1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN BIỂU TƯỢNG NƯỚC VÀ THẾ ỨNG SỬ VỚI NƯỚC CỦA NGƯỜI MƯỜNG QUA TỤC NGŨ

86 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu Tượng Nước Và Thế Ứng Sử Với Nước Của Người Mường Qua Tục Ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thanh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Việt Hùng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 162,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu tục ngữ Mường và biểu tượng nước trong tục ngữMường giúp ta hiểu thêm về văn hóa của người Mường, yêu mến hơn dân tộcnày, góp phần tìm hiểu rộng hơn về một dân tộc thiểu

Trang 1

LỜI CẢM ƠN!

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo

tận tình của TS Nguyễn Việt Hùng Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc nhất tới thầy

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô trong bộ môn văn họcdân gian – Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điềukiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Sau cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, người thân, bạn

bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Nguyễn Thị Cẩm Thanh

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và ý nghĩa khóa luận 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giới thuyết một số nét về dân tộc Mường 7

7 Cấu trúc khóa luận 9

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG I: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TỤC NGỮ, TỤC NGỮ MƯỜNG 10

1.1 Khái quát chung về tục ngữ 10

1.1.1 Khái niệm về tục ngữ 10

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ 13

1.1.3 Phân biệt tục ngữ với một số khái niệm gần gũi khác: 15

1.1.4 Tục ngữ là hiện tượng của văn học dân gian 16

1.1.5 Tư duy và ngôn ngữ của người Mường 16

1.2 Khái quát chung về giá trị văn học Mường và tục ngữ Mường 18

1.2.1 Giá trị văn học Mường 18

1.2.1.1 Mo, Khấn 19

1.2.1.2 Xéc bùa 20

1.2.1.3 Thường, Rang 20

1.2.1.4 Bộ mẹng 21

1.2.1.5 Hát ví, đúm 21

1.2.1.6 Một vài loại hát khác 22

1.2.1.7 Hát mừng nhà mới 22

1.2.2 Khái quát chung về tục ngữ Mường 22

* Tiểu kết chương I 25

CHƯƠNG II: BIỂU TƯỢNG NƯỚC TRONG TỤC NGỮ MƯỜNG 26

2.1 Khái niệm biểu tượng và phân biệt biểu tượng với hình tượng 26

Trang 3

2.1.1 Khái niệm biểu tượng 26

2.1.2 Phân biệt biểu tượng với hình tượng 27

2.2 Biểu tượng nước và những biến thể của nước trong tục ngữ Mường 28

2.2.1 Bảng thống kê số liệu nước và biến thể của nước qua tục ngữ Mường 28

2.2.2 Biểu tượng nước về kinh nghiệm thiên nhiên của người Mường 32

2.2.3 Canh tác nông nghiệp của người Mường qua tục ngữ 34

2.2.4 Một số sự tích và truyện kể dân gian về nguồn nước của người Mường 36

2.2.4.1 Sự tích vó làng Chiềng 36

2.2.4.2 Sự tích vó nước Ang Nàng 38

2.2.4.3 Truyện Nước kẻ già – ma kẻ đủ 40

2.3 So sánh biểu tượng nước trong tục ngữ Mường và tục ngữ Việt 41

2.3.1 Sự giống nhau 41

2.3.1.1 Về nội dung 41

2.3.1.2 Về hình thức diễn đạt 43

2.3.2 Sự khác nhau 46

2.3.2.1 Về nội dung 46

2.3.2.2 Về hình thức 48

* Tiểu kết chương II 49

CHƯƠNG III: THẾ ỨNG XỬ VỚI NƯỚC CỦA NGƯỜI MƯỜNG QUA TỤC NGỮ 50

3.1 Nước là biểu tượng thiêng liêng, biểu tượng tự nhiên to lớn 50

3.2 Nước là biểu tượng của nguồn sống 54

3.3 Việc quản lí nguồn nước, công tác thủy lợi của người Mường 58

3.4 Nước trong tín ngưỡng của người Mường 60

3.4.1 Tín ngưỡng là gì? 60

3.4.2 Tục tế thần nước 60

* Tiểu kết chương III 63

PHẦN KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học dân gian nói chung và tục ngữ nói riêng đều xuất phát trực tiếp

từ lao động rồi trở lại phục vụ cho lao động sản xuất và người lao động Tụcngữ là lời ăn tiếng nói được tổng kết từ cuộc sống của nhân dân, là những bàihọc kinh nghiệm quý báu nhưng lại được thể hiện dưới hình thức ngắn gọn,cân đối, có vần, nhịp, dễ nhớ, dễ sử dụng Chính những điều đó đã tạo nên sứcsống lâu bền cho tục ngữ Tục ngữ không chỉ là hiện tượng lời nói mà còn là ýthức xã hội Qua tục ngữ, ta có thể hiểu được phần nào cách tư duy, vốn ngônngữ, nét văn hóa của từng dân tộc, vùng miền

Muốn hiểu được tục ngữ của một dân tộc thì người viết phải có vốnhiểu biết nhất định về ngôn ngữ và truyền thống văn hóa của dân tộc ấy Dântộc Mường là dân tộc thiểu số, có số dân đông thứ ba trong các cộng đồngngười Việt sau dân tộc Tày, Thái Theo số liệu điều tra ngày 01/04/2009 thìdân tộc Mường có 1 268 963 người, phân bố chủ yếu ở Hòa Bình, Sơn La,Phú Thọ, Thanh Hóa và một số huyện của tỉnh Ninh Bình, Lâm Đồng, Tiếng Mường không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ và truyềntải văn hóa Mường Tiếng Việt và tiếng Mường có chung một nguồn gốc,thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, họ Nam Á Dân tộc Mường có nền vănhóa lâu đời, trong đó văn học dân gian phát triển khá là phong phú và đadạng Việc nghiên cứu tục ngữ Mường và biểu tượng nước trong tục ngữMường giúp ta hiểu thêm về văn hóa của người Mường, yêu mến hơn dân tộcnày, góp phần tìm hiểu rộng hơn về một dân tộc thiểu số của nước ta

Sống trong một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước hoặc làm nươngrẫy, các dân tộc thiểu số ở phía Bắc nước ta khác với các dân tộc thiểu số ở TâyNguyên và Nam Bộ do điều kiện thiên nhiên khác nhau, đất đai, phong tục tậpquán, văn hóa ứng xử cũng khác nhau nên phán đoán, nhận xét, kinh nghiệm

về thời tiết, sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau Ở phía Bắc nước ta thường

có bốn mùa tương đối rõ rệt nhưng ở phía Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và

Trang 5

mùa khô Nhìn tổng quát, tục ngữ của người Việt và các dân tộc thiểu số ở phíaBắc nước ta phần lớn nói về sản xuất nông nghiệp, được đúc kết thành nhữngkinh nghiệm có giá trị, lưu truyền trong cộng đồng bản tộc và có sự trao đổi vớicác dân tộc khác Sản xuất nông nghiệp thì không thể thiếu nước Vì vậy, nước

có vai trò rất quan trọng trong sản xuất và đời sống con người Trong tục ngữ,nhân dân cũng đã sáng tạo ra khá nhiều câu nói về nước nhưng cách sử dụng ởmỗi vùng, mỗi miền lại có những nét đặc sắc riêng

Mỗi dân tộc có những nét khác biệt trong việc sáng tạo ra tục ngữ để sửdụng trong cuộc sống hàng ngày Do ngôn ngữ, môi trường sống, văn hóa,phong tục tập quán khác nhau nên mỗi dân tộc trong cộng đồng người ViệtNam lại có vốn ngôn ngữ riêng Đối với tục ngữ của người Kinh được nhậnrất nhiều sự quan tâm đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thì tụcngữ của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Mường nói riêng thì ít đượcchú trọng, quan tâm hơn Trong khuôn khổ của khóa luận này, tôi xin được đềcập tới tục ngữ của người Mường và vấn đề nghiên cứu là biểu tượng nước vàthế ứng xử với nước của người Mường thông qua tư liệu tục ngữ Như đã nóitrên, những công trình nghiên cứu về tục ngữ Mường vốn không có nhiều thìvấn đề nước trong tục ngữ Mường càng được nói đến ít hơn

Dân tộc Mường là dân tộc có nền văn hóa lâu đời, không có chữ viếtriêng nhưng vượt lên trên điều đó dân tộc Mường vẫn lưu giữ được một khotàng văn học dân gian đồ sộ và tục ngữ giữ một vị trí quan trọng Tục ngữMường là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dânMường Tuy nhiên, tục ngữ Mường chưa được nghiên cứu nhiều về biểu

tượng nước Cho nên, chọn đề tài“Biểu tượng nước và thế ứng xử với nước

của người Mường qua tục ngữ” là việc cần thiết và có ý nghĩa

2 Lịch sử vấn đề

Dân tộc Mường là một dân tộc có nền văn học dân gian phong phú, đặcsắc và đã nhận được sự quan tâm của nhà nước, các nhà nghiên cứu văn họcsưu tầm, dịch, giới thiệu, lưu giữ và phát triển Hội văn nghệ dân gian Việt

Trang 6

Nam được thành lập 01/01/1976, là một tổ chức của nhà nước giữ trọng trách

này Mục đích của hội là “Sưu tầm nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy vốn

văn hóa, văn nghệ dân gian các tộc người Việt Nam”

Việc sưu tầm, dịch và giới thiệu tục ngữ Mường nói chung đã có một

số công trình được thực hiện Ở Hòa Bình chưa có công trình về tục ngữ mà

mới chỉ có cuốn “Dân ca Mường Hòa Bình” của hai tác giả Quách Giao và

Bùi Thiện

Công trình nghiên cứu“Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường

Bi”của các tác giả GS: Nguyễn Từ Chi, Bùi Văn Sơ, Bùi Văn Nhin, Nguyễn

Lân Cường, Nguyễn Ngọc Thanh, Lâm Bá Nam, Đặng Văn Tu, Kiều BáMộc, Nguyễn Dấn, Đinh Công Chảy, Tô Đông Hải, Nguyễn Hữu Thức vàPTS Nguyễn Văn Tài, Lưu Danh Doanh, Nguyễn Văn Châu, Mai ĐứcVượng, Bùi Chỉ, Nguyễn Tấn Việt, Vương Đắc Hùng, Bùi Văn Ngôn, BùiThiện, Trần Hồng Ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc, Sở văn hóa thông tin HàSơn Bình – 1988 Đây là cuốn sách do nhiều tác giả nghiên cứu Hơn nữacuốn sách còn có sự đóng góp tư liệu của nhân dân các xã: Phong Phú, ĐịnhGiáo, Tuân Lộ, Phú Cường, Phú Vinh, Do Nhân, Quy Mỹ, Mỹ Hòa Chỉ đạobiên tập: Phượng Vũ Trong công trình này, phần hai là dân ca, tục ngữ,truyện cổ ở Mường Bi Phần tục ngữ do Nguyễn Hữu Thức sưu tầm và dịch.Tác giả không trích dẫn phiên âm tiếng Mường mà chỉ trích ra phiên âm tiếngViệt Số câu tục ngữ Mường trong cuốn này không nhiều

Công trình nghiên cứu “Hợp tuyển văn học Mường” do tác giả Hoàng

Tuấn Cư – Ngô Quang Hưng – Vũ Ngọc Kỳ (sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn),NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội – 1996 Ở đây tác giả viết phần thứ nhất là vănhọc dân gian trong đó có trích dẫn các câu tục ngữ Mường nhưng tác giảkhông phân ra các chủ đề, nội dung của các câu tục ngữ

Trong cuốn sách Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình của tác giả Bùi Chỉ có phần “Một số tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm thực dân

gian”, Nxb Văn hóa dân tộc, HN – 2001 Tác giả cũng đã sưu tầm một số

Trang 7

câu tục ngữ Mường nhưng công trình này chủ yếu nghiên cứu về văn hóa ẩmthực nên số lượng câu tục ngữ Mường cũng không nhiều

Ở Thanh Hóa có hai công trình là “Tục ngữ dân ca Mường Thanh

Hóa” của tác giả Minh Hiệu và“Tục ngữ Mường Thanh Hóa”của tác giả

Cao Sơn Hải

Cuốn “Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa” của tác giả Minh Hiệu,

NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội,1999 Ở công trình này, ông có đưa ra vài nétgiới thiệu sơ lược về tục ngữ Mường, sau đó là phần sưu tầm với 500 câu tụcngữ được sắp xếp theo năm chủ đề lớn: về lao động sản xuất; về thời tiết, conngười và một số mặt sinh hoạt tối thiểu khác; quan hệ gia đình; quan hệ xãhội; lề lối ở đời Trong mỗi chủ đề này lại chia thành nhiều chủ đề nhỏ Ởcông trình này, tác giả mới chỉ dừng lại ở cấp độ sưu tầm, chưa đi sâu vàonghiên cứu kho tàng tục ngữ Mường

Với công trình “Tục ngữ Mường Thanh Hóa” của tác giả Cao Sơn

Hải, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002 Ông đã sưu tầm tục ngữ Mườngvới 1 506 câu được sắp xếp theo thứ tự ABC của tiếng Mường và cho in song

song cả hai ngôn ngữ Mường và Việt Trong phần Lời nói đầu, tác giả có giới

thiệu sơ lược về người Mường ở Thanh Hóa và đưa ra một số nhận xét, đánhgiá về nội dung của tục ngữ Mường Tác giả Cao Sơn Hải cũng có đề cập đến

ba nội dung lớn của tục ngữ Mường, đó là những kinh nghiệm nhận biết vềthời tiết; kinh nghiệm sản xuất và văn hóa ứng xử qua tục ngữ

Công trình “Tục ngữ, câu đố, đồng dao Mường” được tác giả Bùi

Thiện sưu tầm và dịch, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội – 2004 Ở công trìnhnày, tác giả đưa ra tục ngữ Mường, phiên âm tiếng Mường và dịch sang tiếngViệt Tục ngữ được thể hiện qua ba nội dung: Kinh nghiệm về thiên nhiên,thời tiết; kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, săn muông thú; kinhnghiệm giáo dục con cháu và đối nhân xử thế

Công trình “Tục ngữ, câu đố và trò chơi trẻ em Mường” được tác giảBùi Thiện sưu tầm, biên dịch và giới thiệu, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam,NXB Văn hóa dân tộc, 2010 Trong cuốn sách này, tục ngữ Mường được đưa

Trang 8

ra ở phần một, nội dung bao gồm: Kinh nghiệm về thiên nhiên, thời tiết; kinhnghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, săn muông; thái dộ đối với thiên nhiên

và lao động sản xuất; con người với gia đình; các vấn đề khác của xã hội

Công trình “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt

Nam tập 1” và “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 2”, được Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hóa,

NXB Khoa học xã hội công bố cũng sưu tầm tục ngữ Mường Đây là hai cuốn

sách trong bộ sách Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam

đề cập đến việc sưu tầm tục ngữ Mường Bộ sách này do Viện nghiên cứu vănhóa phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xã hội tổ chức biên soạn và xuất bảntrong bốn năm 2007 - 2010, gồm 23 tập Ở tập 1, tác giả chỉ chuyên sưu tầmtục ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2 thì phần đầu là tục ngữ còn phầnsau là câu đố, trong đó có dân tộc Mường với số lượng câu tục ngữ lớn là 1

683 câu tục ngữ Mường Hai tập đầu tiên sưu tầm những câu tục ngữ với cácnội dung: Quan niệm về các giá trị, nhận định về các tương quan và kinhnghiệm ứng xử; các hiện tượng tự nhiên, thời tiết và kinh nghiệm; đời sốngvật chất; quan hệ gia đình, xã hội và các hiện tượng xã hội

Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm về tục ngữMường nhưng chủ yếu chỉ là những nghiên cứu tục ngữ trong sản xuất, kinhnghiệm lao động sản xuất, văn hóa ứng xử và có một số sách đề cập đến vấn

đề thủy lợi qua tục ngữ nhưng dường như không có công trình nào chuyên vềnghiên cứu biểu tượng nước và những biến thể của nước trong tục ngữMường Vì vậy, tôi mạnh dạn tiến hành đề tài này với mong muốn bước đầutìm hiểu nước trong tục ngữ người Mường để hiểu rõ hơn về tục ngữ Mường

và để thấy được tầm quan trọng của nước trong cuộc sống

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài khóa luận này là tục ngữ của ngườiMường Ngoài ra có tham khảo thêm tục ngữ của người Việt để lấy những cứliệu phục vụ cho việc nghiên cứu

Trang 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, tôi chọn các văn bản của ba bộ sưu tập khá đầy

đủ làm đối tượng để khảo sát:

- Tục ngữ Mường Thanh Hóa của Cao Sơn Hải, NXB Văn hóa thông

tin Hà Nội – 2002

- Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 1(2007), tập 2(2008), viện khoa học xã hội Việt Nam, viện nghiên cứu văn

hóa, NXB Khoa học xã hội

- Tục ngữ ca dao Việt Nam, Cao Tuyết Minh (tuyển chọn), NXB Dân

trí (Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa bổ sung), 2010

4 Mục đích và ý nghĩa khóa luận

4.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận đặt ra các mục đích sau:

- Tuyển chọn, tập hợp, hệ thống những câu tục ngữ của người Mường

về nước và những biến thể của nước

- Những xử thế của dân tộc Mường đối với biểu tượng nước

- Ở một mức độ nhất định, khóa luận so sánh biểu tượng nước trong tụcngữ Mường và tục ngữ Việt

- Qua việc tìm hiểu về tục ngữ Mường, chúng ta có thể nhận ra nhữnggiá trị di sản quý báu, chứa đựng những kinh nghiệm, lối suy nghĩ, cách cảmnhận cuộc sống, lối sống của người Mường đã được tích lũy từ hàng nghìnnăm trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, phát triển của dân tộc Mường trong đạigia đình các dân tộc Việt Nam

4.2 Ý nghĩa của khóa luận

- Thấy được cách ứng xử với nước của người Mường qua tục ngữ, thêmyêu mến con người và đất Mường hơn

- Kết quả của việc khảo sát, nghiên cứu của khóa luận sẽ là một tư liệuthiết thực cho việc học tập, nghiên cứu về tục ngữ Mường

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại: Qua việc khảo sát những câu tụcngữ Mường, phân loại, lựa chọn và thống kê những câu tục ngữ về nước vànhững biến thể của nước

- Phương pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp: Sau khi khảo sát, phânloại, tôi tiến hành phân tích, miêu tả những nội dung về nước mà ngườiMường sử dụng trong tục ngữ; và những xử thế của con người với nước

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các số liệu thu được về biểutượng nước trong tục ngữ Mường và tục ngữ Việt để thấy được điểm giống vàkhác nhau giữa chúng

6 Giới thuyết một số nét về dân tộc Mường

6.1 Tên gọi

Người Mường là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc ViệtNam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh ThanhHóa Họ rất gần với người Kinh, một số nhà dân tộc học đưa ra giả thuyếtngười Mường về mặt sắc tộc chính là người Kinh nhưng vì cư trú ở miền núinên họ ít bị Hán hóa

Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danhnhư ngày nay Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùngdanh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức TừChi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồmnhiều làng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản cuả một nhà Lang Qua sựtiếp xúc giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng

từ Mường để gọi dân tộc này Cho đến tận bây giờ, người Mường vẫn tự gọi

mình là mol, moăn như ở Hòa Bình, mon, mwanl như ở Thanh Hóa Còn ở

Phú Thọ, đặc biệt là ở Thanh Sơn, nơi người Mường tập trung đông đảo nhất,cũng như người Mường ở huyện Yên Lập và một số xã thuộc huyện Thanh

Thủy, người Mường tự gọi mình là mol, monl Mặc dù những từ này có biến

âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau

Trang 11

về mặt nghĩa Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có

nghĩa là người Vì lẽ đó mà người Mường thường tự xưng mình là con mol

hoặc là con monl: con người Còn từ Mường vốn là từ mương dùng để chỉ nơi

cư trú chứ không liên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậycùng với sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn

hóa với các dân tộc anh em khác cho đến nay từ “mường” đã được người

Mường chấp nhận và coi đó là tộc danh của mình và hiển nhiên họ tự nhậnmình là người Mường như ngày nay Do đó, Mường đã trở thành tên gọichính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân tộc khác.Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhândân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này: người Mường

6.2 Địa bàn cư trú

Người Mường sống tập trung ở các thung lũng hai bờ sông Đà (PhúThọ, Sơn La, Ba Vì, Hòa Bình) và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi(các huyện Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy,Ngọc Lặc của tỉnh ThanhHóa) Người Mường ở Thanh Hoá gồm hai bộ phận: Mường Trong (Mườnggốc) và Mường Ngoài (người Mường di cư từ Hoà Bình vào) Sang đếntỉnh Nghệ An hầu như không có người Mường sinh sống (năm 1999 chỉ có

523 người Mường trong toàn tinh) Ngoài ra ở Tây Nguyên và Đông Nam

Bộ cũng có gần 27 000 người mới di cư vào trong những năm gần đây

Trang 12

ruộng từ lâu đời Lúa nước là cây lương thực chủ yếu Trước đây ngườiMường trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày.Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường khai thác lâm thổ sảnnhư nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa,mây, Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ.Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kĩ thuật khá tinh xảo

6.6 Tổ chức cộng đồng:

Xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độlang đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hoàng) chia nhau caiquản các vùng Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có cáclang xóm hoặc đạo xóm, cai quản một xóm

6 7 Tín ngưỡng

Người Mường theo đạo Phật nhưng có sự khác biệt là mọi nghi lễ đềuphải có chủ lễ là thầy mo chủ trì

6.8 Văn hóa

Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm

đà của men được đưa ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể

Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ.Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn

Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to.Đặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chungmột điếu thuốc

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luậngồm có 3 chương:

Chương I Giới thuyết chung về tục ngữ, tục ngữ Mường

Chương II Biểu tượng nước trong tục ngữ của người Mường

Chương III Thế ứng xử với nước của người Mường thông qua tư liệu tục ngữ

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:

GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TỤC NGỮ, TỤC NGỮ MƯỜNG 1.1 Khái quát chung về tục ngữ

1.1.1 Khái niệm về tục ngữ

Tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học:folklore học, văn học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tâm lí học, logic học, Vàngày nay một ngành khoa học mới chuyên nghiên cứu về tục ngữ đã ra đời,

đó là tục ngữ (Paremiology, có xuất xứ từ Paremia – tiếng Hy lạp: tục ngữ).Trong lĩnh vực folklore học, các nhà nghiên cứu đã xem xét tục ngữ từ nhiềukhía cạnh khác nhau Có thể nói, trong những sáng tác văn học dân gian, tụcngữ là thể loại có mối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn, tiếng nói của nhândân Tục ngữ dân gian lưu hành ở cửa miệng nhân dân từ rất sớm Nó “là mộtđơn vị thông báo có tính nghệ thuật”, được sáng tạo ra trước hết nhằm đápứng nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử– xã hội của quần chúng nhân dân lao động Tục ngữ nói chung thường là nơi

“thể hiện một cách hết sức hoàn hảo lối suy nghĩ dân tộc của nhân dân laođộng đối với các vấn đề lịch sử xã hội” (Chu Xuân Diên, Văn học dân gianViệt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục 1962), đồng thời đó cũng là những điềuđúc kết được của mỗi dân tộc trong quá trình lao động, đấu tranh để sinh tồn

Mỗi câu tục ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc tương đối ổn định.Cho nên tục ngữ thường được dùng đến trong lời nói, với tư cách là lời nói

“Tục ngữ là lời nói hay nên có sức bay xa, truyền rộng” [9;12], “chính điều này khiến cho tục ngữ từ lâu đã trở thành một trong những thể loại sáng tác dân gian quen thuộc nhất, hay được sử dụng nhất, có sức sống lâu bền nhất trong đời sống tinh thần của nhân dân”[9;12] Cho tới nay, thế hệ chúng ta đã

được thừa hưởng một gia tài tục ngữ khổng lồ mà các thế hệ cha ông chúng ta

đã kế tiếp nhau sáng tạo, giữ gìn và truyền lại

Trang 14

Tác giả Cao Huy Đỉnh đã xếp tục ngữ vào loại: “Văn học đúc rút kinh nghiệm thực tiễn”, bởi tính chất hai mặt của nó: vừa có tính chất nghệ thuật,

vừa có tính chất thực hành Nhóm tác giả Chu Diên Xuân lại xếp tục ngữ vào

mục “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” và xác định “đó không phải là những sinh hoạt văn nghệ đúng với nghĩa của nó, dù là thứ sinh hoạt văn nghệ mang tính nguyên hợp như văn nghệ dân gian”[10;243] Nhiều tác giả cũng đã đưa

ra các ý kiến khác nhau khi xác định khái niệm tục ngữ

Tác giả Nguyễn Thái Hòa ghi nhận: “Tục ngữ là công cụ tư duy và là công cụ diễn đạt sắc bén được hình thành trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, lưu giữ một kho tàng trí thức, kinh nghiệm quý giá đồng thời là kho tàng biểu đạt ngôn ngữ tinh túy của dân tộc”[24;7]

Tác giả Đỗ Bình Trị đã đưa ra một định nghĩa: “Tục ngữ là những câu nói gọn chắc, xuôi tai, diễn đạt những kinh nghiệm lâu đời của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội; nó thường được nhân dân vận dụng trong suy nghĩ, trong nói năng và trong những hoạt động thực tiễn của mình (như làm ăn, giao tiếp, ứng xử )”[37;138]

Tác giả Bùi Mạnh Nhị cũng định nghĩa tương tự: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày” [30;254] Ông bàn thêm: “ Tục ngữ được ví như

“túi khôn nhân gian”, “kho báu của trí tuệ nhân dân” Hình thành, phát triển

từ thực tiễn tìm hiểu, chiếm lĩnh tự nhiên, thực tiễn lịch sử – xã hội sinh động,

tục ngữ vừa là triết lí vừa là “cây đời xanh tươi”[30; 254]

Theo Nguyễn Đức Dân: “tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [7; 58]

Trang 15

Trong số các sáng tác folklore, tục ngữ là sự kết tinh đầy đủ nhất của trítuệ nhân dân Qua tục ngữ ta có thể hiểu nền văn hóa của một dân tộc Tụcngữ ngắn gọn, trong sáng, giản dị gần với lối cảm lối nghĩ lối diễn đạt củanhân dân hơn bất cứ một thể loại nào khác Tri thức trong tục ngữ phản ánh tư

duy của con người thời xưa Chính vì thế mà có ý kiến cho rằng: “Tục ngữ tiêu biểu cho lối suy nghĩ của dân tộc về các vấn đề của cuộc sống Và có khi tục ngữ được nhận định là sản phẩm văn hóa tinh thần đặc biệt trong điều kiện tư duy của nhân dân chưa chiếm lĩnh được khoa học trừu tượng” [12;244] thì đồng thời cũng phải thấy rằng: “Cho đến khi nhân dân có điều kiện chiếm lĩnh được khoa học, triết học thực sự, chứng tỏ sức cảm nghĩ của nhân dân được giải phóng, khả năng trừu tượng hóa và trình độ khái quát hóa thực tiễn của nhân dân đã cao thì tục ngữ vẫn có thể tồn tại như là những hạt cườm của tư duy bác học”[12;244]

Khi nói về tục ngữ thì M Gorki cho rằng: “Người ta đã nhìn nhận và xác định rằng nghệ thuật ngôn ngữ sinh ra do quá trình lao động của con người từ thời xưa Nguyên nhân phát sinh ra do quá trình lao động của con người muốn đúc kết kinh nghiệm lao động vào những hình thức ngôn ngữ dễ nhớ và bám chặt vào kí ức những hình thức thơ hai câu, tục ngữ, truyền ngôn như những khẩu hiệu lao động thời cổ đại”[8;199]

Kho tàng tục ngữ Việt Nam cũng được khởi sinh từ cái nôi lao động Nóđược đúc kết bởi tài năng trí tuệ của con người Việt Nam, nó thấm nhuần tronghồn người, nó tạo nên sức sống bền bỉ lâu dài Quá trình lao động là quá trìnhphát triển khoa học và văn nghệ Trong lao động, lí trí của con người phát triển,cảm quan thẩm mĩ được tôi luyện, những sáng tác dân gian truyền miệng sảnsinh trên cơ sở của lao động sản xuất Người ta đúc kết thành những kinhnghiệm sáng tạo ra tục ngữ về thời tiết, về cày cấy, trồng trọt, chăn nuôi, trongquan hệ giữa người với người Tục ngữ còn là những câu đã theo thói quen

mà nói, nó là những câu thông tục Đó là những nhận định vừa phong phú, vừavững chắc vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người

Trang 16

Khái niệm tục ngữ đã được nhiều tác giả đề cập tới, các quan điểm cơbản là giống nhau Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, giàu tri thức,

có vần, có nhịp và tương đối bền vững về cấu trúc, được sử dụng trong lời ăntiếng nói hàng ngày, nhằm nêu lên kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt đờisống (tự nhiên, xã hội) Đó là những câu nói xuất phát từ thực tiễn, giàu triết

lí nhưng luôn thấm đượm tình cảm, chặt chẽ, đanh thép mà giàu hình ảnh,nhịp nhàng xuôi tai thuận miệng, dễ thuộc dễ thấm vào hồn người Chính vìvậy, tục ngữ là một thứ tài sản tinh thần quý giá của dân tộc do chính nhữngcon người vô danh, bình dị làm nên

Về hình thức, tục ngữ là những câu đã được nhiều người sửa chữa,được truyền đi nhiều địa phương và đào thải, chỉnh sửa qua nhiều thế hệ nênlúc mới đầu nó chỉ là những câu nghe xuôi tai, hợp lí nhưng trải qua thời giandài những câu tục ngữ trở nên gọn gàng, cân đối, vần vè hơn

Như vậy, tục ngữ là một thể loại ra đời từ rất sớm, nó phát triển phongphú và trở thành một bộ phận quan trọng được lưu truyền rộng rãi trong đờisống, được nhân dân tiếp thu tích cực và sử dụng phổ biến rộng rãi trong lời

ăn tiếng nói hàng ngày của cuộc sống hiện đại Đó là những bài học kinhnghiệm quý báu, những chân lý phổ biến, những tri thức thực tiễn đã đượcthừa nhận từ nhiều thế hệ, những cách nói hay phù hợp với tâm thức củangười Việt

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, tục ngữ

và thành ngữ được định nghĩa như sau: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái

gì cho có màu mè” [16;15]

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng đồng quan điểm và nhấn mạnh

thêm: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành

Trang 17

ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [29;31]

Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinhnghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ

là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quendùng, nhưng tự riêng nó không không diễn được một ý trọn vẹn Thí dụ, thành

ngữ là những câu như: “Áo rách, quần manh”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Ăn trắng, mặc trơn”, “Bụng đói, cật rét” Còn tục ngữ là những câu như: “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”

Thành ngữ có ý nghĩa không những về một chiều, về một mặt, nói lên

một tình trạng nhưng lại không kết thúc Như câu thành ngữ: “Áo rách, quần manh” chỉ nói lên hai hình tượng đều biểu hiện cái nghèo nhưng ai nghèo, nghèo làm sao thì không được rõ Câu tục ngữ: “Chó cắn áo rách” thì có

nghĩa trọn vẹn, nó phản ánh một hiện thực là con chó hễ thấy người ăn mặcrách rưới thì thường sủa hay xông ra cắn, mặt khác câu tục ngữ còn miêu tảcái cảnh đã nghèo lại còn hay gặp điều không may

Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, nhưngcũng có một số ít câu rút ở những thi phẩm đã được phổ biến sâu rộng trongdân gian và cũng có những câu rút ở ca dao, dân ca ra

Trong chuyên luận Tục ngữ Việt Nam, các tác giả Chu Xuân Diên,Lương Văn Đang, Phương Tri dựa trên quan điểm nhận thức luận để phân

biệt: “Tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí về nhận thức luận Với tiêu chí đó chúng ta xem xét tục ngữ chủ yếu như là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ thì chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ” [9;73] Với tiêu chí

này, các giả Chu Xuân Diên cho rằng sự khác nhau cơ bản giữa hai thể loạinày là thành ngữ là khái niệm, còn tục ngữ là phán đoán và khi đúc rút lạithành những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, được diễngiải thành những phán đoán thì ta có tục ngữ

Trang 18

Tác giả Hoàng Văn Hành trong Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ lại căn

cứ theo mức độ hoàn thiện ngữ pháp của câu để phân biệt: “Thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ (như tính bền vững về mặt cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa ) nhưng lại khác với tục ngữ về bản chất Sự khác biệt ấy thể hiện ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu – ngôn ngữ đặc biệt biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [18;8]

Giữa tục ngữ và thành ngữ có chỗ giao nhau, mà theo các nhà nghiêncứu thì phần giao nhau này rất lớn Chính vì vậy mà nhiều người dễ nhầm lẫntục ngữ với thành ngữ

1.1.3 Phân biệt tục ngữ với một số khái niệm gần gũi khác:

- Ngạn ngữ: Theo Đào Duy Anh thì ngạn ngữ là “lời nói đời xưa truyền lại”; Hoàng Phê: “Câu nói, lời nói từ xưa truyền lại bao gồm tục ngữ” Theo tác giả Nguyễn Văn Tố thì: “câu (tục ngữ) nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống như nhau” Tác giả Hồ Lê lại quan niệm “ngạn ngữ là những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và ý nghĩa dùng để nêu lên một bài học về lẽ phải, về đạo lý và mang tính chất giáo dục” [29;24]

- Cách ngôn: Theo Đào Duy Anh “Lời nói có thể dùng làm phép tắc được” hay theo Hoàng Phê thì “Câu nói ngắn gọn được lưu truyền, có ý nghĩa giáo dục về đạo đức” [29;25]

- Châm ngôn: Đào Duy Anh quan niệm “Lời nói để răn đời”, ý kiến của Hoàng Phê cũng gần như vậy: “Câu nói có tác dụng hướng dẫn về đạo đức, về cách sống” [29;25]

- Phương ngôn: Tác giả Nguyễn Văn Tố giải thích: “Theo nghĩa của Tàu, phương ngôn là lời nói từng phương Bên ta thì cho phương ngôn cũng như tục ngữ, như cách ngôn nghĩa là lời nói có “phép” tức là phương pháp”

[29;25]

Trang 19

Triều Nguyên còn nêu thêm khái niệm: Câu cửa miệng, mà theo ông cóhai cách hiểu: thứ nhất, là những câu tục ngữ được dùng thường xuyên Thứhai, là những câu quen dùng trong một cộng đồng, một giai đoạn lịch sử xãhội nhất định, ít nhiều mang tính thời sự Theo cách hiểu thứ nhất thì tục ngữ

và câu cửa miệng là một, theo cách hiểu thứ hai thì chỉ có một số lượng nhấtđịnh câu cửa miệng là tục ngữ Trên thực tế, có một số câu cửa miệng khó xếpvào tục ngữ [29;25]

Như vậy, có thể thấy rằng giữa ngạn ngữ, cách ngôn, châm ngôn cóđiểm tương đồng rất lớn và chúng đều là các bộ phận của tục ngữ Phươngngôn được xem như đồng nhất với tục ngữ, còn câu cửa miệng xét trên đại thể

là tục ngữ Tục ngữ là thể loại rộng nhất và bao quát hơn cả mà những kháiniệm trên chỉ là một bộ phận hoặc có thể đồng nhất với tục ngữ

1.1.4 Tục ngữ là hiện tượng của văn học dân gian

Tục ngữ là những sáng tác nghệ thuật bởi vậy nó là đối tượng nghiêncứu của văn học dân gian Nó phản ánh những kinh nghiệm, tri thức của nhândân được đúc kết qua nhiều thế hệ và nó được diễn đạt bằng những câu ngắngọn, hàm súc, dễ nhớ, có vần nhịp Nhiều người đã thống nhất với nhau khinhận định rằng lối nói của tục ngữ là lối nói có hình ảnh, lối nói gắn liền với

tư duy hình tượng Những sáng tạo về ngôn ngữ nghệ thuật của nhân dân laođộng trong tục ngữ chính là nguồn gốc và cơ sở cho sự hình thành và pháttriển của các hình thức thơ ca dân tộc

Tục ngữ sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ và chơi chữ nhưmiêu tả, điệp từ ngữ, liệt kê, phép tăng-giảm, nói quá, tương phản, so sánh, ẩn

dụ, hoán dụ trong đó tiêu biểu nhất là hai thủ pháp nghệ thuật so sánh và ẩn

dụ Do vậy, tục ngữ chính là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian

1.1.5 Tư duy và ngôn ngữ của người Mường

Về mặt nhân chủng học, các nhà khoa học đều nhất trí rằng người Việt(Kinh) và người Mường là đồng nhất Còn với các nhà sử học cho rằng ngườiMường là một bộ phận của người Việt cư trú lâu đời ở miền núi, không chịu

Trang 20

ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa từ trên xuống và cũng không chịu ảnhhưởng của văn hóa Ấn Độ từ phía Tây Nam lên Các nhà ngôn ngữ học thì chorằng tiếng Mường là phương ngữ của tiếng Việt hoặc chính là tiếng Việt cổ

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (ngữ hệ Nam – Á).Tiếng Mường và Việt (Kinh) gần như giống nhau Người Mường không cóchữ viết riêng Ngữ pháp trong khẩu ngữ (giao tiếp) trật tự câu hoàn toàn nhưngười Kinh Tuy nhiên, người Mường tư duy cụ thể chứ không tư duy trừutượng Người Mường dùng cái cụ thể để chỉ cái cụ thể Đặc điểm này giốngvới tư duy của người Việt cổ, khi ngôn ngữ chưa phát triển Thí dụ: người

Mường nói màu trắng là trắng: “Nó trắng như măng bóc bẹ”; người Việt cổ nói: “trắng như trứng gà bóc” Ngày nay người Kinh có rất nhiều trợ từ để bổ

túc cho từ trắng, các trợ từ này được xem như là hư từ, là từ trừu tượng như:trắng tinh, trắng xóa, trắng hếu, trắng phau, trắng ngần,

Trong tư duy, người Kinh cố gắng cụ thể hóa những vấn đề trừu tượngnhằm biểu đạt được những điều mình nói, muốn nói Nhưng người Mường chỉdùng những hiện tượng cụ thể, hình ảnh cụ thể để diễn đạt điều mình muốn nói

Người Mường không tư duy trừu tượng, không thích lối nói bóng bẩy,

xa xôi Ngày nay tư duy và ngôn ngữ người Mường hiện đại đã phát triểnmạnh, nhưng nhìn về phong cách ngôn ngữ, người Mường vẫn giữ phongcách nói thẳng, nói cụ thể

Trong giao tiếp, người Mường chỉ dùng từ thuần Mường NgườiMường gần như không chịu ảnh hưởng của nghìn năm Bắc thuộc Bằngchứng là người Mường không có hệ thống từ Hán – Việt đi kèm trong giaotiếp như ở người Kinh Trong vốn từ của người Kinh có sử dụng nhiều từ Hán

– Việt như: gia – nhà; quốc – nước; tiền – trước; hậu – sau; mã – ngựa Ở

người Mường thì không như vậy Họ giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Mường

Trong tiếng Mường, hầu như chỉ có từ đơn không có từ kép (sau này,

do giao lưu với người Kinh do tiếp biến văn hóa mới có một số từ ghép,nhưng ít)

Trang 21

Nhìn vào tên đất, tên người, tên vật sẽ dễ dàng nhận ra điều này Thídụ: tên mường: mường Bi, mường Vang, mường Thàng, mường Động tênxóm: xóm Sào, xóm Bưởi

Do tư duy trừu tượng chưa phát triển, các từ nhằm biểu đạt những kháiniệm trừu tượng rất ít nên trong giao tiếp người Mường không có lối nói ẩn

dụ, nói xa xôi, bóng bẩy mà thường nói cụ thể Nhưng cái cụ thể trong tiếngMường lại là cái cụ thể tương đối

Như vậy, qua việc tìm hiểu tư duy và ngôn ngữ Mường ta thấy tínhcách Mường là chân thật, giản dị, thẳng thắn Cũng có nghĩa văn hóa ứng xửMường là chân thật, giản dị, thẳng thắn

1.2 Khái quát chung về giá trị văn học Mường và tục ngữ Mường

1.2.1 Giá trị văn học Mường

Người Mường có hơn một triệu dân, đông vào hàng thứ tư ở Việt Nam.Người Mường sống trên một dải đất chung dài từ Đông Nam dãy Hoàng LiênSơn đến Bắc Trường Sơn, gồm các tỉnh Sơn La, Vĩnh Phú, Hà Tây, Hòa Bình,Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An

Địa bàn cư trú chủ yếu của người Mường trong các thung lũng hẹp, cácvùng đồi rừng, cảnh vật hiền hòa được bao bọc bởi các triền núi Chính đặc điểmnày đã tạo nên cơ cấu kinh tế, xã hội khép kín của người Mường góp phần tạonên nền văn hóa và tâm linh độc đáo mang nét rất riêng của người Mường

Người Mường có một kho tàng văn học dân gian đồ sộ về số lượng,phong phú về loại hình, có giá trị lớn về nội dung và nghệ thuật Trong vănxuôi có cả một hệ thống thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyệnngụ ngôn Trong văn vần có tục ngữ, câu đố, mo mới, xéc bùa, thường rang,

bộ mẹng, hát chơi, hát ví, truyện thơ Đặc biệt nhất là bộ sử thi “Đẻ đất đẻ nước” phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan và quá trình hình thành của

người Mường Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đã xuất hiệnnhiều cây bút dân tộc Mường góp phần không nhỏ vào kho tàng văn học củadân tộc

Trang 22

Những tác phẩm văn học dân gian Mường truyền từ đời này sang đờikhác kể về nguồn gốc dân tộc, ca ngợi tinh thần đấu tranh chống thiên nhiên,chống ách áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, ca ngợi lao động, ca ngợi tình

yêu đôi lứa Các truyện thơ nổi tiếng của người Mường như: “Út Lót – Hồ Liêu”; “Nàng Nga – Hai Mối”; “Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương” nói về tình

yêu nam nữ, lên án nạn ép duyên Những bài dân ca cất lên trong cuộc sống laođộng, hát đối đáp giao duyên nam nữ trong hội hè Con trai, con gái Mường tự

hào cất lên tiếng “Hát xường” trong những đêm trăng sáng “Hát xường” là

một sinh hoạt thơ ca dân gian lí thú và hấp dẫn Xuân về, tết đến làng bản lại

âm vang tiếng cồng cùng tiếng hát sắc bùa – một hình thức diễn xướng dângian, nó gắn với một số nghi lễ trong nông nghiệp nhằm cầu mong một nămmới làm ăn thịnh vượng, đất đai phì nhiêu, con người gặp nhiều may mắn

Trong kho tàng văn học dân gian phải kể đến lễ ca của người Mường

Đó là những bài mo, bài khấn do ông mo đọc và hát trong nghi lễ khi cúng

ma, cầu vía Tìm hiểu về thể loại này giúp chúng ta hiểu thêm về phong tục,tập quán, đời sống văn hóa tâm linh của người Mường Bên cạnh tính chất tôngiáo hay yếu tố mê tín dị đoan (nếu có), những bài mo, bài khấn cũng chính làmột loại dân ca, có những giá trị văn học nhất định

Trong công trình nghiên cứu Hợp tuyển văn học Mường, tác giả đã nêu

ra những loại hát dân ca rất đặc sắc của người Mường, đó cũng là những giátrị văn học mang nét rất riêng của dân tộc Mường Sau đây là một số nét đặcsắc trong văn học Mường:

Trang 23

những bài giới thiệu cảnh thiên nhiên giàu đẹp, có những bài nhắn nhủ,khuyên răn người ở lại cư xử cho đúng đạo làm người Về căn bản, nội dungcác bài mo mang nhiều yếu tố nhân đạo, giàu tính nhân dân Vì vậy, dù chỉ làmột đám ma có cúng lễ, nhưng khi thấy mo là nhân dân kéo tới rất say sưa.Các bài khấn cũng như mo, nhiều bài có tính chất mê tín dị đoan, nhưng trongphạm vi nhất định cũng có những bài cúng mang nội dung một câu chuyệnhay hoặc kể chuyện lao động sản xuất như bài khấn “Xuống mùa”

1.2.1.2 Xéc bùa

Loại dân ca này có nơi gọi là xắc bùa hoặc phát rác Xéc bùa tiếngMường nghĩa đen là xách cồng (chiêng) Phường bùa là một tốp từ năm, bảyngười trở lên tới hai chục người mỗi người xách một chiếc cồng (chiêng) tonhỏ khác nhau, có âm thanh cao thấp khác nhau Nói cách khác, đó là một dànnhạc, nhạc cụ gồm các loại cồng, chiêng, thanh la, mèn Cứ xong một bài,phường bùa lại đánh một bài “nhạc” cồng theo những giai điệu phong phú.Phường bùa chỉ xuất hiện trong những dịp tết nhất, vui chơi, hội hè, cưới xin.Nội dung các bài xéc bùa chủ yếu là chúc mừng, ca ngợi Hàng năm, vào dịptết mường nào cũng có phường bùa (trừ vùng Mường Bi) kéo nhau đi hết nhànày đến nhà khác, vừa hát chúc tụng vừa đánh cồng được nhân dân rất yêuthích Nhà chủ thường thưởng công phường bùa bằng cách mời ăn uống hoặctặng gạo, vải lụa hoặc có khi tặng tiền Nhiều trường hợp, từ hát xéc bùachuyển sang hát thường rang hoặc bộ mẹng ngay Để chuyển, có những bàihát riêng và khi đã chuyển qua hát thường rang, bộ mẹng, không khí và nộidung đã đổi khác, cuộc hát càng giàu thi vị và hấp dẫn, có thể kéo dài từ sángđến chiều tối, thậm chí có thể kéo dài thâu đêm

1.2.1.3 Thường, Rang

Thường, có nơi gọi là rằng thường hoặc xường (thường tiếng mường,

nghĩa đen là thương) là những bài hát cũng chỉ dùng trong các dịp vui mừng,

hội hè, tết nhất Nội dung các bài thường thường hướng về ca ngợi công việc

làm ăn, phản ánh một phần những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc

Trang 24

(thường mừng mùa, thường mời rượu, thường đám cưới, thường mừng nhàmới ) Thường có khi do một tập thể, nhưng cũng có thể do từng người háthoặc có khi hai bên hát đối đáp nhau Chung quanh vò rượu cần, bên mâmgạo có bày bánh chưng bánh dày, có đặt tiền, giữa cuộc vui, quanh bếp lửa,trong một cuộc họp bất cứ chỗ nào có hội họp vui chơi, đông người là ở đấy

có thể có thường Người ta không dùng thường trong những dịp buồn

1.2.1.4 Bộ mẹng

Có nơi phát âm là bộ mệnh hoặc lệ giọng Bộ mẹng nghĩa đen là nóimiệng Về cơ bản, loại này là hình thức hát trao đổi tâm tình giữa nam và nữ.Mặc dù hình thức biểu diễn trong nhiều trường hợp, ở nhiều vùng có chút ítkhác nhau; trong tiệc rượu, trong đám hội vui, bên bếp lửa của một nhà nào

đó trong mường, hoặc cạnh gốc si, bên giếng nước, hay giữa quán chợ; có thể

là một tập thể nam nữ chia rõ thành hai phe hai giới, có thể chỉ là một đôi nam

nữ đang tìm hiểu nhau hoặc đã yêu nhau rồi, có thể tình cờ gặp nhau giữangười mường nọ với người mường kia, cũng có thể chỉ là trai mường này tổchức thành nhóm đến hát với gái mường khác

Nội dung chính của bộ mẹng diễn tả tâm sự của thanh niên nam nữtrong tình yêu Vì vậy, có thể nói loại hát này phong phú và súc tích nhất Từbước đầu thăm hỏi, mời chào nhau; đắn đo ướm ý thử lời,đến chỗ tỏ tình, rồigắn bó keo sơn, rồi thì nhớ nhung, trách móc, giận hờn đủ cả Cũng có khitiếng hát là những lời oán trách, là giọng than thở của một tâm tình oan trái,một nỗi thất vọng đau đớn, một lời nguyền rủa nghịch cảnh trong đời thường

mà nguyên nhân chính không phải gì khác ngoài những tập quán lạc hậu,những quy tắc đạo lí thoái hóa, những quan niệm sai lầm trong hôn nhân vàgia đình, là sự áp bức bóc lột Nguyên nhân chính là xã hội thực dân và phongkiến đương thời đã chà đạp, giày xéo lên người lao động vô tội

1.2.1.5 Hát ví, đúm

Người Mường cũng hát ví, hát đúm như người Việt (có nơi gọi hát ví làhát bí hoặc hát bi) Nội dung chính của các loại hát này cũng là tình yêu

Trang 25

nhưng kể cả về mức độ thể hiện, qua hình thái sử dụng cũng như qua cả nộidung lời hát thì chưa đạt tới chỗ sâu xa, phong phú và hoàn chỉnh như thườngrang và bộ mẹng Trong hát ví, hát đúm cũng có bài phản ánh phần nào cácvấn đề xã hội khác, ngoài tình yêu

Hình thức hát ví, đúm thường được dùng nhiều nhất giữa trai, gái cùngmột mường hoặc khác mường trong những dịp không định trước như đi chợ,gặp nhau dọc đường, hoặc trong lao động sản xuất Cuộc hát, lời hát nó ra tựnhiên, thoải mái, phát triển tùy tình thế giữa đôi bên Có khi sau cuộc hát, tâmtình người ta chỉ thoáng qua, chẳng giữ lại một ấn tượng gì, hệt như qua mộttrò giải trí lành mạnh; nhưng cũng có khi từ đấy mó ra những nhận thức mới,đầy sức rung động, khai sinh ra một mối tình mới, một cuộc nhân duyên cóthể là rất hạnh phúc

Người Mường cư trú trên mảnh đất có nền văn hóa lâu đời là Hòa Bình

và Thanh Hóa nổi tiếng với niên đại hàng vạn năm, được thế giới công nhận

Có áng sử thi – thần thoại Đẻ đất đẻ nước đồ sộ, nó phản ánh từ thời khai sinh

vũ trụ là đẻ đất, đến thời kì xã hội con người có giai cấp là lập nước (đẻnước) Có áng dân ca, truyện cổ, truyện thơ có độ dày về số lượng, nhiều vẻ

về nội dung Họ đã sáng tạo, đúc kết kinh nghiệm làm ra kho tàng tục ngữ đadạng về hình thức, phong phú về nội dung

1.2.2 Khái quát chung về tục ngữ Mường

Việc sưu tầm, dịch và giới thiệu tục ngữ Mường đã có một số ngườithực hiện nhưng không nhiều bởi việc sưu tầm tục ngữ Mường là một công

Trang 26

việc rất khó khăn và phải mất thời gian dài để nghiên cứu Số lượng câu tụcngữ sưu tầm cho đến nay cũng không nhiều Cuốn khá đầy đủ nhất cho đến

nay có lẽ là Tục ngữ Mường Thanh Hóa của tác giả Cao Sơn Hải (2002) với

1 506 câu tục ngữ được in song song với hai ngôn ngữ Việt – Mường

Khó khăn lớn nhất đối với những người đi sưu tầm tục ngữ Mường là

số người am hiểu, sử dụng tục ngữ còn rất ít Lớp trẻ bây giờ hầu như khôngmấy khi sử dụng tục ngữ Để có được tập tục ngữ quý giá trên 1 500 câu nhưvậy, tác giả và những cộng sự là con em dân tộc Mường đã tích lũy từ khi cònnhỏ và qua thực tế công tác ghi chép, tích lũy dần

Việc sưu tầm tục ngữ Mường đã diễn ra trong thời gian khá dài và bằngnhiều con đường khác nhau Ngoài việc ghi chép lại từ những người am hiểu,tục ngữ còn bắt nguồn từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân trong nhữngtình huống giao tiếp nhất định, cụ thể

Dân tộc Mường có nền văn hóa lâu đời, họ đúc kết thành kinh nghiệm

về cái đẹp, cái chân – thiện – mĩ mà sáng tạo ra kho tàng tục ngữ Mường lâuđời, nhiều màu sắc

Nếu nhận xét về tục ngữ thì nó thể hiện mối quan hệ giữa con ngườivới thiên nhiên, với lao động sản xuất, với các ngành nghề và đời sống mộtcách gắn bó chặt chẽ với nhau Đó là quá trình chiêm ngưỡng, thưởng thứccái đẹp của tự nhiên, cảm nhận lại những thành quả to lớn, quý giá trong laođộng, đấu tranh xây dựng cuộc sống của mình Từ đó mà họ đúc kết kinhnghiệm về thời tiết, kinh nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi và các ngành nghềthành những câu tục ngữ Đồng thời, do sự phát triển của xã hội nảy sinh ramối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa con người với con người trong gia đình,ngoài xã hội và với những người cai quản đất Mường Từ đó, họ nhận xét,bình luận, khen chê đối với công việc, đối với thái độ ứng xử, giao tiếp màbộc lộ nội dung tư tưởng của tục ngữ Đó là, ca ngợi nhắc nhở nhau về cần cù,siêng năng lao động, lưu truyền kinh nghiệm thời tiết mùa vụ sản xuất

Trang 27

Trong tục ngữ của người Mường cũng thể hiện lối văn hóa ứng xử của

họ Văn hóa ứng xử là một bộ phận rất quan trọng trong nền văn hóa một dântộc, một cộng đồng Thông qua văn hóa ứng xử người ta có thể hiểu được tưtưởng, đạo đức, tâm lí, lối sống mang tính bền vững của một dân tộc, một cộngđồng người Về cơ bản, văn hóa ứng xử thể hiện cách xử sự của một dân tộc,một cộng đồng người với chính bản thân họ, với những vấn đề mà cuộc sốngđặt ra và thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Văn hóa ứng xử qua tục ngữ lànét đẹp truyền thống của một dân tộc, một cộng đồng Tục ngữ định hình hóađược những cái hết sức cơ bản và quan trọng Qua tục ngữ để tìm hiểu văn hóaứng xử nhằm phát huy cái đẹp truyền thống của dân tộc Mường Đó là tình yêuthương, trân trọng con người, sự gắn bó máu thịt với bản mường, đất nước.Văn hóa ứng xử của người Mường qua tục ngữ sáng lên những nét đẹp truyềnthống về cách sống và lối sống Trong cuộc sống hôm nay, phong tục đó dẫu

đó đây có bị mai một, song về cơ bản nó vẫn được giữ gìn và phát huy, đồngthời tiếp nhận những cái mới của thời đại và những nét đẹp văn hóa ứng xử củađại gia đình các dân tộc anh em trên Tổ quốc Việt Nam

Về ngôn ngữ, tuy người Mường giữa các vùng xưa đi lại khó khăn,điều kiện giao lưu không hề dễ dàng, người Mường lại không có chữ viếtriêng Vậy mà tiếng Mường cơ bản là thống nhất Mỗi vùng, mỗi mường tuycách phát âm có thể khác nhau và có một số từ khác nhau cùng chỉ một vật,một việc nhưng nói chung người Mường khi nói với nhau đều hiểu nhau Đó

là cái cơ bản tạo nên nền văn hóa chung Từ trong cuộc đấu tranh với thiênnhiên, với các thế lực áp bức xã hội và trong sinh hoạt văn hóa, những trảinghiệm, những suy ngẫm, những phán đoán dần dần được rút ra và nó đượcdiễn đạt bằng lời hay, ý đẹp để giữ mãi cho mình và cho con cháu sau này Đó

là một thực tế và đòi hỏi từ cuộc sống Loại hình văn hóa này ngày nay người

ta gọi là tục ngữ

Theo tác giả Cao Sơn Hải thì trước đây trong kho từ vựng của ngườiMường không có “tục ngữ” và “thành ngữ”, người Mường gọi những câu mà

Trang 28

bây giờ người ta gọi là “tục ngữ” là những “câu ví”, “câu nói” của nhân dân Trong cuốn sách Tục ngữ Mường Thanh Hóa, các nhà nghiên cứu đưa ra tiêu chí

để đi tìm tục ngữ Mường như sau: “Tục ngữ phải là một câu trọn vẹn với nội dung thông báo đầy đủ có vần hoặc không vần, được tỉnh lược gọn gàng, hàm súc để đúc kết một kinh nghiệm, một phán đoán và hàm ý khuyên răn chỉ bảo”

Tục ngữ Mường có một số lượng khá là phong phú Đó là một kho trítuệ, một kho túi khôn, cái khéo của người Mường Ở tục ngữ Mường ta có thểtìm thấy nhiều điều hiểu biết về lịch sử xã hội, phong tục tập quán và ngônngữ Mường, mối quan hệ ngôn ngữ Việt – Mường

Tục ngữ Mường chính là văn hóa của đồng bào Mường, nó tồn tại vàphát triển từ bao đời nay Trong xã hội xưa dưới ách thống trị của lang đạo,thực dân phong kiến, người Mường không được học hành, tục ngữ là thầyhọc, là sách giáo khoa dạy cách làm ăn, cách sống, cư xử ở đời Dù xã hội đãphát triển, tục ngữ Mường vẫn cần cho cuộc sống ngày nay bởi nó là kho báutrí tuệ mà người xưa đã để lại cho hậu thế Công việc sưu tầm và gìn giữ, pháttriển tục ngữ Mường là công việc rất cần thiết cho lớp trẻ để có thể trở thànhhành trang trên con đường cuộc đời và còn để bảo tồn di sản văn hóa dân tộcMường trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

* Tiểu kết chương I

Trong chương I, tôi đã trình bày một số nét khái quát về tục ngữ,phân biệt tục ngữ với thành ngữ, một số nét về dân tộc Mường và tục ngữMường trước khi đi vào tìm hiểu những nội dung khác của khóa luận.Đây là cơ sở lí luận làm tiền đề cho việc khảo sát đề tài nước trong tụcngữ Mường Trên đây, tôi đã thu thập, xử lí tài liệu dựa vào những nghiêncứu mà các tác giả đi trước đã làm để làm sáng rõ đề tài của khóa luận

Trang 29

CHƯƠNG II:

BIỂU TƯỢNG NƯỚC TRONG TỤC NGỮ MƯỜNG

2.1 Khái niệm biểu tượng và phân biệt biểu tượng với hình tượng

2.1.1 Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng là một bí ẩn nghệ thuật, nặng trĩu những ý nghĩa “Nó giốngnhư mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không

nắm bắt được” (Jean Chevalier – Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới)

Biểu tượng cũng là một hình thức tư duy nghệ thuật đặc thù Trong vănhọc, biểu tượng mang giá trị khái quát tượng trưng, là một trong những tínhiệu thẩm mĩ có sức ngân vang, ám ảnh, bắc nhịp cầu giữa sáng tạo và tiếpnhận Về mặt nghệ thuật, biểu tượng là một phương tiện tạo hình và biểu đạt

có tính đa nghĩa thể hiện dưới dạng một hình tượng cụ thể, cảm tính, được sửdụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm và có giá trị gợi cảm cao Biểutượng có sức dồn nén, ẩn chứa trọn vẹn chiều sâu đời sống văn hóa, tinh thầntâm linh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc

Biểu tượng có nghĩa gốc là một vật được chia làm hai nửa, mỗi bên giữmột nửa, khi khớp lại sẽ nhận ra quan hệ Theo tiếng Hán Việt thì “biểu” cónghĩa là dấu hiệu, sự bày ra, sự tỏ rõ; “tượng” có nghĩa là tình trạng, hìnhtượng Theo cách hiểu đó thì biểu tượng là một hình tượng nào đó được phôbày ra trong một dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa hay mộthành động nào đó trừu tượng

Định danh về biểu tượng, từ điển Tiếng Việt đã đưa ra khái niệm chung

như sau: “Biểu tượng là hiện tượng tâm sinh lí do có một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được vật kích thích hoặc thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay kí ức”

Trong Lí luận về nhận thức, cho rằng: “Biểu tượng là hình ảnh được tái hiện, được hình dung lại với những thuộc tính nổi bật của sự việc” Nhưng

Trang 30

biểu tượng trong nhận thức mới chỉ là biểu tượng ở cấp độ thấp, giản đơn do

tư duy trực quan hình ảnh đem lại

Theo GS Phạm Đức Dương: “Biểu tượng là bất kì thực thể nào có chứa nghĩa và có thể quy chiếu sang thực thể khác, chúng được sử dụng và được diễn giải như là một đại diện cho một loại thông tin nào đó căn cứ vào một tương ứng loại suy” [11;15]

Biểu tượng là những nhận thức được kết tinh, chắt lọc và qua thời gian

dù có bao biến cố thăng trầm cũng không bị phai mờ, không bị mất đi màngày càng khắc sâu vào trong tâm thức của con người

2.1.2 Phân biệt biểu tượng với hình tượng

Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1998: “Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khách quan bằng nghệ thuật dưới hình thức những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính”

Theo Phan Văn Các, (1994), Từ điển Hán Việt, NXB Giáo Dục, thì

“Hình tượng là hình ảnh con người hoặc đời sống được miêu tả trong tác phẩm để phản ánh thực tế và nói lên một tư tưởng, tình cảm”

Hai khái niệm này đều có những điểm tương đồng với nhau, xác địnhđầy đủ, khái quát nhất về khái niệm hình tượng

Khoa học tư duy bằng khái niệm, còn nghệ thuật tư duy bằng hìnhtượng Nghệ thuật nhận thức và tái hiện cuộc sống bằng hình tượng Nghĩa lànghệ sĩ sáng tạo văn học bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảmnhững sự việc, những hiện tượng trong cuộc sống để ta suy nghĩ về tính cách,

số phận, về tình đời, tình người qua chất liệu cụ thể Bất cứ một sự vật, hiệntượng khách quan nào có trong đời sống hiện thực được miêu tả một cáchsáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều trở thành hình tượng nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục, 2007), của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì “hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được

Trang 31

nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật” Bằng sự

tưởng tượng, hư cấu, người nghệ sĩ sáng tạo ra những giá trị tinh thần, sức sốnglâu bền cho chính bản thân hình tượng và tác phẩm, thể loại chứa đựng nó

Hình tượng (image) là hình ảnh dùng để thể hiện giá trị tinh thần củamột vật, một sinh thể, một ý niệm, theo mối quan hệ tương đồng (ẩn ngầmhay hiển lộ) giữa cái cụ thể và cái trừu tượng nhằm đưa đến cảm nhận trựctiếp và khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc

Biểu tượng (symbol) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khảnăng biểu đạt một ý nghĩa có tính bền vững và phổ quát Những ý nghĩa ấybắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử của các cộng đồng

Hình tượng và biểu tượng là hai mặt biểu hiện, có mối tương quan và gắn

bó khá chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên tác phẩm nghệ thuật

2.2 Biểu tượng nước và những biến thể của nước trong tục ngữ Mường

2.2.1 Bảng thống kê số liệu nước và biến thể của nước qua tục ngữ Mường

Trong tổng số 1 683 câu tục ngữ Mường qua khảo sát 2 cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 1 (2007) và tập 2 (2008)

của Viện khoa học xã hội Việt Nam do NXB Khoa học xã hội phát hành, có

113 câu tục ngữ về nước nói chung chiếm tỉ lệ 6,7%

Biểu tượng nước Những biến thể của nước

Số lượng câu

Ao Hồ Sông Suối Giếng Vũng

4 câu 1 câu 14câu 8 câu 4 câu 2 câu

32 câuTổng (tỉ lệ) 71,7% 113 câu (100%)28,3%

Trang 32

những biến thể của nước trong tục ngữ Mường là 32 câu, chiếm 28,3% Nhưvậy, có thể thấy số lượng câu tục ngữ là biểu tượng nước chiếm tỉ lệ cao hơn

số câu tục ngữ là những biến thể của nước Người Mường có tư duy và vốnngôn ngữ giản đơn, chân thật, thẳng thắn nên họ thường dùng biểu tượng hayhình ảnh nước một cách trực tiếp, không có nhiều câu tục ngữ tượng trưng

Nước gắn bó, gần gũi với lối sống, sinh hoạt của người Mường nên nó

có sức ảnh hưởng lớn Nó quen thuộc đến mức người Mường khi nói vềnhững kinh nghiệm trong trồng trọt, chăn nuôi, về tình cảm gia đình, cách đốinhân xử thế hay các vấn đề khác của xã hội thì họ lại mượn hình ảnh nước đểnói đến cái mình muốn nói Thí dụ:

Kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, săn muông:

“Clêng đồi nhất chim ác Đỉn rác nhất cả mương mương Clong Mường nhất người mặt mốt”

(Trên đồi nhất chim ác Dưới nước nhất cá mương mương Trong mường nhất người một mắt)

Họ cho ba loại này khôn, nhanh nhạy, láu lỉnh nhất trong ba xã hội: cá,chim muông và con người Câu cũng để chữa thẹn khi nói mình, châm biếm,mỉa mai khi nói người

“Dậyl rác phoỏ mậy coỏ rác đôồng”

(Nổi nước giếng mới có nước đồng)

Câu nhận định độ mềm của đất, độ có của nước mà cày bừa, cấy trồngcho khỏi lỡ thời vụ Câu cũng còn dùng để chỉ những gia đình bố mẹ giàu có,

ăn nên làm ra, con cái mới có của cải mà kế thừa Họ dùng câu trên để khuyênrăn nhau không nên ỷ lại vào bố mẹ mà tự lập tự cường là hơn

“Khảng năm nhộn khì rác cẩu Khảng khẩu nhộn thì rác cẩu đuôi đồông”

(Tháng năm rộn lúc nước đục ngầu

Trang 33

Tháng sáu rộn khi nước đục ngầu đuôi đồng)

Câu từ trong dân ca Mường, hai bên nam nữ hát giao duyên, họ dặn dònhau vào thời vụ ấy là lúc bận rộn nhất không gặp gỡ luôn được để thôngcảm Về sau họ dùng để nói sự bận rộn sôi sục của mùa vụ tháng năm, thángsáu bởi xưa kia cấy vụ mùa là chính, vụ chiêm xuân cấy ít, do công tác thủylợi chưa phát triển Câu dùng để động viên nhau tập trung vào vụ mùa vàthông cảm cho nhau khi có trễ nải về điều gì đối với trong họ ngoài làng

Qua khảo sát, cũng có những câu tục ngữ xuất hiện cả biểu tượng nước

và biến thể của nước như sông Thí dụ:

“Rác khôông coỏ khúc Mọl coỏ lúc côồng khì”

(Nước sông có khúc Người có lúc có thì)

Ở câu này, họ mượn dòng sông có khúc sâu, nông, nơi nước chảy xiết,nhô nước êm ả lững lờ để ví von người tuy gian truân nhưng rồi sẽ có ngày khágiả Câu của người tự than và người bình luận, họ tự an ủi động viên lẫn nhau

Cách đối xử trong gia đình, anh em, bạn bè, về lòng người:

“Cẩu côộng là rác phoỏ Đỏl khoỏ là mọl cloong mường Ôông ngay thương ớ noỏ”

(Đục cũng thể nước giếng Đói khó cũng người trong mường

Ai người thương lấy nó)

Đây là lời ông bà, cha mẹ dặn con cái, cháu con chọn chỗ gửi thân đểcòn giúp nhau khi khó khăn hoạn nạn Cũng là lời người con gái nói với bạn

nữ, trả lời bạn trai, nhất là bạn tình

“Ủn eng oó đểng hè xa Đầm nà oó đểng cạn rác”

(Anh em không đến thì xa Ruộng đồng không đến cạn nước)

Trang 34

Câu nói về mối quan hệ bạn bè, anh em do bận bịu lâu ngày không đếnchơi thăm để thông cảm Và cũng dùng để mời mọc đến chơi khi hai bên gặplại nhau

“Coỏ khào đoo rác

Oó thước đoo loòng”

(Có sào đo nước Không thước đo lòng)

Họ ví bụng dạ con người sâu thẳm hơn sự sâu nông của sông nước đểnói vấn đề phải hết sức cảnh giác

Các vấn đề khác trong xã hội như:

“Kéc nậm đầm rêng mọl hal nác Kéc cảng rác rêng mọl hal mường”

(Cách bờ đầm nên người hai nơi Cách bờ nước nên người hai mường)

Họ giải thích về sự khác nhau do địa lí và khí hậu, cách sinh hoạt đờisống, phong tục tập quán, tuy chỉ cách nhau đôi chút, để tôn trọng lẫn nhau

“Kiện cun đùn hỏl”

(Kiện cun đùn suối)

Làng cun, lang to nhất trong mường, bên dưới còn lang đạo ở các làng.Trong mường (vùng dân cư) tùy theo mường to, mường nhỏ mà có số làng quênhiều hay ít Câu nói muốn kiện can phải có của lấp đầy suối, nếu không cũngchết lấp đầy cả suối Câu nói về quyền lực của lang, đạo ghê gớm như vậy

Nhắc đến nước thì không thể không nói đến ao, hồ, sông, suối bởi nócũng chính là nước nhưng được gọi với cái tên khác mà thôi Ở bảng thống kêtrên, trong số 27 câu những biến thể của nước mà tôi đã khảo sát thì có 2 biến

thể là sông và suối đều được nhắc đến trong cùng một câu tục ngữ Thí dụ:

- “Cà vến hòn món vến láng”

(Cá về sông về suối, người về làng)

Trang 35

- “Con moong vến thung vến thà Con cà vến vực vến vôống (Muông thú về rừng về núi Con cá về suối về sông)

Biểu tượng nước và những biến thể của nước được sử dụng một cáchlinh hoạt, mềm dẻo và chân thật trong tục ngữ của người Mường Họ đã đúckết được những kinh nghiệm vô cùng quý báu, những bản sắc riêng của dântộc mình, góp phần vô cùng to lớn vào trong kho tàng tục ngữ văn học dângian nước nhà

2.2.2 Biểu tượng nước về kinh nghiệm thiên nhiên của người Mường

Trong văn học dân gian dân tộc Mường nói riêng và các dân tộc thiểu

số Việt Nam nói chung luôn thấm thía sâu sắc sức ám ảnh của biểu tượngnước trong tâm thức dân gian Những con người miền núi quen sống giữathiên nhiên, chan hòa với thiên nhiên, yêu thiên nhiên, họ dễ dàng gửi gắmnhững suy tưởng, tâm tư, tình cảm vào biểu tượng nước Chính bởi vậy, nước

là biểu tượng lớn của văn hóa dân gian các dân tộc ít người

Việc đề phòng lũ lụt, đoán định thời tiết trong tháng, trong năm đượcquan tâm nhiều Đặc biệt đối với cư dân nông nghiệp lúa nước, bán nương rẫynhư dân tộc Mường Người ta ngước nhìn lên bầu trời xem trăng sao, mây gió

để phán đoán thời tiết, nhìn cỏ cây hoa lá, nghe tiếng chim muông để đoánđịnh mưa gió, nắng nôi, bão bùng:

“Đầm Đôm rộ hè cạn Bển Bản rộ hè dào Khào Xưa rộ lẳm cả”

(Đầm mường Đôm kêu trời cạn Bến nước mường Bán kêu nước lũ Khúc sông mường Xưa kêu thì nhiều cá)

Mường Đôm, mường Bán thuộc xã Định Cư, mường Xưa thuộc xãXuất Hóa, cùng thuộc huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình Theo lời truyền, trời

Trang 36

đang cạn hay đang nắng bình thường mà những nơi đó trong đêm nghe cótiếng ồ ồ nước kêu thì sẽ xảy ra các điều nói trên

Người Mường có kinh nghiệm theo dõi lũ lụt để phòng tránh:

“Dào chao chòo hét Quét đôồng thôông hỏl Chọl coó roó bưa”

(Lũ rửa chân Hét Vét đồng thông ra suối Trụi cỏ không bữa)

Hét, loại chim giống chim sác, hàng năm hễ thấy chúng ra ăn ngoài bãicạnh sông, suối thì hết lũ lụt Trước đó, năm nào cũng có trận lũ to, gọi là lũ lụtrửa chân Hét Câu dùng để dặn nhau về kinh nghiệm theo dõi lũ lụt hàng năm

Tục ngữ cũng truyền đạt cách xem nắng mưa của dân gian Mường:

“Bọt rác dầm dè mưa Bọt rác chưa hè dớ”

(Bọt nước đen thì mưa Bọt nước chưa thì tạnh)

Họ xem mưa, nắng bằng cách nhìn bọt nước đọng ở các bai ngăn nướctrên sông, suối để đoán định Qua quá trình theo dõi đúc kết họ nêu thành câutục ngữ để trao đổi, bàn luận về mùa vụ và cấy trồng

Người Mường còn đoán định trời mưa qua làn gió thổi:

“Xoỏ ngược coỏ rác mà uổng Xoỏ thuổng coỏ ruộng mà cày”

(Gió ngược không nước mà uống Gió xuống không ruộng mà cày)

Ở vùng giáp chân núi Cái (Trường Sơn), thuộc các huyện Lạc Sơn, TânLạc và Yên Thủy tỉnh Hòa Bình thường đoán định trời mưa bằng làn gió thổinhư vậy Gió thổi ngược là tính từ phía huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình lêndọc theo núi Cái Gió xuống là tính từ phía Thạch Bi huyện Tân Lạc thổi xuôi

Trang 37

phía Nho Quan, Ninh Bình Câu dùng để bàn luận với nhau trong công việclàm ăn hàng năm

2.2.3 Canh tác nông nghiệp của người Mường qua tục ngữ

Người Mường có truyền thống trồng lúa nước và nước có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong canh tác nông nghiệp, quyết định sự thành bại của mộtmùa vụ Theo thời gian, người Mường đã tích lũy được những kinh nghiệmtrong việc sử dụng nguồn nước canh tác phù hợp với tình hình kinh tế địaphương và tục ngữ được nhân dân gửi gắm những kinh nghiệm quý báu vềcanh tác nông nghiệp

“Làm cơm phải có mó Làm ló phải có nước”

Để nấu cơm điều hiển nhiên là phải có nước thì mới có thể nấu được.Cũng như vậy, khi làm ruộng đồng, làm lúa cũng phải có nước Trong sảnxuất nông nghiệp, người ta phải “trông mưa, trông gió, trông ngày, trôngđêm”, ở đâu cũng phải đầy đủ “tứ pháp bảo” là “nước, phân, cần, giống” thiếumột trong bốn yếu tố này thì không thể làm ruộng đồng được Nước là yếu tố

hàng đầu trong canh tác nông nghiệp: “Mấn roóng nhật rạc nhí phân, đi kiến nhật ngân nhí lỳ” (Làm ruộng nhất nước nhì phân, đi kiện nhất ngân, nhì lý)

Ở những khu vực ven sông, suối, người Mường thường dùng các guồngnước (cọn nước) để lấy nước vào ruộng Guồng được làm bằng các vật liệusẵn có trong rừng như gỗ, tre nứa, song mấy Cấu tạo của guồng bao gồm đậpchắn dòng chảy để tạo năng lượng đẩy máy quay, máng chuyển nước và cácống chứa nước Đập chắn dòng chảy thường làm bằng đá xếp lại với nhaukhông cố định, đập có thể mở rộng, cơi cao hoặc thu hẹp tùy theo lưu lượngnước trong dòng chảy và nhu cầu tốc độ bánh quay cung cấp nước lên ruộng.Bánh quay có cấu trúc như vành xe đạp với các vật liệu gỗ, tre, song mây đanxen vào nhau rất chắc chắn Trục quay được làm với các loại gỗ tốt như trai,nghiến được lấy trên núi đá; vành bánh quay được cuốn bằng cây song đá.Máng chứa nước được làm bằng cây thân gỗ bổ đôi, khoét rỗng ruột, người

Trang 38

Mường cho rằng, máng chuyển nước được làm bằng thân cây cọ là tốt nhất,vừa bền lại vừa chịu được điều kiện ẩm ướt Ống chứa nước làm từ các loạiống bương, ống nứa, ống tre già chặt vát, nhẹ, có khả năng chứa nước và dễthay thế khi hỏng Mỗi một guồng nước như thế có thể cung cấp đủ nước tướicho một mẫu ruộng Nước được guồng lên, sau đó đưa vào hệ thống mươngmáng và dẫn vào ruộng Hệ thống mương máng này bao gồm:

Mương: là những đường dẫn nước vào ruộng, có thể chạy men theosườn đồi, sườn núi hoặc dọc những khu vực đồng lúa, vừa cung cấp nước khitrồng trọt vừa tiêu thoát nước khi có mưa lũ Mương có thể đào chìm hoặcđắp nổi với nguồn nước lấy từ phai (pai, bai)

Phai: là đắp đập chắn ngang dòng nước, làm cho nước dâng cao vàchảy vào các mương đào sẵn Nếu như suối to, nước chảy mạnh, người tadùng cọc gỗ, tre nứa, đất đá để ngăn nước gọi là đắp đập Ngày nay các đậpchủ yếu được xây bằng gạch và xi măng Mương của người Mường thườngnhỏ nên phai cũng nhỏ, ở những ruộng bậc thang và ruộng cao, hệ thốngmáng nước bằng ống nứa được sử dụng để đưa nước suối, nước khe vàoruộng Trước kia, người dân ven sông Bưởi còn lấy tre nứa và dây rừng làmthành những cọn nước để đưa nước vào ruộng

Hạnh: là hệ thống dẫn nước nhỏ đắp bờ hai bên để lấy nước từ mươngbai vào các cánh đồng Khi đưa nước tới từng thửa ruộng, đồng bào dùng cuốckhơi rãnh ở bờ hạnh, gọi là tạng, khi đủ nước thì bỏ tạng đi và đắp đất lại

Tuy nhiên, hiện nay còn rất ít nơi sử dụng cọn nước vì hiệu quả kinh tếrất thấp Người ta mất nhiều công sức để tạo nên cọn nước nhưng chỉ dùngđược một vụ vì phần lớn cọn nước bị lũ cuốn trôi khi vào mùa mưa và lượngruộng được tưới cũng không nhiều Người Mường chủ yếu đắp đập ngăn đểnước suối dâng lên tràn vào mương và đi đến các chân ruộng

Làm ruộng mà không có đủ nguồn nước thì hiệu quả kinh tế đạt được

sẽ không cao Trong quan niệm của người Mường, nguồn nước còn thể hiện

sự giàu nghèo của làng Làng nào có nguồn nước dồi dào sẽ được trù phú,

Trang 39

giàu có, có của ăn của để, đời sống sung túc, nếu nguồn nước cạn kiệt thì làng

đó sẽ nghèo đói, cùng kiệt:

“Nhá giấu mấn ăn phải bứng lô vò Nhá đòi nhá khò mấn ló phải bứng rạc soi”

(Nhá giàu làm ruộng gặp nơi mạch vó Nhá đói khó cấy lúa phải chốn nước soi)

Người Mường đặc biệt chú trọng đến công việc canh tác nông nghiệp

để có đủ nguồn nước cho ruộng đồng:

“Làm ruộng phải đủ nước Làm rẫy phải dắt cỏ giác trồng khoai Ngày mai cháu con ta đỡ đói”

Nguồn nước quý giá vô cùng, nhờ có nước con người mới làm ra đượcnhững hạt gạo trắng ngần, thơm ngon Đời trước mà chú tâm vào việc sửdụng nước trong nông nghiệp thì đời sau sẽ “đỡ đói”, được ấm no, sung túc.Bên cạnh đó, những thế hệ sau cũng phải gìn giữ và phát huy những giá trịcủa nước

2.2.4 Một số sự tích và truyện kể dân gian về nguồn nước của người Mường

Trong cuốn “Truyện cổ Mường Voong” do Cao Sơn Hải – Cao ChíSơn sưu tầm, biên soạn, giới thiệu có nói đến một số sự tích về nguồn nướccủa người Mường

2.2.4.1 Sự tích vó làng Chiềng

Xưa ở làng Chiềng mường Voong có người tên là Cao Thuật Ban ngàyông thường làm việc đồng áng, nương rẫy Đêm đến ông hay đi kéo vó ở cáckhe suối xung quanh vùng

Một hôm, trời tối đen như mực, ông đưa vó xuống kéo cá ở một vũngsâu Đêm đã khuya mà chưa được một con cá nào cả Ông định ra về thì đượcmột quả trứng to như trứng vịt Ông đang tìm cá tôm lại được trứng, nên ôngthả rồi đi chỗ khác Lần thứ hai nhấc vó lên, quả trứng nằm gọn trong vó, ônglại bỏ đi, đến lần thứ ba ông không đành bỏ nữa và cho quả trứng vào giỏ Từ

Trang 40

lúc đó trở đi các mẻ vó kéo lên đều được nhiều cá Ông trở về nhà đặt trứngvào ổ cho gà ấp Bỗng một hôm ông nghe tiếng gà tác, nhìn vào ổ gà ông thấymột con rắn nhỏ nhưng có mào khác lạ Ông nuôi con rắn Lúc nhỏ ông bắttôm cá về cho nó ăn Lớn lên, nó cuốn trên cái mai, cái bắp cày, ông vác nó rađồng đi kiếm mồi Không lâu sau, nó không còn cuốn vào cái mai nữa mà ôngThuật đi trước nó trườn theo sau Cái mào ngày càng đỏ Càng lớn, nó trườntrên đường làm cho dân mường sợ hãi Có người xui ông tìm cách giết nó đi

để người ta đỡ sợ Một hôm, ông đang dùng mai để xén bờ ruộng, lừa dịp nókiếm ăn gần đấy, ông xán cho nó một nhát mai Lát mai định xán vào đầu nónhưng lại trật ra đuôi Nó quay lại định cắn ông, ông vội nói:

- Bố mỗi năm mỗi già, mắt kém nên nhầm đấy thôi, bỏ lỗi cho bố Cái đuôi của nó được chôn cất cẩn thận (cách đây chưa lâu ở làngChiềng người ta còn chỉ ra cái mộ đuôi con rắn) Từ đấy trở đi người ta gọicon rắn là “ông Cụt”

Ông Cụt giờ đây đã to lắm rồi, ông tự đi kiếm ăn Đêm về nằm mộtkhoanh dưới gầm nhà Mỗi khi đi kiếm ăn thì phát ra tiếng phì phì, trườn đirung cả đất, người làng sợ khiếp vía Có lần ông bố nuôi nói:

- Bây giờ con đã lớn, ở đây suối khe không lớn, bố đưa con ra sông Mã

để con chọn nơi đậu lại!

Con rắn gật đầu Thế là hôm sau, bố nuôi đi trước nó trườn theo sau.Đến vực Gầm trên sông Mã thả nó xuống, ông đợi trên bờ Nó lặn sâu xuốngđáy vực Khi lên trông thấy bố nuôi, nó lắc đầu Con rắn lại theo bố nuôi vềnhà Hôm khác, ông lại đưa ra vực Mổ trên sông Mã, nó lại trườn xuống vực.Khi lên bờ, cũng như lần trước nó lại lắc đầu Ông đưa nó trở về nhà, cóngười mách ông rằng thử đưa nó ra vực Cả xem sao Ông lại đưa con rắn đi.Đến nơi, con rắn trườn xuống vực, ông thấy nước tung tóe lên, nổi bọt đụcngầu Lần này, con rắn ở dưới nước lâu hơn mọi khi Đến lúc nó ngoi đầu lên,nhìn thấy bố nuôi, nó gật đầu, ông chào nó, trước khi về ông dặn rằng:

- Con ở lại lo kiếm ăn, đừng lại hại người qua lại con sông này

Ngày đăng: 26/05/2014, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An chủ biên, Trần Thị An – Vũ Quang Dũng biên soạn (2007), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 1: “Tục ngữ”, viện khoa học xã hội Việt Nam, viện Nghiên cứu văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 1: “Tụcngữ”
Tác giả: Trần Thị An chủ biên, Trần Thị An – Vũ Quang Dũng biên soạn
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2007
2. Trần Thị An chủ biên, Trần Thị An – Vũ Quang Dũng biên soạn (2008), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 2: “Tục ngữ, câu đố”, viện khoa học xã hội Việt Nam, viện Nghiên cứu văn hóa, Nxb khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 2: “Tụcngữ, câu đố”
Tác giả: Trần Thị An chủ biên, Trần Thị An – Vũ Quang Dũng biên soạn
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2008
3. Trần Thúy Anh (2011), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt Châu Thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của ngườiViệt Châu Thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
4. Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kỳ sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn (1996), “Tục ngữ”, trong sách: Hợp tuyển văn học Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tục ngữ”", trong sách: "Hợp tuyển văn học Mường
Tác giả: Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kỳ sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 1996
5. Bùi Chỉ (2001), “Một số tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm thực dân gian”, in trong sách: Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm thực dân gian”",in trong sách: "Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình
Tác giả: Bùi Chỉ
Nhà XB: Nxb Văn hóadân tộc
Năm: 2001
6. Nguyễn Nghĩa Dân (2007), “Tìm hiểu cách biểu hiện của tục ngữ người Việt so sánh với tục ngữ một số dân tộc thiểu số ở nước ta”, trong sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu cách biểu hiện của tục ngữ ngườiViệt so sánh với tục ngữ một số dân tộc thiểu số ở nước ta”
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Năm: 2007
7. Nguyễn Đức Dân (1987), Đạo lí trong tục ngữ. // Tạp chí văn học, số 5, tr.57-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo lí trong tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1987
8. Chu Xuân Diên (2006), Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Khoa học xã hội, tái bản, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luậnvà nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
9. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam(biên soạn), H, Nxb Khoa học xã hội, In lần thứ hai, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ViệtNam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
10. Chu Xuân Diên (1997), Tục ngữ Việt Nam // Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh – chủ biên – Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1997
12. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam , H, Nxb Khoa học xã hội, Năm 1976 in lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
13. Cao Sơn Hải (2002), “Về công trình Tục ngữ Mường (Thanh Hóa)”, trong sách: Nhiều tác giả (2002), Thông báo văn hóa dân gian 2001, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về công trình Tục ngữ Mường (Thanh Hóa)”
Tác giả: Cao Sơn Hải (2002), “Về công trình Tục ngữ Mường (Thanh Hóa)”, trong sách: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Đạihọc quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
14. Cao Sơn Hải – Cao Chí Sơn sưu tầm, biên soạn, giới thiệu (2011), Truyện cổ Mường Voong, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyệncổ Mường Voong
Tác giả: Cao Sơn Hải – Cao Chí Sơn sưu tầm, biên soạn, giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
15. Cao Sơn Hải (2002), Tục ngữ Mường Thanh Hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Mường Thanh Hóa
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thôngtin
Năm: 2002
16. Dương Quảng Hàm (1951), Việt Nam văn học sử yếu in lần thứ 2 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1951
18. Hoàng Văn Hành (1988), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ. Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1988
19. Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn (1970), Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ dân ca MườngThanh Hóa
Tác giả: Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn
Năm: 1970
20. Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn (1970), Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ dân ca MườngThanh Hóa
Tác giả: Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn
Năm: 1970
21. Minh Hiệu (1981). Tục ngữ, dân ca Mường Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, dân ca Mường Thanh Hóa
Tác giả: Minh Hiệu
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1981
22. Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn (1999), Tục ngữ, dân ca Mường Thanh Hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, dân ca MườngThanh Hóa
Tác giả: Minh Hiệu sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thống kê những câu tục ngữ về nước có cấu trúc sóng đôi; những câu tục ngữ không theo cấu trúc sóng đôi và những câu tục ngữ sử dụng thủ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN BIỂU TƯỢNG NƯỚC VÀ THẾ ỨNG SỬ VỚI NƯỚC CỦA NGƯỜI MƯỜNG QUA TỤC NGŨ
Bảng 2. Thống kê những câu tục ngữ về nước có cấu trúc sóng đôi; những câu tục ngữ không theo cấu trúc sóng đôi và những câu tục ngữ sử dụng thủ (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w