Há»� và tên Nguyá» n Thị Tú Uyên ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ TÚ UYÊN TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA DOANH NGHIỆP (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PH[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNHà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNMÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Linh Khiếu
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 5
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.1 Khái niệm và nhân tố tác động việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 11
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 11
1.1.2 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện TNXH của DN 19
1.2 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và các tiêu chí đánh giá 26
1.2.1 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 26
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện TNXH của DN 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BITEXCO 43
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Bitexco 43
2.2 Thực trạng việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty cổ phần Bitexco 49
2.2.1 Trách nhiệm đối với thị trường và người tiêu dùng 49
2.2.2 Trách nhiệm đối với người lao động 53
Trang 42.2.3 Trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường 62
2.2.4 Trách nhiệm chung đối với cộng đồng 64
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 68
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN BITEXCO 68
3.1 Đánh giá việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty cổ phần Bitexco 68
3.1.1 Những ưu điểm 68
3.1.2 Những hạn chế 70
3.2 Quan điểm của công ty cổ phần Bitexco trong việc thực hiện TNXH của DN 74
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty cổ phần Bitexco trong thời gian tới 78
3.3.1 Nâng cao nhận thức công ty về thực hiện TNXH của DN 78
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của lãnh đạo, CBNV công ty về thực hiện TNXH của DN 78
Thứ hai, tuyên truyền việc thực hiện TNXH của công ty 79
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống quản lý trong thực hiện TNXH của DN 81
Thứ nhất, xây dựng quy chế, có bộ phận phụ trách về việc thực hiện TNXH của công ty 81
Thứ hai, xây dựng chiến lược rõ ràng, lộ trình cụ thể về việc thực hiện TNXH của công ty 82
Thứ ba, áp dụng quy trình ISO 9000 cho vấn đề thực hiện TNXH của công ty 83
3.3.3 Mở rộng mối quan hệ với các bên liên quan trong việc thực hiện TNXH của DN 87
PHẦN KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
LỜI CẢM ƠN 98
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CoC : Bộ quy tắc ứng xử CBNV : Cán bộ nhân viên
DN : Doanh nghiệp ĐTM : Báo cáo đánh giá tác động môi trường TNXH : Trách nhiệm xã hội
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp (DN) Việt Nam đang được đánh giá là một trong những trọng tâm phát triển của kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, để những DN này trụ vững
và phát triển, một trong những yếu tố quan trọng đang trở thành điều kiện ràng buộc đối với các hợp đồng xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển, đó
là Trách nhiệm xã hội (TNXH)
Sau khi Việt Nam ra nhập WTO, khái niệm TNXH của DN mới bắt đầu được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập đến nhiều Có nhiều định nghĩa khác nhau để giải thích TNXH của DN - CSR (Corporate social responsibility), nhưng một trong các định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất
là định nghĩa do Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (World
Business Council for Sustainable Development) đưa ra: “TNXH của DN là
cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng, cho toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như phát triển chung cho cả xã hội” [30]
Dù có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng hơn một thập kỷ qua, số lượng các DN trên toàn thế giới nhận ra lợi ích kinh tế của các chính sách và biện pháp thực hiện TNXH của DN đang ngày một gia tăng Nhiều DN đã sử dụng TNXH của DN như một hướng kinh doanh mới khi nhận ra rằng nó có thể giúp nâng cao vai trò của nhà quản trị, cải thiện tình hình tài chính, nâng cao động cơ làm việc của các nhân viên, đẩy mạnh lòng trung thành của khách hàng cùng danh tiếng DN đối với xã hội.Những cơ hội hay thách thức đến với các DN từ việc áp dụng TNXH trên toàn thế giới cũng như Việt Nam
về cơ bản đã thấy rõ Nhận thức về TNXH của DN có thể coi như một chỉ số
tỷ lệ thuận với sự thành công của DN đó trên con đường phát triển
Trang 7Công ty Cổ phần Bitexco (Bitexco JSC) là đơn vị thành viên của Tập đoàn Bitexco, được thành lập năm 2007, với định hướng tập trung vào phát triển và triển khai thực hiện các dự án bất động sản Ngay từ khi thành
lập, Công ty đã đặt ra chính sách “Tuân thủ các yêu cầu về TNXH là nghĩa
vụ, quyền lợi của mọi người - tạo nguồn lực phát triển công ty bền vững”
Công ty luôn quan tâm tới các vấn đề về TNXH một cách toàn diện và thực hiện tốt các nội dung của TNXH của DN như TNXH với người lao động, về bảo vệ môi trường, về bình đẳng giới, an toàn lao động, với thị trường, người tiêu dùng và với cộng đồng Ngoài ra, công ty đã có những hoạt động cụ thể trong việc thực hiện TNXH của DN, từ đó xây dựng và giữ gìn được bản sắc văn hóa của DN mình Tuy nhiên, việc thực hiện TNXH của công ty hiện nay vẫn còn một vài hạn chế như: nhận thức của đội ngũ nhà quản lý, của người lao động về TNXH của DN còn chưa đồng đều; công ty chưa có chiến lược,
lộ trình rõ ràng cho việc thực hiện TNXH; chưa có nguồn quỹ riêng cho việc thực hiện TNXH, … Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã
chọn đề tài: “Trách nhiệm xã hội của DN (Nghiên cứu trường hợp tại Công ty
Cổ phần Bitexco)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề TNXH của DN mới được tập trung nghiên cứu từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX đến nay Các công trình là dưới dạng là những cuốn sách đề cập trực tiếp đến vấn đề TNXH của DN như:
- Bowen, H.R, (1953), Social Responsibilities of the Businessman,
[New York, Harper & Brother] H.R.Bowen lần đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH trong cuốn sách này nhằm tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng
từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội
- Carroll, A.B, (1999) Corporate Social Responsibility: Evolution of a Definitional Construct, Business and society [268-295] Trong bài viết, tác giả
Trang 8đưa ra các khái niệm về TNXH của DN bắt đầu từ những năm 1950, đánh dấu
kỷ nguyên hiện đại TNXH của DN, khái niệm được mở rộng trong những năm
1960 và nở rộ trong những năm 1970 Trong những năm 1980, có ít định nghĩa mới, nghiên cứu thực nghiệm hơn, và hình thành các chủ đề khác liên quan
- The World Business Council for Sustainable Development, Corporate
Social Responsibility, 1 Jan 2000 Hội đồng DN vì sự Phát triển bền vững
Thế giới (WBCSD) đã đưa ra khái niệm này từ những năm đầu thế kỷ 21:
"Trách nhiệm xã hội DN như là một lời cam kết của DN nhằm đóng góp vào
sự phát triển kinh tế bền vững"
- Michel Capron, Francoise Quairel - Lanoizelee, “Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp”, do Lê Minh Tiến, Phạm Như Hổ dịch, NXB Tri thức năm
2009 Tác phẩm giới thiệu những cách tiếp cận về trách nhiệm cũng như mối quan hệ của các hoạt động kinh tế xã hội, đồng thời làm sáng tỏ những mâu thuẫn, giới hạn TNXH của các DN cũng như các tổ chức phi chính phủ
- Jerome Ballet, Francoise De Bry, “Doanh nghiệp và Đạo đức”, do
Dương Nguyên Thuận, Đinh Thùy Anh dịch, NXB Thế Giới năm 2005 Tác phẩm đưa ra các vấn đề từ nền kinh tế theo luân lý đến đạo đức trong kinh doanh; lịch sử quan hệ giữa đạo đức và DN; đạo đức và việc quản lý con người trong kinh doanh; những phương thức thực hành mới để hành động có đạo đức; từ không chính thức đến chính thức
Những chủ thuyết nổi bật ban đầu là chủ thuyết của Milton Friedman - một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 1970 Sau này Ngân hàng thế giới đã đưa
ra quan niệm về TNXH của DN được nhiều người thừa nhận hơn cả
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ đề cập đến những vấn đề TNXH của DN nói chung và trên thế giới chứ không có một phân tích nào đối với các DN Việt Nam
Các công trình trong nước
Trước hết có thể nêu một số công trình tiêu biểu được xuất bản trong
những năm gần đây là:
Trang 9- Bùi Thế Cường (2002): Phúc lợi xã hội châu Á - Thái Bình Dương,
phúc lợi doanh nghiệp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
- Nguyễn Mạnh Quân (2011): Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh
nghiệp, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
- Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Trần Văn Đoàn, Ulirich Dorberg
(Đồng chủ biên - 2008): Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã
hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
- Phạm Văn Đức, Nguyễn Hữu Dũng, Trần Anh (2009): Trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
- Lê Thanh Hà (2009): Trách nhiệm xã hội của DN trong bối cảnh Việt
Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội; và Trách nhiệm xã hội của DN đối với vấn đề lao động trẻ em và lao động
chưa thành niên, Tạp chí Lao động và xã hội, số 350, tr 26-28…
Ngoài các công trình đã được xuất bản, các bài báo đã công bố trên các tạp chí khoa học và chuyên ngành, nhìn chung, những nghiên cứu về TNXH nói chung và TNXH của DN nói riêng thường trình bày trong các hội thảo, tọa đàm khoa học cả trong nước và phối hợp với quốc tế Nhưng công trình này sau đó thường được tập hợp công bố trong các kỷ yếu hội thảo Có thể nêu một số Hội thảo tiêu biểu như:
Trường Đại học Thương mại (2008) - Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc
tế: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các góc tiếp cận - thực tiễn và giải
pháp, gồm ba tập (tập 1, 2 và 3)
Trường Đại học Ngoại thương (2008) - Kỷ yếu hội thảo khoa học:
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và phát triển bền vững
Viện Khoa học xã hội Việt Nam & Missereor (2007) - Kỷ yếu hội thảo
quốc tế: Công bằng xã hội, Trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội
Viện Khoa học xã hội Việt Nam & Trường Đại học Oslo, Norwein
Center for Human Right - Tọa đàm khoa học: Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đối với người lao động và đối với cộng đồng
Trang 10Nhìn chung, các bài viết đăng trong các kỷ yếu hội thảo, nội dung của các
đề tài trên đều đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của TNXH DN trong nước và quốc tế Tuy nhiên, các công trình trên thường được viết dưới góc
độ kinh tế, đạo đức… Điểm khác biệt của luận văn là trên cơ sở những góc tiếp cận nêu trên, tác giả nghiên cứu vấn đề TNXH của DN trên cơ sở nghiên cứu lý luận, ứng dụng vào một DN cụ thể (đó là một trong những DN thực hiện tốt TNXH ở Việt Nam), phân tích một cách toàn diện và có hệ thống các khía cạnh
lý luận và thực tiễn về TNXH của DN
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nêu tổng quan về TNXH của DN, luận văn tìm hiểu thực trạng việc thực hiện TNXH của Công ty Cổ phần Bitexco và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả việc thực hiện TNXH của Công ty Cổ phần Bitexco trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau: + Nêu tổng quan về TNXH của DN: khái niệm, nhân tố tác động, nội dung TNXH của DN và các tiêu chí việc thực hiện TNXH của DN
+ Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty
- Về thời gian: Từ năm 2010 - 2013
- Về nội dung: Việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty Cổ phần
Bitexco (Các nội dung liên quan đến TNXH của Công ty Cổ phần Bitexco đối với thị trường và người tiêu dùng, đối với người lao động, đối với vấn đề bảo vệ môi trường và đối với cộng đồng)
Trang 115 Mẫu khảo sát
- Đối tượng: Cán bộ nhân viên (CBNV) Công ty Cổ phần Bitexco (Ban Giám đốc, Lãnh đạo Phòng nhân sự, Phòng Truyền thông, Ban Quản lý dự án
và 30 nhân viên công ty)
- Phương pháp chọn mẫu: Ngẫu nhiên
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty Cổ phần Bitexco từ năm 2010 đến năm 2013 diễn ra như thế nào?
- Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty Cổ
phần Bitexco trong thời gian tới, cần thực hiện những giải pháp nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc thực hiện TNXH của DN tại Công ty Cổ phần Bitexco đã đạt được những hiệu quả nhất định, như các vấn đề về bảo vệ môi trường, chính sách đãi ngộ với người lao động, trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng, tuy nhiên vẫn còn một vài hạn chế liên quan đến vấn đề nhận thức chưa đồng đều về TNXH của lãnh đạo và nhân viên công ty; công ty chưa có chiến lược, lộ trình rõ ràng cho việc thực hiện TNXH; chưa có nguồn quỹ riêng cho việc thực hiện TNXH,
- Để khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả thực hiện TNXH của DN tại Công ty trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu như: nâng cao nhận thức của lãnh đạo và CBNV công ty; hoàn thiện hệ thống quản lý; xây dựng lộ trình thực hiện, các tiêu chí đánh giá và mở rộng mối quan hệ với các bên liên quan trong việc thực hiện TNXH của công ty
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này để
thu thập những thông tin về cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý đã được công bố trên các ấn phẩm, chủ trương và chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu, số liệu thống kê
Trang 12Phương pháp quan sát trực quan: tác giả quan sát hiện trạng, thực tế
hoạt động của các phòng ban, thực tế kết quả và các giải thưởng công ty đã đạt được
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả tập trung lấy ý kiến của các lãnh
đạo phòng/ban trong công ty liên quan đến các nội dung thực hiện TNXH của Công ty
Phương pháp thống kê: tác giả thống kê căn cứ vào các số liệu liên
quan đến nguồn nhân lực, số liệu báo cáo tài chính, số liệu trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Ban quản lý dự án
Phương pháp so sánh: tác giả đưa ra sự so sánh giữa lý thuyết với thực
tiễn tại Bitexco, các số liệu đã có, đưa ra kết luận liên quan đến việc đánh giá thực trạng, các ưu, nhược điểm và đề xuất các giải pháp ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và nhân tố tác động việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp
DN luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của DN góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, đóng vai trò quyết định trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tác động trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân như: cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói, giảm nghèo
DN là một tổ chức kinh tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có
cơ cấu và hệ thống tổ chức được đặc trưng bởi các mối quan hệ xã hội đặc thù, bao gồm nhiều bộ phận, cá nhân với các vị trí, chức năng và vai trò khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của DN Thứ nhất, các mối quan hệ
xã hội đặc thù này được quy định bởi quá trình quản lý, điều hành DN Ngoài
ra, DN còn bao gồm mạng lưới thông tin nội bộ Mạng lưới thông tin này có vai trò quan trọng trong việc đề xuất, đưa ra các quyết định chính thức trong công tác quản lý DN Thứ hai, DN có rất nhiều mục tiêu: mục tiêu khách hàng, mục tiêu thị phần, mục tiêu nhân viên, … nhưng mục tiêu cuối cùng của
DN là mục tiêu lợi nhuận Tất cả các mục tiêu khác đều xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận Nếu không thực hiện được mục tiêu lợi nhuận thì DN không tồn tại hoặc không thể thực hiện được các mục tiêu còn lại Thứ ba, DN là tổ chức kinh tế tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội đặc biệt là tạo ra việc làm cho người lao
Trang 14động Hàng năm, các DN tuyển dụng hàng triệu lao động và chịu trách nhiệm trả lương, đảm bảo các quyền lợi, chính sách cho người lao động
DN là một chủ thể sản xuất kinh doanh tạo ra của cải, vật chất cho xã
hội DN luôn cố gắng duy trì việc chuyển hoá các yếu tố đầu vào (như nguyên vật liệu, vốn, lao động, thông tin…) thành các đầu ra (bao gồm hàng hoá, dịch vụ,…) Trong quá trình này, các DN biểu hiện những cách thức sản xuất khác nhau thông qua việc kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau Cuối cùng, nó cung cấp các sản phẩm cho thị trường và thu về phần chênh lệch giữa giá đầu vào và giá bán, đó chính lợi nhuận của DN
Có nhiều định nghĩa khác nhau về DN, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đưa ra những nội dung nhằm làm sáng tỏ bản chất của DN, sử dụng định nghĩa trong Điều 4, Luật DN 2009 (định nghĩa này vừa mang tính pháp quy
và cũng rất thông dụng) để phục vụ nghiên cứu vấn đề TNXH của DN: “DN
là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [17]
Có nhiều cách phân loại DN khác nhau, trong phạm vi bài viết, tác giả
xin đưa ra khái niệm về loại hình công ty cổ phần Công ty cổ phần là một
dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Vốn của công ty được chia nhỏ thành những
phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của
các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.1
Nguyên tắc cơ cấu công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình DN hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trong công ty
cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông
Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Chỉ
1 http://vi.wikipedia.org/wiki
Trang 15có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty
cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là
để niêm yết trên thị trường chứng khoán Bộ máy các công ty cổ phần được
cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả Công ty Cổ phần phải
có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành Đối với công
ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát Công ty cổ phần Bitexco
đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật
Khái niệm Trách nhiệm xã hội của DN
Khái niệm TNXH của DN xuất hiện lần đầu tiên cách đây khoảng 50 năm Năm 1953, nhà kinh tế học người Mỹ H.R.Bowen lần đầu tiên đưa ra
khái niệm TNXH trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”
nhằm tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích cả người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội [21,130]
Khác với quan điểm trên, Milton Friedman đưa ra một tuyên bố nổi
tiếng năm 1970 rằng “có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của DN - đó là sử
dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia vào các hoạt động nhằm tăng lợi nhuận” 2 Câu nói này khẳng định rằng mục tiêu chủ yếu của DN là thỏa mãn nhu cầu của các cổ đông
Đến năm 1973, Keith Davis đưa ra một khái niệm khá rộng: “TNXH
của DN là sự quan tâm và phản ứng của DN với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ” 3
Trang 16của DN chỉ dừng lại ở trách nhiệm với cổ đông và người lao động trong công
ty, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội vì DN đã góp phần có trách nhiệm với xã hội thông qua nộp thuế cho nhà nước Trái ngược với quan điểm
trên, Archie B Carroll (2007) cho rằng: “TNXH của DN bao gồm sự mong
đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” [6], tức là theo họ, DN là một chủ thể của
nền kinh tế thị trường, khai thác các nguồn lực tự nhiên để làm giàu cho DN
và trong quá trình đó, họ gây ra những ảnh hưởng không tốt đối với môi trường tự nhiên và con người; do đó, ngoài việc đóng thuế, DN còn phải có TNXH đối với môi trường, cộng đồng và người lao động khác Dựa trên quan điểm của mình, Carroll đã đưa ra mô hình kim tự tháp về TNXH, đây được xem là cái nhìn khá toàn diện về TNXH:
Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp về TNXH của Caroll (1999)
Theo mô hình TNXH của Carroll thì TNXH bao gồm trách nhiệm kinh
Trang 17- Thứ nhất, trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là
điều kiện tiên quyết bởi DN được thành lập trước hết vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Trách nhiệm kinh tế là nền tảng của tất cả các trách nhiệm khác
- Thứ hai, trách nhiệm tuân thủ pháp luật, đây chính là một phần của
bản khế ước giữa DN với xã hội Nhà nước ban hành các văn bản luật và buộc
DN chỉ được phép hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật cho phép
- Thứ ba, trách nhiệm đạo đức: việc tuân thủ pháp luật chỉ được coi là
sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nó không bị xử lý về mặt pháp lý nhưng nếu DN không thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì sẽ bị xã hội lên án, đây chính là trung tâm của TNXH
- Thứ tư, trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng…Giống với trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm từ thiện là tự nguyện
Theo Hội đồng DN Thế giới vì sự Phát triển bền vững: “TNXH là sự cam
kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung” [21,139]
Trong khi đó, một trong những khái niệm TNXH của DN được dùng phổ biến nhất do Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới đưa ra
“TNXH của DN là sự cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền
vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và cả các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như sự phát triển chung của xã hội” 5
5 www.worldbank.org/privatesectot/csr/index.htm
Trang 18Như vậy, dù có nhiều cách hiểu về định nghĩa TNXH của DN nhưng về
cơ bản nội hàm khái niệm TNXH của DN đều có những điểm chung, đó là việc đảm bảo lợi ích riêng của từng DN trong khuôn khổ pháp luật hiện hành luôn phải song hành với lợi ích phát triển chung của toàn xã hội Theo tác giả, định nghĩa của nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về TNXH của DN là đầy đủ và dễ hiểu nhất, nó chỉ ra mối quan hệ giữa TNXH của DN và sự phát triển bền vững - đây là một yêu cầu khách quan cấp thiết
có tính toàn cầu cho sự phát triển của các DN hiện nay Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ xã hội, từ khách hàng ngày càng cao do đó có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với DN về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng Các DN muốn phát triển bền
vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận mà cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền lợi đào tạo
và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện…
Các đặc trưng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:
Thứ nhất, TNXH của DN là sự cam kết của DN nhằm giải quyết các
vấn đề của doanh nghiệp và các vấn đề của xã hội Một DN có chính sách chính thức về TNXH thường đưa ra quan điểm rất rõ ràng, là sự cam kết với các vấn đề về bảo vệ môi trường, quan hệ tốt với người lao động, đảm bảo có lợi ích cho cổ đông, lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng, thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp và đóng góp cho cộng đồng xã hội TNXH của DN không phải đơn thuần là hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện mà là tổng thể các tiêu chí thể hiện sự cam kết
và tuân thủ của DN trên nhiều khía cạnh khác nhau Khi DN cam kết thực hiện nghiêm túc TNXH thông qua việc áp dụng quy trình công nghệ sản xuất vừa an toàn cho người lao động, vừa an toàn cho người tiêu dùng, không gây
Trang 19ô nhiễm môi trường, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và cộng đồng, điều này sẽ góp phần đánh bóng tên tuổi của DN, gây được thiện cảm và niềm tin đối với người tiêu dùng
Thứ hai, TNXH của DN gắn với việc phát triển bền vững
Có thể chỉ ra mối liên hệ giữa TNXH của DN với khả năng thực thi mục tiêu phát triển bền vững ở một số khía cạnh sau: Một là, về khía cạnh kinh tế, thực hiện tốt TNXH của DN sẽ là điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững Bởi vì cả lý thuyết và thực tế đều thừa nhận sự tăng trưởng của bất kỳ nền kinh tế nào cũng phụ thuộc chủ yếu vào thực lực phát triển của hệ thống các DN của nền kinh tế đó Trong khi đó, nhiều bằng chứng chỉ ra rằng thực hiện tốt TNXH của DN về cơ bản và lâu dài chính là chìa khóa mang lại những lợi ích kinh tế cao và bền vững cho bản thân DN Mặt khác, thực hiện TNXH của DN là mỗi DN sẽ có trách nhiệm hơn đển tạo lập những giá trị có tính nhân văn với các đối tác và các bên liên quan, hướng tới một môi trường thuận lợi, lành mạnh và ổn định cho các hoạt động kinh doanh, cũng như cho tăng trưởng kinh tế bền vững Bởi lẽ đó, tăng cường TNXH của DN không chỉ mang lại những đóng góp cho bản thân DN
mà còn góp phần xây dựng một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững ở thời đại ngày nay
Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập ngày nay ở hầu hết các quốc gia đã có những tác động ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng đến nhiều khía cạnh của xã hội Bên cạnh những đóng góp tích cực thì quá trình này cũng đang mang lại không ít những ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của xã hội, như thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, thị trường hóa cả các mối quan hệ phi kinh tế,… Trong bối cảnh đó, tăng cường TNXH của DN thông qua những đóng góp của
DN liên quan đến vấn đề xây dựng văn hóa DN và những ứng xử, trách nhiệm giàu tính nhân văn của DN đối với khách hàng, cộng đồng xã hội, luôn góp phần quan trọng giảm bớt những tác động tiêu cực này và hướng tới xây dựng
Trang 20một xã hội tươi đẹp hơn Bởi vậy, đề cao TNXH của DN không chỉ cải thiện
và nâng cao uy tín, sức cạnh tranh của DN mà còn là đóng góp quan trọng để khắc phục những hệ lụy về mặt xã hội do những tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đem lại
Thứ ba, TNXH của DN giúp nâng cao chất lượng đời sống người lao
động, cộng đồng và toàn xã hội Đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay, nội hàm khái niệm TNXH của DN bao gồm 6 nhóm nội dung cơ bản: 1) Bảo vệ môi trường, 2) Đóng góp cho cộng đồng xã hội, 3) Trách nhiệm với nhà cung cấp, 4) Đảm bảo lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng, 5) Quan hệ tốt với người lao động và 6) Đảm bảo lợi ích với cổ đông và người lao động Ở một mức độ tương đối thì 4 yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của DN, 2 yếu tố sau thể hiện trách nhiệm nội tại của DN
Như vậy, nội hàm của TNXH của DN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến cách ứng xử của DN đối với những chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của DN từ khâu sản xuất, tiếp thị, phân phối, tiêu dùng; từ cán bộ, công nhân viên trong DN đến người tiêu dùng và cổ đông ngoài DN; từ việc đảm bảo lợi ích riêng của mình đến việc đảm bảo lợi ích và phát triển chung của toàn xã hội, góp phần cho sự phát triển chung của đất nước
Thứ tư, TNXH của DN mang lại lợi ích cho DN và cả xã hội
Việc thực hiện tốt TNXH mang đến cho DN nhiều lợi ích, mà lợi ích dài hạn chủ yếu là cho chính nội bộ DN, như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt hiện tượng nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động, tạo uy tín và thương hiệu cho DN, từ đó nâng cao sức cạnh tranh và ưu thế trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Thực tế cho thấy, những
DN tự nguyện và thực hiện tốt TNXH không những không bị thua thiệt, ngược lại còn có được những lợi ích đáng kể, bao gồm cả giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, tăng năng suất và giữ chân nhân viên giỏi
Tất cả những điều nói trên chính là cơ sở lí giải cho sự cần thiết phải thực hiện TNXH của DN nói chung, đặc biệt là đối với những DN nhỏ nói
Trang 21riêng khi mà tiềm lực kinh tế và sức ảnh hưởng thị trường của những DN này chưa lớn; đồng thời, cũng là những kinh nghiệm quý báu có giá trị tham khảo cho các DN Việt Nam về sau trong việc định hướng kinh doanh
Ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội
Việc mỗi DN thực hiện tốt TNXH không có ý nghĩa quan trọng với bản thân DN đó mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với khách hàng mà DN đó phục vụ cũng như cộng đồng xã hội Đối với DN, thực hiện tốt CSR góp phần quảng
bá hình ảnh và phát triển thương hiệu DN; tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó giúp DN tồn tại và phát triển; bên cạnh đó, song song với việc tối đa hóa lợi nhuận của mình, DN luôn đảm bảo những chế độ thỏa đáng và cung cấp môi trường lao động tốt cho người lao động, điều này không những giữ chân được người tài mà còn có tác dụng kích thích tính sáng tạo, tăng năng suất lao động của công nhân, kết quả là tạo ra ngày
càng nhiều lợi nhuận cho DN Đối với khách hàng, khi DN làm tốt TNXH
cũng tức là DN đã thực sự coi “khách hàng là thượng đế”, lấy việc làm khách hàng hài lòng làm mục tiêu phấn đấu của mình; nói cách khác, DN luôn đảm bảo cung cấp những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu, có chất lượng cao, giá trị sử dụng tốt, an toàn và luôn đấu tranh vì chính lợi ích của
người tiêu dùng Đối với cộng đồng xã hội, thực hiện tốt TNXH của DN
thể hiện ở chỗ bảo vệ môi trường, giảm tệ nạn xã hội, tăng cường các hoạt động từ thiện, từ đó góp phần giảm gánh nặng cho xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, giữa người giàu và người nghèo
1.1.2 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện TNXH của DN
Thứ nhất, hệ thống pháp luật quốc gia
Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng của TNXH DN Đây là tiêu chí ràng buộc cho các DN hướng tới và thực hiện để đạt được hiệu quả kinh tế cao Các nhà kinh doanh, các DN khi đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong đó các DN hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh doanh công bằng,
Trang 22bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các DN với nhau Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh Điều đáng chú ý là pháp luật thường ban hành chậm hơn so với thực tế diễn ra, “độ trễ” nhất định nào đó của pháp luật là cơ hội cho hoạt động kinh doanh bất hợp pháp xảy ra, và khi sự việc đã rồi thì pháp luật mới căn cứ vào đó để xây dựng các quy định mới Ngay cả khi các văn bản pháp luật đã được ban hành thì để nội dung đi vào “cuộc sống” cũng cần một khoảng thời gian nhất định Nói tóm lại, các quy định của pháp luật cũng là những yêu cầu tốt mà mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối quan hệ với xã hội Tuân thủ pháp luật, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều công ăn việc làm, bảo vệ môi trường,… là DN đã hoàn thành TNXH của mình
Có một thực tế, DN thực hiện tốt TNXH như việc trả lương cao, phân phối công bằng, đặc biệt là tuân thủ theo quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ chế độ lao động (Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm lao động, ) và môi trường làm việc thân thiện, an toàn sẽ có khả năng hút và duy trì được nhiều lao động có kỹ năng nghề nghiệp cao, gắn bó với DN Do yêu cầu tuân thủ chuẩn mực nên thực hiện tốt TNXH của DN sẽ góp phần hình thành một hệ thống quản lý lao động hiệu quả, giúp việc tinh giảm bộ máy và nhân viên hành chính, tổ chức lao động khoa học, xây dựng quy chế quản lý tài chính, phân phối tiền lương và thu nhập hợp lý Các cơ hội đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, hiểu biết pháp luật, cũng như việc thực hiện chế độ
và các phúc lợi khác đều có tác dụng góp phần giảm tỷ lệ lao động nghỉ việc,
bỏ việc, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới, giảm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động, từ đó giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động
Hiện nay, ngày càng nhiều những DN đang đi đúng hướng, tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời, từng bước tạo
Trang 23điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, hỗ trợ các hoạt động cộng đồng như: Thực hiện giảm dần thời gian làm thêm, tăng lương, tăng các khoản phụ cấp như ăn ca, tiền nhà trọ, tiền đi lại, tiền thâm niên, tiền hỗ trợ nuôi con nhỏ, tiền tham quan du lịch, tiền thưởng các ngày lễ tết; xây dựng cư xá cho công nhân, xây nhà trẻ không thu tiền, tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao để công nhân được vui chơi thể hiện khả năng của mình Như vậy, để thực hiện TNXH DN trước hết tuân thủ đúng các yêu cầu của pháp luật quy định đồng thời tạo điều kiện cho người lao động thực hiện đúng pháp luật sau đó từng bước nâng cao giá trị vật chất và tinh thần cho người lao động và hỗ trợ cộng đồng
Thứ hai, nhận thức của xã hội
Khi xã hội phát triển đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở,…); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu
xã hội (các vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị; cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và tự thể hiện mình Xét về các nhu cầu của người lao động trong một doanh nghiệp:
- Nhu cầu cơ bản của người lao động: có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, cung cấp các bữa ăn trưa hoặc ăn giữa ca miễn phí hoặc bảo đảm các khoản phúc lợi khác như tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng các chuyến tham quan, du lịch, thưởng sáng kiến
- Nhu cầu an toàn của người lao động: nhà quản lý có thể bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và đối
xử công bằng đối với nhân viên
- Nhu cầu quan hệ: người lao động cần được DN tạo điều kiện cho làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển DN hoặc
Trang 24tổ chức Cũng để đáp ứng nhu cầu phát triển quan hệ, DN hoặc tổ chức cần có các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác
- Nhu cầu được tôn trọng: người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất Bên cạnh việc được trả tiền lương hay có thu nhập thỏa đáng theo các quan hệ thị trường, họ cũng mong muốn được tôn trọng các giá trị của con người Các nhà quản lý hoặc lãnh đạo cần có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cá nhân một cách rộng rãi Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức
độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn
- Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, nhà quản lý hoặc ông chủ cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân Đồng thời, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong DN hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp Các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới “thu phục” khá nhiều nhân viên giỏi, kể cả những nhân viên rất “khó tính” từ nhiều nước khác nhau
do cơ chế hấp dẫn mạnh nguồn tài năng này qua việc tạo điều kiện cho họ có
“nhà lầu xe hơi", việc làm ổn định, tiền lương trả rất cao và khả năng thăng tiến mạnh, kể cả giao cho họ những trọng trách và vị trí lãnh đạo chủ chốt trong Công ty Như vậy để có kỹ năng khuyến khích và động viên nhân viên, nhà quản lý hoặc lãnh đạo cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên mình và có biện pháp hữu hiệu để đáp ứng, nghĩa là họ cần biết
“chiều” nhân viên một cách hợp lý và có dụng ý
Thông thường, người lao động dành phần lớn quỹ thời gian của mình cho công việc, song điều đó không có nghĩa là họ không có các nhu cầu khác Điều quan trọng là nhà lãnh đạo và quản lý hiểu ra được điều đó để có những chính sách phù hợp nhằm đáp ứng một cách tối đa các nhu cầu đó trong phạm
vi có thể mà vẫn mang lại hiệu quả cao nhất cho DN
Trang 25Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường
Quá trình toàn cầu hóa, cùng với đổi mới, đã có những tác động hết sức sâu sắc đối với kinh tế của mỗi quốc gia, và tác động đó vẫn đang tiếp diễn Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là một chức năng của thị trường Một thị trường
mà kinh tế không tăng trưởng là một thị trường thất bại Tuy nhiên, thị trường không phải là phương tiện vạn năng của quá trình phát triển Khủng hoảng kinh tế hôm nay và sự can thiệp của Nhà nước vào điều tiết nền kinh tế cho thấy TNXH là yếu tố làm cân bằng sự phát triển lành mạnh của thị trường Sự phát triển không phải là tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà là sự phát triển bền vững, sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế - xã hội và môi trường DN với
tư cách là chủ thể của quá trình kinh tế, cần phải ý thức về việc phản chức năng như tình trạng phân hóa giàu nghèo, phá hủy môi trường, những vấn đề
xã hội nảy sinh
Trong một thế giới công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng mật thiết và gắn bó, hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các
DN cũng ngày càng gay gắt Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường, mà điển hình là thị hiếu người tiêu dùng đã và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh sự cạnh tranh khốc liệt về TNXH và đạo đức kinh doanh dựa trên nền tảng sự tác động tổng hợp hành vi ứng xử, tới quyết định lựa chọn của người tiêu dùng Lúc đó, TNXH của DN và đạo đức kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho DN trong cạnh tranh quốc tế Chính hai nguồn lực này sẽ tác động và thúc đẩy người tiêu dùng thay đổi quan niệm tiêu dùng của họ
Đạo đức và TNXH không chỉ là những vấn đề gây tốn kém và bó buộc
mà còn có thể là những cơ hội tiềm tàng trong kinh doanh cho những ai nhận
ra và nắm bắt được Ví dụ xu hướng tiêu dùng những sản phẩm sạch và xanh, dùng phương tiện giao thông an toàn và ít ô nhiễm đang tạo ra thị trường tiềm năng cho nhiều sản phẩm mới Xem đạo đức và TNXH là một phần thiết yếu
Trang 26của chiến lược kinh doanh, các DN cũng sẽ cảm thấy tự nhận thức được và chủ động hơn trong việc thực hiện Khi đó, những vấn đề này không còn là một gánh nặng hay điều bắt buộc mà là nguồn và cơ sở của những thành công Việc tôn trọng đạo đức và TNXH của DN sẽ mang lại lợi ích chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng Đây là những bộ phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi DN Vì vậy, dù chi phí ban đầu
có thể sẽ nặng, lợi ích có thể chưa thấy ngay, nhưng chắc chắn về lâu về dài
sẽ không thiệt thòi khi DN tôn trọng lợi ích của những bộ phận thiết yếu này Khi thực hiện tốt đạo đức và TNXH, DN sẽ nhận được sự ủng hộ trung thành
và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác khác Đây chính là điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công Tóm lại, thực hiện đạo đức và TNXH trong kinh doanh có thể không mang lại những lợi nhuận trước mắt nhưng cũng không phải là gánh nặng cho các DN Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi DN xem đạo đức và TNXH là trọng tâm của các hoạt động
sản xuất kinh doanh Nếu biết cách đưa những vấn đề này vào trong chiến
lược kinh doanh, các DN và cả xã hội sẽ có thể phát triển theo hướng tích cực
và bền vững hơn
Thứ tư, quan điểm và nhận thức của nhà quản lý
TNXH của DN phải bắt đầu từ trong chính DN, từ người lãnh đạo, được nhà quản lý xây dựng từ nền tảng sứ mệnh của DN Chỉ khi con người nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của vấn đề, người ta mới có thể thực hiện có hiệu quả Ngược lại, nhận thức sai lệch sẽ dẫn tới không quan tâm và nếu có thực hiện cũng không thu được hiệu quả mong muốn Sẽ dễ dàng hơn nếu nhà quản lý xây dựng văn hóa TNXH cho DN ngay từ khi mới thành lập Các hoạt động TNXH của DN thành công cần dựa trên việc tạo dựng niềm tin
và sự ủng hộ của khách hàng và công chúng, tất cả các nhân viên, các nhà cung cấp và phân phối, các nhà đầu tư, ngân hàng và cuối cùng là sự ủng hộ
từ các tổ chức chính quyền
Trang 27Các DN muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực
về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… và thực hiện TNXH của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy tắc ứng xử (CoC) và các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 14000,… Điều quan trọng là ý thức về TNXH phải là kim chỉ nam trong hoạt động kinh doanh của từng DN trong mọi lĩnh vực, bất kể họ tuân thủ bộ quy tắc ứng xử nào, hay thậm chí thực hiện TNXH theo các quy tắc đạo đức
mà họ cho là phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xã hội chấp nhận
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, rào cản và thách thức cho việc thực hiện TNXH của DN bao gồm: nhận thức về khái niệm TNXH còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực TNXH (đặc biệt là đối với các DN vừa và nhỏ); sự nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định của bộ quy tắc ứng xử và Bộ Luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử
Như vậy, việc thực hiện TNXH của DN là một vấn đề không dễ dàng Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các DN cần phải quan tâm và thực hiện TNXH, vì người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng Những DN không thực hiện TNXH có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một DN hiện đại chỉ được xem là có TNXH khi: đảm bảo được hoạt động của mình, không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của mình, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động
Trang 28của mình là điều hoàn toàn xa lạ với TNXH của DN; phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của DN đối với người tiêu dùng; dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng Vì cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các DN có TNXH đang hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình Như vậy để các
DN Việt Nam thực hiện tốt TNXH của mình cần thiết phải có những người quản lý có quan điểm và nhận thức thực sự đúng đắn về vấn đề này
1.2 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và các tiêu chí đánh giá
1.2.1 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thứ nhất, trách nhiệm đối với thị trường và người tiêu dùng
Trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng (bao gồm trách nhiệm
về chất lượng sản phẩm, chất lượng, độ an toàn, tin cậy của các dịch vụ, độ chính xác của thông tin quảng cáo, công khai về tiêu chuẩn chất lượng,…)
DN là chủ thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên và tốt hơn về vật chất và văn hóa của mọi người; cùng với các DN,
cơ sở sản xuất kinh doanh khác tạo nên một thị trường hàng hóa, dịch vụ phong phú, cạnh tranh công bằng, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng; góp phần quyết định chứng tỏ sức mạnh kinh tế của đất nước;
Chức năng của DN là sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mức giá có thể cho phép duy trì được công việc kinh doanh Việc thực hiện nghĩa vụ kinh tế là để đảm bảo sự tồn tại của DN, sự phát triển của thị trường hàng hóa, dịch vụ nói riêng, sự phát triển của nền
Trang 29kinh tế quốc gia nói chung Trách nhiệm kinh tế của DN bao gồm cách thức phân bố các nguồn lực được sử dụng để làm ra sản phẩm và dịch vụ trong hệ thống xã hội, tìm kiếm nguồn lực mới, thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển sản phẩm, Trong khi thực hiện nghĩa vụ này, các DN thực sự góp phần tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn tại, phát triển của bản thân DN
Ngoài ra, đối với thị trường và người tiêu dùng, DN phải bảo đảm chữ
“tín”, bảo đảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, thực hiện các cam kết dịch vụ sau khi bán như đã bảo đảm với khách hàng, không quảng cáo quá sự thật Pháp luật không thể quy định và tiết chế tất cả các hoạt động của DN Chính DN phải bảo đảm thương hiệu của mình bằng cách duy trì chất lượng, tính ổn định của chất lượng sản phẩm, dịch vụ không vượt ra khỏi các quy định của pháp luật
Trong kinh doanh, DN có quan hệ không chỉ với khách hàng, mà còn quan hệ với các nhà đầu tư ngân hàng, nhà cung ứng các sản phẩm, dịch vụ trợ giúp, các viện khoa học, trường đại học thực hiện các dịch vụ nghiên cứu, giảng dạy, thiết kế, v.v
TNXH của DN đối với thị trường bao gồm cả trách nhiệm đối với các
cổ đông (vấn để bảo tồn và phát triển các tài sản được ủy thác, mang lại lợi ích tối đa và công bằng cho các cổ đông) Trách nhiệm của DN là bảo tồn và phát triển các giá trị được ủy thác Những giá trị tài sản này có thể là của xã hội hoặc cá nhân được tự nguyện giao phó cho DN - mà người đại diện là những người quản lý, lãnh đạo với những điều kiện ràng buộc nhất định Đối với chủ sở hữu tài sản, những cam kết ràng buộc này là khác nhau với từng đối tượng, nhưng về cơ bản đều liên quan đến những vấn đề về quyền và phạm vi sử dụng những tài sản, giá trị được ủy thác, phân phối và sử dụng phúc lợi thu được từ tài sản và việc sử dụng tài sản, báo cáo, thông tin về hoạt động giám sát
Trang 30Chủ sở hữu của DN là những cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức đóng góp một phần hay toàn bộ nguồn lực tài chính cần thiết cho hoạt động của
DN Chủ sở hữu có thể là các cổ đông, là Nhà nước (nếu là DN Nhà nước), là
cá nhân (nếu là DN tư nhân) Chủ sở hữu là những người đầu tiên đóng góp nguồn lực cho DN Nguồn lực đóng góp thường là tài chính và vật chất như vốn, tín dụng, hạ tầng cơ sở, phương tiện sản xuất… cần thiết cho việc triển khai một hoạt động sản xuất kinh doanh Tài sản đóng góp của họ cũng có thể
là kỹ năng hay sức lao động Họ có thể là những người trực tiếp tham gia điều hành công việc sản xuất để thực thi quyền lực kiểm soát của mình và đảm bảo quyền lợi gắn với giá trị và tài sản đóng góp Nhưng họ cũng có thể giao quyền điều hành trực tiếp cho những người quản lý chuyên nghiệp được họ tuyển dụng và chỉ giữ lại quyền kiểm soát
Thứ hai, trách nhiệm đối với người lao động
TNXH của DN là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh Hoạt động kinh doanh của DN về thực chất là khai thác và đáp ứng nhu cầu của con người Trong một nền kinh tế thị trường, sự phát triển của các DN suy cho cùng là do người lao động và khách hàng của họ tạo ra Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thuận lợi và có văn hóa tạo nên khả năng cuốn hút của DN Người lao động yêu thích, gắn bó công việc của mình phần lớn là do điều kiện lao động tốt và chế độ tiền lương, tiền thưởng hợp lý DN đáp ứng được các yêu cầu này đồng nghĩa với việc tạo ra một đội ngũ người lao động gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về hình ảnh của DN và làm việc hết mình vì lợi ích chung của tổ chức
TNXH của DN thông qua vấn đề giải quyết việc làm cho người lao
động: Việc làm là sự sống còn đối với người lao động Nếu không có việc
làm, hoặc việc làm không đúng nhu cầu và khả năng của người lao động đều không mang lại giá trị cho người lao động Người lao động thất nghiệp sẽ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân họ, đến gia đình mà còn là vấn nạn của xã hội Theo các chuyên gia, tỷ lệ tỉ lệ tội phạm các loại và các tệ
Trang 31nạn xã hội thường gia tăng nhanh chóng cùng với tỉ lệ thất nghiệp tại các quốc gia Tác động của thất nghiệp vô cùng nguy hiểm cho an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của một nền kinh tế Hiện nay, người ta không chỉ đề cập đến khái niệm việc làm mà còn đề cập đến khái niệm việc làm bền vững Việc làm bền vững là cơ hội việc làm có năng suất, có mức thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn ở nơi làm việc và bảo trợ xã hội về mặt gia đình Việt Nam
là 1 trong 2 quốc gia đầu tiên trên thế giới được ILO lựa chọn triển khai áp dụng bộ công cụ lồng ghép việc làm và việc làm bền vững của Liên Hợp Quốc (Tool Kit for mainsteaming Employment and Decent work)6
nhằm đánh giá mức độ lồng ghép việc làm và việc làm bền vững Dân số của Việt Nam nói chung và dân số trong độ tuổi lao động nói riêng đều tăng hàng năm, điều
đó có nghĩa việc làm cho người lao động đã trở thành một vấn đề có tính chất
quốc gia
Với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng DN, đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là DN tư nhân Vậy nên, TNXH của DN đối với người lao động đầu tiên là tạo ra việc làm, góp phần đẩy lùi nạn thất nghiệp, phát triển nguồn nhân lực quốc gia
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng, rất khó có thể nói mạnh được về sự tồn tại bền vững của DN Luật đã ghi rõ là DN có trách nhiệm cho người lao động tuy nhiên, rất nhiều DN đã
bỏ mặc người lao động, không có trách nhiệm hoặc có động thái nào đối với người lao động Lao động thất nghiệp tăng tỉ lệ thuận với số lượng DN giải thể, ngưng hoạt động trong thời gian qua
TNXH của DN thông qua đào tạo và phát triển người lao động: DN cần nhận thức được rằng người lao động là một nguồn lực quan trọng, cần được đầu tư góp phần tạo nên sự phát triển và thịnh vượng của DN Người lao động làm việc trong bất kỳ một DN nào đều có nhu cầu được đào tạo chuyên môn,
6
http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Viec-lam-ben-vung Con-duong-thoat-khoi-doi
Trang 32kỹ năng và kiến thức cho bản thân Kỹ năng của người lao động không chỉ hình thành trong quá trình đào tạo và sự nỗ lực của bản thân người lao động mà còn
có sự góp phần, định hướng của đơn vị sử dụng lao động Đối với công ty sử dụng lao động chất lượng thấp nên tập trung thực hiện TNXH DN trong đãi ngộ nhân sự là tăng lương và tạo các điều kiện thiết thực với cuộc sống của công nhân; trong khi đó, đối với các công ty có trình độ lao động cao, đãi ngộ nhân sự không chỉ dừng ở đó mà còn phải tạo ra cho họ các điều kiện khác như thăng tiến, môi trường làm việc và các đãi ngộ phi tài chính khác
Những điều kiện cơ bản trên, dù đơn giản nhưng không phải DN nào cũng làm được một cách hoàn chỉnh Phần lớn người lao động yêu thích công việc của mình hơn do điều kiện lao động tốt và chế độ lương thưởng hợp lý
DN đáp ứng được yêu cầu này cũng đồng nghĩa với việc tạo ra đội ngũ nhân viên gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về hình ảnh của DN và quyết tâm làm việc vì lợi ích chung của DN Lợi ích này đạt được ngoài năng suất nâng lên rõ ràng còn tạo ra nét văn hóa gắn kết tại DN Văn hóa lành mạnh có tác động tích cực không chỉ với riêng bản thân DN mà còn lan rộng trong cả cộng đồng kinh doanh Đây là điều mọi DN đều mong muốn xây dựng được Hơn nữa, chi phí thật, chi phí cơ hội và sức lực cộng với hao tổn tinh thần do phải liên tục tìm kiếm và đào tạo nhân lực mới hoàn toàn bị loại bỏ Chính sách đãi ngộ tốt, văn hóa tốt và môi trường làm việc hình thành hiệu ứng cộng hưởng “thu hút” nhân lực giỏi đến với DN
Thứ ba, trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường
Môi trường sống là ngôi nhà chung của con người và tất cả các loài động thực vật khác, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ nguồn sống của chính chúng ta, có thể nói nếu loài người muốn sinh tồn và phát triển thì chỉ có cách duy nhất là bảo vệ môi trường Đó cũng chính là TNXH hàng đầu được đặt ra hiện nay cho các DN
Môi trường là yếu tố đầu tiên, bắt đầu của mọi quá trình sản xuất, nó có
ý nghĩa ngay cả trong ngắn hạn và dài hạn, ngay cả trong sự phát triển bền
Trang 33vững của một DN nói riêng và của nền kinh tế nói chung Có thể thấy, môi
trường có những tác động tích cực đến hoạt động của DN như: Thứ nhất, các
thành phần môi trường, đặc biệt là các nguồn tài nguyên, là một trong những điều kiện để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Các nguồn tài nguyên
đó là nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất Tùy vào nguồn tài nguyên ở từng vùng mà ở đó sẽ phát triển những hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau Chẳng hạn như ở Quảng Ninh, ngành công nghiệp khai thác than phát
triển bởi đây là nơi có nhiều mỏ than với trữ lượng lớn…Thứ hai, chất lượng
môi trường phù hợp sẽ bảo đảm cho hoạt động kinh doanh ổn định và bền vững thông qua sự ổn định về chất lượng sức lao động, chất lượng nguồn
nguyên, nhiên, vật liệu
TNXH trong vấn đề môi trường (bao gồm các vấn đề không sử dụng, không khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường (môi trường đất, nước, không khí, ô nhiễm tiếng ồn, ) có quy trình xử lý nước thải, rác thải, không xả các chất gây độc hại, hủy hoại môi trường, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái bằng hoạt động tái đầu tư) Một DN cam kết TNXH tức là phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu, tiêu chuẩn và thước đo về môi trường DN phải thực hiện tốt các quy định của cơ quan nhà nước về vệ sinh môi trường Pháp luật
về bảo vệ môi trường nhằm hạn chế hành vi tùy tiện phổ biến của DN như: thải chất thải độc hại trong sản xuất vào môi trường không khí, đất đai, nước
và gây ra tiếng ồn Ngày nay, TNXH về môi trường không còn dừng lại ở mỗi
cá nhân, mỗi DN hay mỗi tổ chức cụ thể nữa mà nó đã trở thành trách nhiệm vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính quy phạm xã hội của toàn nhân loại
Nó là vấn đề có tính chất toàn cầu Do đó, trong việc xây dựng dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, DN phải có phương án chi phí để xử lý, làm sạch những chất thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh, không gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến đời sống của người dân trong địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Trang 34Thứ tư, trách nhiệm chung đối với cộng đồng
TNXH đối với Chính phủ, đối với ngành, chính quyền địa phương nơi
DN hoạt động: (các vấn đề về thuế, báo cáo minh bạch, trung thực, chế độ kiểm toán rõ ràng, việc làm cho lao động địa phương, tham gia trực tiếp đóng góp cho sự phát triển kinh tế địa phương, tham gia các hoạt động xã hội của địa phương…) Trong kinh doanh, ngoài các mối quan hệ với khách hàng, với
cổ đông, với người lao động,… DN còn có một mối quan hệ rất quan trọng với chính quyền các cấp DN không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ có một mình DN hoạt động trong môi trường thuận lợi của ngành, của địa phương nơi nó có trụ sở và bán ra những sản phẩm, dịch vụ của mình Do đó, DN phải
có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ với ngành, chính quyền địa phương (bao gồm nộp thuế, báo cáo trung thực, đầy đủ, minh bạch) và nỗ lực đóng góp vào
sự phát triển của ngành, của địa phương trên cả lĩnh vực kinh tế và xã hội nơi
DN hoạt động Một trách nhiệm nữa mà các DN cần thực hiện đối với ngành, chính quyền đại phương và Chính phủ là đảm bảo tuân thủ hệ thống pháp luật của nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình
TNXH của DN về vấn đề đạo đức: Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi đầu tư vào việc gia tăng lợi nhuận và sự phát triển bền vững của DN Giữ được chữ tín với khách hàng, bạn hàng, nhân viên, cộng đồng và nhà nước tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho DN, giữ được mối làm ăn bạn hàng, nhân viên và điều này lại tạo cho DN cơ hội có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nữa Trong một thị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” và lợi nhuận DN chỉ có thể hình thành trên
cơ sở của sự liên kết và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối nhau Trong cạnh tranh kinh tế, nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả đều bị thua thiệt nặng nề Thực tế cho thấy các công ty có đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn Xem đạo đức và TNXH là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, các DN cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc thực hiện
Trang 35Khi đó, những vấn đề này không còn là một gánh nặng hay điều bắt buộc mà
là nguồn và cơ sở của những thành công Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi DN xem đạo đức và TNXH là trọng tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc tôn trọng đạo đức và TNXH của DN sẽ mang lại lợi ích chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng Đây là những bộ phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi DN Khi thực hiện tốt đạo đức và TNXH, DN sẽ nhận được sự ủng hộ trung thành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác này Đây chính là điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công Ngày nay, để làm cho khách hàng và cộng đồng tin dùng thương hiệu của công ty, các DN ngày càng giới thiệu công ty qua những sản phẩm hay dịch vụ, mà chỉ giới thiệu công ty qua những sản phẩm hay dịch vụ, mà chỉ giới thiệu các thành tích trong việc thực hiện đạo đức và TNXH trong kinh doanh bằng cách nêu lên những nỗ lực của công ty để trở thành ông chủ tốt, đối tác tốt, công dân tốt và là người bảo vệ môi trường Ngoài ra, trong thời buổi thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thế cạnh tranh đặc thù cho DN, thì “niềm tin càng trở nên cần thiết” Đạo đức kinh doanh và TNXH trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu thật sự mạnh Điều này đồng nghĩa với việc có được sự sâu đậm trong việc “chia sẻ tâm trí” với người tiêu dùng song hành với sự “chiếm lĩnh thị phần” Sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo đức cao quý và tinh thần trách nhiệm, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng là cách tốt nhất để đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện TNXH của DN
TNXH của DN xuất hiện trên thế giới trong bối cảnh những người tiêu dùng ở các nước phát triển có thị hiếu thiên về các sản phẩm có tính "trong sạch" và họ sẵn sàng tẩy chay các sản phẩm nếu biết sản phẩm đó được sản xuất tại một DN thiếu TNXH (không có tổ chức công đoàn, có môi trường và
Trang 36điều kiện làm việc xấu ) Những áp lực từ người tiêu dùng, từ xã hội và từ chính quyền nơi nhập khẩu hàng hóa khiến các DN có các cơ sở sản xuất hoặc đặt hàng tại các nước đang phát triển đã phải đưa ra tiêu chuẩn TNXH thông qua các bộ quy tắc ứng xử (CoC) Ở những nước châu Âu có khái niệm QSE (quality safety environment, chất lượng - an toàn lao động - môi trường) Mục đích là mở rộng chính sách quản lý DN vượt khỏi khái niệm chất lượng để bao hàm thêm TNXH, mở rộng sổ tay chất lượng (Quality Manual) thành sổ tay QSE (QSE Manual) và chứng nhận DN cùng một lúc theo cả ba tiêu chuẩn chất lượng, an toàn lao động và môi trường Thực hiện đầy đủ cùng lúc
ba chính sách này sẽ có thêm hiệu ứng hỗ trợ và giảm chi phí so với thực hiện riêng lẻ mỗi chính sách
Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 100 bộ quy tắc ứng xử, thí dụ như SA 8000 về quản lý nhân sự (Social Accounbility - Trách nhiệm xã hội), ISO 14001 (Hệ thống quản lý môi trường trong DN), WRAP (The Worldwide Resonsible Apparel Production - Trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc), OHSAS 8001 (Về an toàn lao động), ISO 9001 (Hệ thống quản lý chất lượng), FLA (Nhượng quyền thương mại), ETI (Bộ quy tắc ứng xử về chế độ lao động), các công ước ILO các chứng chỉ áp dụng các bộ quy tắc ứng xử này không phải là một điều kiện bắt buộc (trừ bên đặt hàng yêu cầu), nhưng nó sẽ là một lợi thế lớn trong quá trình cạnh tranh Các tiêu chuẩn và công cụ về chất lượng và môi trường: SO (International Organization for Standardization - Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế) đã công bố bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống quản lý chất lượng và ISO 14000 về hệ thống quản lý môi trường Hai tiểu ban của ISO chuyên về các bộ tiêu chuẩn này đã thống nhất những phương pháp thực hành tạo thuận lợi cho các DN thiết lập một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý chất lượng và môi trường Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về TNXH như là GRI (Global Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn diện) hay AA 1000 Asurance Standard của ISEA (Institute of Social and Ethical Accountability, Viện TNXH và đạo đức)
Trang 37Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là trách nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập thể, (b) quyền lợi tối thiểu của người lao động về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự nguyện ban cho hay phải theo quy định của nhà nước và thương lượng tập thể
Đạo đức thường được hiểu là những ràng buộc bất thành văn, CSR đã
được cụ thể hóa thành các văn bản cho các DN tùy nghi áp dụng Ví dụ SA
8000 là một trong ba tiêu chuẩn bắt buộc đối với DN trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế toàn cầu Theo đánh giá của các chuyên gia, áp dụng tiêu chuẩn SA 8000 sẽ nâng cao chất lượng cạnh tranh của DN thông qua các tác động như: Thu hút sự nhìn nhận, tin tưởng và trung thành của khách hàng; Đưa ra các tiêu chuẩn chung trên quy mô toàn cầu về ứng xử của DN nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh công bằng; Tăng cường khả năng mở rộng mạng lưới kinh doanh toàn cầu và tiếp cận những khách hàng đòi hỏi cao về giá trị đạo đức của sản phẩm và giúp DN đỡ mất thời gian phiền hà vì không phải trải qua các đợt kiểm tra liên ngành, kiểm tra chéo và cuộc thanh tra về lao
động Tiêu chuẩn SA 8000 có quy định về TNXH theo các chỉ tiêu như sau:
“1 Lao động trẻ em; 2 Lao động cưỡng bức; 3 An toàn và vệ sinh lao động;
4 Tự do hiệp hội và quyền thỏa ước lao động tập thể; 5 Phân biệt đối xử; 6
Xử phạt; 7 Giờ làm việc; 8 Trả công; 9 Hệ thống quản lý” 7
Khi các DN tuân thủ tiêu chuẩn này sẽ mang lại lợi ích kinh tế và các sản phẩm của DN đó được người tiêu dùng đón nhận, đằng sau đó thì DN rất dễ dàng thu hút được nguồn lao động giỏi vì họ hiểu được vai trò, lợi ích của mình khi làm việc trong tổ chức chú ý nhiều tới TNXH của DN
Vấn đề quy mô, tài chính DN ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện TNXH của DN Bởi chỉ khi DN có đủ nguồn tài chính và phát triển thì mới có thể đầu tư cho việc thực hiện TNXH Khi thực hiện TNXH của DN, đặc biệt liên quan đến vấn đề môi trường, DN cần phải thực hiện nhiều tiêu chuẩn và
7
Trang 38công cụ quản lý, chẳng hạn như tiêu chuẩn ISO14000 Năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bắt đầu xây dựng một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về Quản lý môi trường gọi là ISO 14000 Bộ tiêu chuẩn này gồm 3 nhóm chính:
- Nhóm kiểm toán và đánh giá môi trường
- Nhóm hỗ trợ hướng về sản phẩm
- Nhóm hệ thống quản lý môi trường
Để triển khai ISO 14000, tổ chức cần giải quyết ba vấn đề cơ bản là nâng cao năng lực và nhận thức về quản lý môi trường, phát triển các công cụ phục vụ quản lý môi trường và thiết lập một hệ thống các chỉ số dùng để đo lường và đánh giá kết quả thực hiện quản lý môi trường Nhìn từ ba cơ sở này, yếu tố quy mô của một tổ chức áp dụng ISO 14000 có ảnh hưởng đến việc triển khai dự án ở một số góc độ sau đây:
Thứ nhất, về mặt nhận thức, quy mô tổ chức quyết định số lượng của
đối tượng cần được nâng cao năng lực và nhận thức Điều này không chỉ ảnh hưởng về mặt thời gian, nguồn lực cần thiết mà còn ảnh hưởng đến phương
pháp sử dụng cho việc tuyên truyền và đào tạo Một tổ chức với 50 nhân viên sẽ có biện pháp tuyên truyền và đào tạo khác hơn rất nhiều so với một tổ chức có 5.000 nhân viên
Thứ hai, về mặt tiêu chuẩn hóa, khi quy mô của tổ chức càng lớn thì
nhu cầu tiêu chuẩn hóa và văn bản hóa các hoạt động môi trường càng cao Nói cách khác, quy mô của một tổ chức càng lớn thì số lượng văn bản, tài liệu cần thiết cho việc quản lý một cách hiệu quả các khía cạnh môi trường (có ý nghĩa) càng nhiều
Thứ ba, về mặt nguồn lực, quy mô của tổ chức quyết định quy mô của
nguồn lực sử dụng và quy mô phát thải Với một tổ chức với 10 nhân viên thì vấn đề quản lý nước thải sinh hoạt sẽ đơn giản hơn rất nhiều so với một công
ty may với 10.000 công nhân Điều này có thể ảnh hưởng đến việc xác định các khía cạnh môi trường và đánh giá tác động môi trường; và vì vậy quyết định các khía cạnh môi trường có ý nghĩa.Thứ tư, về mặt đo lường, quy mô
Trang 39của tổ chức khác nhau sẽ dẫn đến các mô hình tổ chức khác nhau và điều này
sẽ ảnh hưởng đến việc xác định, phân trách nhiệm các chỉ số hoạt động môi trường cũng như thiết lập hệ thống báo cáo và xem xét các chỉ số này
Tiêu chuẩn ISO 26000 - Tiêu chuẩn quốc tế "Chỉ dẫn về TNXH"
Trong sự toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, con người ngày càng có ý thức hơn không chỉ về việc mình mua cái gì mà còn quan tâm tới việc hàng hóa và dịch vụ đó được hình thành như thế nào Những vấn đề như sản xuất gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lao động trẻ em, môi trường làm việc nguy hại, sử dụng vật liệu độc hại, là những ví dụ về tính kém bền vững trong quá trình phát triển Mọi tổ chức nếu muốn bảo đảm khả năng sinh lợi lâu dài
và sự tín nhiệm của cộng đồng đều cần phải nhận thức điều gì là "đúng" và
"sai" trong hoạt động của mình ISO 26000 được xây dựng với mục đích hướng tới một thế giới bền vững
Tiêu chuẩn ISO 26000 hỗ trợ các tổ chức giải quyết các vấn đề về trách nhiệm của họ đối với xã hội thông qua
Định hình những vấn đề trách nhiệm xã hội (TNXH) liên quan tới tổ chức của mình;
Nhận diện và vận động sự tham gia của các bên hữu quan;
Nâng cao độ tin cậy của các báo cáo và tuyên bố về vấn đề TNXH ISO 26000 là một Tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (gọi tắt là ISO) đưa ra hướng dẫn về trách nhiệm xã hội Nó sẽ được áp dụng cho các tổ chức ở mọi loại hình, cả ở lĩnh vực công cộng lẫn tư nhân, tại các nước phát triển và đang phát triển, cũng như các nền kinh tế chuyển đổi Tiêu chuẩn ISO 26000 xác định trách nhiệm xã hội là “trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động phát sinh do các quyết định và hoạt động của tổ chức lên môi trường và xã hội với cách hành xử có đạo đức và rõ ràng:
Góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả về sức khỏe và phúc lợi xã hội
Có xem xét đến những mong đợi của các bên liên quan
Trang 40 Tuân thủ với các yêu cầu pháp luật cần tuân thủ và nhất quán với các qui chuẩn quốc tế về cách hành xử
Được tích hợp và thực thi trong toàn tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế này cung cấp hướng dẫn dựa theo các nguyên tắc về trách nhiệm xã hội, công nhận vai trò của trách nhiệm xã hội và sự tham gia của các bên liên quan, các chủ đề và các vấn đề chính gắn liền với trách nhiệm xã hội và gắn liền hành vi trách nhiệm xã hội vào các hoạt động của tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các kết quả
và sự cải tiến trong kết quả hoạt động trách nhiệm xã hội
Bộ các quy tắc ứng xử
Các DN thực hiện Trách nhiệm xã hội DN bước đầu mang lại những lợi ích cho DN: Đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp quốc gia; Bảo đảm cho các DN thực hiện được các mục tiêu kinh doanh lâu dài, bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập; Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, giảm các rủi ro trong kinh doanh quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá giá,… Do đó, DN thực hiện TNXH không đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế
mà còn có lợi ích xã hội và chính trị Bên cạnh, mặt tích cực thì DN thực hiện TNXH theo các Bộ Quy tắc cũng gặp phải không ít khó khăn
Hiện nay trên thế giới có trên 2000 Bộ Quy tắc ứng xử, chia làm ba nhóm chính: quy tắc ứng xử của các tổ chức quốc tế như: ISO, Công ước ILO, GC, OECD; quy tắc ứng xử của các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức hiệp hội ngành nghề (Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas (Tập đoàn thời trang), FTA (Hiệp hội Ngoại thương)); quy tắc ứng xử của các tổ chức độc lập như: SAI (Tổ chức Trách nhiệm xã hội Quốc tế), FLA (Nhượng quyền Thương mại)
Các DN sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với DN của mình Bộ luật ứng xử BSCI: ra đời nhằm đảm bảo tuân thủ với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cụ thể BSCI là Bộ Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ TNXH trong kinh doanh BSCI ra