ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ THƠ ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƢƠNG (THANH HÓA) LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi Các tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng Nếu sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Người viết cam đoan
Phạm Thị Thơ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNGTỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 11
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Quảng Xương 11
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 11
1.1.2 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội 14
1.1.3.Thành tựu trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996) tạo nền tảng cơ bản trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện 17
1.2 Xác định hướng đột phá trong lãnh đạo phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 20
1.2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp 20
1.2.2 Quá trình vận dụng chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa để lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp huyện (1996-2005) 29
Tiểu kết 39
Trang 5Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI KINH TẾ NÔNG THÔN XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 40
2.1 Những yêu cầu mới trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới 40
2.1.1 Những yêu cầu và chủ trương của Đảng 40
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 45
2.2 Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Quảng Xương 49
2.2.1 Những chủ trương căn bản 49
2.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện 57
Tiểu kết 63
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 64
3.1 Một số nhận xét 64
3.1.1 Thành tựu 64
3.1.2 Hạn chế 77
3.2 Các kinh nghiệm chủ yếu 80
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 97
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban Chấp hành CCKT : Cơ cấu kinh tế CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GDP : Tổng sản phẩm trong nước HTX : Hợp tác xã
KH-CN : Khoa học và công nghệ KHKT : Khoa học kỹ thuật KTNN : Kinh tế nông nghiệp KT-XH : Kinh tế - xã hội NTM : Nông thôn mới UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ
Bản đồ: Bản đồ hành chính huyện Quảng Xương 95 Bản đồ: Vị trí huyện Quảng Xương trên bản đồ tỉnh Thanh Hóa 96 Bảng 1.1: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế nông nghiệp qua các năm 1996,
2000, 2005 38 Biểu đồ 3.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Quảng Xương so với các
huyện/thành phố/thị xã lân cận năm 2014 67 Biểu đồ 3.2: Sản lượng lương thực huyện Quảng Xương từ năm 2005 đến năm
2014 69
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Quảng Xương năm 1996 và
2014 73 Biểu đồ 3.4: Cơ cấu kinh tế huyện Quảng Xương năm 2005 và 2014 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn được nhiều quốc gia trên thế giới coi là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển KT-XH nói chung và công cuộc CNH, HĐH nói riêng Đặc biệt đối với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân ngày càng
to lớn và luôn có ý nghĩa thiết thực Phát triển nông nghiệp, nông thôn càng trở thành quá trình tất yếu nhằm cải thiện bền vững nền kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường của đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của KTNN, ngay từ rất sớm Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trong thư gửi các điền chủ và nông gia
ngày 11-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việt Nam là nước
sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc… Nông dân
ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [57, tr 215]
Từ đó, Người coi việc tập trung phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và yêu cầu các ngành phải lấy việc phục vụ nông nghiệp làm trọng tâm
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và qua quá trình lãnh đạo thực tiễn, Đảng ta luôn nhận thức rõ vai trò, vị trí của nền KTNN Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, công tác lãnh đạo phát triển KTNN luôn được sự quan tâm thường xuyên của Đảng Tuy nhiên, nông nghiệp nước ta hiện nay cũng đang đối diện với rất nhiều khó khăn Nông nghiệp tăng trưởng liên tục và toàn diện nhưng nhìn lại, tốc
độ tăng trưởng đang có xu hướng chậm hơn, thu nhập của người dân ngày càng giảm Môi trường sản xuất ngày càng bị suy thoái chứa đựng sự đe dọa
Trang 9của nhiều yếu tố thiếu an toàn và bền vững Người lao động trong nông nghiệp còn nhiều khó khăn, cách thức tổ chức sản xuất chưa đáp ứng được với đòi hỏi của thực tiễn, nhất là khi nước ta đang tham gia sâu rộng vào quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế Những đòi hỏi tái cơ cấu lại nông nghiệp, hay
nói cách khác là tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả cao hơn và bền vững hơn gắn với xây dựng NTM đang là đòi hỏi bức bách của
quá trình phát triển hiện nay mà Đảng và Chính phủ ta đã nhìn thấy rõ Vấn
đề là tổ chức lại như thế nào?
Vì vậy, nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng ở nước ta đã và đang là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau Trong đó, nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng
từ một mô hình cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp cơ sở để có cái nhìn từ thực tiễn,
bổ sung cho các vấn đề lý luận chung của Đảng là yêu cầu cấp thiết
Huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) nằm về phía Đông Nam của tỉnh Trước đây, Quảng Xương luôn được xem là một huyện nghèo, đồng đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai Bên cạnh đó, do yêu cầu phát triển thành phố Thanh Hóa và thị xã Sầm Sơn (trực thuộc tỉnh), Quảng Xương thường xuyên bị chia tách địa giới hành chính Mặc dù là vùng trọng điểm lúa của tỉnh và là một trong những huyện được đánh giá là có tiềm năng về thủy, hải sản, đồng thời có vị trí trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh, nhưng trong cơ chế cũ, sản xuất đều lệ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và mang tính tự phát, kém phát triển Ruộng đồng manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, tiểu thủ công lạc hậu, tư duy lãnh đạo bị bó hẹp… là những nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp kém phát triển, đời sống nhân dân rất nghèo khó Cái nghèo khó của Quảng Xương có thể xếp vào hạng nhất nhì trong vùng đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hóa
Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhất là từ sau khi thực hiện chủ trương của Đảng đẩy mạnh phát triển KTNN, nông thôn theo hướng CNH,
Trang 10HĐH, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã tìm ra những hướng đi thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, từng bước khai thác được những lợi thế quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, nhất là đối với KTNN và xây dựng NTM với những bước phát triển vững chắc
Nghiên cứu về Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo phát triển KTNN trong thời kỳ đổi mới, cụ thể là trong giai đoạn từ 1996-2014 là đáp ứng yêu cầu nghiên cứu hiện nay Đề tài góp phần tổng kết thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào phát triển kinh tế ở một địa phương cấp huyện trước những yêu cầu mới
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu
“Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 1996 đến năm 2014” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
KTNN có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vì thế, việc lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng cũng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều nhà khoa học, có một số công trình tiêu biểu mà tác giả đã tìm hiểu:
Nhóm các công trình nghiên cứu ở Trung ương
GS Bùi Huy Đáp và GS Nguyễn Điền có cuốn Nông nghiệp Việt Nam
bước vào thế kỷ XXI [48] Cuốn sách khái quát những thành tựu của nông
nghiệp Việt Nam cuối thế kỷ XX, phân tích những thách thức và tiềm năng của nông nghiệp Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI Trên cơ sở đó nêu lên những phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại và bền vững trong thế kỷ XXI
Tác giả Vũ Oanh có cuốn Nông nghiệp và nông thôn trên con đường
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa [60] Tác phẩm đề
Trang 11cập đến những vấn đề có tính lý luận được thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển KTNN và nông thôn Đồng thời cuốn sách cũng nêu lên những kinh nghiệm có tính tổng kết qua việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách nói trên, nhất là từ sau khi tiến hành đổi mới cơ chế quản lý KTNN
PGS Lê Văn Lý có cuốn Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực
trọng yếu của đời sống xã hội nước ta [55] Cuốn sách nói về nội dung,
phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống
xã hội nước ta hiện nay, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp
PGS Nguyễn Cúc có cuốn Tác động của nhà nước đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [31] Cuốn sách đã đi sâu phân tích vị trí, vai trò của nhà
nước trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Lê Huy Ngọ - Nguyễn Ngô Hai (chủ biên) có cuốn Con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam [56] Cuốn sách
đã giới thiệu một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; giới thiệu kinh nghiệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của một số nước và vùng lãnh thổ; những vấn đề đặt ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn - đề
ra phương hướng và giải pháp để phát triển KTNN trong thời gian tới
Tác giả Nguyễn Văn Tiêm có cuốn Gắn bó cùng nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong đổi mới [66] Cuốn sách bao gồm nhiều bài viết về vấn
đề phát triển nông nghiệp, nông thôn như: những phản ánh, kiến nghị để phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn; về nông dân và Hội Nông dân Việt Nam; HTX nông nghiệp ở nông thôn
TS Đặng Kim Sơn có cuốn Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa [64] Trên cơ sở tổng hợp,
phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp
Trang 12hóa ở nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như: vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hóa, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết những vấn đề
về đất đai, lao động, môi trường, trong công nghiệp hóa đất nước
Các cuốn sách đã tập trung phân tích một cách sâu sắc vị trí, vai trò của KTNN đối với sự phát triển kinh tế; đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn của nước ta; tính tất yếu và cách thức tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, chưa nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến công tác lãnh đạo của Đảng trong phát triển KTNN
Ngoài các công trình nghiên cứu là sách, còn có các công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa học nghiên cứu về sự phát triển KTNN, quan điểm của Đảng về phát triển KTNN:
PGS TS Trần Văn Phòng (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển kinh tế nông nghiệp”, Tạp chí Giáo dục lý luận (số 11), tr 3-6
ThS Đặng Kim Oanh (2009), “Quan điểm của Đảng về phát triển nông
nghiệp trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 8), tr 26-30, 48
PGS TS Nguyễn Sinh Cúc (2002), “Tổng quan nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Lao động và Xã hội (số 197), tr 26-28
Các bài viết đã khái quát vị trí, vai trò của nông nghiệp, quan điểm về phát triển nông nghiệp của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả
Nhóm các công trình nghiên cứu ở cấp tỉnh
Nguyễn Văn Thụ (2004), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn ở tỉnh Thanh Hoá Luận văn ThS Kinh tế chính trị, Trung tâm Đào
tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Hà Nội
Lê Quang Điệp (2008), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh
Hóa Luận văn ThS Kinh tế, Đại học Kinh tế, Hà Nội
Lê Thị Hiền (2009), Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của
Đảng ở tỉnh Thanh Hóa trong những năm 1988-2006 Luận văn ThS Lịch sử,
Trang 13Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội
Nguyễn Thành Vinh (2010), Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1986-2005 Luận án TS Lịch sử, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nguyễn Hồng Thái (2010), Hoàn thiện chính sách kinh tế phát triển
nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay Luận văn ThS Kinh
tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Lê Thị Thảo (2010), Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông
nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1986-2010) Luận văn ThS Lịch sử, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội
Tạ Kim Sen (2013), Xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa: Thực
trạng và giải pháp Luận văn ThS Kinh tế, Đại học Kinh tế, Hà Nội
Nguyễn Trọng Luyện (2014), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải
quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay Luận văn ThS Khoa học chính trị, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Hà Nội
Hoàng Phương Bắc (2015), Phát triển bền vững ngành thủy sản tại địa
bàn tỉnh Thanh Hóa Luận văn ThS Kinh doanh và quản lý, Đại học Kinh tế,
Hà Nội
Nguyễn Thị Lê (2015), Quá trình thực hiện chủ trương hợp tác hóa
nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 1958 đến năm 1960 Luận văn ThS
Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu này đã phân tích khá sâu sắc tình hình nông nghiệp cũng như các chính sách phát triển KTNN của tỉnh Thanh Hóa Trên cơ
sở đó, bước đầu tìm ra các giải pháp để phát triển nền KTNN trong thời gian tới
Nhóm các công trình nghiên cứu ở cấp huyện
Cuốn “Địa chí huyện Quảng Xương” [53] khái quát về lịch sử, truyền
thống văn hóa, con người huyện Quảng Xương, giúp cho tác giả có được cái
Trang 14nhìn tổng quát về vùng đất địa linh này
Nguyễn Thị Hằng (2006), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá Luận văn ThS Nông nghiệp, Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội
Trần Văn Cường (2006), Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác theo
hướng bền vững ở huyện Quảng Xương Thanh Hoá Luận văn ThS Nông
nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Trịnh Duy Long (2008), Đánh giá hoạt động Khuyến nông ở huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Luận văn ThS Khoa học Kinh tế, Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội
Lê Huy Kỳ (2010), Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo
hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Quảng Xương - Thanh Hóa Luận văn ThS
Nông nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa
Nguyễn Hồng Thái (2010), Nghiên cứu phát triển nuôi thủy sản nước
lợ ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Luận văn ThS Nông nghiệp,
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Lê Đại Hiệp (2012), Nghiên cứu một số giải pháp góp phần xây dựng hệ
thống cây trồng thích ứng với khí hậu biến đổi ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá Luận văn ThS Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Bùi Thị Thắm (2014), Sinh kế hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất
nông nghiệp tại huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa Luận văn ThS Nông
nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Xương (1975-2005)” [7] đã tổng
kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương từ năm 1975 đến năm 2005, trong đó trọng tâm là lãnh đạo phát triển KTNN
Các báo cáo tổng kết của các kỳ Đại hội Đảng bộ huyện đã nêu rõ tình hình phát triển KTNN trong giai đoạn này
Trang 15Các cuốn sách và đề tài nghiên cứu đã đi sâu phân tích tình hình nông nghiệp của huyện Quảng Xương, đánh giá thực trạng nông nghiệp và các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của huyện Đồng thời cũng đưa ra các giải pháp để phát triển KTNN của huyện Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2014
Các công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo rất quan trọng đối với học viên Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, kết hợp với phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình phát triển KTNN của huyện, thông qua hệ thống tài liệu sưu tầm được, đặc biệt các tư liệu là các văn bản của Đảng bộ được lưu trữ tại các kho lưu trữ của văn phòng Huyện ủy, UBND huyện, Phòng Nông nghiệp huyện Quảng Xương và kho lưu trữ của Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa, góp phần giúp học viên tập dượt xây dựng một cuốn tài liệu lịch sử về quá trình vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng lãnh đạo phát triển KTNN
trong điều kiện cụ thể của Đảng bộ huyện Quảng Xương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2014 Đúc kết một
số kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTNN trong thời kỳ mới đạt
kết quả, hiệu quả cao hơn
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các chủ trương phát triển KTNN của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Phân tích, luận giải, làm sáng tỏ chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Quảng Xương về phát triển KTNN qua 2 giai đoạn: từ 1996-2005
và 2006-2014
- Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân trong quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện Quảng Xương
Trang 16từ năm 1996 đến năm 2014
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTNN của
Đảng bộ huyện Quảng Xương trong giai đoạn mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2014 theo chủ trương, đường lối phát triển KTNN của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
- Về phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1996 - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, chuyển công cuộc đổi mới của đất nước sang thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đến năm 2014 - chuẩn bị tổng kết lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có phát triển KTNN Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số
tư liệu có liên quan từ trước năm 1996 và sau năm 2014
- Về không gian nghiên cứu: Địa bàn huyện Quảng Xương (bao gồm 35
xã và 1 thị trấn ở thời điểm nghiên cứu) và có liên hệ với một số địa phương khác trong tỉnh
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển KTNN
Nguồn tài liệu
- Các văn kiện Đảng, nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương
Trang 17Đảng, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ huyện Quảng Xương đã công bố hoặc lưu trữ tại các cơ quan chức năng: Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kho lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy và văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, kho lưu trữ Văn phòng Huyện ủy và UBND huyện Quảng Xương, Chi cục Thống kê huyện Quảng Xương
- Các sách chuyên khảo, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học,
kỷ yếu, hội thảo khoa học đã công bố liên quan đến phát triển KTNN
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó
Đồng thời, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để tái hiện bức tranh KTNN của huyện Quảng
Xương dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện từ năm 1996 đến năm 2014
6 Đóng góp của luận văn
- Đề tài góp phần hệ thống hóa, tổng quát về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương đối với KTNN giai đoạn 1996-2014, làm rõ những thành tựu nổi bật, hạn chế, thách thức trong quá trình lãnh đạo, đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện Quảng Xương, làm luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để Đảng bộ huyện tiếp tục lãnh đạo phát triển KTNN trong những năm tiếp theo
- Là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu cho những người quan tâm đến vấn đề phát triển KTNN của huyện Quảng
Xương và của tỉnh Thanh Hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương, 6 tiết
Trang 18Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Quảng Xương
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Quảng Xương thuộc miền đất hình thành tương đối muộn so với nhiều nơi khác trong tỉnh Các sách địa chí cổ đều chép: huyện Quảng Xương từ đời Trần về trước tên là huyện Vĩnh Xương, sau đó phát triển thành Quảng Xương ở đời Hậu Lê Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển, với diện tích đất tự nhiên sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tính đến năm 2014
là 200,4 km², trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.230 ha (diện tích trồng cây hằng năm 9,494 ha, diện tích đất nuôi trồng hải sản 732 ha, diện tích đất lâm nghiệp 370 ha)
là hai “cánh tay khổng lồ” của tạo hóa chắn đỡ, đón nhận phù sa của hai dòng sông lớn và những hải lưu của biển cả Ngoài ra, huyện Quảng Xương còn có các con sông tự nhiên và nhân tạo như: sông Thống Nhất đào năm 1976, sông Hoàng và sông Lý cải tạo từ sông tự nhiên mà thành từ năm 1978 Quảng Xương có bờ biển dài 18,2 km với phần thềm lục địa rộng lớn là điều kiện
Trang 19phát triển nghề biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch Cùng với đó là 2 cửa lạch
đã tạo ra vùng triều có diện tích hơn 1.300 ha, có 9 xã ven biển tham gia khai thác hải sản và 10 xã vùng triều tham gia nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước
lợ Vùng biển Quảng Xương chủ yếu là vùng bãi ngang, tuy vậy nguồn lợi hải sản phong phú: cá, tôm he, tôm sắt, tôm bột, cua, mực, moi, sứa nhiều năm ngư dân khai thác đạt sản lượng lớn (sản lượng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao) Vùng triều Quảng Xương là một thế mạnh để nuôi trồng thủy sản nước lợ, sản xuất ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng
Phía Bắc huyện Quảng Xương là thành phố Thanh Hóa với Khu Công nghiệp Lễ Môn, phía Tây giáp huyện Nông Cống và Đông Sơn, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam là Khu Công nghiệp Động lực Nghi Sơn (huyện Tĩnh Gia) Như vậy, Quảng Xương có vị trí địa kinh tế, kết nối giữa Thành phố Thanh Hóa và Khu kinh tế động lực Nghi Sơn, đây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng
Huyện Quảng Xương có đường Quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc - Nam
từ cầu Quán Nam (Quảng Thịnh) đến cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18 km, rất thuận tiện cho việc lưu thông trong địa bàn huyện Có ba tuyến đường 4A, 4B, 4C chạy song song dọc bờ biển cũng tạo nên sự lưu thông dễ dàng trong vùng Ngoài ra còn có Quốc lộ 47 từ Thành phố Thanh Hóa đi Sầm Sơn ở phía Bắc
và Quốc lộ 48 từ Ngã ba Voi đi Nông Cống, các tuyến đường liên xã thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hóa, phát triển KT-XH
Về hành chính
Từ năm 1975 đến năm 2015, Quảng Xương đã trải qua 6 lần điều chỉnh địa giới hành chính để hình thành và phát triển hai đơn vị là Thành phố Thanh Hóa và Thị xã Sầm Sơn (trực thuộc tỉnh)
Đến năm 2012 (lần điều chỉnh thứ 5), huyện Quảng Xương còn bao gồm
35 xã và 1 thị trấn Dân số toàn huyện là 220.300 người Mật độ dân số 1.202 người/km2 Năm 2015 tiếp tục điều chỉnh lần thứ 6, cắt 6 xã cho Thị xã Sầm
Trang 20Sơn, Quảng Xương còn 29 xã và 1 thị trấn Điều đáng quan tâm là trong số các
xã bị chia tách do điều chỉnh địa giới hành chính đều là các xã có tiềm năng và dân trí cao hơn các vùng còn lại, làm cho mặt bằng chung về KT-XH của Quảng Xương gặp nhiều khó khăn hơn sau mỗi lần điều chỉnh Trong số 36 xã, thị trấn còn lại (ở thời điểm nghiên cứu), nơi có diện tích lớn nhất là xã Quảng Ngọc (8,8 km2); nơi có diện tích nhỏ nhất là thị trấn Quảng Xương (1,1 km2
) Nơi có dân số đông nhất là xã Quảng Nham (gần 14 nghìn người) và nơi có dân số ít nhất là xã Quảng Phúc (gần 3 nghìn người) [7, tr 24]
Về địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu
Đến nay, địa mạo Quảng Xương vẫn còn mang dáng dấp của biển
cả Những dải cát, cồn cát kéo dài từ bắc xuống nam Từ sau năm 1945, địa mạo Quảng Xương thay đổi nhiều, bớt gồ ghề, lồi lõm, khúc khuỷu hơn Hệ thống nông giang, mương máng tưới tiêu cùng làng xóm đổi mới
đã phá vỡ không gian làng mạc xưa, hình thành những không gian nông thôn hiện đại [53, tr 13]
Đi đôi với sự phức tạp của địa hình là sự phức tạp của thổ nhưỡng Người nông dân Quảng Xương trước đây phân chất đất ra thành các loại: đất cát, đất thịt, đất bùn, đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất thịt nặng, đất bùn hẩu họ phân biệt rõ đồng cát và đồng đất cát Do đó, đất ven biển chỉ có thể trồng cây sa mộc, còn đất ven sông Rào có thể cấy lúa, trồng khoai và các loại cây rau màu [53, tr 14]
Quảng Xương có các dòng sông lớn, vừa và nhỏ, tạo thành bởi nhiều nhánh sông từ nhiều miền đất chảy vào để đổ ra biển Đông: sông
Mã, sông Yên, sông Hoàng, sông Mã Bà, sông Lý, sông Rào Sông ngòi đóng vai trò quan trọng trong việc bồi bổ đất và cải tạo đất, nhất là thời chưa có đê hoặc không cần đê Đất tốt nhất là đất bãi, phù sa bồi đắp hàng năm do sông ngòi tràn lên ngoại đê, nhưng mùa màng thất thường tùy theo khí hậu thay đổi
Trang 21Miền Tây huyện là vùng trọng điểm lúa, ở giữa ba, bốn con sông quây vùng bốn phía Đồng ruộng các xã ven đê, trong đê luôn bị úng ngập
vì mùa mưa đồng thấp hơn nước sông không có chỗ tiêu úng Biển ở đây nền quá thấp, bồi chậm, được nhiều nguồn lợi cói lác, tôm cá thì kém thóc lúa rau màu Đất nói chung độ pH cao, ít nơi chua nhẹ Ưu điểm nền cao, thấp dồn về phía đông, mùa mưa lụt dễ tiêu [53, tr 15]
Theo nghiên cứu của tác giả Rô-bơ-canh (cựu hội viên Trường Viễn
Đông Bác cổ Pháp, tiến sỹ Văn khoa) trong công trình nghiên cứu địa lý về Xứ
Thanh, khí hậu Quảng Xương thuộc tiểu vùng khí hậu ven biển Nhiệt độ bình
quân cả năm là 19,480C, phân chia làm hai mùa rõ rệt Độ ẩm tháng 2 và tháng 3 cao nhất (86%), tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, tháng 10 và độ ẩm thấp hơn (80%) do trời nhiều mây hơn và bốc hơi ít hơn Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 7
có bão xen hạn hán kéo dài Từ tháng 11, gió Bắc thổi mạnh từng đợt, trời hết mưa, độ ẩm tương đối giảm đi, nhưng trời vẫn nhiều mây xám Mùa nóng nhiệt
độ cao nhất 380C, thấp hơn vùng giữa và vùng cao nhờ gió đông thổi vào Mùa rét nhiệt độ xuống dưới 100C Nói chung, tiểu vùng này có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối mát, độ ẩm cao, mưa vừa phải, đòi hỏi trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý phòng chống bão và mưa lớn
1.1.2 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
Đến năm 2014, Quảng Xương có dân số 225.101 người, gần 61 nghìn
hộ, vùng biển chiếm 1/3 dân số trong huyện Xuất phát từ đặc điểm điều kiện
tự nhiên nên ngành nghề chủ yếu của Quảng Xương là nông nghiệp và ngư nghiệp Người dân Quảng Xương có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo Trải qua hàng ngàn năm, nông dân Quảng Xương tiếp thu kinh nghiệm cổ truyền và trải qua thực tiễn đã phải hết sức tìm tòi để phát triển cây lúa Cây lúa giống như con người Quảng Xương “có cứng mới đứng đầu gió”
Trong năm, việc canh tác lúa ở Quảng Xương chia làm hai vụ rõ rệt: vụ chiêm và vụ mùa, còn gọi là vụ năm và vụ mười (gặt tháng năm và tháng
Trang 22mười âm lịch) Vụ mùa diện tích nhiều hơn vụ chiêm vì mưa nhiều, đồng cao, thấp đều có nước; lúa vụ mùa cấy cả đồng chiêm Đất cấy được cả hai vụ chiếm diện tích lớn
Trước kia, người dân gieo cấy nhiều giống lúa: giống lúa đồng cao, giống lúa bát, giống lúa chậu trắng, chậu dự; giống lúa mùa đỏ; giống lúa đồng triều; giống lúa nếp cái hoa vàng, nếp con Sau này đã được thay thế bằng các giống mới có khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày, cao sản Trong lịch sử, người dân Quảng Xương có nhiều kinh nghiệm trồng trọt: cơm quanh rá, mạ quanh bờ; khoai đất lạ, mạ đất quen; mưa cơn đàng Nưa (tên núi Nưa ở Thanh Hóa) vác bừa mà chạy, mưa cơn đàng Vạy đừng chạy mất công; tháng tám trông ra, tháng ba trông vào; sấm đàng Đông trời không có bão Hoặc là “ruộng đất cao cấy vào tháng 6, gặt tháng 10, ruộng trũng cấy vào tháng Chạp, gặt vào tháng 5” Cho đến khi người Pháp cho đào hệ thống nông giang ở Thanh Hóa, Quảng Xương thuộc phạm vi tưới nước của kênh Bắc, các vùng đất thấp trong huyện đã có thể cấy 1 năm 2 vụ, còn vùng đất thuộc dải vùng cao ven biển chủ yếu vẫn là hoa màu Tại vùng đất này còn có nhiều sản vật như dưa hấu Mậu Xương (xã Quảng Lưu), đặc biệt thuốc lào Thượng Đình (xã Quảng Định) là đặc sản nổi tiếng khắp nơi Bên cạnh đó, chăn nuôi và thủ công nghiệp cũng là nguồn bổ trợ thường xuyên cho kinh tế gia đình [7, tr 25]
Ở Quảng Xương, làng nào cũng có nghề thủ công và chăn nuôi gia súc Quảng Xương đã hình thành những vùng thủ công nghiệp lâu đời và nổi tiếng như đan cói, dệt chiếu ở vùng nước lợ: Quảng Chính, Quảng Trung qua Quảng Trường lên các xã Quảng Vọng, Quảng Phúc; đan lát, mây tre đan ở các làng thuộc tổng Thái Lai, Vệ Yên (Quảng Ninh, Quảng Đức, Quảng Phong ); nuôi tằm kéo tơ ở vùng đất cát ven biển; khâu nón, thợ rèn, nấu rượu, làm quạt ở tổng Cung Thượng, Vệ Yên, Thủ Chính (nay là các xã Quảng Cát, Quảng Hải, Quảng Tân ) [7, tr 26]
Xuất phát từ vị trí địa lý, ngư nghiệp ở Quảng Xương giữ một vị trí khá
Trang 23quan trọng, từ xưa đánh cá biển đã trở thành nghề truyền thống của cư dân ven biển Ngoài ra, còn nghề chắp gai, đan lưới thường được phụ nữ, trẻ em
và người già đảm nhiệm Cuộc sống của lao động ngư nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, khi biển lặng thì no đủ, lúc biển động thì thiếu đói, thậm chí mất cả tính mạng Bên cạnh nghề đánh bắt hải sản, việc chế biến thủy sản (chược, nước mắm, mắm tôm, cá, mực, tôm khô ) lại tập trung ở một số hộ giàu có ở hai đầu Nam - Bắc huyện: vùng cửa Hới và Cự Nham Riêng làm muối chỉ có ở Ngọc Giáp (xã Quảng Chính cũ) vì vùng Hới và Cự Nham là hai tụ điểm lớn, đồng thời là đầu mối giao thông sông, biển với thị trường trong và ngoài tỉnh [7, tr 26]
Ngoài đánh bắt, chế biến hải sản vùng ven biển, nông dân Quảng Xương còn có nghề bắt rươi, cua, cáy ở vùng nước lợ thuộc khu vực cửa Chào phía Đông Bắc và khu vực sông Yên phía Tây Nam huyện Đây không chỉ là nguồn thực phẩm hàng ngày mà còn cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện
Hệ thống sông, rạch, ao hồ là nơi nuôi thả thủy sản, vì vậy đánh bắt cá nước ngọt cũng giữ một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người dân
Lao động vùng biển đông, ngư dân có kinh nghiệm, nghề nghiệp thông thạo, chịu đựng sóng gió, biết nắm bắt ngư trường để tổ chức khai thác quanh năm theo mùa vụ, có thể khai thác xa bờ, khai thác vùng dở khơi dở lộng, khai thác vùng gần bờ, đều có hiệu quả kể cả sản phẩm xuất khẩu
Quảng Xương là vùng đất có truyền thống hiếu học Đến năm 1961, giáo dục Quảng Xương đã có đầy đủ các cấp học, đào tạo hàng chục vạn học sinh, cung cấp cho các mặt trận: chiến đấu, sản xuất, khoa học Hàng ngàn người vào đại học, đạt nhiều học vị, học hàm cao, có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ngoài đức tính cần cù, chịu khó, nhân dân Quảng Xương vốn có truyền thống cách mạng, yêu nước, anh dũng đấu tranh chống ngoại xâm, tinh thần
đó được phát huy cao độ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc sau này
Trang 241.1.3.Thành tựu trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996) tạo nền tảng
cơ bản trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã lãnh đạo nhân dân khai thác ngày càng hiệu quả hơn tiềm năng, thế mạnh của địa phương Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền KTNN huyện Quảng Xương đã đạt được những thành tựu cơ bản
Những thành tựu bước đầu
Với tinh thần tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xương đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ cho giai đoạn tiếp theo Các thành tựu đó được thể hiện trên nhiều mặt
Thứ nhất, các mục tiêu kinh tế do các Đại hội XIX, XX đề ra đều đạt,
một số mặt có bước tăng trưởng khá, nền kinh tế đi dần vào thế ổn định Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1995 đạt 93.173 tấn, tăng 13% so với kế hoạch Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân của thời kỳ 1991-1995 là 8,6% Lương thực bình quân đầu người từ 280 kg năm 1991 lên 341 kg năm 1995 Chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, thủ công nghiệp, dịch vụ có bước phát triển khá [4, tr 2]
Từ chỗ người nông dân chỉ quen với lối sản xuất dựa vào thiên nhiên, tự cung tự cấp, với những loại giống cây trồng, vật nuôi năng suất thấp đã hình thành ý thức sản xuất theo quy trình KHKT Hệ thống trạm bơm điện, trạm bơm được tu bổ, nâng cấp Hệ thống điện sáng nông thôn phát triển nhanh, 43/43 xã, thị trấn có điện và gần 90% số hộ dùng điện sinh hoạt Hệ thống đường giao thông nông thôn được quy hoạch nâng cấp và mở rộng Các loại máy cày, bừa nhỏ, máy xay sát, tuốt lúa, xe vận tải cơ giới nhỏ, thuyền mảng gắn máy được sử dụng rộng rãi, góp phần giải phóng và tăng năng suất sức lao động
Thứ hai, CCKT có bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa,
khai thác ngày càng tốt hơn các nguồn lực, phù hợp với xu thế phát triển và yêu cầu của thị trường
Trang 25Qua nhiều năm trăn trở tìm hướng đi, cách giải quyết, trên cơ sở khảo sát quy hoạch với những chính sách kinh tế đòn bẩy, bước đầu tạo được sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành ngư nghiệp, thủ công nghiệp dịch vụ (năm 1991 nông nghiệp: 78,3%; tiểu thủ công nghiệp: 17,6%; hải sản: 2,1%; dịch vụ: 2%, đến năm 1995, tương ứng là: 73,8%; 6,7%; 13,2%; 6,3%) [4, tr 2]
Chủ trương khai thác thế mạnh tiềm năng của từng vùng được triển khai
Đã hình thành 3 vùng kinh tế, mỗi vùng có ngành sản xuất mũi nhọn: vùng đánh bắt hải sản, trồng rau màu, cây ăn quả; vùng thâm canh cây lúa, chăn nuôi, thủ công nghiệp; vùng nuôi trồng hải sản và trồng cói có giá trị cao
Từ sản xuất độc canh, đơn nghề, các hộ nông dân đã chuyển sang sản xuất theo mô hình tổng hợp Nhiều giống vật nuôi, cây trồng có giá trị hàng hóa được nuôi trồng rộng rãi Sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng đáng kể Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển Đã quan tâm đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học để cải tạo, nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm Chương trình phát triển sind hóa đàn bò đạt kết quả bước đầu
Kinh tế biển khôi phục và phát triển Các chủ hộ, chủ thuyền, mảng đã thực sự trở thành các chủ thể kinh tế Nghề lộng được khôi phục, nghề khơi phát triển nhanh, từng bước cơ giới hóa và thực hiện đa nghề trên một phương tiện đánh bắt
Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển tương đối nhanh Bằng biện pháp đấu thầu, giao khoán, người dân không những đã khoanh nuôi, khai thác những diện tích hoang hóa trước đây, mà còn chuyển một phần diện tích cấy lúa thường bị nhiễm mặn sang nuôi trồng
Kinh tế dịch vụ đã phát triển ở tất cả các vùng, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống nhân dân
Thứ ba, cấp ủy chính quyền từ huyện đến cơ sở đã có nhiều chủ trương
giải pháp cụ thể, kích thích các thành phần kinh tế trong huyện hăng hái khai thác tiềm năng, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa
Trang 26Việc trích ngân sách để thực hiện các chính sách đòn bẩy kinh tế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của quần chúng trong việc thay đổi cơ cấu giống, cơ cấu cây con, mùa vụ, phát triển ngành nghề, đưa công cụ cơ giới vào sản xuất Công tác lãnh đạo đổi mới HTX nông nghiệp đã tạo sự ổn định và điều kiện thuận lợi cho nông dân phát triển sản xuất
Mặc dù trong quá trình chỉ đạo thực hiện có nhiều khó khăn phức tạp, nhưng việc thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, giao đất trồng cây lâm nghiệp, đất thầu khoán khai thác diện tích mặt nước, bãi triều, khoán hộ đã hoàn thành cơ bản, đảm bảo sự ổn định, nhất trí cao trong nhân dân, tạo sự kích thích mạnh mẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả KT-XH, mở ra hướng nghiên cứu, phát triển các loại hình hợp tác mới trong thời gian tiếp theo
Những mặt còn hạn chế
Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tuy đã giành được nhiều thắng lợi bước đầu quan trọng, nhưng đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng KT-XH, Quảng Xương cũng nằm trong xu thế ấy
Tình hình trong huyện, sau Đại hội XX (1990), nhân tố gây mất ổn định bộc lộ gay gắt, tình hình dân chủ bị vi phạm, một số cơ sở có những vấn
đề phức tạp kéo dài chưa được giải quyết Tổ chức bộ máy cán bộ ở huyện và một số cơ sở không được chấn chỉnh đồng bộ Xuất phát điểm của nền kinh tế rất thấp Cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu và thiếu thốn, nhất là vấn đề vốn, điện, nước tưới, kinh nghiệm tổ chức sản xuất hàng hóa
Mặc dù kinh tế có sự chuyển biến tích cực hơn nhưng tín hiệu tăng trưởng vẫn còn yếu, nhìn chung nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thuần nông, sản xuất tự cấp, tự túc Tỷ trọng nông sản hàng hóa còn rất nhỏ bé Cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển mở rộng sản xuất hàng hóa Chuyển dịch CCKT còn rất chậm
Trang 27Việc phát triển kinh tế nghề biển vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa tương xứng với lợi thế, tiềm năng sẵn có Tàu, thuyền, bè mảng công suất còn nhỏ, công cụ đánh bắt hải sản còn thô sơ, số công cụ ngành nghề trang bị trên một phương tiện còn thiếu nhiều Một bộ phận ngư dân chưa yên tâm với nghề biển tại địa phương bỏ đi làm ăn xa, một bộ phận lao động thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn Quy mô các cơ sở chế biến còn nhỏ lẻ, sản phẩm chế biến chủ yếu dưới dạng thô; cơ sở hạ tầng KT-XH vùng biển còn thấp kém Năng suất nuôi trồng thủy sản còn thấp, không ổn định, dịch bệnh xảy ra nhiều
Trình độ năng lực tổ chức quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường còn hạn chế Việc cụ thể hóa các chủ trương đường lối, chính sách của cấp trên thành những chủ trương giải pháp mục tiêu ở một số cơ sở thiếu cụ thể Vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng kết cấu hạ tầng vẫn gặp khó khăn, kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật còn thấp kém
Những điều kiện thực tế nêu trên tuy còn nhiều khó khăn, nhưng với những thành tựu đạt được trong 10 năm đầu đổi mới đã tạo ra những cơ sở quan trọng để Đảng bộ huyện Quảng Xương tiếp tục lãnh đạo phát triển KTNN, đáp ứng các nhiệm vụ đặt ra
1.2 Xác định hướng đột phá trong lãnh đạo phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp
1.2.1.1 Chủ trương tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
Năm 1986, nền kinh tế nước ta rất khó khăn, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, các thế lực trong và ngoài nước lại tăng cường chống phá cách mạng của Đảng Trước tình hình đó, tháng 12-1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội coi trọng đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, kiên quyết
Trang 28xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với quy luật khách quan và phù hợp với trình độ quản lý thực tế Đại hội VI chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu Các chương trình mục tiêu cụ thể trên, thực chất là chuyển hướng công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm Chính sách đổi mới của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, khơi dậy khí thế sản xuất mới, thúc đẩy KT-XH phát triển Đại hội VI chỉ rõ:
Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp Phải đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn, nhằm yêu cầu chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tỷ suất hàng hóa nông sản Nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật về vật tư, về lao động kỹ thuật, những
nguồn đầu tư ấy phải được sử dụng có hiệu quả [35, tr 48]
Với tình hình cụ thể của đất nước, Đại hội VI đã xác định trong những năm tới phải thực sự lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Quán triệt đường lối đổi mới toàn diện các chính sách nông nghiệp của Đại hội VI, Đảng ta đã tạo ra một hệ thống giải pháp điều chỉnh các mối quan
hệ về sở hữu, quản lý và phân phối, gắn với những nỗ lực đầu tư phát triển cơ
sở vật chất - kỹ thuật nhằm giải phóng và tăng cường sản xuất trong nông thôn, trong từng hộ nông dân, đã tạo ra động lực thúc đẩy nông nghiệp phát triển Ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10 về đổi mới quản lý nông nghiệp - đây là sự cụ thể hóa đường lối đổi mới kinh tế toàn diện do Đại hội VI đề ra Cùng với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Hội nghị
Trang 29lần thứ 6 BCH Trung ương họp tháng 3-1989 đã quyết định 12 chủ trương, chính sách mới đẩy mạnh công cuộc đổi mới Các nghị quyết trên đã phát triển và xác định quan điểm cơ bản về chỉ đạo nông nghiệp, đó là: Kinh tế HTX có nhiều hình thức từ thấp tới cao, HTX và tập đoàn sản xuất nông nghiệp là các đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ Ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất thực hiện các hợp đồng khác với HTX, còn chủ động phát triển kinh doanh dưới nhiều hình thức Các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đã làm chuyển biến tình hình từ giữa năm 1988, những tiến bộ và nhân tố mới xuất hiện, nhịp độ lạm phát giảm mạnh từ 774,7% (1986) xuống 67,4% (1990), tình hình cung ứng lương thực, thực phẩm bớt gay gắt, hàng hóa trên thị trường nhiều lên Đời sống nhân dân được cải thiện, dân chủ xã hội được phát huy; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại được tăng cường, mở rộng và từng bước đẩy lùi thế bị bao vây cô lập Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, năng suất vật nuôi và cây trồng còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh kém; đời sống của nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ tình hình đất nước và căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã đề ra mục tiêu cho 5 năm (1991-1996) là: “Ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu có tích lũy từ nền kinh tế, tăng thêm việc làm cho người lao động, ổn định từng bước, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” [36, tr 63]
Trong quá trình tiến hành đổi mới, nông nghiệp, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, nó góp phần lớn vào việc thực hiện 3 chương trình kinh tế do Đại hội VI đề ra Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa VII (10-6-1993) chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với cải tạo một bước cơ
Trang 30bản đời sống vật chất, văn hóa của nông dân Đảng nhấn mạnh đổi mới cơ cấu KTNN, hướng vào sản xuất hàng hóa với chính sách kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất với thị trường, gắn phát triển kinh tế với văn hóa xã hội, bảo vệ
và phát triển tài nguyên, xây dựng NTM, cải biến CCKT nông thôn Ban hành những chính sách vĩ mô của Nhà nước về tiêu thụ nông sản hàng hóa, về chính sách thuế sử dụng ruộng đất và thủy lợi phí, chính sách xã hội nông thôn, chính sách KH-CN
Đánh giá kết quả 10 năm đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VII, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VIII của Đảng (6-1996) đã khẳng định:
Công cuộc đổi mới trong mười năm qua thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho những năm 1991-1995 đã được hoàn thành về cơ bản Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt vẫn còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định
rõ hơn [38, tr 344]
Về nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đảng ta xác định:
“Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
nông, lâm, thủy sản” [38, tr 86] Với nội dung cơ bản là: “Phát triển nông, lâm,
ngư nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh, cơ cấu kinh tế hợp lý về cây trồng, vật nuôi có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu chế biến và thị trường trong và ngoài nước” [38, tr 87]
Quán triệt những quan điểm cơ bản của Đại hội VIII, Hội nghị BCH
Trang 31Trung ương Đảng lần thứ 4 (Khóa VIII) họp tháng 12-1997 tiếp tục xác định: Đẩy mạnh nhanh quá trình chuyển dịch CCKT gắn với phân công lại lao động
ở nông thôn trên cơ sở thực hiện tốt các chương trình về phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch CCKT nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân nghèo Giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản, thực hiện cơ chế lưu thông thực sự thông thoáng trên thị trường trong nước, tạo một
số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, thực thi các chính sách hỗ trợ nông dân Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn
Tháng 11-1998, trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, Hội nghị BCH Trung ương 6 (lần 1) đã đánh giá những thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn và đề ra các giải pháp cấp bách nhằm phát triển KT-XH năm 1999-2000 Trong đó vấn đề nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt: “Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”,
vì “Sự phát triển nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ) và kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực
kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa” [39, tr 34]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục khẳng định: “Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” [40, tr 93]
Cùng với nghị quyết của Đại hội, chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2010 trình tại Đại hội cũng tiếp tục khẳng định những định hướng của phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn với các nội dung: Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng
Trang 32hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp; tăng cường tiềm lực KH-CN trong nông nghiệp; tiếp tục phát triển và hoàn thiện cơ bản hệ thống thủy lợi
Kế thừa và phát triển những quan điểm của Đảng về phát triển KTNN, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa IX về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 đã nêu rõ:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị công nghệ và thiết bị hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường [41, tr 93] Những chủ trương của Đảng là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đề ra chủ trương phát triển KTNN theo hướng CNH, HĐH
1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vận dụng sáng tạo chủ trương đổi mới phát triển KTNN, sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện nền KT-XH, trong đó nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV (5-1996) đề ra chủ trương phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, coi trọng chuyển dịch cơ cấu KTNN và phát triển nông thôn:
Trên cơ sở ổn định diện tích lúa nước, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, đưa
vụ đông thành vụ sản xuất chính, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đẩy mạnh các biện pháp thâm canh, tiếp tục giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo lương thực cho người, thức ăn cho phát triển chăn nuôi
và có một phần cho xuất khẩu Tăng sản lượng lương thực, đảm bảo
Trang 33bình quân đầu người 300 kg trở lên, đến năm 2000 đạt 1,3 triệu tấn lương thực trở lên [16, tr 58]
Trong đó đã dành sự quan tâm lớn cho phát triển chăn nuôi:
Đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính và có tỷ trọng thu nhập lớn trong nền kinh tế nông thôn Hình thành những vùng chăn nuôi tập trung gắn với cơ sở chế biến thích hợp Phấn đấu đến năm 2000 đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản lượng nông nghiệp lên 30% Thực hiện một số chương trình trọng điểm trong ngành chăn nuôi như chương trình nạc hóa đàn lợn, cải tạo đàn bò, các loại gia cầm truyền thống, nuôi tôm, cua, cá cho nhân dân cải thiện bữa ăn [16, tr 59] Thủy sản là một trong những lợi thế lớn của tỉnh, để phát triển ưu thế này, Đảng bộ đã chỉ đạo: “Tận dụng triệt để 16.000 ha mặt nước ngọt, lợ nuôi trồng thủy sản để đến năm 2000, giá trị sản phẩm nuôi trồng chiếm 44%, đánh bắt 56%, trong đó đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở hậu cần dịch vụ, chế biến và mua sắm phương tiện, nâng tỷ trọng sản lượng hải sản đánh bắt
Trang 34nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, kết hợp chế biến nông, lâm, thuỷ sản
ở vùng đồng bằng, ven biển Khuyến khích chủ trang trại tổ chức các hình thức kinh tế hợp tác, bảo đảm liên kết giữa các khâu sản xuất - thu gom - chế biến - tiêu thụ nông lâm hải sản; giữa các vùng đô thị - nông thôn, đồng bằng - trung
du - miền núi; giữa người có vốn và người có đất [17, tr 2-3]
Ngày 24 tháng 8 năm 1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục ra Nghị quyết số 08-NQ/TU về phát triển kinh tế nghề biển Đánh giá tình hình phát triển kinh tế nghề biển của tỉnh trong những năm qua, Nghị quyết đã nêu rõ:
“Kinh tế biển của Thanh Hoá đã có bước phát triển tương đối toàn diện cả đánh bắt, nuôi trồng, dịch vụ hậu cần, chế biến, tiêu thụ thuỷ hải sản Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế nghề biển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng vùng biển, vùng triều của tỉnh” [18, tr 1] Đồng thời đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế nghề biển đến năm 2000: Phát triển toàn diện và đồng bộ cả đánh bắt, nuôi trồng, dịch vụ hậu cần, chế biến hải sản, nghề muối trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng CNH, HĐH, tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả đánh bắt xa bờ, gắn với củng cố nghề lộng; chuyển từ nuôi trồng thuỷ sản theo phương thức quảng canh sang bán thâm canh, thâm canh và nuôi công nghiệp; từng bước
mở rộng nuôi trồng ở vùng nước ven bờ, eo vịnh; khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển kinh tế nghề biển [18, tr 3-4]
Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV và các nghị quyết chuyên
đề đã được thông qua có ý nghĩa quyết định sự phát triển của tỉnh trong thời
kỳ 1996-2000 và những năm tiếp theo Đó cũng là quyết tâm của toàn thể Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, vượt qua khó khăn để vươn tới mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV (1-2001) đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2001-2005
Trang 35Đại hội đề ra các chỉ tiêu phát triển kinh tế, trong đó về nông nghiệp: + Tốc độ tăng GDP nông, lâm, ngư nghiệp: 6,2%/năm trở lên
+ Cơ cấu nông nghiệp chiếm 33,3% trong cơ cấu GDP năm 2005 của tỉnh (công nghiệp 33%, dịch vụ 33,7%)
Đồng thời, Đảng bộ tỉnh đã đưa ra các chương trình KT-XH trọng tâm, trong đó có: chương trình CNH, HĐH nền kinh tế, chú trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; chương trình sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp
Để hoàn thành các nhiệm vụ phát triển KTNN, cần phải có các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch CCKT trong nội bộ ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Đưa nhanh những thành tựu của công nghệ sinh học vào sản xuất, tăng nhanh năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi; phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản, chú trọng chế biến nhỏ trong nông thôn, gắn với việc quy hoạch vùng nguyên liệu Chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hóa và xuất khẩu, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, ứng dụng tiến bộ KHKT Tiếp tục phát triển và đầu tư đồng bộ, có hiệu quả chương trình đánh bắt hải sản xa bờ Xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ hậu cần phục vụ nghề cá [19, tr 39-41]
Triển khai nghị quyết của Đại hội, ngày 25 tháng 8 năm 2003, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 06-NQ/TU về phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm thời kỳ 2003-2010 Đánh giá chăn nuôi có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, nghị quyết nêu lên những thành tựu và hạn chế của tỉnh trong phát triển chăn nuôi những năm qua, trên cơ sở đó để đưa ra những giải pháp phát triển chăn nuôi đến năm 2010 trên quan điểm chỉ đạo: i) Phát triển chăn nuôi: tăng nhanh sản lượng và giá trị hàng hoá, tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu KTNN; ii) Chuyển nhanh từ chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại, áp dụng các tiến bộ KH-CN tiên tiến vào chăn nuôi; iii) Có cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế
Trang 36đầu tư vào chăn nuôi, chế biến, dịch vụ; iv) Phát triển chăn nuôi bền vững trên
cơ sở quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo vệ sinh môi trường [20, tr 2]
Như vậy, qua các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, XV và các nghị quyết của Tỉnh ủy, đường lối phát triển KTNN của tỉnh đã được hình thành,
đó là cơ sở để Đảng bộ huyện Quảng Xương hoạch định chủ trương phát triển KT-XH của huyện trong thời kỳ mới
1.2.2 Quá trình vận dụng chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa để lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp huyện (1996-2005)
1.2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện
Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tế của huyện đứng trước nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít những khó khăn Trước bối cảnh đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI (2-1996) đã tập trung đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội khóa XX Đại hội nhận định: “Các mục tiêu kinh tế -
xã hội do Đại hội XX đề ra đã đạt và vượt Nền kinh tế đang đi vào thế ổn định, trên một số mặt có bước tăng trưởng khá” [4, tr.11]
Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, lựa chọn khâu đột phá để phát triển trong thời kỳ mới là vấn đề có ý nghĩa lớn đối với Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xương Vì vậy, Đại hội đã đề ra phương hướng, mục tiêu trong
thời kỳ 1996-2000 (xem phụ lục 1, trang 97) Đồng thời, nhấn mạnh một số nội dung cần đột phá trong phát triển KTNN: Thứ nhất, tăng cường công tác
khuyến nông, đưa nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ sinh học, kỹ thuật mới vào sản xuất, tạo ra năng suất ngày càng cao và hiệu quả kinh tế ngày càng lớn hơn Trong đó, ổn định 90% trở lên diện tích được thâm canh các loại giống có năng suất cao Có cơ chế, chính sách khuyến khích sản xuất giống lúa cấp I ở các vùng, các hộ có điều kiện Phấn đấu có 60-70% diện tích mùa vụ được cấy lúa mùa sớm, thu hoạch trước ngày 5-9 nhằm tránh bão,
nước lụt và để mở rộng diện tích vụ đông Thứ hai, phát triển mạnh các loại
cây công nghiệp, cây ăn quả đáp ứng yêu cầu tiêu dùng xuất khẩu và nguyên
Trang 37liệu cho công nghiệp chế biến Hình thành những vùng trồng cây ăn quả có quy mô tập trung, đưa diện tích cây công nghiệp lên 2.000 ha vào năm 2000
Thứ ba, tập trung dồn điền, đổi thửa, tạo ra vùng sản xuất chuyên canh lớn
trên cơ sở thực hiện tốt chính sách giao đất giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, cần khẩn trương có cơ chế, chính sách linh hoạt, phát động dồn đổi ruộng tạo liền vùng, liền thửa, tạo thuận lợi cho thâm canh,
đưa tiến bộ KHKT và công cụ cơ giới vào sản xuất Thứ tư, tăng cường đầu tư
và sử dụng có hiệu quả các công trình thủy lợi hiện có, xây dựng mới hệ thống kênh mương tưới tiêu, chủ động đảm bảo cơ bản nước tưới cho các vụ
sản xuất Thứ năm, phát triển chăn nuôi toàn diện, nâng cao chất lượng đàn
gia súc, gia cầm Đàn trâu bò ổn định ở mức 14.000 con, nhưng phải nâng chất lượng, phần lớn được cải tạo theo hướng lai ngoại; phát triển nuôi bò sữa
ở một số xã Đưa đàn lợn lên 85.000 con, tăng tỷ lệ lợn hướng nạc Phát triển chăn nuôi gia cầm đạt tổng đàn 800.000 con, trong đó vịt thời vụ 500.000 con Làm tốt công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm [4, tr 14]
Về kinh tế hải sản, Đảng bộ chủ trương: “Nâng cao chất lượng và giá trị hải sản Sản lượng đánh bắt bình quân hàng năm từ 3.500 đến 4.000 tấn, nuôi trồng hải sản đạt 1.000 tấn Phấn đấu 60-70% số lượng sản phẩm được chế biến để thành sản phẩm có giá trị cao” [4, tr 14]
Để đạt được mục tiêu đó, cần tạo ra bước đột phá trong việc tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư, phát triển cơ giới 80% thuyền, bè, mảng Thực hiện đa nghề trên một phương tiện đánh bắt, kết hợp phát triển nghề lộng với nghề khơi Tiếp tục chuyển diện tích lúa không chủ động tưới tiêu, nhiễm mặn, sâu trũng, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy, hải sản, đưa diện tích nuôi trồng lên 1.000-1.200 ha Giảm mạnh diện tích nuôi quảng canh, chuyển sang nuôi bán thâm canh và thâm canh Triển khai thực hiện dự án 480 ha ở các xã: Quảng Chính, Quảng Trung, Quảng Khê Xúc tiến quy hoạch tiến tới hoàn chỉnh vùng nuôi trồng thủy sản ở
Trang 38các xã: Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Phúc, Quảng Vọng, Quảng Trường Có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tổ chức chế biến thủy, hải sản [4, tr 14]
Sau 15 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, khủng hoảng kinh tế đã được đẩy lùi, nền kinh tế đất nước không ngừng phát triển Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII (11-2000) đã tổng kết những thành tựu đạt được trong 5 năm của nhiệm kỳ XXI Đại hội đã định hướng:
Xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững ở cả ba
vụ sản xuất thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, từng bước hiện đại hóa, trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường Xây dựng nông thôn mới theo hướng nông thôn có nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại cùng phát triển gắn với thị trường, tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân Đổi mới
cơ cấu bữa ăn và đời sống văn hóa - xã hội, nâng dần mức sống của nhân dân; cơ bản không còn hộ đói, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo; thực hiện xã hội dân chủ, công bằng, văn minh [5, tr 17]
Tập trung lãnh đạo thực hiện 4 chương trình KT-XH: chương trình sản xuất 13 vạn tấn lương thực quy hạt; phát triển nuôi 350 ha tôm bán thâm canh theo hướng công nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống; tạo việc làm, làm giàu, xóa đói giảm nghèo
Để thực hiện được mục tiêu trên, Đảng bộ huyện đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể và lựa chọn khâu đột phá tiếp theo, đó là: “Tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức tốt quy hoạch, chuyển đổi đồng ruộng gắn với lợi thế của từng vùng, tạo ra các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [5, tr 18] Đưa nhanh tiến bộ KHKT, đặc biệt là giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt,
ổn định, kháng chịu được sâu bệnh vào sản xuất Từng bước chuyển dần 500 ha lúa bị nhiễm mặn, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản Mở rộng diện tích vụ
Trang 39đông đạt 6.000 ha, trong đó diện tích ngô đông trên đất hai lúa là 3.000 ha, đưa
vụ đông thành vụ sản xuất hàng hóa Quy hoạch vùng sản xuất rau màu, cây ăn quả có giá trị, tập trung ở các xã đông đường 4A Hoàn chỉnh thủy lợi nội đồng gắn với cải tạo đất, đẩy nhanh tiến độ kiên cố hóa kênh mương; xây mới, nâng cấp các trạm bơm, củng cố, bồi trúc hệ thống đê điều Từng bước áp dụng công nghệ chế biến, bảo quản nông sản gắn với thị trường để tăng tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa cho nông dân Chú trọng đào tạo cán bộ KHKT
Phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Khuyến khích các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Đưa tỷ trọng chăn nuôi chiếm 30% giá trị sản xuất nông nghiệp
Phát triển đồng bộ kinh tế biển, phát huy thế mạnh nuôi trồng thủy sản trên các vùng triều Gắn thủy sản với nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nhằm tạo ra một CCKT nông thôn vùng biển hợp lý Đồng thời, tập trung chỉ đạo thành lập từ 1 đến 2 tổ hợp cổ phần trong nuôi trồng thủy sản, nhằm tích tụ ruộng đất cho những hộ có khả năng thâm canh nuôi trồng Xây dựng, thực hiện dự án nuôi tôm công nghiệp, dự án đánh bắt dở khơi, dở lộng,
dự án đánh bắt xa bờ cho các năm từ 2001-2005 Quy hoạch đồng bộ diện tích nuôi trồng thủy sản để đầu tư thâm canh tăng năng suất nuôi trồng, kết hợp hình thức nuôi quảng canh cải tiến với bán thâm canh và thâm canh theo hướng nuôi tôm công nghiệp Ổn định diện tích lâu dài từ 15 năm trở lên để
có để có điều kiện đầu tư thâm canh; từng bước chuyển những diện tích lúa bị nhiễm mặn, năng suất thấp ở các xã ven triền sông Yên, sông Mã sang nuôi trồng thủy sản Tận dụng, khai thác mặt đất ven sông Yên, cửa lạch để nuôi
200 ha ngao xuất khẩu ở Quảng Nham Tập trung đầu tư cho chương trình nuôi trồng thủy sản ở 3 xã Quảng Trung, Quảng Chính, Quảng Khê
Đầu tư đồng bộ, nâng cao năng lực khai thác, đánh bắt; ưu tiên tập trung khai thác đánh bắt dở khơi dở lộng có hiệu quả Gắn khai thác, đánh bắt với bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cải tạo, xây dựng cơ sở vật chất, tranh thủ sự
Trang 40hỗ trợ và lãnh đạo của tỉnh để xây dựng dự án khả thi cảng cá nhân dân Quảng Nham Tăng cường hoạt động công tác khuyến ngư Phát triển đa dạng các loại hình hợp tác trong sản xuất, kinh doanh thủy, hải sản; áp dụng rộng rãi tiến bộ KHKT và công nghệ thích hợp; gắn khai thác, đánh bắt, nuôi trồng với chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường Phấn đấu đến năm 2005, sản lượng thủy sản đạt 7.000 tấn, trong đó giá trị nuôi trồng đạt 87 tỷ [5, tr 18-19]
Nghị quyết tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, XXII đã xác định đúng đắn chủ trương, phù hợp với thực tiễn nhằm xây dựng và phát triển mạnh
mẽ nền KTNN trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.2.2.2 Quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện
Với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, các cấp, ban ngành, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã tiếp tục chỉ đạo, lãnh đạo phát triển KT-XH của huyện mà trước hết là sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn Trong quá trình
tổ chức thực hiện, quan điểm của Ban Thường vụ và BCH Đảng bộ huyện là phải kiên trì giữ vững an toàn lương thực, tăng giá trị trên diện tích gieo trồng Đổi mới các loại hình HTX, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ
Thực hiện chương trình sản xuất 13 vạn tấn lương thực: Huyện uỷ đã
tập trung chỉ đạo các khâu đột phá là quy hoạch vùng sản xuất, thực hiện dồn điền, đổi thửa, đầu tư xây dựng kiên cố hoá kênh mương nội đồng, giải quyết
cơ bản yêu cầu về nước tưới cho sản xuất, khắc phục tình trạng thiếu nước tưới, ngập úng ở một số vùng Công tác dồn điền, đổi thửa được tiến hành từ năm 1997, nhưng từ năm 1998 tiến hành mạnh mẽ và sâu rộng trên địa bàn huyện Cùng với phong trào kiên cố hóa kênh mương, chuyển dịch cơ cấu giống, cuộc vận động “dồn điền, đổi thửa” đã được các cấp ủy Đảng tập trung chỉ đạo, nhằm xóa bỏ tình trạng manh mún đất, quy hoạch lại đồng ruộng, đưa nhanh tiến bộ khoa học vào sản xuất Năm 1998, thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy
về cuộc vận động “dồn điền, đổi thửa” trong HTX nông nghiệp, các cấp ủy từ