính đặc thù, mô hình hợp
đồng có thể sẽ không hiệu quả bằng cácphương thức mua bán khác trên thị trường,vì chi phí giao dịch sẽ tăng do phải điều
phối nhiều nhà sản xuất nhỏ Do đó, đểmô hình hợp đồng có thể hoạt động hiệuquả, cần phải cân bằng việc tham gia,
điều hành và tổ chức giữa các bên trongchuỗi giá trị3
Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ở Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ởViệt Nam mới chỉ phát triển gần đây Tuynhiên, khi ngành chế biến sản phẩm nôngnghiệp ngày càng thương mại hoá thì
càng cần có hệ thống hợp đồng sản xuấtnông nghiệp để các công ty lớn có thể liênkết chặt chẽ hơn với những hộ nông dânsản xuất nhỏ
Chính phủ Việt Nam cũng khuyến khíchmô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp
đồng, ví dụ Quyết định 80/2002/TTg của
Hợp đồng là một cơ chế quan trọng để điều phối việc sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, là công cụ gắn kết giữa các chủ thể của một chuỗi giá trị 2 Hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hoá và thương mại hoá nên chuỗi giá trị nông nghiệp sẽ ngày càng trở nên quan trọng Với vai trò là cơ chế của quá trình này, hợp đồng sản xuất nông nghiệp cũng sẽ ngày càng trở nên cần thiết và phổ biến trong ngành nông nghiệp Việt Nam.
Sản xuất nông nghiệp theo hợp
người nông dân với thị trường
2 Chuỗi giá trị được định nghĩa là “Một chu trình các hoạt động sản xuất hoặc dịch vụ kể từ giai đoạn sáng chế, qua các quá trình sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như xử lý phế thải” (Kaplinsky, 2000).
3 Williamson, Oliver (1989) “Kinh tế học về chi phí giao dịch,” trong R Schmalensee và R.D Willig (eds.), Sổ tay về
tổ chức ngành, tập 1, Amsterdam: NXB Khoa học Elsevier B.V., trang 136-182.
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 34Thủ tướng Chính phủ (về khuyến khích tiêuthụ nông sản hàng hoá giữa các doanhnghiệp với nông dân thông qua ký kết hợp
đồng) Chính sách này còn thể hiện qua sự
hỗ trợ của Chính phủ đối với mô hình hợptác xã kiểu mới để có thể liên kết các hộsản xuất nhỏ một cách hiệu quả
Kể từ khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực năm
1997, một số lượng lớn hợp tác xã theo mô
hình “mới” đã ra đời, và nhiều hợp tác xã
cũ đã được chuyển đổi Tuy nhiên, phầnlớn các hợp tác xã, cả mới lẫn cũ, đều vẫnchủ yếu tập trung giải quyết vấn đề đầuvào và cung cấp các dịch vụ cho việc sảnxuất của người nông dân chứ chưa chútrọng đến việc tìm thị trường cho đầu ra Vì
vậy, để đóng vai trò tốt hơn trong việc hỗtrợ người nông dân tham gia vào chuỗi giá
trị và hợp đồng, các hợp tác xã cần phảitập trung nhiều hơn nữa vào việc tìm thịtrường cho đầu ra
Một trong những mô hình sản xuất nôngnghiệp theo hợp đồng hiện đang phát triển
ở Việt Nam là mô hình “hợp đồng hai cấp”,tức là một công ty chế biến sẽ ký hợp đồngvới một tổ chức đại diện cho nông dân (ví
dụ như hợp tác xã) và sau đó tổ chức đạidiện đó sẽ ký hợp đồng với từng thành viên
Là một mô hình khá mới, sản xuất nôngnghiệp theo hợp đồng cũng có nhữngtrường hợp thành công và không thànhcông Bản tin này tập trung vào những vấn
đề mấu chốt liên quan tới mô hình sản xuấtnông nghiệp theo hợp đồng để đưa ra một
số bài học góp phần phát triển thành côngmô hình này ở Việt Nam trong tương lai
Những vấn đề chính
Bốn vấn đề chính sẽ ảnh hưởng tới việctriển khai thành công mô hình sản xuấtnông nghiệp theo hợp đồng trong tương lai
ở Việt Nam bao gồm:
i) mối quan hệ rõ ràng và chặt chẽ giữacác bên trong hợp đồng sẽ giúp sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng thànhcông hơn,
ii) nông dân tham gia sản xuất nôngnghiệp theo hợp đồng thông qua một tổchức đại diện sẽ hiệu quả hơn,
iii) sản xuất nông nghiệp theo hợp đồngkhông phải là mô hình phù hợp cho tấtcả các loại sản phẩm và ở mọi hoàncảnh,
iv) phương thức hợp đồng cần phải phùhợp với điều kiện của các bên
Mối quan hệ rõ ràng và chặt chẽ giữa các bên trong hợp đồng sẽ giúp sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng thành công hơn
Quan hệ chặt chẽ giữa các bên trong hợp
đồng là điều kiện thiết yếu đảm bảo sựthành công của hợp đồng Quan hệ nàythể hiện quan hệ hợp tác và các điều kiện
ưu đãi trong hợp đồng
Quan hệ hợp tác - Quan hệ hợp đồng
phải được coi là quan hệ hợp tác giữa cácbên tham gia, chứ không phải là quan hệcạnh tranh, hay quan hệ bóc lột giữa bênnày đối với bên kia Chỉ khi nào xây dựng
được lòng tin cao độ giữa các bên thamgia hợp đồng thì mối quan hệ này mới cóthể duy trì lâu bền Loại hình quan hệ nàythường vượt ngoài khuôn khổ quan hệthương mại thuần tuý mà bao gồm cả cácmối quan hệ xã hội
Xây dựng quan hệ hợp tác tốt với các tổchức không tham gia trực tiếp vào hợp
đồng, ví dụ như chính quyền địa phương,các ban quản lý và tổ chức quần chúngcũng có vai trò rất quan trọng đối với sựthành công của hợp đồng sản xuất nôngnghiệp Mối quan hệ chặt chẽ sẽ hỗ trợ việcthực thi các điều khoản trong hợp đồng
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 35Nhiều phân tích đã chỉ ra rằng cần có “cơ
chế thực thi mạnh” trong vấn đề hợp đồng,nhưng trên thực tế nếu quan hệ hợp đồngtồn tại chỉ vì có “cơ chế thực thi mạnh” thì
rõ ràng mối quan hệ hợp tác giữa các bêntrong hợp đồng không được tốt lắm
Các ưu đãi – Các điều kiện ưu đãi trong
hợp đồng thường liên quan chặt chẽ đếnquan hệ hợp tác Để quan hệ hợp đồngtồn tại và phát triển trong tương lai trunghạn và dài hạn, các bên đối tác đều cầnphải dành cho nhau một số ưu đãi nhất
định để khuyến khích quan hệ hợp đồngphát triển Điều này có nghĩa là các bên
đều phải được hưởng lợi từ mối quan hệhợp đồng Mức thanh toán và các điềukiện đàm phán phải hấp dẫn đối với cả
người mua và người bán và rủi ro phải
được chia sẻ công bằng
Một hình thức ưu đãi khác là chia sẻ quyền
sở hữu và đồng nhất lợi ích của cả hai bên,
đãi cho mối quan hệ hợp tác sẽ không tồntại lâu dài
Nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng thông qua một tổ chức đại diện sẽ hiệu quả hơn
Để nhiều hộ nông dân (dù hộ sản xuất lớnhay nhỏ) được tham gia vào chuỗi giá trị vàcùng nhau xử lý mọi tình huống trong quá
trình sản xuất theo hợp đồng một cáchhiệu quả, cần phải có một loại hình tổ chứcnào đó Tổ chức này là “cơ quan tối cao”
của đông đảo các hộ nông dân, đại diệncho lợi ích của họ, thay mặt nông dân kýkết hợp đồng và điều phối hoạt động
Tại Việt Nam, có nhiều hình thức tổ chứcchính thức và không chính thức của nôngdân như nhóm nông dân, “câu lạc bộ”
để hoạt động vì lợi ích của các thành viên
ở Việt Nam, việc tổ chức những hộ nôngdân sản xuất nhỏ có vai trò đặc biệt quantrọng Dù ngành nông nghiệp đang hiện
đại hoá và thương mại hoá nhưng sảnxuất nông nghiệp chủ yếu vẫn do những
hộ sản xuất nhỏ đảm nhận Cách duy nhất
để những hộ sản xuất nhỏ này tham giatích cực và hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị
đang ngày càng được thương mại hoá vàtoàn cầu hoá là họ phải được tổ chức và
điều phối chặt chẽ hơn
Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng không phải là mô hình phù hợp cho tất cả
các loại sản phẩm và ở mọi hoàn cảnh
Điều quan trọng cần phải lưu ý là mô hìnhsản xuất nông nghiệp theo hợp đồngkhông phù hợp với tất cả các loại sảnphẩm nông nghiệp Nhìn chung, mô hìnhnày sẽ hoạt động tốt hơn đối với các sảnphẩm đặc thù
Đối với các sản phẩm không đặc thù thì
chi phí tổ chức chuỗi giá trị để sử dụng mô
hình hợp đồng sẽ cao hơn so với chi phígiao dịch thị trường bình thường Nếu sản
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 36phẩm đó có tính đặc thù với yếu tố chấtlượng và chế biến đóng vai trò quan trọngthì cần có sự điều phối nhiều hơn và khi đómô hình hợp đồng có thể sẽ hữu ích hơn
Điều này có thể thấy rõ qua thực trạng sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng ở ViệtNam Chỉ một tỷ lệ nhỏ các hợp đồng sảnxuất những nông sản không đặc thù (ví dụnhư những mặt hàng gạo thông dụng) làthành công Trong khi đó, phần lớn hợp
đồng sản xuất nông nghiệp đối với cácsản phẩm đặc thù như gạo Nhật Bản hayngô bao tử (bắp non) đều được thực hiệnthành công
Do vậy, không thể áp dụng mô hình sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng cho tấtcả các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam
Hợp đồng không phải là công cụ liên kếtthị trường có thể áp dụng đối với tất cả cácloại hàng hoá, cũng như với tất cả nôngdân ở mọi địa phương Việc quyết định có
áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệptheo hợp đồng hay không cần phải dựavào điều kiện thực tế tại từng địa phương
Phương thức hợp đồng cần phải phù hợp với điều kiện của các bên
Phương thức hợp đồng cũng cần phải phùhợp với điều kiện của các bên Đối với hợp
đồng giữa hợp tác xã và hộ nông dân (cóthể là hợp tác xã ký hàng ngàn hợp đồngnhư vậy mỗi năm) thì hợp đồng càng đơngiản càng tốt
ở Việt Nam, việc ký kết hợp đồng sẽ hiệuquả và dễ thành công hơn nếu hợp đồng có
điều khoản rõ ràng quy định thời điểm cóthể thảo luận lại các điều kiện hợp đồng
Những thời điểm này có thể là: trước khihợp đồng có hiệu lực, 2 tuần trước khi thuhoạch và khi thu hoạch Điều khoản như
vậy sẽ cho phép quan hệ hợp đồng linhhoạt hơn và giảm khả năng phá hợp đồng
Hợp đồng nên có những điều khoản mangtính ưu đãi để tạo động lực thu hút cả hai
bên tham gia hợp đồng, đặc biệt là các
điều khoản về giá cả và thanh toán Trongbối cảnh Việt Nam, người nông dânthường thích nhận tiền mặt hơn, vì thế,
điều khoản thanh toán bằng tiền mặt sẽkhuyến khích người nông dân thực hiện
đúng hợp đồng Trong nhiều trường hợp,các điều khoản quy định giá linh hoạt – cóthể là giá thị trường cộng thêm phần trăm
ưu đãi nào đó - sẽ khuyến khích ngườicung cấp giữ đúng cam kết thực hiện hợp
đồng Cuối cùng, hợp đồng phải côngbằng và chia sẻ rủi ro cho tất cả các bên
Kết luận
Rõ ràng là mô hình sản xuất nông nghiệptheo hợp đồng sẽ đóng vai trò ngày càngquan trọng trong ngành nông nghiệp ViệtNam Để đảm bảo lợi ích của mô hình này
được chia sẻ công bằng cho tất cả cácbên tham gia thì hợp đồng cần được xâydựng trên một mối quan hệ hợp tác chặtchẽ, sự tổ chức hiệu quả và sử dụngphương thức hợp đồng phù hợp
Một điều quan trọng khác cần lưu ý là sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng phải là tựnguyện và dựa trên nhu cầu của các bên.Mô hình này không phải là cách duy nhấtliên kết người nông dân và người chế biến.Một mô hình liên kết nhất định luôn phụthuộc vào điều kiện về con người và môitrường cũng như đặc điểm riêng của mỗi
địa phương
Thảo luận
* Mối quan hệ rõ ràng và chặt chẽgiữa các bên trong hợp đồng sẽgiúp sản xuất nông nghiệp theo hợp
đồng thành công hơnTheo tôi, mấu chốt để việc sản xuất nôngnghiệp theo hợp đồng diễn ra suôn sẻ,thành công và hiệu quả chính là ở sự tincậy lẫn nhau giữa nhà máy và nông dân,
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 37nhà máy phải thực sự coinông dân là ‘người nhà”,hiểu rằng lợi ích của nhàmáy luôn gắn chặt với lợi íchcủa nông dân, rằng nôngdân ở thế yếu thì càng cần phải giúp đỡnông dân Với nhận thức đó, Lam Sơn đã
trực tiếp cùng nông dân tháo gỡ ba cái khótrong sản xuất là vốn, kiến thức khoa học
kỹ thuật và đầu ra cho nông sản Theo tôi,chỉ khi nào thực sự tự nguyện và nhiệt tình
hỗ trợ, đầu tư cho nông dân, lăn lội và gắn
bó cùng nông dân thì nhà máy mới có thể
đạt được lợi ích cuối cùng cho chính mình
Ngược lại, phía người nông dân sẽ yêntâm sản xuất, nhận thức được sự gắn bóvới nhà máy để từ đó xây dựng ý thức bảo
vệ nguyên liệu và chỉ cung cấp cho nhàmáy mà thôi
Ông Lê Văn Tam, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Mía đường Lam Sơn
Theo tôi, để có thể thúc đẩyviệc sản xuất nông nghiệptheo hợp đồng, điều quantrọng nhất là phải tạo niềmtin giữa nông dân với công tybằng cách công ty ứng trước một khoảnvốn cho nông dân sản xuất, tạo ra sự ràngbuộc nhất định giữa hai bên để đảm bảo
sự cam kết thực hiện hợp đồng của Công
ty Nếu chỉ ký hợp đồng rồi để đấy, không
có sự ràng buộc về quyền lợi thì một tronghai bên sẽ có xu hướng phá vỡ hợp đồngkhi thấy có lợi cho mình Đặc biệt, cáchnghĩ của nông dân là một khi không nợ nầngì với công ty thì việc phá vỡ hợp đồng sẽchỉ đơn giản là một sự thất hứa chứ hai bênkhông bị mất mát gì và cũng chẳng thểthưa kiện được nhau
địa phương đứng ra xácnhận và giám sát việc thựchiện hợp đồng Thực tế,người nông dân rất cần vốn để đầu tư muagiống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
mở rộng sản xuất…
Ông Đỗ Quý Hạo, Nông dân tỉnh Kiên Giang
Hợp đồng giữa hợp tác xã với các xã viên
có quy định các điều khoản ràng buộc vàtrách nhiệm của các bên nếu không thựchiện hợp đồng, song thông thường thì hợptác xã không căn cứ hợp đồng để thưa kiệnnông dân khi họ phá vỡ hợp đồng, mà chỉdùng biện pháp thuyết phục, vận động
Ông Nguyễn Văn Đảm, Chủ tịch HTX Hoà Thuận, tỉnh An Giang
* Nông dân tham gia sản xuất nôngnghiệp theo hợp đồng thông quamột tổ chức đại diện sẽ hiệu quả hơn
Do một công ty không thểtrực tiếp ký hợp đồng vớihàng ngàn hộ nông dân đểbao tiêu sản phẩm nên hợptác xã hoặc bất kỳ tổ chứccủa nông dân nào khác với tư cách làngười đại diện cho nông dân để thoả thuận
và ký kết hợp đồng với công ty có vai tròhết sức cần thiết và quan trọng Tuỳ theonăng lực về vốn, trình độ khoa học kỹ thuật
và quản lý mà hợp tác xã có thể hỗ trợ chonông dân trong sản xuất nói chung vàtrong việc ký kết hợp đồng bao tiêu sảnphẩm nói riêng Bên cạnh hợp tác xã thì
liên minh hợp tác xã đóng vai trò cầu nối,cung cấp thông tin về mùa vụ, thị trườngnông sản, nhu cầu doanh nghiệp…, tư
vấn, hỗ trợ và tạo điều kiện tiếp cận chohợp tác xã và công ty để tìm hiểu và thỏathuận hợp đồng bao tiêu
Ông Mai Thanh Hùng, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Đồng Tháp
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 38Theo kinh nghiệm của Lam Sơn thì mộthình thức liên kết hợp tác để củng cố móiliên kết nhà máy – nông dân rất hiệu quả
là tổ chức Hiệp hội Mía đường Lam Sơnvới sự tham gia của cả hai phía nông dân
và nhà máy Với điều lệ, quy chế hoạt
động rõ ràng, hiệp hội này đóng vai tròtrung gian quan trọng trong việc đảm bảoquyền lợi cho nông dân, để nông dânkhông bị “lép vế” trong việc thương thảo
và ký kết hợp đồng với nhà máy Trongquá trình thực hiện hợp đồng, nếu phátsinh vướng mắc về bất cứ điều khoản nàothì hiệp hội sẽ đại diện cho nông dân đề
đạt nguyện vọng với nhà máy Một vai trònữa hết sức quan trọng của hiệp hội là sửdụng quỹ phòng chống rủi ro của mình để
đảm bảo đời sống và thu nhập cho nôngdân khi thị trường đường có biến độnghoặc xảy ra thiên tai làm ảnh hưởng sảnlượng mía Hiệp hội gây quỹ từ đóng gópcủa cả nông dân và nhà máy Cụ thể, khigiá đường lên cao, nông dân trích tiền bánmía đóng góp cho quỹ, và nhà máy cũng
đóng góp một khoản tương đương trích từlợi nhuận Quỹ này sẽ được sử dụng để bù
đắp cho nông dân mỗi khi giá mía xuốngthấp để nông dân không bị thiệt thòi vàyên tâm sản xuất vụ mùa sau Thực tế chothấy quỹ đã phát huy tác dụng rất tích cựcvào nhiều vụ mía đường như năm 1992,
1993, 1995, 1997…
Ông Lê Văn Tam, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Mía đường Lam Sơn
Trước đây, công ty ký hợp
đồng thu mua bắp non với11.000 hộ nông dân thì naychỉ còn 15 hợp đồng ký vớicác hợp tác xã và đại diện
hộ nông dân (thương lái) Việc ký hợp
đồng qua các hợp tác xã giúp công ty tiếtkiệm chi phí quản lý, giao dịch, tạo đượcvùng nguyên liệu ổn định và tạo cơ sở đểlàm ăn có lãi
Ông Huỳnh Quang Đấu, Giám đốc Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp
An Giang ANTESCO
Vai trò của hợp tác xã trongviệc sản xuất theo hợp
đồng, theo tôi là hết sứcquan trọng Thực tế việcthực hiện hợp đồng khôngthành giữa công ty Antesco và bà connông dân trước đây cho thấy công tykhông thể đủ điều kiện và năng lực để kýkết trực tiếp với từng hộ nông dân, giámsát quá trình sản xuất, kiểm tra chất lượng
và thu mua hàng của từng hộ nông dân.Ngược lại, kể từ khi hợp tác xã Hoà Thuận
ra đời và đứng ra đại diện bà con ký kếthợp đồng với Antesco thì quá trình sảnxuất và thu mua diễn ra suôn sẻ, sảnlượng thu mua tăng đều từng năm Hợptác xã giúp đỡ ứng tiền mua cho nông dâncác dịch vụ đầu vào như giống, tưới tiêu vàchỉ khấu trừ khi thu mua nông sản vàocuối vụ Trong lúc thu mua, hợp tác xã lạimua hết hàng cho nông dân chứ không bỏlại loại xấu như thương lái hay công ty,cũng không ép nông dân trong việc đánhgiá chất lượng sản phẩm
Nguyễn Văn Đảm, Chủ tịch HTX Hoà Thuận, tỉnh An Giang
Trên cơ sở khả năng sản xuất một mặthàng nông sản cụ thể của bà con nôngdân, hợp tác xã đại diện cho bà con đi tìmthị trường cho sản phẩm đó, cụ thể là đi tìmkiếm và đặt vấn đề ký kết hợp đồng baotiêu với các công ty, thỏa thuận chi tiết các
điều khoản về quy cách chất lượng, sảnlượng, giá cả, các điều kiện ràng buộc…của hợp đồng Sau khi đã ký kết được hợp
đồng với công ty, hợp tác xã về địa phương
ký hợp đồng mua nông sản với từng hộnông dân Hợp tác xã đóng vai trò trunggian trong việc thực hiện hợp đồng baotiêu giữa bà con với công ty, cụ thể là tổchức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, cungcấp giống, kiểm tra chất lượng sản phẩm,mua và giao sản phẩm cho nông dân
Ông Nguyễn Văn Mười, Chủ nhiệm HTX Bình Tây Tỉnh Tiền Giang
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 39Do hiểu biết của nông dân còn hạn chế nênnếu trong hợp đồng có những điều khoảnkhông công bằng hoặc không có lợi chonông dân thì họ chỉ biết từ chối không kýhợp đồng chứ không có khả năng đề xuất
và thỏa thuận các điều khoản hợp lý hơn,
do đó rất khó tìm được tiếng nói chung giữacông ty và người nông dân Vì vậy cần cómột tổ chức trung gian đại diện cho nôngdân đứng ra đàm phán hợp đồng
Ông Trần Hữu Dư, Nông dân tỉnh An Giang
* Sản xuất nông nghiệp theo hợp
đồng không phải là mô hình phùhợp cho tất cả các loại sản phẩm
và ở mọi hoàn cảnh
Hợp đồng nông nghiệp ở AnGiang được áp dụng chủyếu với bốn loại nông sản làlúa đặc sản, lúa chất lượngcao, bắp non và cá Trong
đó, hợp đồng sản xuất các loại “đặc sản”
như lúa thơm và bắp non được thực hiệntốt hơn do các điều khoản được quy định
rõ ràng, chặt chẽ, có mức giá cố định vàbiện pháp chế tài cụ thể Khi sản xuất sảnphẩm đặc sản, nông dân khó tiêu thụ nơikhác nên phải tuân thủ hợp đồng để giữ
quan hệ lâu dài với các công ty kinhdoanh Ngoài ra, các sản phẩm đặc sảnthường có nhãn hiệu hàng hóa, chất lượng
ổn định và giá cả ít biến động Khi thamgia hợp đồng sản xuất đặc sản, nông dân
được thoả thuận với công ty thu mua vềgiá cả trước khi ký hợp đồng và thường
được công ty cung cấp giống và hỗ trợ kỹthuật Các loại hợp đồng nông sản khácthường có kết quả thực hiện không cao
Nguyên nhân là hợp đồng không quy địnhgiá cụ thể mà chỉ thỏa thuận sẽ mua theogiá thị trường Như vậy, những hợp đồngnày giống như biên bản ghi nhớ chứ chưaphải là hợp đồng kinh tế theo đúng nghĩa
Một nguyên nhân nữa làm cho tính thực thicủa hợp đồng không cao là do đa số nông
sản xuất khẩu chưa có thương hiệu và giá
cả không ổn định nên khó có thể ký đượchợp đồng với “giá chết” Nếu nông sản cóthương hiệu thì liên kết giữa nhà kinhdoanh và nhà sản xuất sẽ chặt chẽ hơn để
đảm bảo chất lượng sản phẩm, giữ uy tínlàm ăn lâu dài
Ông Đoàn Ngọc Phả, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang
Các doanh nghiệp hiện chủyếu buôn bán gạo không rõnguồn gốc xuất xứ nênkhông tạo được uy tín và cótrách nhiệm với chất lượngcủa chính sản phẩm kinh doanh của mình
Do vậy, động lực để liên kết, ràng buộcgiữa doanh nghiệp với nông dân là rấtyếu, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp cóthể thu mua gạo ở bất kỳ đâu nên khôngcần phải ký trước hợp đồng Song nếudoanh nghiệp chủ trương ký hợp đồng baotiêu với nông dân để hai bên cùng sảnxuất và kinh doanh mặt hàng đảm bảochất lượng, có thương hiệu thì lợi nhuậnmang lại cho cả hai bên sẽ cùng tăng lên,
sự liên kết sẽ chặt chẽ, hiệu quả và lâubền hơn Trường hợp của Công ty liêndoanh Kitoku ký hợp đồng sản xuất vàbao tiêu sản phẩm gạo Jasmine là một ví
dụ điển hình về sự liên kết này Do vậy, cóthể nhận thấy sản xuất theo hợp đồng sẽphát huy tác dụng cao nhất khi mặt hàngsản xuất và bao tiêu là mặt hàng chuyênbiệt và đã có thương hiệu
Nguyễn Trí Khiêm, Chủ nhiệm Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Đại học
An Giang
Một đặc điểm tạo thuận lợi cho việc thựchiện hợp đồng với nông dân là sản phẩmcủa chúng tôi rất đặc trưng, chỉ có thể tiêuthụ ở Nhật nên không gặp phải tình trạngnông dân phá vỡ hợp đồng Kinh nghiệmcủa chúng tôi cũng cho thấy mô hình này
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
Trang 40đã thu hút được sự tham giacủa nông dân nghèo do họkhông phải cạnh tranh vềnăng suất và sản lượng vớinông dân giàu Thậm chínông dân nghèo ít đất khi tham gia hợp
đồng với công ty thường đạt chất lượngsản phẩm tốt hơn do họ có thể tự chămsóc kỹ lúa kỹ hơn những nông dân nhiều
đất phải thuê mướn nhân công
Ông Shinichi Emori, Cố vấn Cao cấp Công ty Liên doanh Angimex-Kitocu
* Phương thức hợp đồng cần phảiphù hợp với điều kiện của các bênVào khoảng những năm 89, 90, các điềukhoản hợp đồng giữa Công ty và bà connông dân còn khá đơn giản, chưa có sự xácnhận của chính quyền địa phương Dầndần, chúng tôi xây dựng một mẫu hợp đồngchặt chẽ hơn, bao gồm các điều khoản cơ
bản như diện tích gieo trồng, vấn đề giống,thời gian thu hoạch, giá cả thoả thuận,trách nhiệm của các bên… và hợp đồngnào cũng có sự xác nhận và giám sát việcthực hiện của chính quyền địa phương
Ông Lê Văn Tam, Chủ tịch HĐQT Công
ty Mía đường Lam Sơn
Hợp đồng ký giữa công ty và người đạidiện nông dân của các xã gần khu vựcnhà máy quy định rõ diện tích trồng lúa,giá mua của công ty, các tiêu chuẩn về kỹthuật và chất lượng, quyền và nghĩa vụcủa mỗi bên Người đại diện sẽ đượchưởng hoa hồng theo số lượng lúa báncho công ty Giá lúa ký trong hợp đồng
được xác định theo thời vụ và thông báorộng rãi cho nông dân và người đại diện
Vì vậy, người đại diện có thông tin đểquyết định có ký hợp đồng với công ty haykhông và người nông dân cũng yên tâmsản xuất Sau đó, nông dân mỗi xã muốntham gia sản xuất lúa Nhật sẽ đăng ký vớingười đại diện của xã mình (mỗi người đạidiện phụ trách không quá 60 nông dân) và
người đại diện sẽ thỏa thuận trực tiếp với
họ về giá cả và các điều kiện khác Công
ty sẽ cung cấp giống cho nông dân thôngqua người đại diện và cử cán bộ kỹ thuậtcủa mình xuống hướng dẫn nông dânngay tại ruộng Đến mùa thu hoạch, công
ty mua hết sản lượng, ngay cả lúa phẩmchất kém cũng được mua với mức giá thấphơn theo thỏa thuận với nông dân
Ông Shinichi Emori, Cố vấn Cao cấp Công ty Liên doanh Angimex-Kitocu
Trong số các hợp tác xã cung cấp nguyênliệu cho công ty, Antesco đã ký hợp đồngmua bắp non với hợp tác xã nông nghiệpHòa Thuận tại huyện Chợ Mới, tỉnh AnGiang được ba năm Theo hợp đồng này,hợp tác xã sẽ trồng 400 ha bắp non mỗinăm, giá thu mua được xác định ngay từ
đầu vụ và công ty sẽ bán chịu giống chohợp tác xã rồi trừ tiền giống sau khi muasản phẩm Sau khi ký hợp đồng với công
ty, hợp tác xã sẽ ký hợp đồng riêng với cácxã viên của mình, cung cấp giống cho họcũng theo hình thức bán chịu và phải đảmbảo để nông dân bán bắp cho hợp tác xãchứ không bán ra thị trường tự do Công ty
đồng Trong hợp đồng có ghi rõ điềukhoản là hai bên sẽ có 3 lần để thoả thuậnlại giá thu mua vào thời điểm sắp thuhoạch sao cho sát với giá thị trường Nếusau 3 lần thỏa thuận vẫn không thànhkhiến hợp đồng không thể thực hiện được,hợp tác xã sẽ đứng ra giúp nông dân bán
PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com