1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỄ LẬP TĨNH CỦA NGƯỜI DAO TIỀN Ở BẢN HẠ THÀNH, XÃ TÂN LẬP, HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

87 885 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ở Bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa truyền thống
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 482 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có một số công trình nghiên cứu, bài báo đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đếnmột vài khía cạnh về nghi lễ lập tĩnh của người Dao nói chung và người DaoTiền ở Phú Thọ nói riêng.2.1 Lịch sử

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và những đóng góp của đề tài 7

6 Giới hạn nghiên cứu đề tài 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Cấu trúc khóa luận 9

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Về tín ngưỡng 10

1.2 Về nghi lễ trưởng thành 13

1.3 Về người Dao và người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập,

huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 17

1.3.1 Về người Dao ở Việt Nam 17

1.3.1.1 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Dao ở Việt Nam 17

1.3.1.2 Địa bàn cư trú 20

1.3.1.3 Các nhóm Dao ở Việt Nam 21

1.3.1.4 Đặc trưng về văn hóa vật chất 22

1.3.1.5 Đặc trưng về văn hóa tinh thần 25

1.3.2 Người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 29

1.3.2.1 Nguồn gốc và tên gọi của người Dao Tiền ở Phú Thọ 29

1.3.2.2 Đời sống văn hóa vật chất của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 32

1.3.2.3 Đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 34

Trang 2

1.4 Khái quát về lễ Lập Tĩnh 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 41

CHƯƠNG II: LỄ LẬP TĨNH CỦA NGƯỜI DAO TIỀN Ở BẢN HẠ THÀNH - TIẾN TRÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM 42

2.1 Quá trình chuẩn bị lễ lập tĩnh 42

2.1.1 Chuẩn bị về vật chất 43

2.1.2 Chuẩn bị về tinh thần 45

2.2 Tiến trình của lễ lập tĩnh 45

2.2.1 Các đối tượng tham gia 45

2.2.2 Tiến trình buổi lễ 46

2.3 Đặc điểm của lễ lập tĩnh 54

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG III: LỄ LẬP TĨNH - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DAO TIỀN Ở BẢN HẠ THÀNH 60

3.1 Quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng của người Dao Tiền qua nghi lễ lập tĩnh 60

3.1.1 Niềm tin vào thế giới tâm linh 60

3.1.2 Niềm tin vào thế giới ma quỷ 61

3.1.3 Dấu ấn Tam giáo 62

3.2 Phong tục tập quán của người Dao Tiền qua lễ lập tĩnh 65

3.3 Vai trò và ý nghĩa của lễ lập tĩnh trong đời sống của người Dao Tiền 69

3.4 Lễ lập tĩnh - vấn đề bảo tồn và phát triển trong cộng đồng người Dao Tiền ở bản Hạ Thành 76

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 78

PHẦN KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Thứ nhất, văn hóa là bản sắc của một dân tộc, là nền tảng, yếu tố phản

ánh trình độ phát triển của một đất nước Văn hóa bao gồm tất cả những sảnphẩm của con người, là toàn bộ cuộc sống, cả về vật chất và tinh thần của cộngđồng và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hìnhthành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau.Nền văn hóa Việt Nam mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân nông nghiệpđược tạo nên bởi các dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam, trong đó

có sự đóng góp không nhỏ của các dân tộc thiểu số Điều đó đã góp phần tạonên sự đa dạng và phong phú cho nền văn hóa của nước ta Và một trong sốnhững yếu tố làm cho văn hóa trở nên đa dạng và phong phú hơn đó chính làtín ngưỡng của một tộc người, là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người đốivới một lực lượng siêu nhiên, huyền bí nào đó có ảnh hưởng và chi phối đếncuộc sống của họ mà họ chỉ có thể cảm nhận mà không thể nhìn thấy, sờ móđược Tín ngưỡng là sản phẩm văn hóa của con người đối với tự nhiên, với xãhội và với chính bản thân họ, ở họ có niềm tin tuyệt đối vào nó với hy vọngcuộc sống của mình và cộng đồng sẽ tốt hơn Và từ đó tín ngưỡng ra đời vàphát triển cùng sự phát triển của loài người Sự đa dạng và hấp dẫn của nền vănhóa từng tộc người là lí do để tôi chọn đề tài này, tôi muốn tìm hiểu văn hóacủa họ để làm giàu thêm cho nền văn hóa của nước nhà

Thứ hai, người Dao là một trong 13 dân tộc thiểu số đang sinh sống

trên đất nước Việt Nam, với dân số tương đối đông, đứng thứ 9 trong số 54dân tộc anh em, với một nền văn hóa, văn học rất đa dạng và phong phú.Nghiên cứu về văn hóa người Dao là rất cần thiết và hữu ích để nhận diệndiện mạo và bản sắc văn hóa của dân tộc đó, để cho chúng ta hiểu hơn về nềnvăn hóa đó trong quá trình bảo tồn và phát triển trước thời kỳ công nghiệp hóahiện đại hóa hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc đang

Trang 4

khác nhau như môi trường sinh sống; sự giao lưu, hội nhập của nhiều nền vănhóa;… Do đó, việc nghiên cứu là cần thiết để bảo tồn và phát huy những giátrị đó, đồng thời đó cũng là cơ sở để gắn kết các dân tộc với nhau, để bảo vệ

sự đa dạng nền văn hóa nước nhà

Thứ ba, nghi lễ trưởng thành là một trong những nghi lễ rất quan trọng

trong nghi lễ vòng đời người và nó có ở hầu khắp các nền văn hóa trên thếgiới Người Dao là một trong những dân tộc thiểu số thực hiện nghi lễ trưởngthành này và họ gọi nghi lễ này là lễ lập tĩnh Đây là một nghi lễ truyền thống,rất phổ biến của dân tộc Dao và bắt buộc đối với đàn ông người Dao Đó lànghi lễ đặt tên âm hay đặt tên cúng cơm cho người con trai, đánh dấu sựtrưởng thành của họ về mặt sinh lý cũng như về mặt xã hội, họ được cộngđồng thừa nhận, được hưởng quyền lợi của mình trong xã hội, được côngnhận là con cháu của Bàn Vương và mới có tư cách trở thành thầy cúng Vìvậy, tôi lựa chọn đề tài này để khảo sát và nghiên cứu quá trình diễn ra nghi lễlập tĩnh là một việc làm cần thiết cho việc tìm hiểu bản chất tín ngưỡng cũngnhư các giá trị văn hóa được tích hợp trong nghi lễ này Qua đó, để có đượcmột cái nhìn vừa cụ thể, vừa toàn diện, vừa sâu sắc về lễ lập tĩnh của ngườiDao Tiền nói riêng và các hình thức nghi lễ khác của người Dao nói chung

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao nhưngchưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ởmột địa phương cụ thể Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này với mong muốn đi sâuvào việc giới thiệu lễ lập tĩnh của dân tộc Dao Tiền bản Hạ Thành, xã TânLập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ - một nét đẹp văn hóa tiêu biểu củangười Dao, để bổ sung thêm những tư liệu mới làm phong phú, sâu sắc hơn vềnhững giá trị văn hóa của tộc người, góp phần lưu giữ những giá trị văn hóatruyền thống, tạo nên sự đa dạng cho nền văn hóa của đất nước

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Trong thời gian qua đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khácnhau về lễ lập tĩnh của người Dao và trong các công trình nghiên cứu đó, đã

Trang 5

có một số công trình nghiên cứu, bài báo đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đếnmột vài khía cạnh về nghi lễ lập tĩnh của người Dao nói chung và người DaoTiền ở Phú Thọ nói riêng.

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về người Dao và người Dao Tiền

Trong cuốn Người Dao ở Việt Nam, của các tác giả Bế Văn Đẳng

-Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nam Tiến, do NXB khoa học xã hội xuấtbản năm 1971, là tác phẩm đề cập khá toàn diện về đời sống của người Dao

trên lãnh thổ Việt Nam: “Người Dao cư trú trên ba vùng khác nhau: vùng cao,

vùng giữa và vùng thấp, nhưng chủ yếu là ở vùng giữa… Trong nhân dân Dao vẫn còn lưu truyền rộng rãi truyền thuyết về tổ tiên Bàn Hồ Đó là câu chuyện giải thích về nguồn gốc của họ… Quá trình di cư của họ vào Việt Nam là cả một thời kỳ dài và có thể là bắt đầu từ thế kỷ thứ XIII cho đến những năm 40 của thế kỷ này… Những nét riêng biệt này không làm trở ngại gì cho sự thống nhất về văn hóa và các mối quan hệ khăng khít giữa các nhóm Dao mà nó chỉ làm phong phú thêm cái kho tàng văn hóa của người Dao vốn đã rất phong phú” [4; 12, 18, 22, 175] Về dân số, địa bàn cư trú, tên gọi các nhóm Dao, các

hình thái kinh tế, văn hóa và những đổi mới trong cuộc sống sinh hoạt củangười Dao từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1971, trong đó đã có đề cậpđến tên gọi, trang phục, văn hóa của người Dao Tiền

Trong cuốn Người Dao trong cộng đồng dân tộc Việt Nam của tác giả

Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn do NXB Văn hoá dân tộc xuất bản năm 2010, đã

có trình bày về người Dao “dân tộc Dao ở Việt Nam không có văn tự riêng…

đồng bào Dao sử dụng chữ Hán đã được “Dao hóa” Nghĩa là đồng bào học chữ Hán theo âm của tiếng Dao, hoặc khi viết một chữ Hán, đồng bào thêm nét để đọc các sách cúng và sáng tác thơ văn” [26; 46] Như về lịch sử tộc

người, bản sắc văn hoá, tập tục, nếp sống và những đóng góp quan trọngcủa cộng đồng người Dao trong lịch sử cách mạng của dân tộc

Trong cuốn Văn hóa dân gian người Dao ở Bắc Giang của tác giả Nguyễn Thu Minh chủ biên, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản Trong

Trang 6

đó, có giới thiệu vài nét về người Dao “Do không biết tiếng Việt, họ bị vua Việt

Nam nghi là kẻ gian, bắt giữ Trong tù, hai người đã lấy “Quá sơn bảng” - một loại giấy thông hành của vua Trung Quốc cấp ra đắp cho đỡ rét, do đó vua Việt Nam biết họ là dân lành, liền thả ra và cấp thuyền để họ đi tìm nơi sinh sống Tìm được đất vừa ý họ trở về Trung Quốc đưa vợ con, họ hàng sang Việt Nam lập nghiệp” [17; 125], về ngôn ngữ - chữ viết, các loại hình kinh tế, địa vực cư

trú, trang phục, vấn đề dòng họ - gia đình, tôn giáo tín ngưỡng, truyện kể dângian, dân ca dân tộc Dao, v.v…

Các tác giả Chu Thái Sơn (cb), Võ Mai Phương trong cuốn Người Dao

do NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2005, giới thiệu sơ lược vềlịch sử tộc người, các hoạt động kinh tế, văn hóa, ứng xử cộng đồng, tôn giáo

tín ngưỡng, lễ hội và văn hóa nghệ thuật của người Dao “Người Dao là tộc

người có dân số đông, đứng hàng thứ 9 trong thành phần các dân tộc ở Việt Nam… địa bàn cư trú của người Dao tập trung ở vùng giữa Do sinh sống trên nhiều vùng địa lý phức tạp nên người Dao đã có những ứng xử để thích nghi với từng vùng” [19; 86] Đây là một công trình có tính chất giới thiệu,

nhận diện về cộng đồng dân tộc Dao ở Việt Nam

Ngoài ra, thì còn có một số công trình nghiên cứu khác về các dân tộcthiểu số ở Việt Nam, trong đó có đề cập tới người Dao nói chung và ngườiDao Tiền nói riêng Các bài viết, bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các tạpchí: dân tộc học, nghiên cứu tôn giáo,… Tuy nhiên, các công trình này cũngchỉ mang tính chất giới thiệu, nhận diện những nét cơ bản về đời sống văn hóacủa người Dao, chưa có điều kiện đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu những nétđặc thù về văn hóa, tín ngưỡng của người Dao ở từng địa phương

2.2 Lịch sử nghiên cứu về nghi lễ lập tĩnh của người Dao Tiền

Tác giả Nguyễn Việt Hùng có công trình nghiên cứu về Nghi lễ trưởng

thành và kiểu truyện dũng sĩ (Qua việc khảo sát tập “Truyện cổ các dân tộc

Trường Sơn- Tây Nguyên”) đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật - số 11/

2003 Tác giả đã đề cập đến nghi lễ trưởng thành và những biểu hiện của nghi

Trang 7

lễ trưởng thành trong truyện cổ, đặc biệt là trong kiểu truyện dũng sĩ “Trong

các nghi lễ vòng đời người, thì nghi lễ trưởng thành đóng một vai trò rất quan trọng Nghi lễ trưởng thành (hay còn gọi là lễ thành đinh) thường được tiến hành khi con người trưởng thành về mặt giới tính Nếu như các nghi lễ thời kì phôi thai, sơ sinh, lên lão và tiễn đưa thường có tính chất gia đình, thì nghi lễ trưởng thành lại gắn với cộng đồng mang tính cộng đồng cao” [11] Đây là

một công trình nghiên cứu giới thiệu khái quát nhất về nghi lễ trưởng thànhchung cho tất cả các dân tộc, để từ đó có được cái nhìn khách quan khi đi tìmhiểu về nghi lễ trưởng thành của các dân tộc khác

Trong cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của

Viện dân tộc học, do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1978, cũng đã đề

cập tới một số những nét cơ bản về dân tộc Dao theo nhóm ngôn ngữ, vềnguồn gốc, dân số, một số nghi lễ truyền thống của dân tộc Dao như: lễ Tết

nhảy, lễ Cấp Sắc, lễ cúng Bàn vương, “Cấp sắc là tục lệ rất phổ biến ở

người Dao, tất cả người đàn ông Dao đều phải qua lễ này” [32; 332] Tác

phẩm này chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về người Dao cũng như vaitrò của các nghi lễ này trong đời sống chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu nghi lễcấp sắc như một đề tài cụ thể

Cuốn Lễ hội cổ truyền Lào Cai, do Trần Hữu Sơn chủ biên, NXB văn

hóa dân tộc xuất bản năm 1999, đã giới thiệu một số lễ hội cổ truyền củangười Giáy, Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Hà Nhì, Xá Phó ở Lào Cai, trong đó

có Lễ Tết nhảy của dân tộc Dao Đỏ ở Sa Pa, Lễ Lập Tịch của người Dao ởBảo Thắng Lào Cai và một số nghi lễ khác Nghiên cứu này chỉ mang tínhchất khái quát các lễ hội cổ truyền của các dân tộc đang sinh sống trên địa bànLào Cai, chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu một nghi lễ cụ thể của một dân tộc

Trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao

Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của tác giả Lý Hành Sơn, do NXB Khoa học xã hội xuất

bản, đã nghiên cứu về nghi lễ chủ yếu trong vòng đời người của nhóm Dao Tiềnđang sinh sống ở Ba Bể, Bắc Kạn như lễ cúng Bàn vương, lễ Tết nhảy, lễ cấp

Trang 8

sắc,… Trong đó, tác giả đã nghiên cứu cụ thể và chi tiết về lễ cấp sắc của người

Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn “So với các nghi lễ khác thì lễ cấp sắc là một nghi

lễ phức tạp, có mối liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hóa - xã hội của người Dao” [20; 135], về tên gọi và đặc điểm, tiến trình, bản sắc văn hóa Dao; một số

điểm hạn chế của lễ cấp sắc

Tác giả Phan Ngọc Khuê có công trình nghiên cứu về Lễ cấp sắc của

người Dao Lô Gang, do NXB Văn hóa thông tin xuất bản năm 2003, đã có

giới thiệu về tộc người Dao Lô Gang và phong tục tập quán của họ, cụ thể làhai nghi lễ chính: lễ cấp sắc và lễ trả ơn Bàn vương bao gồm các giai đoạn,thủ tục nhân sự của buổi lễ Đây là công trình nghiên cứu về người Dao LôGang, một trong số những nhóm Dao nằm trong cộng đồng người Dao nóichung, qua đó ta có được những thông tin cụ thể và chi tiết để có thể so sánhvới nhóm Dao khác

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nghi lễ lập tĩnh của người Daonhưng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào nghiên cứu về nghi lễlập tĩnh của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn,tỉnh Phú Thọ Nghi lễ lập tĩnh là một nghi lễ nói chung cho cả cộng đồngngười Dao, mỗi nhóm Dao trên địa bàn khác nhau lại có một diện mạo riêng,những biến đổi riêng cho phù hợp với điều kiện sinh sống, chính vì thế đề tài

sẽ tập trung đi vào nghiên cứu nghi lễ này ở một địa điểm cụ thể để thấy đượcphần nào diện mạo của nghi lễ này

3 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở kế thừa những tài liệu khoa học đã được công bố về ngườiDao ở Việt Nam nói chung và về người Dao Tiền ở tỉnh Phú Thọ nói riêng,bằng những nguồn tư liệu ở địa phương qua quá trình nghiên cứu, thu thập vàsưu tầm tại chỗ, chúng tôi muốn khắc họa lại diện mạo nghi lễ lập tĩnh và sứcsống của nó trong đời sống văn hóa của người Dao Tiền, để từ đó tìm ra đượcnhững giải pháp tốt nhất để nhằm bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóacủa dân tộc Dao ở nước ta và trên thế giới Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng

Trang 9

tôi muốn giới thiệu những giá trị văn hóa của người Dao qua lễ lập tĩnh đểmọi người được biết và hiểu rõ hơn về nghi lễ này.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu Lễ Lập Tĩnh của người DaoTiền trên địa bàn bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Phạm vi: Tìm hiểu về đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Dao Tiềnqua lễ lập tĩnh về quá trình chuẩn bị, tiến trình và đặc điểm của lễ lập tĩnh;quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng; về phong tục tập quán; vai trò và ý nghĩacủa nghi lễ lập tĩnh trong đời sống của người Dao Tiền;…

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và những đóng góp của đề tài:

- Đề tài tập trung vào nghiên cứu về nghi lễ Lập Tĩnh của người Dao Tiền ởbản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; qua đó thấyđược nét đẹp văn hóa của họ Cụ thể là nghiên cứu về:

Nghiên cứu về tiến trình và đặc điểm lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ởbản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; một nghi lễ nóichung của người Dao

Nghiên cứu về quan niệm về thế giới tâm linh, đời sống tín ngưỡng,phong tục tập quán và đời sống sinh hoạt của người Dao Tiền qua lễ lập tĩnh

để qua đó thấy được vai trò và ý nghĩa của lễ lập tĩnh với cuộc sống của ngườiDao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nóiriêng cũng như người Dao nói chung

Nghiên cứu và đưa ra những biện pháp để bảo tồn và phát huy nhữnggiá trị văn hóa truyền thống của người Dao Tiền ở Phú Thọ

- Những đóng góp của luận văn:

Các nghi lễ của các dân tộc thiểu số hiện nay đang đứng trước nguy cơ

bị mai một và biến đổi do tác động của cuộc sống cùng với ảnh hưởng vănhóa từ bên ngoài vào, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cấp thiết để bảotồn và phát huy những giá trị đó, nó chính là cơ sở để gắn kết cộng đồng dântộc, cũng như tạo nên sự đa dạng trong nền văn hóa của Việt Nam

Trang 10

Nghiên cứu về lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã TânLập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ sẽ góp phần phác họa đầy đủ diện mạovăn hóa, tín ngưỡng của người Dao Tiền nói riêng và cộng đồng dân tộc Daonói chung trên đất nước Việt Nam Từ đó, tìm ra những biện pháp nhằm bảotồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của họ trong bối cảnh đấtnước ta đang có những phương án để bảo tồn, tôn tạo và phát triển những giátrị văn hóa đang ngày càng bị mai một hiện nay.

6 Giới hạn nghiên cứu đề tài:

Dân tộc Dao có một đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng

vô cùng phong phú và đa dạng, có vị trí nhất định trong đời sống văn hóa cácdân tộc thiểu số ở tỉnh Phú Thọ Do đó, đề tài sẽ tập trung đi vào tìm hiểu đờisống văn hóa của người Dao ở địa phương mà cụ thể là người Dao Tiền quanghi lễ truyền thống mang đậm nét bản sắc văn hóa, tín ngưỡng của ngườiDao, đó là Lễ Lập Tĩnh Một nghi lễ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâmlinh của người Dao

Giới hạn về không gian: nghiên cứu lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ởtỉnh Phú Thọ, cụ thể là ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn là nơitập trung đông đồng bào Dao Tiền sinh sống

7 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể:

- Phương pháp khảo sát, điền dã: sử dụng trong quá trình đi khảo sát, điền dãthực tế trong tỉnh Phú Thọ tại bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn.Trực tiếp tiếp xúc với đồng bào dân tộc Dao Tiền để phỏng vấn, quan sát,quay phim, chụp ảnh, thu thập, xác minh tài liệu,…

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Ngoài việc trực tiếp tiếp xúc với đồng bào,tôi còn thu thập, nghiên cứu sách báo tại các thư viện, viện bảo tàng,…kếthợp với các nguồn tư liệu truyền miệng của các thầy mo, thầy cúng, nhữnggià làng,… so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu có liên quan, để từ đó rút ranhìn khách quan, khoa học về đề tài

Trang 11

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng trong quá trình tổng hợp lại tất cảcác dữ liệu, thông tin đã tìm được và tiến hành phân tích, tổng hợp rút ra đượcnhững nhận xét, kết luận khoa học, khách quan về đề tài tìm hiểu.

8 Cấu trúc khóa luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận chia làm ba chương:

Tài liệu tham khảo

Phần phụ lục của khóa luận có một số tranh ảnh về nghi lễ lập tĩnh ở

bản Hạ Thành

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Về tín ngưỡng

Trong nguyên văn chữ Hán, tín ngưỡng bao gồm tin và ngưỡng mộ.Tín là niềm tin, đức tin; ngưỡng là ngưỡng mộ, ngưỡng vọng Tín ngưỡng làniềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một cái gì đó Đó có thể là niềmtin, sự ngưỡng vọng vào những cái siêu nhiên như chúa trời, Phật,… để cầumong điều tốt lành, bình an

Theo cuốn Tìm hiểu về tôn giáo của Tổng cục chính trị, cục dân vận và tuyên truyền đặc biệt có đưa ra khái niệm về tín ngưỡng: “là sự tôn thờ thần

thánh Sự tôn thờ này có tác dụng điều chỉnh nhận thức, hành vi của con người” [25; 1]

Cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam do Ngô Đức Thịnh chủ biên đã đưa ra khái niệm bao quát nhất về tín ngưỡng “Là niềm tin

của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên hay nói ngắn gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng, đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà

ta có thể sờ mó và quan sát được Do đó niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó là nhân

tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linhcủa con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm”[24;9] Tác

giả đã đưa ra khái niệm cụ thể và chi tiết về tín ngưỡng, đó là hệ thống các

niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình ancho cá nhân và cộng đồng Niềm tin của con người rất lớn, nó tồn tại và pháttriển cùng với sự vận động và phát triển của loài người, nó là nhân tố tạo nênđời sống tâm linh của con người

Theo cuốn Từ điển tín ngưỡng - tôn giáo của Mai Thanh Hải có đưa ra khái niệm về tín ngưỡng là “lòng tin và sự ngưỡng mộ ngưỡng vọng vào một

lực lượng siêu nhiên, thần bí; lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức

Trang 13

bí và vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được người ta tin là có thật và tôn thờ” [5; 621] Tín ngưỡng xuất phát từ thực tế

của cộng đồng do con người ý thức vào một lực lượng thần bí nào đó và đượccộng đồng tin theo, tôn thờ, hy vọng và trở thành nếp sống của xã hội

Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt

Nam, qua lời giới thiệu có viết: “Ở nước ta, tín ngưỡng tôn giáo là cơm ăn nước uống, hàng trăm hàng nghìn năm nay, từ thời nguyên thủy còn tồn tại lại, sang thời xã hội phong kiến, cho đến ngày nay, chẳng một gia đình nào lại không có bàn thờ cúng Tổ tiên, chẳng một làng ấp nào lại không có ngôi đình, đền, miếu thờ Thần, thờ Mẫu” [2;5] Tín ngưỡng ở nước ta đã có từ xa

xưa và cho đến ngày nay, nó vẫn tồn tại rất vững chắc trong xã hội, niềm tincủa con người vào những thứ gọi là siêu nhiên rất lớn, được thể hiện qua rấtnhiều phương thức và hình thức khác nhau nhưng cùng hướng đến hy vọngcho cuộc sống tốt đẹp hơn

Như vậy, tín ngưỡng vô cùng phong phú và đa dạng, chính là sự tintưởng, ngưỡng mộ, là niềm tin cầu mong cho hiện thực cuộc sống của conngười luôn khỏe mạnh, bình yên, làm ăn phát đạt, hình thành nên ý thứcriêng về các vị thần linh, các nghi thức cúng bái, mục đích cầu mong và nếpsống xã hội của con người

Hiện nay, tín ngưỡng và tôn giáo được sử dụng với nội hàm ý nghĩakhác nhau Vậy để hiểu hơn về hai thuật ngữ này chúng tôi xin làm rõ sựgiống nhau và khác nhau đó để mọi người có được cái nhìn đúng đắn hơn về

hai thuật ngữ trên Theo quan điểm của TS Đoàn Triệu Long trong cuốn Tín

ngưỡng truyền thống Việt Nam (Hỏi - đáp) có đưa ra cách phân biệt hai thuật

ngữ này như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người

vào những điều thiêng liêng, huyền bí, vượt ra ngoài thế giới thực tại là yếu

tố quan trọng để tạo nên một đời sống tâm linh của con người, rồi từ đó, theo thời gian để được chế định thành những hành vi tôn sùng, thờ cúng, những nghi lễ, tập tục khác nhau tùy theo sự cảm nhận của mỗi cộng đồng” Trong

Trang 14

đó, ông có đưa ra câu trả lời cho câu hỏi tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau

như thế nào?, “Tôn giáo là tổ chức của những người có cùng niềm tin vào

những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thế giới tự nhiên Tổ chức đó được định nên dựa vào một hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi nhất định”.

Cả hai đề có điểm chung là “niềm tin của con người đối với một thế giới siêu

nhiên, một cái thiêng ở bên ngoài/ trên thực tại xã hội” nhưng bên cạnh đó có

những điểm khác nhau như: thứ nhất “tín ngưỡng chưa tạo ra một hệ thống

giáo lý, giáo hội và các lễ nghi một cách bài bản thì tôn giáo lại định hình được những yếu tố trên Tôn giáo luôn có một giáo chủ hệ thống kinh sách, giáo lý” Thứ hai, “Đích mà tôn giáo hướng đến là tạo ra một bệ đỡ vĩnh cửu cho con người ở thế giới bên kia - tức tìm cách hướng con người đến với các thiên đàng, niết bàn sau khi chết Còn đối với tín ngưỡng thì cơ bản là cầu xin các thần linh phù hộ độ trì cho cuộc sống hiện tại hơn là “thiết kế” một vị trí, một điểm đến cho con người sau khi đã cạn kiếp người” [13; 8, 9] Tác

giả đã đưa ra cách hiểu chung nhất về hai thuật ngữ này

Theo trang Web của Ban tôn giáo chính phủ có đưa ra sự phân biệtđiểm giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo, tín ngưỡng và tôn giáo

đều có cùng nguồn gốc là “niềm tin” của con người vào một lực lượng siêu nhiên, huyền bí, có tác dụng “điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với

con người, với xã hội và với cộng đồng” Nhưng tín ngưỡng và tôn giáo cũng

có những điểm khác nhau cơ bản như sau: Tín ngưỡng là “một cách từ thực tế

cuộc sống cộng đồng con người ý nghĩa về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [2; 22].

Tôn giáo “là một hình thái ý thức xã hội bao gồm các quan niệm phản ánh

một cách hư ảo, sai lạc thế giới tự nhiên vào đầu óc con người Đó là sự phản ánh mà thế giới tự nhiên đã trở thành lực lượng siêu tự nhiên, chi phối, quyết định số phận con người; con người phải phục tùng và tôn thờ lực lượng siêu nhiên đó” [25;7] Và “Mỗi tôn giáo gồm ba phần: trước nhứt là triết lí

Trang 15

phần thứ hai là thần thoại phần thứ ba là nghi thức” [34; 63] Về hình thức

“Tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và

tín đồ, thì các loại hình tín ngưỡng thì không có 4 yếu tố đó” Giáo lí và giáo

pháp chính là sự phát triển của tín ngưỡng Mỗi người thì chỉ có một tôn giáo

nhưng lại có thể có nhiều tín ngưỡng khác nhau “một người, trong một thời

điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo thì một người dân có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau” “Tôn giáo có hệ thống kinh, luật đầy đủ, còn tín ngưỡng thì có các bài khấn, tế” [38]

Cả hai quan điểm đưa ra ở trên, đều chỉ là sự phân biệt mang tính chấtkhái quát nhất, nhưng nó cũng đã phần nào giúp ta hiểu hơn được về hai thuậtngữ tín ngưỡng và tôn giáo Hiện nay, hai thuật ngữ này vẫn còn đang đượccác nhà nghiên cứu tìm hiểu cụ thể để đưa ra được nhận định chi tiết và cụ thểnhất Ở đây, tôi chỉ làm rõ hơn về thuật ngữ tín ngưỡng để bước đầu hìnhthành được kĩ năng trong việc đi tìm hiểu đề tài của khóa luận này

1.2 Về nghi lễ trưởng thành

Con người từ khi sinh ra đã phải trải qua rất nhiều nghi lễ khác nhau,

nó đánh dấu bước trưởng thành của mỗi con người trong xã hội mà họ đang

sống và làm việc Trong cuốn “Nghi lễ vòng đời người” của Trương Thìn

(Biên soạn); Đại đức Thích Minh Nghiêm (Hiệu đính) trong phần lời giới

thiệu cũng đã nhắc đến những nghi lễ này, đó là “Những nghi lễ với cuộc

sống phôi thai, lễ đầy cữ, lễ đầy tháng, lễ đầy năm, hôn lễ, lễ lão mừng thọ, lễ tang” [23; 5]

Nghi lễ trưởng thành hay còn gọi là nghi lễ thành đinh trên thế giới, “là

nghi thức cắt bao quy đầu của bé trai được thực hiện ở những độ tuổi khác nhau: điều này cho thấy đây là hành vi mang tính xã hội chứ không phải mang ý nghĩa sinh lý Mục đích trên hết của nghi thức này là để đánh dấu sự thay đổi trọng yếu trong đời sống của đứa bé trai; quá khứ trở nên xa rời với

nó, khoảng cách đó rất lớn, nó không thể quay lại Mối dây liên hệ giữa nó với mẹ bị cắt đứt, và từ nay về sau nó gắn bó với đàn ông Bây giờ nó là

Trang 16

người đàn ông, gánh vác những trách nhiệm của cộng đồng” [18; 7] Ghi

nhận quá trình trưởng thành của con người, con người có khả năng và tráchnhiệm với gia đình và xã hội, quên hết những gì liên quan đến quá khứ trướckia của mình, giờ họ phải sống với tương lai và gánh vác những trách nhiệmcủa một người trưởng thành về mặt sinh lý và xã hội

Trong cuốn Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam (Hỏi - đáp) của TS Đoàn Triệu Long có đưa ra khái niệm về nghi lễ trưởng thành là “một trong

những nghi lễ rất quan trọng trong các nghi lễ vòng đời người; nó vừa mang

ý nghĩa tâm linh, vừa tạo dấu ấn để đánh dấu sự trưởng thành của một đứa

bé trở thành người lớn cả về nhận thức lẫn giới tính” [13; 24] Nghi lễ

trưởng thành là nghi lễ quan trọng trong vòng đời người, đánh dấu sự trưởngthành của con người cả về mặt nhận thức và giới tính và nó mang ý nghĩa tâmlinh sâu sắc

Các nghi lễ ra đời cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cùngvới thời gian các nghi lễ sẽ được duy trì, phát triển và hoàn thiện hơn để phùhợp với từng không gian sinh sống và không gian văn hóa của từng địaphương Nhưng trong đó, có một nghi lễ mà tất cả các dân tộc trên thế giới

đều thực hiện, mang tính xã hội cao, đó là “Nghi lễ trưởng thành Nghi lễ

đánh dấu sự trưởng thành của cá nhân về mặt xã hội, cá nhân chính thức trởthành thành viên của xã hội

Trong các nghi lễ vòng đời của con người thì nghi lễ trưởng thành đượccoi là một nghi lễ rất quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của người con trai

“Được tiến hành khi con người trưởng thành về mặt giới tính, là nghi thức

công nhận chàng trai trở thành thành viên chính thức của cộng đồng, có quyền lợi và nghĩa vụ với bản làng, có quyền được kết hôn”[11] Họ được

cộng đồng công nhận là một người đã trưởng thành, có quyền lợi và nghĩa vụvới bản làng, xã hội, có quyền được kết hôn Nghi lễ này diễn ra rất là phứctạp, cần chuẩn bị nhiều thứ, tốn nhiều thời gian và tiền của, nó chứa đựng rất

nhiều phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân tộc đó: “Đó còn là hình thức

Trang 17

nghi lễ mang tính tổng hợp, chứa đựng rất nhiều các phong tục, tín ngưỡng

và các nghi lễ khác như tín ngưỡng thờ Nước, tín ngưỡng vật tổ, nghi lễ nông nghiệp và săn bắn… Nghi lễ trưởng thành của một số dân tộc ở nước ta cũng giống như các dân tộc khác trên thế giới Người chịu lễ phải trải qua nhiều thử thách, bởi đây là bước ngoặt lớn của cuộc đời con người, để sau đó người ấy sẽ đảm đương những trách nhiệm nhất định Do đó, người chịu lễ phải thể hiện những năng lực của mình Nghi lễ đó vừa là niềm tự hào vừa là nỗi sợ hãi của con người” [11] Có thể kể đến nghi lễ trưởng thành của người

Ê Đê, người Dao, người Nùng, hay của một số dân tộc trên thế giới như bộ

lạc Harmar ở Ethiopia; bộ lạc Algonquin ở Canada thì “đối với những cậu bé

đã đến tuổi trưởng thành, các em sẽ phải trải qua một nghi lễ giúp xóa bỏ ký

ức tuổi thơ xác định đã hoàn toàn quên ký ức tuổi thơ, điều đó coi như các

em đã vượt qua thử thách và trở thành người đàn ông thực thụ Nếu em nào cho thấy vẫn chưa hoàn toàn quên quá khứ, các em sẽ phải trải qua nghi lễ này một lần nữa” [36] Trong nghi lễ trưởng thành của người Ê Đê “từ tuổi thiếu niên bước vào giai đoạn trưởng thành (17 tuổi trở lên), để có thể "danh chính ngôn thuận" và được thừa nhận là có đủ tâm, tài, lực để tham gia gánh vác những phần việc hệ trọng của gia đình, cộng đồng, chàng trai Ê Đê cũng phải trải qua nghi lễ trưởng thành” [37], nghi thức diễn ra theo một trình tự

nhất định, sau khi chọn được ngày lành tháng tốt thì người được làm lễ “ra bờ

suối rửa mặt (tắm) để tẩy rửa sự non nớt của thơ ấu và lột xác Sau khi tắm

xong múc bầu nước về cúng thần như muốn hiến cho thần sự trong sạch- tinh

khiết của mình Về đến nhà, khi đi lên cầu thang dùng dao chém những cây chuối 2 bên đường đã được chuẩn bị trước buổi lễ, khi lên cầu thang, chàng trai đẽo cây lớn ở chân cầu thang Lên đến nhà, sau khi nghe mẹ hỏi thì

chàng trai sẽ nói với mẹ mình đi giết hổ, đánh giặc và con xứng đáng làm

người đàn ông Ê-Đê Thầy cúng làm lễ và trao kiếm, chàng trai múa kiếm, các cô gái vây quanh và té nước Đến đêm, chàng được nghe kể khan và nghi

lễ kết thúc” [11] Lễ trưởng thành của người Ê Đê thể hiện tính cộng đồng rất

Trang 18

cao vì có sự tham gia, góp sức của cả buôn làng, nghi lễ được diễn ra theomột trình tự nhất định với mong muốn người con trở nên khỏe mạnh, trưởngthành, may mắn trong công việc, gánh vác được công việc của gia đình vàcộng đồng.

Nghi lễ trưởng thành thường ngắn liền với mô típ truyện “Dũng sĩ”

trong văn học dân gian, “ truyện cổ tích về các dũng sĩ phản ánh giai đoạn

dân chủ quân sự, giai đoạn tranh chấp giữa các tộc người và giữa các địa phương để hình thành những nhà nước sơ khai”[11] Câu chuyện phản ánh

những chiến công và kì tích anh hùng có công với thị tộc của mình, họ đượcthần linh phù hộ, có năng lực phi thường, họ chiến đấu một mình và mang vềthắng lợi cho dân tộc, được ban thưởng và kết hôn với con vua Đó là mô típcủa loại truyện dũng sĩ và nó có rất nhiều trong kho tàng văn học của ngườiDao Có thể kể đến như truyền thuyết Bàn Hồ, một nhân vật lịch sử, ông tổcủa người Dao Bàn Hồ được miêu tả với hình dạng là có một con longkhuyển mình dài ba thước, lông đen, từ trên trời giáng xuống trần được vuayêu quý; là một người có tài, có mưu trí, có sức mạnh phi thường được lựclượng thần kì phù trợ: Hộ đi nhanh như mây bay, một thân vượt biển rộng,bảy ngày bảy đêm đi vào nước khác Khi Cao Vương gửi chiến thư đến, là sự

uy hiếp đến sự bình an của cộng đồng, đất nước đang đứng trước nguy cơxâm lược của một nước hùng mạnh, triều đình lo lắng, nhân dân hoảng hốt thìngười anh hùng xuất hiện và xin đi chiến đấu để bảo vệ cộng đồng Chiếncông của người anh hùng hướng đến đối tượng đó là lực lượng xã hội, lànhững thế lực xâm lược đến từ bên ngoài Nhân vật Bàn Hồ thuộc kiểu anhhùng chống giặc ngoại xâm cũng giống như truyện Thánh Gióng, Thạch Sanh

ở Việt Nam Bàn hồ xuất hiện và đặt lên vai mình sứ mệnh của lịch sử, sốphận của cộng đồng và đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh ấy bang cách nhân lúcCao Vương ngủ say đã cắn đầu mang về, đã được vua giữ lời hứa gả côngchúa cho chàng, trong truyện xuất hiện mô típ khác trong văn học dân gian,

đó là lập chiến công và được kết hôn với người đẹp Chiến công của người

Trang 19

anh hùng mang bóng dáng của thời kì đấu tranh giữa các thị tộc, bộ tộc để mở

rộng đất đai, địa bàn cư trú và nó là điều tất yếu của lịch sử Mô típ còn có “ý

nghĩa là những con người trưởng thành, đủ sức đương đầu với những thử thách, có sức mạnh và lòng dũng cảm để bảo vệ cộng đồng Và trong bản thân mỗi con người trưởng thành đó, vượt qua nỗi sợ hãi của những thử thách họ cũng mang trong mình niềm tự hào, vinh dự của những chàng dũng sĩ” [11]

Như vậy, nghi lễ trưởng thành là một nghi lễ rất quan trọng trong vòngđời con người, đánh dấu sự trưởng thành của con người về mặt tâm sinh lý và

xã hội Nghi lễ phần nào thể hiện được tinh thần cộng đồng trong mỗi cá nhântrong xã hội là rất lớn, đồng thời thể hiện sự dũng cảm, kiên cường của conngười, có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc

1 3 Về người Dao và người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

1.3.1 Về người Dao ở Việt Nam

Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên đấtnước Việt Nam, và một số quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Mỹ,

… với các tên gọi khác nhau như Động, Dạo, Xá,… đó là các tên gọi do cácdân tộc khác gán cho họ, còn người Dao lại tự nhận mình là Dìu Miền, KìmMiền, Ìu Mùn, có nghĩa là “người Dao” Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở

Wikipedia có đưa ra kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao ở

nước ta có 620.538 người, chiếm 0,8% tổng dân số của cả nước, đến năm

2009 dân số là 751.067 người [39] Trong cuốn Lễ tục của người Dao ở Vĩnh Phúc và Lào Cai của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Xuân Mai - Phạm

Công Hoan, có đưa ra số người Dao ở nước ta: “Với số dân gần 700.000

người, dân tộc Dao cư trú đan xen và có mối quan hệ hòa hợp, gắn bó đời sống tinh thần và vật chất với các dân tộc anh em khác” [15; 23].

1.3.1.1 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Dao ở Việt Nam

Người Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang quabiên giới Việt - Trung, quá trình di cư diễn ra trong một thời gian khá dài từ

Trang 20

thế kỷ thứ XIII đến nửa đầu thế kỷ XX bằng nhiều con đường khác nhau với

nhiều nhóm khác nhau Trong cuốn Người Dao ở Việt Nam của của các tác

giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến NXB Khoa học xã hội, 1971 cũng có đưa ra khoảng thời gian người Dao vào

-Việt Nam: “Quá trình di cư của họ vào -Việt Nam là cả một thời kỳ dài và có

thể là bắt đầu từ thế kỷ thứ XIII cho đến những năm 40 của thế kỷ này… Những người Dao cư trú ở vùng Tây- bắc Bắc bộ đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII… còn những người Dao ở Đông - bắc Bắc bộ và một số tỉnh trung

du cũng bắt đầu đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII cho tới đầu thế kỷ XX” [4; 22].

Theo cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, của Nguyễn Đăng Duy có giới thiệu về nguồn gốc của người Dao ở Việt Nam: “Người

Dao ở Việt Nam vốn gốc từ Trung Quốc do không chịu nổi áp bức bóc lột của phong kiến Hán Ngô, Tùy Đường, họ phải di cư dần về miền núi phía Nam, trong đó một bộ phận nhỏ vượt biên giới vào Việt Nam Bộ phận sớm nhất vào thế kỷ thứ IX, thứ X, bộ phận muộn nhất vào thế kỷ XVIII” [2;372] thì họ

lại cho rằng người Dao vào Việt Nam từ thế thứ IX, thứ X nhưng trong quátrình nghiên cứu chúng tôi có thể nhận thấy rằng, qua một số tài liệu tìm thấycho thấy rõ được rằng người Dao di cư sang Việt Nam là từ thế kỷ thứ XIIIcho đến nửa đầu thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân lịch sử, chính trị xã hội và

kinh tế mà cụ thể là do sự áp bức bóc lột của phong kiến Hán Ngô, Tùy Đường,… hoặc do chiến tranh liên miên, hạn hán, mất mùa liên tiếp nhiều

năm nên họ phải di cư dần về miền núi phía Nam, trong đó một bộ phận nhỏvượt biên giới vào Việt Nam Quá trình có thể diễn ra từ thời Tùy, Đường đếnMinh, Thanh và cho tới đầu thế kỷ này vẫn còn tiếp tục

Về nguồn gốc của người Dao, hiện tại còn nhiều quan điểm về nguồngốc của người Dao, khi đi tìm hiểu các quan điểm này tôi nhận thấy chúngđều có sự thống nhất với nhau, đều có chung quan điểm về nguồn gốc củangười Dao là Bàn Hồ hay còn gọi là Bàn vương, ông tổ của người Dao

Trang 21

Quan điểm 1: Trong cuốn Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế

Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến - NXB Khoa

học xã hội, 1971 có nói: “Trong nhân dân Dao vẫn còn lưu truyền rộng rãi

truyền thuyết về tổ tiên Bàn Hồ Đó là câu chuyện giải thích về nguồn gốc của họ” [4;18] Truyện Bàn Hồ không chỉ là câu chuyện truyền khẩu mà nó

còn được ghi chép khá chi tiết trong các cuốn Quá sơn bảng văn - một văn

bản chữ Hán của người Dao và trong các sách của người Dao đều ghi lạichuyện Bàn Hồ Long Khuyển, cốt truyện như sau: Trong cung điện của Bình

hoàng, “Bàn Hồ là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen, vẳn vàng,

mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần được Bình hoàng yêu quý nuôi trong cung Một hôm Bình hoàng nhận được chiến thư của Cao vương, Bình hoàng họp các bá quan văn võ lại để bàn mưu kế diệt họ Cao, nhưng không

ai tìm được kế gì Trong khi đó thì con long khuyển Bàn Hồ trong kim điện nhảy ra sân rồng quì lạy xin đi giết Cao vương Trước khi Bàn Hồ ra đi, nhà vua có hứa nếu thành công sẽ gả cung nữ cho” Long Khuyển đến cung điện

của Cao Vương, được Cao vương rất là yêu quý, “nhân một hôm Cao vương

say rượu, cắn chết Cao vương và ngoạm lấy đầu đem về báo công với Bình hoàng Bàn Hồ lấy được cung nữ đem về Cối Kê (tỉnh Chiết Giang) ở Vợ chồng Bàn Hồ không bao lâu sinh được 6 con trai và 6 con gái Bình hoàng ban sắc cho con cháu Bàn Vương thành 12 họ, riêng người con cả được lấy

họ cha, còn các con thứ lấy tên làm họ, gồm các họ: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu” Đó là tổ tiên của dân

tộc Dao và cũng chính là 12 họ của người Dao bây giờ “Tới thời Hồng Vũ

(1368 - 1398), ba năm liền bị hạn hán, người dân không có gì để ăn, nhà vua

đã cấp cho mỗi người một cái búa và một con dao quắm để đốn cây rừng làm rẫy Con cháu Bàn Hồ phát hết rừng của Bình Vương, nhà vua phải cấp cho Quá Sơn bảng văn để phân tán đi khắp nơi tìm đất sinh nhai” [4; 19].

Quan điểm 2: Trong cuốn Người Dao trong cộng đồng dân tộc Việt Nam của Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn có đưa ra hai quan điểm về nguồn gốc

Trang 22

của người Dao dựa trên cuốn Người Dao ở Việt Nam để đưa ra quan điểm của mình.Thứ nhất “Cam Bảo (thế kỷ 3 trước công nguyên) cho rằng “nguồn gốc

người Dao là Khuyển Nhung đời Chu ở vùng Thiểm - Cam - Ninh”; thứ hai

“Phạm Thành Đại giả định “người Dao vốn dòng dõi Bàn Hồ” [26; 13].

Quan điểm này cũng đưa ra nguồn gốc của người Dao là Bàn Hồ hay chính làcon Long Khuyển

Các quan điểm trên đều có chung một quan điểm thống nhất về nguồngốc của người Dao là Bàn Hồ Bàn Hồ là một nhân vật thần thoại nhưng đượcngười Dao thừa nhận là “ông tổ” của mình và Bàn Hồ được thờ cúng rất tônnghiêm cho đến ngày nay, người Dao vẫn nhận mình là con cháu của “ông tổ”Bàn Hồ hay còn gọi là Bàn vương (trong tiếng Dao là Pụa Cong hay PiêngHùng), họ tôn thờ và thờ cúng ông như một vị thủy tổ của cộng đồng Dao vớinghi lễ rất tôn nghiêm mang đậm màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng và đậm đà bảnsắc dân tộc của người Dao qua phong tục thờ cúng tổ tiên là Bàn Hồ để cangợi và biết ơn người đã có công làm sinh sôi, nảy nở dân tộc Dao

Người Dao đến Việt Nam qua nhiều đợt khác nhau theo cả hai tuyếnđường bộ và đường thủy, theo từng nhóm nhỏ trong suốt thời gian từ thế kỷthứ XIII đến đầu thế kỷ XX để mưu sinh, chủ yếu tìm đất mới tốt hơn để khaithác trồng trọt

số tỉnh ở Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ

Trang 23

Theo cuốn Người Dao ở Việt Nam của NXB Khoa học xã hội,

1971-của các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam

Tiến có viết: “Người Dao cư trú trên ba vùng khác nhau: vùng cao, vùng

giữa và vùng thấp, nhưng chủ yếu là ở vùng giữa” [4; 12] từ việc cư trú rải

rác ở nhiều địa phương khác nhau, họ sống trong các bản động ở vùng sâu,vùng xa thuộc nhiều vùng miền của đất nước đã tạo nên những sắc thái vănhóa vô cùng phong phú và đa dạng của những con người Dao

Theo cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện dân tộc học - NXB Khoa học xã hội, có nói về địa bàn cư trú của người Dao ở nước ta: “Phạm vi cư trú của người Dao rất rộng, rải khắp miền rừng

núi, dọc theo biên giới Việt - Trung, Việt - Lào cho tới một số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ Trên cả ba vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp, đều có người Dao cư trú” [32; 311] Sau khi di cư đến Việt Nam người Dao đã cư

trú trải dài trên khắp các miền rừng núi, trung du và một số tỉnh khác, trên cả

ba vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp Việc sống xen kẽ với các dân tộckhác ở nhiều vùng khác nhau, qua giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của dântộc khác tạo nên nét đa dạng về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Dao

1.3.1.3 Các nhóm Dao ở Việt Nam

Việc phân loại các nhóm, ngành Dao ở nước ta từ trước đến nay không

có sự thống nhất Trong cuốn Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết

Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến - NXB Khoa học xã hội,

1971 có viết: “Dựa vào đặc điểm văn hóa mà chủ yếu là trang phục phụ nữ có

thể chia người Dao ra thành 7 nhóm, đó là: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Tuyển” [4; 31, 32, 33].

Hay dựa trên sự phân loại theo tiêu chuẩn ngôn ngữ là chính, theo đó

các nhóm Dao ở Việt Nam thuộc về hai phương ngữ: “Phương ngữ thứ nhất

bao gồm các Dao Đỏ, Dao Lô Gang, Dao Quần Chẹt và Dao Tiền.Phương ngữ thứ hai cũng có nhóm: Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tiển (Dao Tuyển)” [4; 34].

Trang 24

Theo cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao

Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của tác giả Lý Hành Sơn - NXB khoa học xã hội, dựa

vào sự phân loại của nhiều nhà Dân tộc học, dân tộc Dao được chia thành nhiềunhóm khác nhau và căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa đặc trưng có chia

người Dao ở nước ta “thành 7 nhóm khác nhau Đó là các nhóm: Dao Đỏ, Dao

Quần Chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Phán, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao

Áo Dài” Mỗi nhóm dao đều có một nét riêng tạo nên những sắc thái văn hóa

đa dạng vừa tương đồng lại vừa khác biệt” [20; 18] Cả hai cuốn sách trên đều

dựa vào đặc điểm về văn hoá mà chia người Dao thành các 7 nhóm Dao khácnhau Mỗi nhóm Dao lại có những nét văn hóa của riêng mình, điều này tạonên sự đa dạng về bản sắc văn hóa của dân tộc Dao nói chung

1.3.1.4 Đặc trưng về văn hóa vật chất

Dân tộc Dao có một nền văn hóa vật chất vô cùng phong phú về ngônngữ, chữ viết, kinh tế, nhà ở, trang phục,… mang đậm những nét văn hóatruyền thống của người Dao

Người Dao thuộc nhóm ngữ hệ H’Mông – Dao, trong ngôn ngữ Dao

“rất chú ý đến thanh điệu” và “ngày càng được phong phú do được bổ sung tiếng quốc ngữ - tiếng Việt trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học” [13;67] Ngôn ngữ của người Dao rất đa dạng vừa mang nét truyền thống của

dân tộc mình ở bên kia biên giới lại vừa có sự kết hợp với quốc ngữ nơi ngườiDao di cư sang

Về chữ viết “dân tộc Dao ở Việt Nam không có văn tự riêng… đồng

bào Dao sử dụng chữ Hán đã được “Dao hóa” Nghĩa là đồng bào học chữ Hán theo âm của tiếng Dao, hoặc khi viết một chữ Hán, đồng bào thêm nét để đọc các sách cúng và sáng tác thơ văn” [26; 46] Chữ viết của họ có gốc từ

chữ Hán được Dao hóa (nghĩa là đọc chữ Hán theo âm tiếng Dao) thành chữNôm Dao

Về kinh tế, họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và canh tác lúanước, ngoài ra thì họ còn trồng một số cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược

Trang 25

liệu, chăn nuôi gia súc, gia cầm,… Sản xuất thủ công nghiệp có truyền thốnglâu đời của người Dao, các sản phẩm thủ công phục vụ cho nhu cầu sản xuất

và đời sống hàng ngày của người Dao, nó mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp.Với các nghề như nghề rèn đây là một nghề có ý nghĩa quan trọng trong đờisống sản xuất của người Dao, đến với mỗi thôn bản của người Dao thườngthấy có một hai lò rèn chuyên sản xuất, sửa chữa công cụ lao động, sản phẩmchủ yếu là dao, liềm, búa, cuốc, cày, làm súng,… thể hiện trình độ của họngày càng cao Nghề làm giấy cũng rất phổ biến trong cộng đồng người Dao,giấy này thường dùng để làm tiền cúng ma, dùng để chép sách với nguyênliệu là các loại vầu, nứa non qua bàn tay của họ với những kỹ thuật về nghềlàm giấy họ đã làm ra loại giấy dai, bền và rất ăn mực Ngoài ra, thì họ cònlàm đồ trang sức đẹp và tinh sảo Dệt vải, thêu thùa là nghề thủ công truyềnthống của người Dao, chủ yếu là nghề của người phụ nữ, việc này đòi hỏi kỹthuật của họ cao và độc đáo để tạo ra được những tấm vải, thêu đa dạng, độcđáo Đan lát, nấu rượu, nghề mộc cũng là nghề rất phổ biến trong đời sống củangười Dao Tiền Đời sống vật chất và tinh thần của họ nhờ đó cũng được nângcao hơn

Do điều kiện về sản xuất và địa lý nên về cơ bản thì đồng bào Daothường sống ở vùng khác nhau như ở vùng miền núi có thể là núi cao hoặclưng chừng núi hay thung lũng cho nên thôn xóm của người Dao chia thành

hai loại: “thôn xóm cư trú phân tán và thôn xóm cư trú tập trung” [4; 122].

Nhà ở của họ có ba loại hình nhà ở chính của người Dao là: nhà đất, nhà sàn,

nhà nửa sàn nửa đất: “Nhà nền đất là loại hình nhà ở thích hợp với điều kiện

canh tác định canh hay luân canh định cư và đã có từ lâu đời… nhà nền nửa sàn nửa đất là một biến dạng của loại hình nền đất để thích nghi với cuộc sống du canh du cư và cư trú nơi đất dốc Còn nhà nền sàn là kết quả của sự trao đổi văn hóa giữa những người Dao làm ruộng nước xen ghép với người Tày, người Kinh Mặc dù có ba loại hình nhà khác nhau nhưng có một đặc điểm nổi bật, có tính bền vững nhất: đó là vị trí và cách bố trí bên trong của

Trang 26

“gian thứ ba”… Trên đoạn vách này có đặt một bàn thờ nhỏ” [4; 144, 145].

Để phù hợp với địa bàn cư trú cũng như điều kiện về sản xuất canh tác ngườiDao đã xây dựng những ngôi nhà có cấu trúc phù hợp với địa hình cũng nhưđiều kiện sinh sống của từng gia đình nhưng vẫn giữ được tính sự ổn định vàbền vững ở gian thứ ba, ngoài ra thì nó còn là sự giao lưu, trao đổi văn hóacủa đồng bào Dao với các đồng bào dân tộc khác như người Tày và ngườiKinh Do ở vùng núi cao nên người Dao thường dùng địu có hai quai đeo đểđịu những sản phẩm hoặc đồ dùng của mình khi đi làm nương Ngoài ra túivải hoặc túi lưới đeo vai cũng được họ dùng

Trong trang phục truyền thống của người Dao, trang phục của ngườiđàn ông trước đây thì phải để tóc dài búi sau gáy hoặc để một chỏm tóc dàitrên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn, bây giờ thì hầu hết đàn ông người Dao

đã cắt tóc ngắn như người Kinh chỉ còn lại rất ít người là để tóc như cũ Họthường hay vấn khăn theo kiểu khác nhau tùy vào những nhóm Dao khácnhau, cách ăn mặc quần áo rất đơn giản, chỉ có hai loại áo: áo ngắn và áo dài,

họ thường hay mặc áo ngắn Riêng áo có tới bốn kiểu: kiểu áo có nẹp to, đínhnhiều khuy tết bằng vải hay khuy đồng; kiểu áo 5; kiểu áo màu chàm, nâu;kiểu áo cổ truyền của dân tộc

Trang phục của nữ thì đa dạng và phong phú hơn nhưng nó vẫn lưu giữđược màu sắc dân tộc cổ truyền, trong mỗi nhóm Dao lại có kiểu để tóc, cáchmặc, trang trí hoa văn khác nhau chính điều này đã tạo nên nét văn hóa mangmàu sắc riêng biệt của từng nhóm Dao Chính nét riêng biệt này lại làm chonền văn hóa của người Dao càng thêm phong phú và đa dạng hơn, trong cuốn

Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng,

Nông Trung, Nam Tiến - NXB Khoa học xã hội, 1971; có nhận xét rằng:

“những nét riêng biệt này không làm trở ngại gì cho sự thống nhất về văn hóa

và các mối quan hệ khăng khít giữa các nhóm Dao mà nó chỉ làm phong phú thêm cái kho tàng văn hóa của người Dao vốn đã rất phong phú” [4; 175].

Trang 27

Áo dài của phụ nữ Dao nói chung thường may theo kiểu xẻ ngực,không có khuy cúc, gấu áo dài chấm gối Nó được may cùng với yếm vớinhững trang trí hoa văn lạ và đẹp mắt, họ thường đội khăn hoặc mũ Y phụccủa họ mang màu sắc sặc sỡ, họ thường dùng sáp ong để chải tóc, thêu và inhoa văn trên vải rất độc đáo, các họa tiết được in, thêu khác nhau tạo nên sựriêng biệt về trang phục của các nhóm Dao Ngoài ra thì trang sức của phụ nữDao cũng rất đa dạng, các trang sức chủ yếu được làm bằng bạc hoặc đồng.

Họ dùng nhiều trang sức bạc ngoài mục đích làm đẹp còn có mục đích trừ tà

vì cho rằng ma quỷ rất sợ đồ kim khí

Người Dao thường ăn hai bữa chính trong một ngày, bữa trưa và bữatối, họ chỉ ăn bữa sáng khi có công việc mùa màng Những người ở vùng làmruộng và nương thì cơm là chính, ở một số nơi làm nương thì họ ăn ngô nhiềuhơn ăn cơm, ngoài ra thì cháo cũng là một món ăn không thể thiếu trong bữa

ăn của gia đình Dân tộc Dao nuôi nhiều lợn gà nhưng chủ yếu chỉ dùng trong

lễ cúng ma và những ngày đám và tết, họ thích ăn thịt, lòng luộc, các món thịtphơi khô, ướp chua,… Người Dao rất hay uống rượu kể cả phụ nữ và thiếuniên, hằng ngày họ uống nước chè, nước vối cũng có người uống nước lã.Trong ăn uống hàng ngày người Dao có những thói quen và kiêng cữ nhấtđịnh như khi ăn xong họ kiêng không để đũa ngang miệng bát vì đó là dấuhiệu nhà có người chết hay khi nhà có khách họ tiếp đón và khoản đãi rấtnhiệt tình, luôn tiếp cho khách thức ăn ngon nhất, ăn xong được tiếp tăm vànước rất chu đáo

Có thể thấy được rằng, những nét truyền thống về văn hóa vật chất củangười Dao vẫn được lưu truyền từ xa xưa và cho đến ngày nay nó vẫn giữđược những đặc trưng cơ bản mà không hề bị phai nhạt theo thời gian

1.3.1.5 Đặc trưng về văn hóa tinh thần

Văn học nghệ thuật và những tri thức dân gian là một bộ phận khôngthể thiếu được trong văn hóa tinh thần của người Dao

Trang 28

Trong sáng tác dân gian chủ yếu là loại sáng tác truyền miệng thì vănhọc dân gian chiếm một khối lượng rất lớn và phong phú với rất nhiều truyện

cổ được chia làm hai loại là truyện kể dân gian và truyện bằng thơ, trong đótruyện kể khối lượng lớn hơn Nội dung của các truyện kể dân gian thườngnói về mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa người vị tha và kẻ ích kỷ, giữa

người siêng năng và kẻ lười biếng như truyện Con cáo biết hát; hay đó là

những câu truyện kể đề cao sự lao động sáng tạo của con người nói lên ước

mơ của con người về một cuộc sống ấm no hạnh phúc như truyện Quả bầu,

Nước ngập trời,… Ngoài ra thì còn có các truyện bằng thơ chiếm một số

lượng nhỏ nhưng nó có giá trị quan trọng, góp phần làm phong phú hơn chonền văn học dân gian của dân tộc mình, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu

biểu như truyện Bàn vương (Bàn Hồ) là truyện thơ dài, phản ánh những quan

niệm của người Dao về nguồn gốc vũ trụ, của vạn vật, nguồn gốc về loàingười trong đó có người Dao, được thầy cúng đọc trong các nghi lễ lớn như lễ

lập tĩnh lễ cầu mùa,…; hay truyện Đặng Hành và Bàn Đại Hội là câu truyện

kể về hành trình sang Việt Nam tìm đất sinh sống và làm ăn đầy gian truân

của hai người Dao họ Đặng và họ Bàn “Do không biết tiếng Việt, họ bị vua

Việt Nam nghi là kẻ gian, bắt giữ Trong tù, hai người đã lấy “Quá sơn bảng” – một loại giấy thông hành của vua Trung Quốc cấp ra đắp cho đỡ rét,

do đó vua Việt Nam biết họ là dân lành, liền thả ra và cấp thuyền để họ đi tìm nơi sinh sống Tìm được đất vừa ý họ trở về Trung Quốc đưa vợ con, họ hàng sang Việt Nam lập nghiệp” [17; 125]

Thơ ca, tục ngữ, câu đố, ca dao, dân ca của đồng bào Dao cũng vô cùngphong phú và đa dạng đều xuất phát từ cuộc sống lao động và sinh hoạt hàngngày của đồng bào Đó là những bài thơ đề cao đức tính siêng năng, cần cùlao động của đồng bào Dao:

“Dắt chéng cay đày niàng slỏ hí, Keng quấy tủi chẩn niàng hí slắn”

(Gà gáy canh một em đã thức, Queng quý giục xuân em đã đi) [4; 303]

Trang 29

Hay những bài thơ ca ngợi tình yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ “Thể

thơ phổ biến nhất mà dân tộc Dao hay dùng là thể thơ thất ngôn thường cứ hai câu hoặc bốn câu diễn đạt trọn một ý nào đó” [15; 48]

Tục ngữ của người Dao cũng vô cùng đa dạng, đó là những câu tục ngữđược đúc kết từ những kinh nghiệm, triết lý về cuộc sống từ ngàn đời nay

“Can diếu mái cán hoẳng,

Can hoỏng mái cán bi ủng”

(Đi sớm không đi tối, Cần nắng chẳng cần mưa) [33; 167]

Các điệu múa, các bài hát, nhạc cụ sử dụng trong các nghi lễ tôn giáocũng mang đậm màu sắc tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao, mỗi điệu múa,mỗi một nhạc cụ được sử dụng lại mang ý nghĩa nhất định trong nghi lễ đó

Tri thức dân gian của người Dao rất đa dạng và phong phú, với nhữngkinh nghiệm được đúc kết từ lâu đời, truyền từ đời này sang đời khác làm chonền tri thức dân gian ngày càng giàu hơn Người Dao là cư dân nông nghiệp,kết quả của mùa vụ đều phụ thuộc vào yếu tố thời vụ Cho nên trong quá trìnhsản xuất từ lâu đời, người Dao đã đúc kết được những kinh nghiệm thànhnông lịch để phục vụ cho sản xuất như: Tháng hai (nhị hả): trồng sắn, tra ngô,cày ải ruộng Tháng ba (phà hả): hái chè, làm cỏ sắn, cày bừa ruộng Thángnăm (hửng hả): đắp bờ, cấy lúa ruộng Tháng chín (chuýa hả): gặt lúa ruộng,

bẻ ngô, hái đỗ hè,… Cách tính thời gian theo dân gian; cách phán đoán thờitiết, khí hậu của người Dao cũng vô cùng đặc biệt, nhờ vào đó mà họ có được

nguồn nước tưới dồi dào từ trời qua các dấu hiệu của tự nhiên “Xem mặt trời

và các dấu hiệu tự nhiên khác có thể giúp đồng bào nhận biết trời có mưa hay không Vào buổi chiều tối khi mặt trời lặn, nếu thấy có những tia sáng chiếu thẳng lên như những ánh đèn pha là dấu hiệu sẽ có mưa lớn Đồng bào còn đúc rút ra rằng trông mặt trời lúc lặn có ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa” [17; 120] Cách chữa bệnh theo y học dân gian đã có từ xa xưa được

đồng bào Dao chia làm ba loại thuốc: Thuốc bổ, thuốc chữa bệnh và thuốc

Trang 30

độc “Thuốc bổ dùng để kích thích tiêu hóa, tăng cường thể lực, gồm: thuốc

bổ máu, thuốc ngâm rượu” [17; 121] Các bài thuốc chữa bệnh của đồng bào

được lưu truyền rộng rãi từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu bị các bệnhthuộc cơ quan nội tạng trong cơ thể thì có thể sử dụng các bài thuốc uống và

ăn Nếu bị các bệnh ngoài da thì chữa bằng cách dùng nước thuốc ngâm, rửavết thương Bị gãy xương hay các vết thương trên cơ thể thì dùng các bài

thuốc giã thuốc, ủ nóng rồi bó, đắp vào “Thuốc độc dùng trong việc săn bắt,

bẫy muông thú, đánh duốc cá, trừ sâu bệnh bảo vệ cây trồng… ít người biết làm và biết sử dụng” [17; 124] Ngoài ra, thì họ còn chữa bệnh bằng cách

đánh cảm, xoa bóp, bấm huyệt được đồng bào Dao truyền lại từ nhữngngười đi trước làm cho nền tri thức dân gian của dân tộc Dao càng trở nênquý giá hơn và giúp ích rất nhiều cho người nông dân

Hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Dao bao gồm hàng loạt những

hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng mang đậm màu sắc của Đạo giáo và đậm đà bảnsắc dân tộc Với hàng loạt tín ngưỡng dân gian như: thờ tổ tiên là một tín ngưỡngrất quan trọng, là một nét đẹp văn hóa của người Dao hay các tín ngưỡng mangđậm màu sắc của Đạo giáo và đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện qua cácnghi lễ lớn như: Lễ cúng Bàn Vương, Lễ Tết nhảy, Lễ Lập Tĩnh,…

Ngoài ra còn phải kể đến phong tục tập quán của người Dao như phongtục thờ Bàn Hồ (ông tổ của người Dao) là một tục lệ khá điển hình trong đờisống sinh hoạt của người Dao, ngoài việc thờ cúng hàng ngày, họ còn tổ chức

lễ cúng Bàn vương với các nghi lễ chính như: lễ khất, lễ cúng Bàn vương, lễđưa tiễn; ngoài ra thì còn các phong tục khác như sinh đẻ và nuôi con; cưới

xin; làm nhà mới; ma chay; … Cưới xin, thì “hầu hết trai gái người Dao lấy

vợ lấy chồng trước tuổi hai mươi” [4; 228] Tục cưới xin của họ bao gồm

nhiều những nghi lễ phức tạp, mỗi nhóm người Dao lại có một nghi lễ riêng

của mình nhưng vẫn tiến hành qua mấy bước sau: “Khi thấy người con gái

nào vừa ý, nhà trai nhờ một người cùng làng với bên gái đánh tiếng hộ Nếu nhà gái đồng ý thì nhà trai làm lễ dạm hỏi… khi nghe nhà trai bày tỏ, nhà gái

Trang 31

thuận gả thì trao “lộc mệnh” của con gái mình cho nhà trai đem về so tuổi…

đi xem bói chân gà… nếu tốt thì chính thức đặt vấn đề kết hôn… làm lễ ăn hỏi

và lễ cưới [4; 229,230] Hay trong tục ma chay, đồng bào Dao quan niệm

rằng “người nào chết là người đó vĩnh biệt những người thân thích, lìa khỏi

trần gian sang cùng với tổ tiên sống ở thế giới khác cũng không khác gì thế giới ở trần gian… Ma chay còn phản ánh nhiều tục lệ xa xưa của người Dao” [4; 240] như khi có người chết thì không được khóc, họ vẫn giữ tục

chôn một lần không cải táng,

Người Dao có nguồn gốc Trung Quốc, di cư sang Việt Nam từ thế kỷthứ XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Ở Việt Nam, Dao là dân tộc thiểu số códân số đông thứ 9 trong số 54 dân tộc anh em Với những phong tục tập quán,tín ngưỡng và một nền văn học, tri thức dân gian đa dạng và phong phú, đượclưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Với các nhóm khác nhau, nhiều têngọi khác nhau, cách ăn mặc, trang trí hoa văn khác nhau nhưng ở họ vẫn có sựthống nhất về tên tự gọi, về ngôn ngữ và các đặc điểm văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Dao, đều có chung nguồn gốc là con cháu của Bàn vương

1.3.2 Người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

1.3.2.1 Nguồn gốc và tên gọi của người Dao Tiền ở Phú Thọ

Là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Daovới nhiều nhóm Dao khác nhau, cư trú ở nhiều vùng, miền khác nhau trên đấtnước, trong đó có nhóm Dao Tiền định cư trên địa bàn bản Hạ Thành, xã TânLập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Theo các nhà nghiên cứu Dân tộc họccho rằng người Dao cư trú ở Phú Thọ có nguồn gốc ở Trung Quốc được di cư

từ các tỉnh ở miền Nam Trung Quốc như Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây

và Vân Nam, sang bằng đường thủy vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII Cuộc

di cư của người Dao Tiền vào Phú Thọ là cuộc di cư tập trung, có tổ chức mà

nó còn để lại nhiều dấu tích trong phong tục tập quán, tín ngưỡng và qua bản

Trang 32

Theo cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện dân tộc học - NXB Khoa học xã hội, có nói về thời gian di cư của người Dao Tiền vào Việt Nam: “Người Dao vào Việt Nam qua nhiều thời kỳ, bằng

nhiều đường và nhiều nhóm khác nhau Qua gia phả của một số dòng họ người Dao, ta có thể thấy người Dao Tiền vào Việt Nam vào khoảng cuối thế

kỷ XVIII” [32;59] Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng người Dao Tiền vào

Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, và di cư đi các tỉnh trong đó có cótỉnh Phú Thọ

Truyền thuyết kể lại rằng: Một năm hạn hán đói rét, người Dao phải đốtlửa để sưởi ấm, khi đi soi cá, do vô ý đã làm cháy cầu vàng của nhà vua Vuađịnh chu di tam tộc, nhưng nhờ có quan đại thần xin tha tội chết nên nhà vua

đã ra lệnh đuổi cả bộ tộc đi biệt sứ Bàn Văn Hội, Đặng Thị Hành và TriệuThông là ba người dẫn đầu đoàn người Dao sang Việt Nam tìm nơi cư trú, tìmđất sinh sống và làm ăn đầy gian truân của hai người Dao họ Đặng và họ Bàn

“Do không biết tiếng Việt, họ bị vua Việt Nam nghi là kẻ gian, bắt giữ Trong

tù, hai người đã lấy “Quá sơn bảng” – một loại giấy thông hành của vua Trung Quốc cấp ra đắp cho đỡ rét, do đó vua Việt Nam biết họ là dân lành, liền thả ra và cấp thuyền để họ đi tìm nơi sinh sống Tìm được đất vừa ý họ trở về Trung Quốc đưa vợ con, họ hàng sang Việt Nam lập nghiệp” [17; 125] Nhưng do ngôn ngữ bất đồng, binh lính Việt Nam tưởng họ là giặc nên

đã bắt giam, sau đó đọc được Quá sơn bảng văn (giấy thông hành), biết họ làdân lành đang tìm nơi cư trú, vua Lê đã sai người cho thả tự do và cử lính dẫn

họ ngược theo sông Hồng đi tìm miền đất sống Đến cửa sông Bạch Hạc, thấy

có 3 con sông lớn, với kinh nghiệm du canh du cư của mình, họ đã nhận thấyđây là vùng đất màu mỡ, thích hợp với cuộc sống của họ, nên họ đã lênthuyền trở về Trung Quốc đóng 7 chiếc thuyền lớn, tổ chức cho người Daovượt biển Móng Cái, Quảng Ninh vào cửa sông Hồng rồi đi ngược lên Ở trênbiển, 4 chiếc thuyền lớn của họ bị gió Bắc đánh bật ra xa bờ Họ nhảy lên xinhứa với trời phật, thánh thần sau này sẽ làm lễ Tết nhảy để tạ ơn cứu mạng

Trang 33

nếu được đấng thần linh che chở phù hộ cho đưa thuyền vào bờ Riêng họTriệu Mốc bị gió bão đẩy đi xa hơn phải hứa sẽ làm lễ Tầm đàng để tạ ơn HọTriệu Mốc cập bờ Thanh Hóa, còn các họ khác dạt vào cửa sông Hồng ngượclên đến Bạch Hạc, họ bỏ thuyền, lên bờ tìm nơi sinh sống Đến gốc đa to, họchém vào cây và thề sẽ cưu mang đùm bọc nhau Nếu có bất hòa thì đóng cửabảo nhau, sẽ không bao giờ kiện cáo nhau ở cửa quan.

Nhóm Dao Tiền còn có tên là Dao Đeo Tiền hay Tiểu Bản Ngày cướigọi là Dao Tiểu Bản Còn tên gọi là Dao Đeo Tiền là do cổ áo của người phụ

nữ có đính 7 - 9 đồng tiền kim loại

Trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao

Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của tác giả Lý Hành Sơn - NXB Khoa học xã hội, có

nói đến cách gọi tên đồng bào Dao Tiền: “Riêng nhóm Dao Tiền thì có đặc

điểm là phụ nữ mặc váy in hoa văn xanh lơ, mặc áo dài nhuộm chàm, đặc biệt là ở cổ áo phía sau gáy có treo 7 hoặc 9 đồng tiền xu bằng kim loại và đây là nét đặc trưng để nhóm dao này có tên gọi là Dao Tiền hoặc Dao Đeo Tiền” [20; 18 ].

Trong cuốn Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết Đẳng,

Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến - NXB Khoa học xã hội,

1971, có nói về tên gọi Dao Tiền: “Do ở cổ áo có đính 9 đồng tiền” [4; 33].

Sở dĩ có tên gọi này là do trang phục của người phụ nữ Dao Tiền có đính 9đồng tiền bằng bạc nên được gọi với tên gọi như vậy

Qua đó, ta có thể thấy rằng người Dao Tiền vào Phú Thọ vào khoảngcuối thế kỷ XVIII, chủ yếu có nguồn gốc ở Trung Quốc được di cư từ các tỉnh

ở miền Nam Trung Quốc như Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và VânNam Họ được gọi là người Dao Tiền hay Dao Đeo Tiền là do trang phục củangười phụ nữ có trang trí 7 hoặc 9 đồng tiền kim loại ở cổ áo Nhờ những đặcđiểm khác nhau về trang phục mà mỗi nhóm lại có tên gọi khác nhau

Trang 34

1.3.2.2 Đời sống văn hóa vật chất của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Thanh Sơn là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, dân tộc thiểu số chiếmgần 60% Người Dao là một trong hơn 10 dân tộc thiểu số hiện đang sinhsống tại tỉnh Phú Thọ Dân số người Dao ở Phú Thọ chỉ đứng sau hai dân tộcKinh và Mường Đến nay có 12/13 huyện, thị, thành có người Dao sinh sống,song chỉ có 3 huyện Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn có đồng bào Dao sinh sống

tập trung nhất Toàn tỉnh Phú Thọ “hiện có 11.126 người Dao, chiếm 0,9% dân

số toàn tỉnh đang sinh sống trong 28 bản động khác nhau” [40], trong đó người

Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn có hơn 470 người(năm 2013), chiếm 4,2% tổng số người Dao sinh sống ở Phú Thọ

Sau khi di cư đến Phú Thọ, người Dao Tiền đã định cư lâu dài trênvùng đất này Họ sinh sống chủ yếu ở các vùng đồi núi cao và chủ yếu là ởnhững vùng giữa, tập trung đông nhất là ở Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn

Đồng bào Dao lập thành các bản để sống tập trung hoặc xen kẽ với cácdân tộc khác như Kinh, Mường, Tày, Mông, Thái,… Các dân tộc sống đanxen, đoàn kết, hòa thuận, hỗ trợ cùng nhau phát triển Là một trong hơn 10dân tộc thiểu số đang sinh sống ở Phú Thọ, chủ yếu là hai nhóm Dao Tiền vàDao Quần Chẹt, người Dao có một nền văn hóa riêng với phong tục tập quánđộc đáo mang đậm bản sắc văn hóa tộc người

Người Dao Tiền ở Phú Thọ đều nói chung một thứ ngôn ngữ là ngônngữ Dao, ngoài ra thì họ còn sử dụng ngôn ngữ Kinh khi phải giao tiếp vớibên ngoài Về chữ viết, người Dao vẫn chưa có chữ viết riêng Họ vẫn dựavào chữ Hán để phiên âm ra chữ Nôm, gọi là chữ Nôm Dao, và sử dụng nó đểghi chép và sáng tác thơ văn Nhà của đồng bào Dao thường làm theo lối nửađất, nửa sàn, có nhiều gia đình xây nhà như nhà của người Kinh

Còn đàn ông người Dao Tiền cũng giống như trang phục của đàn ôngngười Dao nói chung, họ thường hay mặc áo ngắn, hay may quần bằng vảibông nhuộm chàm, cắt theo kiểu “chân què” cạp lá tọa, ngoài ra thì họ còn

Trang 35

mặc quần áo như người Kinh hàng ngày, chỉ khi có dịp lễ gì thì họ mới mặctrang phục truyền thống của mình Thanh niên Dao hay thích đeo vòng taybằng bạc hoặc đồng.

Phụ nữ Dao Tiền thường cắt tóc ngắn, thường đội khăn chàm Do sốngvới người Kinh và các dân tộc khác nên họ đã có sự thay đổi cho phù hợp vớinơi mà họ sinh sống, để tóc dài, không quấn khăn thường xuyên mà chỉ khi cónghi lễ hay lễ hội thì họ mới đội khăn Trang phục của phụ nữ Dao Tiền nhìnchung đều có những sắc thái gắn với quá khứ của thủy tổ dân Trong cuốn

Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng,

Nông Trung - NXB Khoa học xã hội, 1971 có giới thiệu về trang phục của

phụ nữ Dao Tiền: “Áo của phụ nữ Dao Tiền cùng kiểu với áo của Dao Đỏ

nhưng ít thêu và nẹp ngực nhỏ hơn, ở cổ áo phía sau gáy có đính 7 hoặc 9 đồng tiền,…khuy áo của người Dao Tiền là hai hình bán nguyệt, chạm trổ rất công phu, phần trung tâm của nó là hình sao 8 cánh Hai bán nguyệt đính ở hai thân áo, khi cài thì ngoắc vào nhau thành hình tròn,… Họ mặc váy màu chàm in hoa văn màu xanh lơ, yếm là một vuông vải trắng có khâu thêm một miếng vải hình tam giác vào giữa một cạnh của vuông vải đó để làm cổ yếm,

… hai góc vuông phía trên của yếm đính dải luồn qua nách buộc ở sau lưng” [4; 158,159, 160] Phụ nữ Dao Tiền thích dùng đồ trang sức bằng bạc, có

người đeo tới 12 chiếc vòng cổ, 12 cái nhẫn; ai cũng đeo vòng tai hoặc đeocúc bạc Riêng váy mặc của phụ nữ Dao Tiền thường có trang trí bằng sápong và chỉ thấy ở nhóm Dao Tiền

Người Dao Tiền cũng như các dân tộc thiểu số khác sinh sống ở tỉnhPhú Thọ đều là cư dân nông nghiệp, tùy theo đặc điểm địa lí nơi cư trú mà lựachọn cho mình những loại hình sản xuất phù hợp Họ nhận thức được giá trịcủa ruộng nước và đã có những cách thức canh tác cho phù hợp như việctrồng lúa nước Ngoài ra thì họ còn canh tác nương rẫy để trồng trọt lâu dàicác loại cây như cây lúa, ngô, khoai, sắn, trồng cây dược liệu,… đây cũng làmột loại hình sản xuất nông nghiệp khá là phổ biến ở nơi này và nó giữ vai trò

Trang 36

quan trọng trong đời sống kinh tế của người Dao Tiền Người Dao Tiền còn

sử dụng các mảnh đất xung quanh nhà để trồng trọt các loại cây giúp bổ sungnguồn thực phẩm sạch, cải thiện đời sống, ngoài ra thì họ còn đem bán để cóthêm nguồn thu nhập cho gia đình như cây rau, cây ăn quả, cây thuốc,

Chăn nuôi gia súc, gia cầm là hoạt động kinh tế phổ biến và cùng với

trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Dao Tiền ở bản

Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn Chăn nuôi của họ cũng rất pháttriển, vừa để đáp ứng cho nhu cầu nông nghiệp về sức kéo, phương tiện vậnchuyển; cung cấp lương thực thực phẩm thiết yếu cho cuộc sống hàng ngàyvới các vật nuôi như trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan,… mà còn phục vụ cho việccúng bái và các nghi lễ,…

Sản xuất thủ công nghiệp có truyền thống lâu đời của người Dao Tiềnnói riêng và người Dao nói chung, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sốnghàng ngày của họ Với các nghề như nghề rèn, nghề làm giấy, làm đồ trangsức, dệt vải, thêu thùa, đan lát, nấu rượu, nghề mộc,…

Đời sống văn hóa vật chất của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã TânLập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày càng phát triển, tuy di cư sangnhưng họ vẫn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống, bên cạnh đó đã

có sự giao lưu, tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa các dân tộc khác trongcùng địa bàn cư trú để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống

1.3.2.3 Đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Cộng đồng người Dao Tiền ở Phú Thọ cũng như người Dao ở ViệtNam có kho tàng văn học nghệ thuật rất đa dạng và phong phú gồm nhiều thểloại khác nhau như truyện kể, tục ngữ, câu đố, thơ ca,…phản ánh những giátrị lao động sáng tạo của quần chúng và khả năng nhận thức về tự nhiên và xãhội của người Dao Với những bài thơ đề cao đức tính siêng năng, cần cù laođộng của đồng bào Dao như câu thơ của người Dao Tiền:

Trang 37

“Si min slái và lai mậu meng,Tều tậy xam vay vả piều poỏng”

(Cấy lúa trên đá tưởng không ăn,Gắng sức ra công vẫn được mùa)

Dù có khó khăn, gian nan vất vả đến đâu thì chỉ cần cố gắng thì dùtrồng lúa trên đá cũng sẽ được mùa Đó còn là những bài thơ ca ngợi tình yêuthiên nhiên, tình yêu nam nữ

Nhạc cụ là một thứ không thể thiếu được trong các nghi lễ và lễ hội củangười Dao Tiền tạo được không khí thiêng liêng hơn cho buổi lễ với nhữngbài cúng, bài hát, múa,… mang đậm bản sắc dân tộc với những nhạc cụ chủyếu như chiêng, trống, chuông, tù và, … hay các đạo cụ dùng để múa như quemúa, dao gỗ, kiếm gỗ, búa gỗ,…với các điệu múa như múa chuông là điệumúa đầu tiên trong các nghi lễ; múa rùa; múa Tam thanh thiên đình; múa tổtiên; múa thần linh;…

Người Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng có cách tính thờigian theo dân gian; cách phán đoán thời tiết, khí hậu để có thể có được nônglịch phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi đạt hiệu quả tốt nhất Ngày nay

họ không chỉ dựa trên nông lịch của mình mà còn kết hợp với dự báo thời tiết,thời sự về nông nghiệp để sản xuất, chăn nuôi và bảo vệ cây trồng vật nuôicho phù hợp với sự biến đổi của thời tiết, khí hậu

Tri thức dân gian như y học dân gian luôn giữ vai trò quan trọng đốivới những dân tộc sống trong môi trường vùng sâu vùng xa Họ sử dụngnhững nguồn dược liệu có sẵn từ những cây cỏ hái trên rừng, hay trồng trongnhà để chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Các tri thức y học dân gian củangười Dao Tiền đều rất đa dạng, phục vụ cho chính sức khỏe của bản thânmình và cộng đồng

Giao lưu văn hóa tinh thần trong quá trình sống chung với các dân tộckhác người Dao Tiền đã có sự giao lưu và tiếp nhận những tinh hoa văn hóacủa các dân tộc khác để tạo nên sự đa dạng và phong phú trong văn hóa tinh

Trang 38

thần của người Dao Tiền, phổ biến trong ngôn ngữ phổ thông và văn hóa Việtđóng vai trò quan trọng Với các tín ngưỡng, phong tục tập quán gắn vớingười Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng như tín ngưỡng cúng BànVương – ông tổ của người Dao, ngoài việc thờ cúng tổ tiên thì họ còn thờcúng các thần hoàng, thần núi, thần rừng, thần đất,… nơi họ sinh sống làm ăn.Ngoài ra thì họ còn có các bài cúng các vua Hùng, ông tổ của đất nước ViệtNam; cúng đức vua Lê Thái Tổ người có công trong việc che chở, cưu mang

họ lúc ở Trung Quốc sang Việt Nam lánh nạn Trong xã hội – gia đình, ngườiDao Tiền vẫn duy trì tục làm Lễ Lập Tĩnh cho người con trai đến tuổi trưởngthành; Tết nhảy đây là nghi lễ cúng tạ ơn Bàn Vương, tổ tiên đã phù hộ choông cha mình vượt qua được sóng to gió lớn sống xót lên đất liền sinh sốngtrong cuộc di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam Ngoài các nghi lễ ở trên thì

họ còn có các tục lệ khác như lễ quét mả, lễ buộc vía là các tục lệ đã ăn sâu từnhiều đời nay Tục cưới xin và ma chay cũng giống như người Dao nói

chung, các nghi lễ cưới xin diễn ra theo các bước cơ bản sau: “Trước khi làm

lễ dạm hỏi chính thức, nhà trai xin nhà gái cho con trai đến làm công, tùy theo nhà gái mà thời gian làm công có thể ngắn hay kéo dài” [4; 234], làm lễ

dạm ngõ (dạm hỏi), sau đó là lễ hỏi cưới và tổ chức cưới, cuối cùng là sauđám cưới làm lễ lại mặt Còn trong tang ma thì người Dao vẫn cho rằng việcsống ở trên đời là gửi, khi chết là lúc linh hồn của con người thanh thản lêncõi Dương Châu (cõi thiên đàng), họ vẫn giữ tục chôn một lần không cải táng

Người Dao Tiền có tục “người chết khi chưa chôn chỉ cuốn vải, chăn hoặc bó

liếp, còn quan tài thì ghép sẵn ở huyệt” [4;241].

Người Dao Tiền có tới 12 dòng họ, tiêu biểu có thể kể đến như họ Bàn,Triệu, Lý, Dương, Phùng, Trịnh, Lê, Hoàng… Nhưng theo điều tra, có thể thấy

họ Bàn và họ Lê chiếm nhiều hơn các họ khác Ở mỗi dòng họ lại có các nhánhkhác nhau

Thích nghi với điều kiện sống mới, người Dao đã từng bước định canhđịnh cư theo những thôn bản cư trú tập trung, có sự giao lưu văn hóa với các

Trang 39

dân tộc khác cùng nơi cư trú, đã tạo nên sự phong phú về đời sống văn hóatinh thần của người Dao Tiền được thể hiện qua ngôn ngữ, chữ viết giàu bảnsắc dân tộc, ở kho tàng văn hóa dân gian gồm nhiều thể loại như truyện kể,thơ ca, tục ngữ, câu đố, ; ở tri thức dân gian phong phú về y học, nông lịch,…

1.4 Khái quát về lễ Lập Tĩnh

Lễ Lập Tĩnh hay còn gọi là Lễ Cấp Sắc, Lễ Thụ Đèn là một hình thứctín ngưỡng mang đặc trưng của người Dao, một nghi lễ truyền thống, rất phổbiến của dân tộc Dao và bắt buộc đối với đàn ông người Dao nói chung vàcủa đồng bào dân tộc Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh

Sơn, tỉnh Phú Thọ nói riêng Đó là “nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành của

người con trai cả về thể chất cũng như tâm linh” [15; 109], nghi lễ đặt tên

âm hay đặt tên cúng cơm cho người con trai, tên được ghi vào danh sách giaphả theo thứ tự tổ tiên trong gia đình, đánh dấu sự trưởng thành của họ, họquan niệm là chỉ người con trai đã được lập tĩnh mới nhận được sự công nhậncủa cộng đồng và sự chấp nhận của thần linh cho chàng trai đó là một thànhviên chính thức của cộng đồng, có vị trí trong đời sống và sinh hoạt, có đủ tưcách làm các việc trong Lễ cúng Bàn vương, Lễ cúng tổ tiên và sau khi chếthồn mới được về với tổ tiên (ở Dương Châu) Các nhóm Dao gọi nghi lễ nàykhác nhau Người Dao Đỏ và Dao Tuyển gọi là Quả Tân hoặc Quả Tăng cónghĩa là Lễ Thụ Đèn Người Dao Tiền, Dao Quần Chẹt gọi là Lễ Cấp Sắc hay

Trang 40

tiên Có cấp sắc mới được xã hội coi là người lớn, nếu không già vẫn bị coi là trẻ nhỏ và sau khi chết hồn chỉ được về động đào hoa” [32; 332].

Lập Tĩnh đánh dấu sự trưởng thành của một con người về mặt xã hội và

tâm linh “Người nào được cấp sắc thì mới có thể làm nghề cúng bái… biết

làm các phép thuật mà quan trọng hơn là hải được thánh thần “công nhận”

và được “cấp âm binh mã”; người nào được cấp sắc thì lúc còn sống trên dương thế mới được quyền thờ cúng tổ tiên, sau này chết, hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên…được công nhận là con cháu Bàn Vương và mới được Bàn Vương phù hộ; người được cấp sắc mới được xã hội coi là người lớn… Đồng bào người Dao có lòng tin sâu sắc rằng được cấp sắc thì làm ăn mới may mắn, sinh hoạt mọi mặt mới được thuận lợi, dòng họ dân tộc mới phát triển” [4; 279,280] Người con trai khi được cấp sắc hay lập tĩnh sẽ được

hưởng mọi quyền lợi của mình về mặt xã hội, dù có tốn kém bao nhiêu họcũng tổ chức bằng được nghi lễ này Vì lẽ đó mà nghi lễ này được coi mộttrong những nghi lễ quan trọng trong đời người con trai dân tộc Dao

Lễ lập tĩnh là tên gọi của các nhà khoa học, xuất phát từ những đặcđiểm là người thụ lễ được thầy cúng cấp cho một đạo sắc viết bằng chữ NômDao với nội dung nói về lai lịch người thụ lễ, nguyên do thụ lễ và các điềurăn Trong quan niệm của cộng đồng người Dao, nghi lễ quan trọng nhất củađời người đàn ông, bắt buộc phải trải qua là lễ lập tĩnh hay còn gọi là lễ cấpsắc Người Dao Tiền quan niệm, đàn ông nếu chưa trải qua lễ lập tĩnh thì dùgià vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa cótên âm Người đã qua lập tĩnh dù còn ít tuổi vẫn được coi là người trưởngthành, mới có pháp danh, có chức sắc để cúng bái, có quyền thờ cúng tổ tiên

và được tham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc chothầy cúng Họ cho rằng, có trải qua lễ lập tĩnh mới biết lẽ phải trái ở đời, mớiđích thực là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới được đoàn tụ với tổ tiên

Lễ lập tĩnh thường được tổ chức vào tất cả các tháng trong năm, tùy thuộc vàogia đình quyết định khi xem ngày giờ có phù hợp với tuổi của người lập tĩnh

Ngày đăng: 26/05/2014, 21:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khổng Diễn chủ biên (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn chủ biên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1995
2. Nguyễn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam - NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
3. Nguyễn Hồng Dương – Phùng Đạt Văn, Tín ngưỡng tôn giáo và xã hội dân gian của viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng tôn giáo và xã hội dân gian
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
4. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1971
5. Mai Thanh Hải (2006), Từ điển tín ngưỡng – tôn giáo, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tín ngưỡng – tôn giáo
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
6. Cao Thị Hải (2010), Lễ cấp sắc Pựt Tày, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cấp sắc Pựt Tày
Tác giả: Cao Thị Hải
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2010
7. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với đạo giáo, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam với đạo giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
8. Diệp Đình Hoa (2002), Người Dao ở Trung Quốc, NXB Khoa học xã hội 9. Lê Như Hoa (2001), Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, NXB Văn hóathông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Trung Quốc, "NXB Khoa học xã hội9. Lê Như Hoa (2001), "Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam
Tác giả: Diệp Đình Hoa (2002), Người Dao ở Trung Quốc, NXB Khoa học xã hội 9. Lê Như Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội9. Lê Như Hoa (2001)
Năm: 2001
10. Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (ch.b), Lý Hành Sơn (1999), Văn hoá truyền thống người Dao ở Hà Giang, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống người Dao ở Hà Giang
Tác giả: Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (ch.b), Lý Hành Sơn
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1999
11. Nguyễn Việt Hùng, Nghi lễ trưởng thành và kiểu truyện dũng sĩ. (Qua việc khảo sát tập “Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn- Tây Nguyên”) đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật – số 11/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ trưởng thành và kiểu truyện dũng sĩ". (Qua việc khảo sát tập “Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn- Tây Nguyên
12. Phan Ngọc Khuê (2003), Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang
Tác giả: Phan Ngọc Khuê
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
13. TS. Đoàn Triệu Long, Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam (Hỏi – đáp), NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam (Hỏi – đáp)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
14. Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Thụ (2000), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Thụ
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2000
15. Xuân Mai – Phạm Công Hoan, Lễ tục của người Dao ở Vĩnh Phúc và Lào Cai, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục của người Dao ở Vĩnh Phúc và Lào Cai
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
16. Marguerite – Marie Thiollier, người dịch Lê Diên (2001), Từ điển tôn giáo, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tôn giáo
Tác giả: Marguerite – Marie Thiollier, người dịch Lê Diên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2001
17. Nguyễn Thu Minh chủ biên, Văn hóa dân gian người Dao ở Bắc Giang, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Dao ở Bắc Giang
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
19. BS. Chu Thái Sơn, Võ Mai Phương, Người Dao, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao
Nhà XB: NXB Trẻ
20. Lý Hành Sơn, Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn, NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
21. Phạm Nhân Thành (2011), Văn hóa các dân tộc ít người Việt Nam, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc ít người Việt Nam
Tác giả: Phạm Nhân Thành
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2011
22. Phạm Nhân Thành (2007), Những tập tục kỳ lạ của một số dân tộc ít người, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tập tục kỳ lạ của một số dân tộc ít người
Tác giả: Phạm Nhân Thành
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w