Kế toán tiêu thụ và kết quả hoạt động kinh doanh tại Hợp tác xã Thương mại - Dịch vụ
Trang 1Kế toân tiíu thụ
vă kết quả kinh
doanh
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước
ta dần dần chuyển hướng ngày càng năng động hơn, đồng thời nó cũng tạo
ra một môi trường cạnh tranh gay gắt Các doanh nghiệp chuyển từ thế thụ động sang chủ động tự chủ chịu trách nhiệm trong kinh doanh Trong môi trường đó, vị trí người sản xuất và người tiêu dùng trong quan hệ mua bán thay đổi từ chỗ sản xuất quyết định tiêu dùng sang tiêu dùng quyết định sản xuất Khách hàng từ vị trí lệ thuộc vào người bán hàng :a4
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, cùng với nó là nhu cầu tiêu dùng thường xuyên thay đổi Chính vì vậy việc nghiên cứu và phát triển công tác tiêu thụ sản phẩm là vấn đề bức thiết đối với các HTX, giúp HTX đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng và thường xuyên thay đổi của thị trường
Trang 2Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện để phát triển trong một cơ chế kinh tế thị trường đầy biến động, có sự điều tiết và quản lý của Nhà nước, trong đó các doanh nghiệp thực sự là người chủ hoạt động sản xuất kinh doanh, có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tự chủ trong tài chính, phải tạo ra vốn để đảm bảo công tác sản xuất kinh doanh.
Để tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt thì mỗi doanh nghiệp phải tự xác định cho mình một chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lý và sử dụng các phương tiện công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả để điều hành các hoạt động kinh doanh Trong đó phải kể đến công tác hạch toán kế toán Đây là một công cụ quản lý kế toán quan trọng, nó có vai trò tích cực trong công việc quản lý và kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải hoạt động một cách năng động, phát huy hết khả năng mà doanh nghiệp có được
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, hầu hết trên 40 HTX trên địa bàn thành phố Huế đều bị xoá bỏ do thiếu chủ động cùng với sức cạnh tranh kém HTX TM-DV Vĩnh Lợi tồn tại, đứng vững và phát triển đến ngày nay là nhờ tìm ra được hướng đi đúng, có sự chuyển đổi hợp lý trong quá trình hoạt động kinh doanh đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Đặc biệt HTX đã giải quyết tốt bài toán nan giải mà hầu hết các HTX TM-DV đều gặp phải, đó chính là công việc tiêu thụ hàng hoá Mặt hàng kinh doanh chủ yếu là các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, HTX cùng với Công ty thương mại TT Huế thực hiện chức năng TM-DV đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
Tuy nhiên, để HTX TM-DV Vĩnh Lợi khẳng định được vai trò và vị thế của mình trên thị trường cũng như để phát triển mô hình HTX TM- DV thì chúng ta cần nghiên cứu tình hình hoạt động của HTX mà đặc biệt là hoạt động tiêu thụ của ưHTX TM- DV Vĩnh Lợi
Trang 3Xuất phát từ đó, em đã chọn đề tài “Kế toán tiêu thụ và kết quả hoạt động kinh doanh tại HTX TM-DV” làm đề tài thực tập của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu, đánh giá được tình hình hoạt động tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động kinh doanh của HTX TM-DV Vĩnh Lợi qua các năm 2005- 2006 được tiến hành ra sao, hiệu quả như thế nào? những chính sách và biện pháp mà HTX đã sử dụng Đồng thời qua đó đánh giá tiềm lực phát triển của HTX Trên cơ sở đó đề ra giải pháp phát triển đối với HTX
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình hạch toán tiêu thụ và kết quả hoạt động kinh doanh ở HTX
TM - DV Vĩnh Lợi
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt đề tài này em đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, cân đối kế toán, đối ứng tài khoản
- Phương pháp biểu đồ, sơ đồ
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của chuyên đề này đi sâu xem xét, nghiên cứu và phản ánh công tác kế toán tiêu thụ và kết quả hoạt động kinh doanh tại HTXTM-DV Vĩnh Lợi chứ không đề cập đến các phần hành kế toán khác
Ngoài ra còn xem xét một số báo cáo và kết quả hoạt động kinh
doanh và bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp qua hai năm 2005-2006
Trang 4
-CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANHTRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
2.1 Những vấn đề chung về hạch toán tiêu thụ trong doanh nghiệp thương mại:
2.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm:
- Tiêu thụ sản phẩm là quá trình đưa hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng thông qua phương thức mua bán
- Mua bán là quan hệ trao đổi, giao dịch giữa người bán và người mua Trong đó người bán nhận quyền sở hữu về tiền tệ nhưng mất quyền sở hữu về hàng hoá, ngược lại người mua được quyền về hàng hoá và mất quyền sở hữu tiền tệ
2.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thương mại:
Ở các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tại và phát triển của doanh nghiệp đó Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó được người tiêu dùng chấp nhận thoả mãn nhu cầu nào đó Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ
Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp
Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất và người tiêu dùng, nó giúp cho các nhà sản xuất hiểu thêm kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của khách hàng
Về phương tiện sản xuất thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với
Trang 5những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy, tránh sự mất mát cân đối, giữ được bình ổn trong sản xuất Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị xác định được phương hướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo.
Thông qua tiêu thụ sản phẩm, dự toán nhu cầu tiêu dùng của xã hội nói chung và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục, hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được tổ chức tốt Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự sống còn của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp bao gồm hàng loạt các nghiệp vụ, từ khâu nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Theo hiệp hội kế toán quốc tế, tiêu thụ (bán hàng) hàng hoá, lao, vụ, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu được tiền hàng hoá hoặc chuyển quyền thu tiền hàng
Công tác tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp có các nội dung sau:
Thứ nhất: Điều tra nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, là khâu đóng vai trò quan trọng trong việc thành công hay thất bại của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời câu hỏi: Thị trường đang cần những sản phẩm gì? Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của nó ra sao? Ai là người tiêu thụ sản phẩm đó? (đối tượng tiêu thụ sản phẩm)
Trang 6Thứ hai: Lựa chọn sản phẩm thích ứng và tiến hành tổ chức sản xuất, trên cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm thích ứng Đây là một nội dung quyết định hiệu quả hoạt động tiêu thụ Lựa chọn sản phẩm thích ứng có nghĩa là phải tổ chức sản xuất những sản phẩm hàng hoá mà thị trường đòi hỏi.
Sản phẩm thích ứng bao gồm về hàm lượng, chất và giá cả Về mặt lượng, sản phẩm phải thích ứng với quy mô thị trường, với dung lượng thị trường Về mặt chất lượng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu, tương xứng với trình độ tiêu dùng Thích ứng về mặt giá cả hàng hoá được người mua chấp nhận và tối đa được lợi ích người bán
Thứ ba: Lên phương án phân phối vào kênh tiêu thụ và lựa chọn kênh phân phối sản phẩm
Thứ tư: Xúc tiến bán hàng, đối với những sản phẩm truyền thống hoặc đã lưu thông thường xuyên trên thị trường thì việc xúc tiến bán hàng được tiến hành gọn nhẹ hơn Cần đặc biệt quan tâm xúc tiến bán hàng đối với các sản phẩm mới hoặc sản phẩm cũ trên thị trường mới
Thứ năm: Thực hiện các nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm Trong đó, nghiệp vụ thu tiền là rất quan trọng Chẳng hạn trong trường hợp mặc dù hàng hoá đã được phân phối hết cho các kênh tiêu thụ hoặc đã giao xong cho người mua Song, chưa thu được tiền về thì hoạt động tiêu thụ vẫn chưa kết thúc Hoặc trong trường hợp doanh nghiệp đã thu được tiền về từ các trung gian nhưng hàng hoá vẫn còn tồn đọng ở đó, chưa tới tay người tiêu dùng cuối cùng thì hoạt động tiêu thụ mới thực sự kết thúc Do đó, các hoạt động dịch vụ sau mua bán để kéo dài hàng trở lại với doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng
2.1.3 Lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thương mại:
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, theo đó các sản phẩm vận động từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đến tận tay các hộ tiêu dùng cuối cùng.
Mặc dù có rất nhiều hình thức tiêu thụ nhưng đa số các sản phẩm là những máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng trong quá trình tiêu thụ nói chung đều thông qua một số kênh chủ yếu Doanh nghiệp sản xuất bán trực tiếp các sản phẩm cho các hộ tiêu dùng, bán thông qua các công ty buôn bán của mình và các hàng buôn độc lập Tuỳ thuộc vào sản phẩm tiêu thụ mà doanh nghiệp chọn các hình thức tiêu thụ phù hợp
*Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng, có hai hình thức tiêu thụ như sau:
Thứ nhất: Tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán thẳng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các khâu trung gian Hình thức này có ưu điểm: Hệ thống cửa hàng phong phú, tiện lợi Doanh nghiệp thường xuyên tiếp xúc với khách hàng và thị trường, biết rõ nhu cầu thị trường và tình hình giá cả Từ đó tạo điều kiện thuận lợi để gây thanh thế và tạo uy tín cho doanh nghiệp Mặt khác, trong hình thức này, hoạt động bán hàng diễn ra với tốc độ chậm, tốc độ di chuyển hàng hóa chậm, doanh nghiệp phải quan hệ rất nhiều bạn hàng
Thứ hai: Tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua các khâu trung gian, bao gồm: người buôn bán, bán lẻ, đại lý với hình thức này, doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hoá trong thời gian ngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm được chi phí bảo quản, hao hụt Nhưng với
Doanh nghiệp sản xuất
Người tiêu dùng cuối cùng
Môi giới
Trang 8hình thức này, thời gian lưu thông hàng hoá dài, tăng chi phí tiêu thụ và doanh nghiệp khó kiểm soát được các khâu trung gian.
Việc các doanh nghiệp áp dụng hình thức tiêu thụ này hay hình thức tiêu thụ khác phần lớn do đặc điểm của sản phẩm quyết định Hiện nay, có sự khác nhau rất lớn trong các hình thức tiêu thụ sản phẩm sử dụng cho tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân Ở Mỹ theo đánh giá gần 60- 65% vật
tư tiêu thụ trực tiếp giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp tiêu dùng: 18- 185 thông qua các tổ chức thương mại buôn bán 10- 15% hàng thông qua các trung gian buôn bán khác nhau, tham gia với tư cách là người tha mặt doanh nghiệp sản xuất, những trung gian đó thuộc sở hữu của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây có những thay đổi lớn về kênh tiêu thụ sản phẩm Đó là xu hướng ngày càng phát triển hình thức bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng Ở các nước có nền kinh tế phát triển, hình thức này không phải là mới, nhưng hiện nay lại rất phổ biến và phát triển ở hầu hết ở
Doanh nghiệp sản xuất
Trang 9các ngành sản xuất của nền kinh tế quốc dân (trước đây phát triển ở các ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, cơ khí ).
Hình thức tiêu thụ sản phẩm trực tiếp cho phép phát triển các quan hệ hợp đồng và hệ thống các đơn đặt hàng cá biệt, nhằm khuyến khích bán theo hợp đồng trước 3 tháng đến 12 tháng, các hàng cho phép các khách hàng được yêu cầu đơn vị cung ứng phải tuân thủ lịch giao hàng và có dịch vụ bổ sung
Việc thực hiện lịch giao hàng theo quy định sẽ tạo điều kiện khách hàng (người đặt hàng) giảm dự trữ hàng hoá và theo đó là hệ thống kho tàng
Tiêu thụ sản phẩm theo đơn đặt hàng dài hạn và các đơn đặt hàng cá biệt là tiền đề phát triển sản xuất kinh doanh, có tính đến yêu cầu cụ thể của khách hàng và nhờ đó củng cố mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp và đảm bảo chữ tín trong mua bán hàng hoá
2.1.4 Chiến lược tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thương mại:
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập, để tồn tại và phát triển lâu dài trên thương trường, mỗi một doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh của mình
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều chiến lược liên quan đến “đầu vào”, “đầu ra” và tổ chức sản xuất như: chiến lược vốn, nhân lực, công nghệ, tiêu thụ
Chiến lược tiêu thụ: Đó là định hướng hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất cho một thời kỳ nhất định với những giải pháp nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ thường bao gồm: mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số (doanh thu), tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường, kể cả thị trường trong và ngoài nước Chiến lược tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng và quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh
Trang 10Chiến lược tiêu thụ sản phẩm ở tầm vĩ mô sẽ giúp cho doanh nghiệp
đi đúng hướng theo mục tiêu chung của nền kinh tế Nó phục vụ cho hoạt động đối ngoại và có vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng của một ngành nói riêng và của một nền kinh tế nói chung, góp phần ổn định kinh tế, chính trị xã hội
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi diễn biến của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường mới, kế hoạch hoá về khối lượng hàng hoá tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và đối tượng khách hàng
Chiến lược thị trường là yếu tố quan trọng hàng đầu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm Xuất phát từ chiến lược thị trường để hình thành chiến lược tiêu thụ sản phẩm và chính sách giá cả
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải xác định thị trường tiêu thụ của mình, vì bản thân thị trường là nơi tiêu thụ sản phẩm, là nơi người bán gặp người mua, là tấm gương phản chiếu các mối quan hệ kinh tế
Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm, chính sách thị trường là một chính sách rất quan trọng Có chính sách thị trường đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm một cách thông suốt, tránh rủi ro trong kinh doanh
Trong chiến lược thị trường phải đặc biệt coi trọng thị trường trong nước, đồng thời quan tâm thị trường nước ngoài Có chiến lược đúng đắn với thị trường trong nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển, từ đó mới có điều kiện vươn ra thị trường nước ngoài
Chiến lược thị trường của doanh nghiệp phải xác định rõ định hướng thị trường, nghĩa là thị trường nào, thị hiếu nào doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm Chiến lược phải xác định rõ thị trường trọng điểm của doanh
Trang 11nghiệp Những giải pháp lớn để thâm nhập mở rộng thị trường Đồng thời cũng xác định thị trường mục tiêu và chiến lược phân đoạn thị trường.
Chiến lược sản phẩm là một bộ phận quan trọng của chiến lược tiêu thụ sản phẩm Trong chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp bên cạnh chiến lược sản phẩm “Xương sống” cần có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, chiến lược sản phẩm kế tiếp, chiến lược tối ưu hoá quy mô sản phẩm
Để xác định chiến lược sản phẩm cần xem xét cụ thể hai vấn đề:
Thứ nhất: Toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp đang sản xuất được thị trường chấp nhận đến mức nào? loại nào cần phải hoàn thiện, loại nào cần giảm số lượng?
Thứ hai: Triển vọng của việc phát triển sản phẩm mới nên sản xuất với số lượng bao nhiêu và tung ra thị trường vào lúc nào?
2.1.5 Tổ chức các hình thức dịch vụ trong quá trình tiêu thụ sản phẩm:
Trên thị trường có 3 nhân tố là doanh nghiệp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp luôn tác động qua lại, giành giật nhau Từ đó một doanh nghiệp muốn có sự thành công trên thị trường nhất định phải có các sách lược tiêu thụ và các dịch vụ hỗ trợ cho công tác bán hàng
Sách lược tiêu thụ là những phương pháp kỹ xảo mà doanh nghiệp áp dụng để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm
Đặc điểm của sách lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là tính
đa dạng và tính cụ thể Điều này là do mỗi sách lược tiêu thụ đều nhằm vào một loại hàng hoá nhất định, thị trường và đối tượng tiêu thụ cụ thể Thị trường và đối tượng tiêu thụ luôn thay đổi nên bản thân sách lược tiêu thụ cũng phải hết sức linh hoạt, nhạy bén và phù hợp với tình hình của thị trường
Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể xây dựng sách lược tiêu thụ theo các hướng sau đây:
Trang 12- Sách lược tiêu thụ tạo điều kiện cho việc mua hàng.
- Sách lược tiêu thụ đón nhu cầu của người tiêu dùng
- Sách lược tiêu thụ linh hoạt cơ động
- Sách lược tiêu thụ hàng khan hiếm
- Sách lược làm đại lý tiêu thụ thông qua doanh nghiệp có thể sử dụng những loại đại lý sau:
+ Đại lý uỷ thác: Người đại lý bán hàng theo giá của doanh nghiệp và được trả công lao động
+ Đại lý hoa hồng: Người đại lý bỏ tiền mua hàng rồi bán theo giá của doanh nghiệp và được hưởng tỷ lệ theo doanh số cơ bản
+ Đại lý cung tiêu: Người đại lý bỏ tiền mua hàng rồi bán theo giá do người đại lý quyết định để được hưởng chênh lệch giá
+ Đại lý đặc quyền: đại lý đặc quyền được coi là người kinh doanh nửa tự chủ, họ được bán hàng độc lập trong một khu vực nhất định, nhưng vẫn bị doanh nghiệp kiểm soát và thống kê theo những điều ghi trong hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp và đại lý đặc quyền Các quyền kinh doanh ghi trong hợp đồng như được dùng nhãn hiệu của doanh nghiệp, được doanh nghiệp huấn luyện về kinh doanh, được trợ giúp tài chính Doanh nghiệp cam kết không cho đại lý khác bán hàng trên khu vực đại lý đặc quyền Đại lý đặc quyền có 3 loại:
* Doanh nghiệp là nhà sản xuất trao quyền bán sản phẩm cho người đại lý đặc quyền là nhà bán buôn
* Doanh nghiệp là nhà bán buôn và đại lý đặc quyền là nhà bán lẻ
* Doanh nghiệp là nhà sản xuất và đại lý đặc quyền là nhà bán lẻ Hệ thống này rất thông dụng ở các nước phương Tây, như đại lý bán xe hơi, các cửa hàng bán thực phẩm chế biến sẵn, các trạm xăng
- Sách lược tiêu thụ thống nhất
- Sách lược tiêu thụ không thống nhất đối với những thị trường khác nhau và sách lược tiêu thụ đồng bộ các sản phẩm
Trang 132.2 Hạch toán tiêu thụ trong doanh nghiệp thương mại:
2.2.1 Phương thức bán hàng:
* Bán buôn:
- Bán theo phương thức chuyển hàng:
Theo phương thức này doanh nghiệp căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký với người mua hàng để gửi hàng cho người mua bằng phương tiện tự có hoặc thuê ngoài Hàng hoá được giao cho bên mua tại một địa điểm đã quy định trong hợp đồng, thủ tục chứng từ kèm theo trong phương thức này như sau:
+ Trường hợp bán hàng giao thẳng sử dụng hoá đơn bán hàng giao thẳng
- Phương thức bán tại kho:
Bên mua căn cứ hợp đồng đã ký uỷ nhiệm cho cán bộ nghiệp vụ của mình trực tiếp nhận hàng tại kho bên bán hoặc nhận trực tiếp tại nơi nguồn hàng
* Bán lẻ:
Thường vận dụng các phương thức sau:
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Là phương thức bán hàng mà nghiệp vụ giao hàng và thu tiền trong cùng một thời điểm, nhân viên bán hàng vừa là người thu tiền, vừa là chịu trách nhiệm vật chất về hàng hoá ở bộ phận mình Cuối ngày hoặc cuối ca bán hàng, nhân viên bán hàng lập bảng kê bán hàng, xác định doanh thu đối chiếu tiền thực nộp tại quỹ với số tiền trên bảng kê bán hàng thể hiện xác định thừa thiếu tiền hàng (nếu có)
2.2.2 Thời điểm ghi chép bán hàng:
+ Aïp dụng phương thức bán hàng giao tại kho bên bán: khi giao hàng xong, người mua ký nhận vào hoá đơn thì đó là thời điểm ghi chép
+ Aïp dụng theo phương thức chuyển thẳng thì thời điểm ghi chép bán hàng là lúc bên mua nhận hàng và chấp nhận thanh toán tiền hàng
Trang 14+ Đối với bán lẻ (bán trả góp hay bán lẻ bình thường), thời điểm ghi chép là lúc kiểm tra xong bảng kê bán lẻ dịch vụ của nhân viên bán hàng và ghi nhận doanh thu.
2.2.3 Tài khoản vận dụng trong hạch toán tiêu thụ:
a Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng”:
* Công dụng:
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng hoá thực tế tại đơn vị trong một kỳ hạch toán Đó là tiền ghi trên hoá đơn bán hàng, kể cả bán hàng bị trả lại và giảm giá bán hàng chấp thuận cho người mua chưa được ghi trên hoá đơn
* Kết cấu:
Bên nợ:
- Tính thuế tiêu thụ đặc biệt
- Kết chuyển các khoản loại trừ khỏi doanh thu
- Kết chuyển doanh thu thuần về tài khoản 911 “xác định kết quả kinh doanh”
Bên có:
-Tổng doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm thực hiện trong kỳ hạch toán
Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ
* Quy định hạch toán vào TK 511:
Chỉ phản ảnh số doanh thu bán hàng của hàng hoá xuất bán trong kỳ, dịch vụ cung cấp trong kỳ, hàng hoá xuất biếu, tặng, hàng hoá xuất đổi hàng hoá khác
Không hạch toán vào TK 511 vào các trường hợp sau:
- Trị giá hàng hoá vật tư xuất cho bên ngoài gia công chế biến
- Số thu vào nhượng bán TSCĐ
- Hàng gửi đi bán nhưng chưa có sự chấp thuận của bên mua
Trang 15- Trường hợp bán trả góp thì chỉ phản ánh vào TK 511 số doanh thu theo giá bán thị trường, số chênh lệch do trả chậm phản ánh vào TK 711
“thu nhập hoạt động tài chính”
- Đơn vị bán hàng đại lý chỉ phản ánh vào TK 511 số tiền thuê gia công được thanh toán
Những sản phẩm hàng hoá được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do nào đó (về chất lượng, về quy cách ) người mua từ chối thanh toán, trả lại hoặc yêu cầu giảm giá và đơn vị chấp nhận doanh thu số hàng này được đơn vị hạch toán trên TK 531 “hàng bán bị trả lại” hoặc TK 532 “Giảm giá hàng bán” Cuối kỳ kết chuyển vào TK 511
Trường hợp đơn vị đã viết hoá đơn bán hàng và thu tiền nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì không được coi là hàng tiêu thụ mà theo dõi trên TK 311 “thu trước tiền hàng của khách hàng” và doanh thu nhận trước về hàng hoá đã cung cấp cho hhách hàng thì không phản ánh vào TK này mà phản ánh vào TK 3387 vào mỗi kỳ kế toán thực hiện việc kết chuyển doanh thu nhận trước sang TK 511 số doanh thu thực tế phù hợp với kỳ kế toán
b TK 531 “Hàng hoá bị trả lại”:
- Bên nợ: Trị giá của hàng hoá bị trả lại đã trả tiền cho người mua hàng hoá tính trừ vào công nợ phải thu của khách hàng về số hàng đã bán
- Bên có: Kết chuyển toàn bộ doanh thu số hàng bán bị trả lại về
TK 511 “Doanh thu bán hàng”
- Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ
* Quy định hạch toán: TK 531 “hàng bán bị trả lại” chỉ phản ánh trị giá của một số hàng bán bị trả lại Các chi phí khác liên quan đến việc bán hàng bị trả lại mà đơn vị đã chi phí được phản ánh vào TK 641 “Chi phí bán hàng”
c TK 532 “Giảm giá bán hàng”:
* Công dụng:
Trang 16TK này dùng để phản ánh các khoản giảm giá bán hàng vì lý do hàng hoá không đúng quy cách trên hợp đồng.
* Kết cấu TK 532 “Giảm giá bán hàng”:
- Bên nợ: Các khoản giảm giá bán hàng trong kỳ đã chấp thuận cho người mua
- Bên có: Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm giá bán hàng bán trong kỳ về TK 511 “Doanh thu bán hàng”
- TK 532 không có số dư cuối kỳ
* Quy định hạch toán:
Chỉ hạch toán vào TK 532 các khoản giảm trừ do việc chấp nhận giảm giá ngoài hoá đơn bán hàng, không phản ánh vào TK này số giảm giá được ghi trên hoá đơn bán hàng và được trừ vào tổng giá trị thanh toán ghi trên hoá đơn
-Trong kỳ hạch toán giảm giá bán hàng phát sinh thực tế được hạch toán vào bên nợ TK 532, cuối kỳ kết chuyển sang TK 511 “Doanh thu bán hàng”
2.3 Hạch toán kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Thương mại:
2.3.1 Nội dung kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại:
- Kết quả hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hoá lao vụ, dịch vụ) chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại bao gồm:
+ Kết quả hoạt động thương mại
+ Kết quả hoạt động dịch vụ lao vụ
2.3.2 Hạch toán kết quả hoạt động kinh doanh:
Hạch toán kết quả thực hiện kinh doanh được phản ánh vào TK 911
“Xác định kết quả kinh doanh”
Trang 17Tài khoản này dùng để xác định kết quả kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 911:
Bên nợ:
- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ
- Chi phí hoạt động tài chính và chi phí bất thường
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ
- Số lãi trước thuế về hoạt động kinh doanh trong kỳ
Bên có:
- Doanh thu thuần về số sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
- Thu nhập hoạt động tài chính và các khoản thu nhập bất thường
- Trị giá vốn hàng bị trả lại
- Thực lỗ về hoạt động kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 911 không có số dư cuối kỳ
* Phương pháp hạch toán kết quả hoạt động kinh doanh:
- Cuối kỳ hạch toán, thực hiện việc kết chuyển số doanh thu thuần vào tài khoản xác định kết quả hoạt động kinh doanh, ghi:
Nợ TK 512 Doanh thu nội bộ
Nợ TK 511 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
-Kết chuyển trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ ghi:
Nợ TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 Giá vốn hàng bán
- Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển số chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ vào tài khoản Xác định kết quả kinh doanh, ghi:
Nợ TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Trang 18Có TK 641 Chi phí bán hàng.
Có TK 642 Chi phí quản lý doanh nghiệp
-Tính và kết chuyển số chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp còn lại kỳ trước trừ vào kết quả kỳ này, ghi:
Nợ TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 142 Chi phí trả trước (1422)
- Cuối kỳ, tính và hạch toán kết quả kinh doanh, ghi:
+ Trường hợp có lãi, ghi:
Nợ TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 421 Lợi nhuận chưa phân phối
+Trường hợp có lỗ, ghi:
Nợ TK 421 Lãi chưa phân phối
Có TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Trong hình thức kế toán nhật ký chứng từ, hạch toán kết quả hoạt động kinh doanh được thực hiện trên sổ chi tiết dùng cho TK 911 và Nhật ký chứng từ số 8 (phần ghi có TK 911)
Sổ chi tiết TK 911 Xác định kết quả kinh doanh
Được mở theo từng nội dung của kết quả hoạt động kinh doanh
Cơ sở để ghi nhật ký chứng từ số 8
Căn cứ vào sổ chi tiết dùng cho TK 911, phần ghi có thể ghi vào các cột ghi có TK 911
Cuối tháng hoặc cuối quý khoá sổ nhật ký chứng từ số 8, xác định tổng số phát sinh bên Có của TK 911 đối ứng Nợ các tài khoản liên quan và lấy tổng số cộng của nhật ký chứng từ số 8 để ghi vào sổ cái TK 911
Trang 19CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA HTX TM- DV VĨNH
LỢI
3.1 Sự ra đời và phát triển của HTX TM-DV Vĩnh Lợi:
Sau năm 1975 nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi lớn, đất nước được dần dần hồi phục về mọi mặt, kinh tế dần dần ổn định và phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, mức sống ngày càng được cải thiện Điều này đã thúc đẩy cả sản xuất và phát triển, tác động mạnh đến sản xuất và lưu thông Hơn nữa, nó kích thích nhu cầu về hàng tiêu dùng ngày càng cao
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao đó, các HTX mua bán xuất hiện ở hầu khắp các địa phương trong cả nước như là một yếu tố khách quan Ở Thừa Thiên Huế, thời kỳ này có hơn 100 HTX mua bán và tiêu thụ hàng hoá dịch vụ hình thành và hoạt động Riêng ở thành phố Huế có 42 HTX mua bán và tạo nhiều công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, hỗ trợ đắc lực cho Nhà nước trong lưu thông thương mại, góp phần ổn định sản xuất và đời sống
Nhưng bên cạnh đóng góp tích cực của hệ thống HTX mua bán cho kinh tế thành phố, tỉnh và đời sống nhân dân, nó bộc lộ nhiều mặt hạn chế: đó là quy mô nhỏ hẹp, cơ sở sản xuất phân tán, quản lý theo cơ chế tập trung hiệu quả thấp Chính vì vậy, khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn mới với những mặt yếu kém còn tồn tại, hầu hết các HTX mua bán đã tan rã hoàn toàn do không phù hợp với những yêu cầu của cơ chế thị trường mới, chỉ còn lại 2 HTX là Thuận Thành và Vĩnh Lợi tồn tại và phát triển
HTX Vĩnh Lợi được hình thành từ năm 1976 trực thuộc chỉ đạo của uỷ ban nhân dân phường Vĩnh Lợi- thành phố Huế Nhiệm vụ chung của
Trang 20HTX là nhận hàng hoá của thương nghiệp quốc doanh để bán và phân phối cho xã viên HTX là trợ thủ đắc lực cho thương nghiệp quốc doanh để bán hàng theo phương thức bán hàng hưởng hoa hồng.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, cùng chung số phận với các HTX trên toàn quốc, khi đó các HTX trên toàn quốc phải chấm dứt hoạt động do không có khả năng cạnh tranh Hoạt động thương nghiệp quốc doanh có nhiều biến động hơn HTX Vĩnh Lợi gặp nhiều khó khăn do sự thay đổi cơ chế kinh tế Trong bối cảnh đó, ban quản lý HTX đã nhanh chóng nắm bắt kịp thời những biến động thường xuyên của thị trường, xoay xở tìm kiếm nguồn hàng, thị trường tiêu thụ, từng bước tháo gỡ khó khăn, dần dần kinh doanh có lãi, đứng vững và phát triển đến ngày nay
Khi mới thành lập, vốn của HTX rất thấp, nguồn vốn ban đầu chỉ có 4.760 đồng do 952 xã viên đóng góp Thời kỳ đầu hoạt động kinh doanh của HTX chủ yếu nhờ vào vốn vay và bán hàng trả chậm Vì vậy gặp không ít khó khăn nhưng với sự năng động và nhạy cảm về thông tin, lòng kiên trì của ban quản lý HTX và lòng nhiệt tình, tận tâm của đội ngũ cán bộ công nhân viên, HTX luôn nâng cao hiệu quả trong kinh doanh, mở rộng quy mô và dần dần tăng nguồn vốn kinh doanh, huy động thêm nhiều xã viên tham gia vào HTX Qua nhiều năm hoạt động, HTX xã không ngừng tích luỹ nguồn vốn kinh doanh Tính đến 1998, nguồn vốn chủ sở hữu của HTX là 1.632.800.000 đồng Điều này chứng tỏ HTX TM- DV Vĩnh Lợi đã khẳng định được chính mình, vượt qua mọi trở ngại, kinh doanh ngày càng có hiệu quả
Năm 1998, hoạt động chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo luật HTX đã được Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 với tên gọi là HTX TM-
DV thay cho tên HTX mua bán trước đây Thời gian này, HTX TM-DV Vĩnh Lợi làm đại lý độc quyền cho các công ty: thuốc lá Vĩnh Lợi, sữa Foremost, sản phẩm P &G và công ty mì ăn liền Á Châu
Trang 21Những năm gần đây, cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh ở đơn vị, công đoàn cơ sở đã có nhiều cố gắng trong công tác tham gia quản lý, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Từ đầu năm 2007 HTX đã khánh thành và khai trương trung tâm TM-DV Hương Trà với kinh phí đầu tư xây dựng trên 3 tỷ đồng bao gồm siêu thị, nhà hàng, nhà nghỉ, góp phần giải quyết việc làm cho gần 40 lao động tại địa phương
Trong thời gian tới, HTX vẫn tiếp tục giữ chữ tín, niềm tin với khách hàng, xã viên và kiên trì vượt qua mọi khó khăn để giữ vững, nâng cao tốc độ tăng trưởng
3.2 Chức năng và nhiệm vụ của HTX TM-DV Vĩnh Lợi:
3.2.1 Chức năng:
- Là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực TM- DV, chức năng của HTX là tổ chức mua bán hàng hoá của các thành phần kinh tế khác và tiêu thụ chúng, HTX đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định đúng kênh tiêu thụ, liên kết tạo nguồn hàng, đảm bảo chất lượng hàng hoá bán
ra, giá cả hợp lý
- Cùng với thương mại quốc doanh tham gia bình ổn giá cả trên thị trường, hạn chế thao túng giá cả của các thành phần kinh tế tư nhân
Trang 22- Bảo đảm quyền lợi kinh tế, giữ vững đời sống vật chất cho xã viên, khuyến khích và tạo điều kiện để người lao động trở thành xã viên của HTX.
- Đóng bảo hiểm cho xã viên theo đúng quy định của Pháp luật
- Chăm lo giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cung cấp thông tin cho xã viên tích tham gia xây dựng HTX
- Không ngừng triển khai nghiêm túc các biện pháp mở rộng thị trường, đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ và giảm bớt chi phí
- Bảo vệ môi sinh môi trường, cảnh quan, không thải chất phế thải ra bên ngoài
- Ngoài ra, HTX tham gia đóng góp, tài trợ cho một số hoạt động xã hội hữu ích cho Nhà nước, cho nhân dân Bên cạnh đó, đơn vị còn mở rộng các hoạt động phong trào TDTT qua các năm
3.3 Tổ chức hoạt động kinh doanh của HTX TM- DV Vĩnh Lợi:
3.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh:
HTX TM- DV Vĩnh Lợi là một đơn vị kinh tế tập thể hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân để tồn tại và phát triển đến ngày nay
Trang 23* Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
HTX Vĩnh Lợi tổ chức bộ máy hoạt động theo kiểu trực tuyến, đây là hình thức đơn giản nhất, do quy mô nhỏ Vì vậy HTX TM- DV Vĩnh Lợi kiểu cơ cấu tổ chức này là phù hợp với quy mô trình độ quản lý và điều kiện hiện có của HTX
Ưu điểm của kiểu quy mô này là HTX thực hiện tất cả các chức năng quản trị, các mối quan hệ xã hội các cấp, các thành viên trong HTX được thực hiện theo một tuyến thẳng, người thừa hành mệnh lệnh chỉ nhận lệnh qua một cấp trên trực tuyến và chỉ thi hành lệnh của người đó Vì vậy đánh giá được chồng chéo thông tin Cơ cấu này cho phép người lãnh đạo toàn tuyến quyết định đối với hoạt động của HTX và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của nhân viên Tuy nhiên, áp dụng mô hình này ban chủ nhiệm HTX cũng cần lưu ý đến những vấn đề: hạn chế tính năng, linh và khả năng tận dụng đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu vào quản lý
Bên trên chủ nhiệm là đại hội xã viên bên dưới, nhân viên bán hàng được phân thành các tổ phụ trách theo từng mặt hàng, chịu sự quản lý của chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng phòng tài vụ, phòng kinh doanh Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho HTX trong tiêu thụ hàng, giúp hoạt động tiêu thụ năng động và linh hoạt hơn
Chủ nhiệm: Nắm quyền chỉ huy đối với toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh, chủ nhiệm toàn quyền quyết định cuối cùng về tổ chức bộ máy quản lý, bộ máy tổ chức, quản lý bố trí lao động cho nghỉ việc và quyết định về hướng mục tiêu kinh doanh cũng như điều hành quản lý tài chính
Trang 24Phó chủ nhiệm về tổ chức: Là người điều hành quá trình tổ chức trong HTX Phó chủ nhiệm thừa lệnh chủ nhiệm điều hành các hoạt động có liên quan.
Phó chủ nhiệm kinh doanh: phục trách kinh doanh dịch vụ, đồng thời thừa lệnh chủ nhiệm điều hành các hoạt động của HTX trong lĩnh vực chuyên môn kinh doanh và các vấn đề khác có liên quan
Phòng kế toán tài vụ: Phản ánh tình hình kinh doanh, vào sổ giúp chủ nhiệm quản lý việc hoạt động của đơn vị cũng như quản lý vốn và tài sản Phòng tài vụ là nơi giải quyết các vấn đề tiền bạc, các nghiệp vụ thanh toán giữa đơn vị với người mua, người bán với cán bộ nhân viên HTX, thực hiện nghĩa vụ ngân sách Nhà nước
Phòng kế hoạch: Chịu trách nhiệm về ký các hợp đồng, quản lý và điều hành các mặt hàng mua vào, bán ra, xây dựng kế hoạch chỉ tiêu kinh doanh dài hạn và kế hoạch hằng năm
3.4 Tổ chức kế toán ở HTX TM- DV Vĩnh Lợi:
3.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán:
* Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại HTX TM- DV Vĩnh Lợi:
Kế toán trưởng: Giúp chủ nhiệm HTX tổ chức chỉ đạo thống nhất công tác kế toán, thống kê và thông tin kinh tế ở HTX TM- DV Vĩnh Lợi theo cơ chế quản lý mới
Kế toán trưởng
Kế toán
tổng hợp
Kế toán ngân hàng
Kế toán thanh toán
Kế toán bán hàng
Kế toán kho
Thủ quỹ
Trang 25Kế toán trưởng đồng thời kiểm tra, kiểm soát kinh tế tài chính của Nhà nước tại HTX Kế toán trưởng là người tổ chức thi hành củng cố và hoàn thiện chế độ công tác kế toán, công tác thống kê phù hợp với tổ chức và hạch toán kinh tế kinh doanh của HTX.
Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tổng hợp ghi chép sổ cái báo cáo các tài chính giúp cho kế toán trường tổ chức thông tin kinh tế, phân tính kế toán tài chính HTX
Kế toán ngân hàng: Theo dõi và phản ánh tình hình hoạt động tiền gửi tại ngân hàng
Kế toán thanh toán: Theo dõi và phản ánh tình hình thu chi tiền mặt tại đơn vị
Kế toán bán hàng: Viết hoá đơn xuất kho bán hàng
Kế toán kho: Cân đối số lượng hàng hoá tiền hàng ở kho, chi phí và phân bổ chi phí hàng hoá Quy định vào cuối tháng đối chiếu chứng từ hàng hoá, tiền hàng với phòng kế toán và các việc liên quan
3.4.2 Hình thức kế toán:
Về hình thức kế toán nhìn chung hệ thống sổ sách kế toán của HTX được tổ chức tương đối, hợp lý HTX đã áp dụng chế độ kế toán mới theo quy định 1141- TC/QĐ/CĐKT của Bộ Tài Chính Bên cạnh đó HTX đang áp dụng hình thức kế toán “chứng từ ghi sổ” đã phản ánh được các chỉ tiêu mua hàng, chỉ tiêu bán hàng Trình tự luân chuyển chính từ, xử lý thông tin được tiến hành theo đúng quy định.
Trang 26* Sơ đồ luân chuyển chứng từ ghi sổ:
Trang 27Sau khi đối chiếu số liệu trùng khớp, căn cứ vào bảng cân đối phát sinh các khoản và tổng hợp chi tiết để lập bảng cân đối tài sản và báo cáo kế toán.