1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Khoa Học Quản Lý, Quản Lý Đào Tạo, Học Chế Tín Chỉ, Trường Đại Học Công Lập.pdf

131 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Đào Tạo Theo Học Chế Tín Chỉ Tại Một Số Trường Đại Học Công Lập Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Tường Thị Lan Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Kim Đỉnh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa học Quản Lý
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TƢỜNG THỊ LAN ANH NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI MỘT SỐ TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TH[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Trần Kim Đỉnh

Hà Nội, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 4

LỜI CAM ĐOAN 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Tình hình nghiên cứu 10

3 Ý nghĩa của luận văn 12

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Phạm vi nghiên cứu 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kết cấu luận văn: 15

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 16

1.1 Quan niệm về đào tạo bậc đại học 16

1.1.1 Quan niệm về Đào tạo 16

1.1.2 Đào tạo bậc đại học 16

1.2 Quan niệm về đào tạo theo học chế tín chỉ 18

1.2.1 Định nghĩa 18

1.2.2 Đặc điểm 21

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm 23

1.2.4 Sự khác nhau giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ 25

1.2.5 Những nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ 31

1.3 Quan niệm về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 33

Trang 4

1.3.2 Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 34

1.3.3 Nội dung về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 36

1.3.4 Những tiêu chuẩn của sinh viên, giảng viên 47

Kết luận chương 1 50

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI BA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51

2.1 Khái quát về 3 trường đại học 51

2.1.1 Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội 52

2.1.2 Học viện Ngân hàng 54

2.1.3 Trường Đại học Kinh tế quốc dân 57

2.2 Công tác quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 59

2.2.1 Tình hình đào tạo theo học chế tín chỉ 59

2.2.2 Thực trạng về hoạt động học tập của sinh viên 61

2.2.3 Thực trạng về hoạt động giảng dạy của giảng viên 62

2.3 Thực trạng quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ 63

2.3.1 Ban hành hệ thống văn bản quản lý 63

2.3.2 Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy 68

2.3.3 Tổ chức bộ máy, nhân sự 71

2.3.4 Bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộ quản lý 75

2.3.5 Quản lý tài chính và tăng cường cơ sở vật chất 77

2.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra 81

2.4 Đánh giá kết quả 82

2.4.1 Nhận xét 82

2.4.2 Chất lượng đào tạo 83

2.4.3 Đổi mới công tác quản lý đào tạo 85

Kết luận chương 2 88

Trang 5

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 90

3.1.1 Nguyên tắc mang tính kế thừa 90

3.1.2 Nguyên tắc đồng bộ, toàn diện 91

3.1.3 Nguyên tắc khả thi 92

3.1.4 Nguyên tắc phát triển 92

3.2 Một số giải pháp về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 93

3.2.1 Đổi mới quản lý tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ 93

3.2.2 Kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất 101

3.2.3 Giải pháp về tăng cường thanh tra, giám sát và kiểm định chất lượng đào tạo 105

3.2.4 Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo theo học chế tín chỉ 107

Kết luận chương 3 108

KẾT LUẬN 109

KHUYẾN NGHỊ 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 118

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo đã tận tình trang bị cho tôi kiến thức để tự tin bước vào công tác và hoạt động nghề nghiệp Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và Ban chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Cao học Khoa học quản lý

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Kim Đỉnh, giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các chuyên viên, nghiên cứu viên của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tư vấn và cung cấp cho tôi nhiều nguồn

số liệu để tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài luận văn

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Học viên

Tường Thị Lan Anh

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn

và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Trần Kim Đỉnh Các số liệu, kết quả được trình bày trung thực Luận văn của tôi có tham khảo một số sách, báo, tạp chí và đã được trích dẫn, ghi chú đầy đủ

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả luận văn Tường Thị Lan Anh

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

2 ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Mức điểm đối với môn học………

Hình 2.1: Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

Hình 2.2: Học viện Ngân hàng ………

Hình 2.3 Trường Đại học Kinh tế quốc dân ………

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu quy mô sinh viên đại học chính quy

đào tạo theo học chế tín chỉ ………

Sơ đồ 2.1: Quy trình xây dựng chương trình đào tạo tại 3 trường

đại học………

Sơ đồ 2.2: Bộ máy quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ…………

Sơ đồ 2.3: Hệ thống thông tin quản lý………

Bảng 2.2: Thời gian làm việc trong năm quy định theo chức danh

giảng viên và cho từng nhiệm vụ………

Bảng 2.3: Số giờ tiêu chuẩn định mức trong năm quy định theo

chức danh giảng viên……….……

Bảng 2.4: Giá biểu thanh toán cho giảng viên vượt định mức……

trang 34 trang 52 trang 54 trang 57

trang 59

trang 70 trang 72 trang 73

trang 79

trang 79 trang 80

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã ra đời cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành giáo dục cũng từng ngày có những phương thức đào tạo tiên tiến hơn, phương thức đào tạo này lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới như Nhật Bản, Philippines, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo” Ngay từ khi ra đời, người

ta đã nhận thấy được những ưu điểm đặc biệt của phương thức đào tạo tiên tiến này như tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao; có hiệu quả về mặt quản lý, giảm giá thành đào tạo; và đặt biệt là nâng cao chất lượng và hiệu quả trong học tập

Ở Việt Nam, giáo dục và đào tạo được xác định là “Quốc sách hàng đầu” và có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đáp ứng được yêu cầu này, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc cải cách, đổi mới nền giáo dục nước nhà ở tất cả các cấp học (Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Đại học và Sau đại học) Đào tạo theo học chế tín chỉ là một trong bảy bước đi quan trọng trong lộ trình đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020 Theo ấn định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2009 đến năm 2010, tất cả các trường đại học sẽ phải chuyển đổi sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ Đây là một trong những bước ngoặt lớn của công tác cải cách giáo dục bậc đại học

và sau đại học ở nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế, nhưng để thành công trong việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ (nhất là đối với một nền giáo dục truyền thống đã có từ lâu và không có nhiều bước đột phá như nước ta) là điều không dễ dàng Theo khảo sát của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, rào cản lớn nhất để chuyển đổi đào tạo là đội ngũ cán bộ giảng

Trang 11

dạy ở nhiều trường còn thiếu và yếu; cơ sở vật chất của nhiều trường chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống đào tạo tín chỉ; đội ngũ cán bộ quản lý còn chưa được đào tạo bài bản về công tác quản lý trong đào tạo tín chỉ, cuối cùng là nhận thức của cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý và sinh viên về học

chế tín chỉ còn chưa thực sự đầy đủ

Năm 1987, Việt Nam thực hiện phương pháp theo học chế tín chỉ được

áp dụng một phần dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và Quyết định 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo

hệ thống tín chỉ chính thức đưa phương thức đào tạo tín chỉ vào hệ thống giáo dục đào tạo bậc đại học Ngày 27/12/2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 57/2012/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 ngày 18/6/2012 có hiệu lực từ ngày 01/1/2013 đã dần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật so với thời gian trước

Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đào tạo linh hoạt và mềm dẻo trong đó sinh viên được chủ động đăng kí học tập, tích lũy từng phần kiến thức theo tiến độ phù hợp với năng lực, điều kiện của bản thân và nhà trường nhằm hoàn tất chương trình đào tạo để được cấp bằng tốt nghiệp

Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ trong quá trình thực hiện còn một số bất cập, hạn chế cần khắc phục; điều này ảnh hưởng đến quá trình đào tạo, không phát huy hết hiệu quả vốn

có của nó

Với lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý đào

tạo theo học chế tín chỉ tại một số trường Đại học công lập trên địa bàn

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

Đào tạo theo học chế tín chỉ là một phương thức đào tạo không mới trên thế giới (ra đời 1872) nhưng phương thức đào tạo này lại mới được triển khai trong nền giáo dục Việt Nam khi có Chỉ thị số 53/CT ngày 17 tháng 9 năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường đại học phải tập trung triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ vào năm 2010 Do đó, các công trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu về đào tạo theo học chế tín chỉ còn rất hạn chế

- Về sách: Có một số cuốn sách đề cập đến những nhận thức cơ bản về

đào tạo theo học chế tín chỉ như:

+ Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2004

+ Phạm Minh Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1999

Một số đề tài, nghiên cứu về đào tạo theo tín chỉ

+ Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia phù

hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, Đề tài luận văn thạc sĩ của Phạm Đình Lượng, Hà Nội, 2010

+ Quản lý hoạt động dạy - học trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học quốc gia, Đề tài luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Minh

Huệ, Hà Nội, 2011

+ Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Học viện Phòng không – Không quân trong đào tạo theo học chế tín chỉ, Đề tài luận văn Thạc

sĩ của Lại Đức Hậu, Hà Nội, 2011

+ Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Minh Đức, Hà Nội, 2007

Trang 13

+ Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ đối với hệ cử nhân sư phạm tại khoa Sư phạm - Đại học quốc gia, Đề tài luận văn

Thạc sĩ của Nguyễn Trung Kiên, Hà Nội, 2007

Ngoài các sách, đề tài nghiên cứu về đào tạo theo học chế tín chỉ trên, còn có các công trình viết về đào tạo theo học chế tín chỉ của một số trường đại học Các công trình này mới chỉ ở dạng các bài đăng trên tạp chí, kỷ yếu,

chủ yếu là cung cấp thông tin, tổng kết thực tiễn Dưới đây là một số bài viết:

+ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý thực trạng và giải pháp,

của PGS, TS Trần Thanh Ái, tham luận tại Hội nghị toàn quốc tổ chức tại Đại học Sài Gòn, 5/2010

+ Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam: Đặc điểm và điều kiện triển khai, của Đặng Xuân Hải, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 22/7, 2007

+ Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo chuyển đổi quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, của Đặng Xuân Hải, Tạp chí Khoa học

Giáo dục số 11, 2008

+ Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam, của Lâm

Quang Thiệp Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp giảng dạy đại học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” tại trường Đại học sư phạm - Đại học Huế ngày 22/03/2009

+ Phương thức đào tạo theo tín chỉ: Lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp dạy học ở bậc đại học, của Hoàng Văn Vân Kỷ yếu Hội

thảo khoa học “Giảng dạy những môn lý luận chính trị tại các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Hà Nội tháng 9/2007

+ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, của trường Đại học Đà Nẵng

Kỷ yếu Hội thảo khoa học các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về đào tạo theo học chế tín chỉ, Đà Nẵng, 11/2006

Trang 14

+ Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ, của Lê Thạc Cán Báo cáo tại Tọa đàm về đào tạo theo tín chỉ ở

Đại học quốc gia Hà Nội, 4/2006

Như vậy, có thể khẳng định các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã có, nhưng chưa nhiều mang tính chất riêng biệt, thể hiện ở một số khía cạnh của đào tạo theo tín chỉ hoặc là những nghiên cứu

về quản lý đào tạo tín chỉ Nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội

3 Ý nghĩa của luận văn

Giúp cho nhà quản lý có cái nhìn bao quát về thực trạng hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ tại ba trường đại học công lập thuộc ba cơ quan quản

lý khác nhau Đề tài cung cấp những luận cứ và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đào tạo

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.Mục tiêu nghiên cứu

Trình bày luận điểm tổng kết về đào tạo theo học chế tín chỉ từ thực tiễn nghiên cứu ba trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội;

Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ dựa trên nghiên cứu ba trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 15

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái luận về đào tạo, đào tạo theo học chế tín chỉ bậc đại học

Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại ba trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Phạm vi thời gian: từ năm 2008 đến năm 2012

6 Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại ba trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội?

Thực trạng công tác quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại ba trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn ra như thế nào?

Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Chất lượng công tác quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa thực sự hiệu quả

Để nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội cần thực hiện các giải pháp nhất định về nhận thức, cơ chế chính sách, điều kiện vật chất nhằm từng bước nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ qua đó phát huy tối đa điểm mạnh của loại hình đào tạo này

8 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Phương pháp logic, lịch sử

Phương pháp logic, lịch sử là hai phương pháp khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu đào tạo theo học chế tín chỉ Phương pháp lịch sử giúp tác giả mô tả quá trình ra đời, phát triển của loại hình đào tạo này và phương pháp logic giúp tác giả tìm cái logic, tất nhiên trong suốt quá trình áp dụng đào tạo đại học theo học chế tín chỉ để hiểu rõ hơn về bản chất, quy luật vận động, phát triển khách quan của vấn đề đào tạo theo học chế tín chỉ

Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học là phương pháp tác giả sử dụng khá nhiều trong nghiên cứu luận văn của mình Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc chọn lọc, đưa ra số liệu về quy mô đào tạo, diện tích sử dụng, cơ sở vật chất đáp ứng cho đào tạo, thống kê giảng viên cơ hữu

và thỉnh giảng… trong các năm khảo sát của ba trường nghiên cứu Phương pháp này là tiền đề cho phương pháp so sánh, tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp

Đây là phương pháp được sử dụng trong luận văn nhằm khai thác những tài liệu sẵn có trên các báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề “Đào tạo đại học theo tín chỉ”, “quản lý đào tạo theo tín chỉ”, “bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ” Phương pháp này giúp tác giả có được cái nhìn tổng quan về những nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

Bên cạnh đó là phân tích những số liệu thống kê, báo cáo hoạt động của

ba trường nghiên cứu như Báo cáo thống kê số liệu theo năm học, Báo cáo tổng kết năm, Quy chế về đào tạo, hoạt động của cơ sở nghiên cứu.Việc phân tích những báo cáo thống kê, tổng kết sẽ giúp cho tác giả có được cái nhìn tổng quan về đào tạo với cách thức tổ chức hoạt động, kết quả đạt được, ưu

Trang 17

điểm và hạn chế Ngoài ra, các quy chế về đào tạo, hoạt động của cơ sở đào tạo sẽ giúp tác giả hiểu rõ hơn về bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ

Phương pháp tổng hợp, so sánh

Phương pháp tổng hợp, so sánh giúp tác giả tìm ra được mối liên hệ chung về bản chất đào tạo đại học theo học chế tín chỉ của ba trường đại học nghiên cứu Phương pháp này nghiên cứu và so sánh các bảng biểu số liệu trong các Báo cáo thống kê, tổng kết năm học của trường cũng như các Quy chế về đào tạo và hoạt động của đơn vị Từ đó so sánh, đối chiếu với Quy chế

do Bộ Giáo dục ban hành, để tìm ra được cái chung và cái riêng khi các trường áp dụng đào tạo đại học theo hình thức tín chỉ Từ kết quả của phương pháp này, tác giả có cái nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu, đưa ra được nhận định và đánh giá nhằm tìm ra giải pháp khắc phục các mặt hạn chế mà không làm mất đi ưu điểm của loại hình đào tạo theo học chế tín chỉ

9 Kết cấu luận văn: Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại ba trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 18

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Quan niệm về đào tạo bậc đại học

1.1.1 Quan niệm về Đào tạo

- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận thức một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách” [29, tr.289].

- Đào tạo là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (huấn luyện viên hoặc giảng viên) sang người khác (học viên) Kết quả là có

sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng và thái độ của học viên từ mức độ thấp đến mức độ cao [58]

- Đào tạo là quá trình triển khai các chương trình huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm giúp cho người học nắm vững hệ thống kiến thức chuyên môn, hình thành hệ thống kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để đáp ứng các yêu cầu hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sau khóa học [31; tr.30]

Như vậy, đào tạo là khái niệm liên quan đến quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực xã hội, được tiến hành ở các cơ sở giáo dục theo một chương trình được xây dựng cho các lĩnh vực chuyên môn nhất định, trong đó đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng giữ vai trò quan trọng

1.1.2 Đào tạo bậc đại học

Mục tiêu của giáo dục đại học bao gồm đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng,

Trang 19

đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo;

có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân Đào tạo trình độ đại học trang bị cho sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên

lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo [51; tr.2]

Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ cao đẳng, trình

độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc thù Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học được thực hiện theo hai hình thức là giáo dục chính quy

và giáo dục thường xuyên[51; tr.2]

Thời gian đào tạo theo tín chỉ được xác định trên cơ sở số học phần và khối lượng tín chỉ tích lũy quy định cho từng chương trình và trình độ đào tạo Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định số học phần và khối lượng tín chỉ tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo đại học, có đủ điều kiện thì được dự thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp, nếu đạt yêu cầu hoặc tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định và đáp ứng chuẩn đầu ra của cơ sở giáo dục đại học thì được hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cấp bằng tốt nghiệp đại học[51; tr.13]

Việc tổ chức và quản lý đào tạo được thực hiện theo niên chế hoặc tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ, thực hiện quy chế và chương trình đào tạo đối với mỗi trình độ đào tạo, hình thức đào tạo [51; tr.12]

Trang 20

1.2 Quan niệm về đào tạo theo học chế tín chỉ

1.2.1 Định nghĩa

Đào tạo theo học chế tín chỉ: Là cách đào tạo cho phép sinh viên chủ

động học tập theo điều kiện và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý của nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn Những sinh viên bình thường và yếu

có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn [8; tr.15]

Tín chỉ:

Có nhiều định nghĩa về tín chỉ trong kho tàng nghiên cứu Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau:

Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác

đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn

Trang 21

Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ và thực tế đào tạo của đơn vị, tín chỉ được cụ thể hóa như sau:

Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn [21; tr.22]

Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu 1 tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân [34, tr.2]

Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ dùng để quy đổi khối lượng kiến thức từ ĐVHT ra tín chỉ Một tiết học được tính bằng 50 phút

Như vậy, tín chỉ là đơn vị chuẩn dùng để lượng hóa khối lượng làm việc bắt buộc của sinh viên bao gồm thành tố: Thời gian học lý thuyết trên lớp; thời gian thực hành; thời gian tự học của mỗi sinh viên cho một môn học

Học chế tín chỉ: Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo trong đó sinh

viên chủ động lựa chọn học từng môn học (tuân theo quy định về điều kiện tiên quyết và logic khoa học trước sau của các học phần) nhằm hoàn thành chương trình đào tạo đại học, có đủ điều kiện thì được dự thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp, nếu đạt yêu cầu hoặc tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định và đáp ứng chuẩn đầu ra của cơ sở giáo dục đại học thì được

Trang 22

lượng hóa quy trình đào tạo thông qua khái niệm tín chỉ, học chế tín chỉ tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa quy trình đào tạo, trao quyền cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, việc tích lũy các học phần, kể cả sắp xếp thời gian học ở trường, thời gian tốt nghiệp ra trường Sinh viên có điều kiện phát huy tính chủ động, tích cực thích ứng với quy trình đào tạo này để đạt kết quả tốt nhất trong học tập và rèn luyện

Học phần: là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho

sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ

2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ [34, tr.1] Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định

Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn [34, tr.1] Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy

Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình

Như vậy, đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng học tập của một sinh viên đã tích luỹ được, gọi là tín chỉ Như vậy đào tạo theo tín chỉ chuyển quyền lựa chọn và quyết định mục đích đào tạo học tập cụ thể cũng như lựa chọn các môn học và cả kế hoạch học tập từ nhà trường sang cho người học trong điều kiện quy định công khai cấu trúc các môn học dẫn đến văn bằng Khái niệm này liên quan trực tiếp đến bộ phận quản lí đào tạo và

Trang 23

đây là khái niệm bộ phận quản lí đào tạo phải nhận thức thấu đáo khi triển khai hoạt động đào tạo theo tín chỉ

1.2.2 Đặc điểm

Hệ thống tín chỉ ra đời ban đầu tại Viện Đại học Harvard (Hoa Kỳ) nhưng khi đi vào từng trường đại học thì bản thân nó đã có sự điều chỉnh cho phù hợp Bởi vậy không có một quy chế đào tạo tín chỉ nào được soạn thảo chung cho tất cả các trường Khi phân tích quy trình đào tạo ở các trường áp dụng hệ thống tín chỉ, ta xét những đặc điểm sau là nét chung của hệ thống tín chỉ lý tưởng, nhưng các trường không nhất thiết phải thoả mãn đầy đủ các đặc điểm đó mới được xem là đã đi vào đào tạo hệ thống này

Hệ tín chỉ đòi hỏi nội dung của chương trình phải được cấu trúc thành các mô đun, được gọi là học phần Phần lớn học phần phải được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ

Để đạt bằng cử nhân sinh viên thường phải tích luỹ đủ 120 - 136 tín chỉ (Mỹ); 120 - 135 tín chỉ (Nhật); 120 - 150 tín chỉ (Thái Lan)… Để đạt bằng cao học (master) sinh viên phải tích luỹ 30 - 36 tín chỉ (Mỹ); 30 tín chỉ (Nhật),

36 tín chỉ (Thái Lan)…Ngoài ra năm học của người học được tính qua khối lượng tín chỉ tích luỹ [20; tr.40]

Chương trình đào tạo phải có tính mềm dẻo cả về nội dung và cấu trúc

để người học dễ lựa chọn Theo đó, cùng với các học phần bắt buộc phải có cho mỗi chương trình còn phải có các học phần tự chọn

Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ tín chỉ dùng cách đánh giá thường xuyên và dựa vào sự đánh giá đó đối với các học phần tích luỹ để cấp bằng cử nhân

Thang điểm thường dùng trong hệ thống tín chỉ là thang điểm chữ (A, B,

C, D, F) và khi tính điểm trung bình chung được quy đổi sang thang điểm số (4, 3, 2, 1, 0)

Hệ tín chỉ sử dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm

Trang 24

sự hướng dẫn của thầy hơn là việc tiếp thu thụ động các kiến thức được người thầy truyền thụ cho ở trên lớp Do đó thời gian trên lớp (số giờ tiếp xúc) sẽ bị rút bớt và thay vào đó là sự gia tăng của thời gian tự học

Đơn vị học vụ trong hệ tín chỉ là học kỳ Do đó kết quả học tập sau mỗi học kỳ là cơ sở quyết định hướng học tập tiếp theo của người học

Khi tổ chức giảng dạy theo hệ tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các học phần thích hợp với năng lực, hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một ngành chuyên môn chính nào đó Sự lựa chọn các học phần rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tên học các học phần liên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các học phần chuyên môn của mình mà còn cần học các học phần khác lĩnh vực, chẳng hạn sinh viên các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phải học một ít học phần khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại Cách tổ chức giảng dạy mềm dẻo như vậy dẫn tới một hệ quả là lớp học không thể tổ chức đồng loạt theo khoá tuyển sinh mà bắt buộc phải tổ chức theo từng học phần mà sinh viên đăng ký học

Để hỗ trợ cho sinh viên trong việc lựa chọn kế hoạch học tập phù hợp trong hệ tín chỉ nhất thiết phải xây dựng hệ thống cố vấn học tập Tại nhiều cơ

sở đào tạo chức năng chính của cố vấn học tập là tư vấn, không phải là quản

Hệ tín chỉ cho phép thực hiện tuyển sinh theo học kỳ Điều đó cho phép giảm được sức ép của một kỳ tuyển sinh hàng năm, đồng thời tăng được hiệu quả hoạt động của nhà trường và làm cho hệ tín chỉ triển khai thuận lợi hơn

Hệ tín chỉ đối với các chương trình đại học không đòi hỏi phải có kỳ thi tốt nghiệp và nhiều cơ sở đào tạo không tổ chức lễ bảo vệ khoá luận tốt nghiệp; điều đó làm cho quy trình đào tạo trở nên mềm dẻo hơn

Hệ tín chỉ cho phép triển khai các hoạt động giảng dạy trong nhà trường theo lớp môn học liên tục suốt ngày Vì vậy cơ sở đào tạo phải có cơ sở vật

Trang 25

Thời gian đào tạo theo tín chỉ được xác định trên cơ sở số học phần và khối lượng tín chỉ tích lũy quy định cho từng chương trình và trình độ đào tạo

do Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định số học phần và khối lượng

tín chỉ tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ, thực hiện quy chế và chương trình đào tạo đối với mỗi trình độ đào tạo, hình thức đào tạo theo niên chế hoặc tín chỉ” [51; điều 37].

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm:

Tính chủ động của người học: Do quy trình đào tạo mềm dẻo (xem

người học làm trung tâm) nên sẽ tạo điều kiện cho sinh viên chủ động lựa chọn chương trình học của mình Đồng thời, cho phép sinh viên lựa chọn tiến

độ học tập phù hợp với khả năng (về sức khỏe, nhận thức, tài chính ) thực tế

của mình Điều đó cũng đòi hỏi nhà trường nâng cao tính chủ động: Dự kiến trước kế hoạch và đưa ra nhiều phương án khác nhau trong tổ chức quản lý đào tạo, góp phần nâng cao tính trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội Trong đào tạo theo tín chỉ phương pháp giảng dạy được áp dụng phổ biến là

"xem người học làm trung tâm", do vậy tính chủ động trong học tập của sinh

viên được khuyến khích và nâng cao

Tính linh hoạt và thích ứng trong đào tạo: Do chương trình đào tạo

mềm dẻo nên có thể đổi nhanh chóng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của người học, nhu cầu thực tế của xã hội và của người sử dụng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cao thích ứng với cơ chế thị trường của nền kinh tế hiện nay

Tính khoa học: Chương trình đào tạo được phân chia thành các học

phần tự chọn và các học phần bắt buộc, thứ tự bố trí học trước - sau theo một logic khoa học và có quy định về điều kiện tiên quyết cho từng học phần

Tính liên thông: Việc thiết kế chương trình theo các modun kiến thức

Trang 26

tạo Cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành học trong quá trình học tập hoặc học tiếp lên bậc cao hơn hoặc học văn bằng 2 mà không phải học lại từ đầu Đồng thời, tính liên thông cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường

mở ngành học mới đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội

Tính chuẩn hóa: Việc chuẩn đoán hóa nội dung đào tạo và việc đánh

giá được tiến hành chặt chẽ (đánh giá quá trình) tạo điều kiện thuận lợi trong việc công nhận nội dung đào tạo và các kết quả học tập của sinh viên giữa các trường, tạo cơ hội để xúc tiến quá trình hội nhập với giáo dục đại học của khu vực và thế giới một cách nhanh chóng và dễ dàng

Tính tiết kiệm và hiệu quả: Do việc khai thác triệt để có hiệu quả

nguồn lực vốn có về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, đồng thời sinh viên

có thể chọn nơi học, thời gian học phù hợp Đào tạo theo tín chỉ cho phép tổ chức giảng dạy các học phần chung cho sinh viên nhiều ngành khác nhau, do vậy tiết kiệm được nhân lực, thời gian và chi phí vật chất Chất lượng đào tạo đáp ứng kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực

Nhược điểm:

Bên cạnh những ưu thế nêu trên, hệ thống tín chỉ cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Nhược điểm của hệ thống tín chỉ thể hiện trên các mặt sau đây:

Hệ thống tín chỉ gây nên sự cắt vụn kiến thức ra từng mảnh nhỏ

(chương trình đào tạo được chia thành các môđun kiến thức) mà không đòi hỏi tích hợp chúng lại làm hạn chế khả năng cung cấp kiến thức một cách logic

Sinh viên nhìn mức độ học vấn quy định cho một văn bằng như là sự tích lũy các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vì lợi ích cuối cùng của nó Tính mềm dẻo của hệ thống tín chỉ thúc đẩy các trường đại học trong việc xác nhận hoạt động giáo dục lớn hơn so với việc cung cấp các hoạt động đó

Việc tổ chức, quản lý lớp học, phân công giảng dạy trong điều kiện ở nước ta hiện nay có nhiều khó khăn

Trang 27

Sự gắn kết của các sinh viên rất hạn chế dẫn đến việc tổ chức các hoạt

động tập thể khó có hiệu quả cao Tính tập thể, tính cộng đồng trong sinh viên giảm sút tạo điều kiện cho chủ nghĩa cá nhân phát triển

1.2.4 Sự khác nhau giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ

a Khái niệm chung

Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức

tổ chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ đều có lịch sử phát triển từ lâu, mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng nhưng đều đạt những thành quả to lớn

Nếu để tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo này thì trong phạm vi một nghiên cứu không thể đáp ứng được, tuy vậy dưới góc độ đào tạo có thể thấy một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tổ chức đào tạo này

Đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định Ví

dụ chương trình đào tạo trình độ đại học được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm Sinh viên học hết thời gian quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường

Đào tạo theo học chế tín chỉ

Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo thời gian tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định, một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo đại học, có đủ điều kiện thì

Trang 28

cầu hoặc tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định và đáp ứng chuẩn đầu ra của cơ

sở giáo dục đại học thì được hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cấp bằng tốt nghiệp đại học

b Tổ chức đào tạo

Tổ chức đào tạo theo niên chế

Trong đào tạo theo niên chế lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo bố trí, sắp xếp sẵn sàng Các lớp sinh viên được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến động Sinh viên chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt Tổ chức đào tạo theo niên chế tương đối thuận lợi, kế hoạch đào tạo, lịch giảng, lịch thi có thể làm ngay từ đầu năm học và ít khi có

sự biến động

Tổ chức đào tạo theo tín chỉ

Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên không đăng ký sẽ không có lịch học Trước khi đăng ký sinh viên phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như cuốn niên giám, sổ tay sinh viên, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên nghiệp… để có thể đăng ký được lịch học cho từng học kỳ phù hợp (phù hợp giữa quy định của nhà trường và sức học của sinh viên) Sinh viên phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự Ưu điểm của cách tổ chức này là sinh viên có quyền lựa chọn, sinh viên không những được lựa chọn các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng

ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này Trong thời gian học chính khóa có thể học thêm ngoại ngữ, tin học, học chương trình 2

Trang 29

c Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo theo niên chế

Chương trình đào tạo theo niên chế có khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được

bố trí theo một tỷ lệ nhất định Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn), còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một trình độ đào tạo Vì vậy chương trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, vì vậy không tận dụng được hiệu quả đào tạo Trong đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá trình công tác sau này, như người học muốn có thêm kiến thức về tin học, ngoại ngữ, về quản lý kinh tế

Chương trình đào tạo theo tín chỉ

Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất khi xây dựng chương trình trong đào tạo theo học chế tín chỉ là các chương trình đào tạo có tính liên thông cao, là đào tạo tiềm năng

Chương trình giáo dục đại học có khối kiến thức chung là các môn lý luận chính trị, quốc phòng – an ninh, ngoại ngữ, tin học… do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học nhằm đảm bảo yêu cầu liên thông giữa các trình độ và chương trình đào tạo khác

Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì sinh viên có điều kiện để học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể phấn đấu học được hai hoặc ba bằng đại học

Trang 30

d Phương pháp giảng dạy

Trong đào tạo theo niên chế

Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình (đvht) tương đương với 15 tiết học lý thuyết ở trên lớp, 30 giờ thực hành thí nghiệm…, mỗi năm sinh viên đại học phải tích lũy khoảng 50 (đvht) nên chương trình đào tạo của của các ngành đào tạo như sau

Chương trình đào tạo Đại học 4 năm tương đương với 200 (đvht)

Chương trình đào tạo Đại học 5 năm tương đương với 250 (đvht)

Chương trình đào tạo Đại học 6 năm tương đương với 300 (đvht)

Trong đào tạo theo niên chế áp dụng rất nhiều phương pháp giảng dạy như thuyết trình, giảng dạy dựa trên vấn đề, semina, thảo luận nhóm, thực hành, thí nghiệm, đi thực tập thực tế cộng đồng, thực tập tốt nghiệp Tuy đã

có rất nhiều hội thảo về đổi mới công tác giảng dạy nhưng phương pháp học tập sinh viên ở trên lớp còn thụ động, chủ yếu là nghe giảng, ghi chép, học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng Về lượng giá còn chưa đa dạng hóa các loại hình lượng giá, hình thức lượng giá làm chuyên đề, làm bài tập lớn còn chưa được áp dụng rộng rãi

Trong đào tạo theo tín chỉ

Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên là tín chỉ (TC), 1 tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 – 45 tiết thực hành thí nghiệm Mỗi học kỳ sinh viên phải tích lũy không quá 14 tín chỉ, nên các chương trình đào tạo có khối lượng tín chỉ như sau:

Chương trình đào tạo đại học 4 năm không dưới 120 tín chỉ Chương trình đào tạo Đại học 5 năm không dưới 150 tín chỉ Chương trình đào tạo Đại học 6 năm không dưới 180 tín chỉ

Để chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định chuyển đổi chương trình đào tạo theo niên chế sang chương trình đào tạo theo tín chỉ theo tỷ lệ: cứ 1,5 ĐVHT quy đổi thành 1 TC

Trang 31

Như vậy trong đào tạo theo tín chỉ, thời gian có mặt ở trên lớp giảm đi 1/3 thay vào đó là thời gian tự học phải tăng lên Để tiếp thu được 1 tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Trong đào tạo theo tín chỉ yêu cầu về chuẩn đào tạo không hề thay đổi, trước mắt vẫn giữ nguyên và dần dần sẽ tăng lên theo yêu cầu của công tác kiểm định chất lượng Như vậy thời gian giảng dạy trên lớp giảm đi, thời gian tự học của sinh viên tăng lên trong khi không được giảm yêu cầu đánh giá Vậy làm thế nào để đảm bảo chất lượng Mấu chốt của vấn đề là phải đổi mới phương pháp giảng dạy Phải giảng dạy bằng phương pháp tích cực Các phương pháp giảng dạy trong đào tạo theo niên chế vẫn tiếp tục được phát huy các điểm mạnh, nhưng việc phát huy tính tích cực của sinh viên trong giờ học được đặt lên hàng đầu Để đáp ứng được yêu cầu này sinh viên phải nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp, giảng viên phải tăng cường cho sinh viên tự học ngay trên lớp bằng các biện pháp như nêu ra các vấn đề của bài giảng để sinh viên tìm ra cách giải quyết theo định hướng của giảng viên, tạo cho sinh viên có thói quen tự học

Trong đào tạo theo tín chỉ khi chuyển đổi từ 1,5 ĐVHT sang 1 TC tức

là từ 22,5 tiết giảng lý thuyết ở trên lớp (trong đào tạo theo niên chế) chỉ còn

12 tiết giảng lý thuyết + 6 tiết thảo luận ở trên lớp (trong đào tạo theo tín chỉ) việc tiếp tục giảng dạy bằng phương pháp truyền đạt 1 chiều không còn phù hợp nữa Nếu giảng viên cùng với phương tiện hỗ trợ (laptop + Projector) tăng tốc độ giảng lên 2 lần để không bị "cháy giáo án" thì sinh viên sẽ bị quá tải về thông tin và không phân biệt được các vấn đề chính, vấn đề phụ của bài giảng, từ đó không hiểu bài, không hiểu bản chất của vấn đề, dẫn đến chất lượng học tập giảm sút Đây là vấn đề rất lớn khi bước vào đào tạo theo tín chỉ

Hoặc có xu hướng giảng viên coi việc đọc trước bài giảng của sinh viên trước khi đến lớp đã có hiệu quả rồi, lên lớp chỉ giảng những vấn đề khó và trả lời các thắc mắc của sinh viên, kiểm tra nhận thức của sinh viên Nếu theo

Trang 32

án và sự tự học của sinh viên không đồng đều cũng không đạt được hiệu quả trong đào tạo

Phương châm giảng - dạy là học - hiểu, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên phải được tham gia vào từng vấn đề của bài giảng cho đến khi tất cả các vấn đề của bài giảng được làm sáng tỏ, được giải quyết dưới sự hướng dẫn của giảng viên

e Tự học trong đào tạo theo tín chỉ

Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với sinh viên tự học là vấn đề quan trọng nhất, sinh viên phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả sinh viên phải tự đọc tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn đề liên quan đều phải được đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay Sinh viên học ở trên lớp phải chịu khó ghi chép, hăng hái phát biểu, tích cực tìm hiểu, phấn khởi khi được giảng viên kiểm tra, vấn đề gì chưa rõ phải hỏi giảng viên cho rõ, nếu vẫn chưa hiểu thì trao đổi lại với nhóm học tập (thảo luận nhóm) Thảo luận nhóm là hình thức rất quan trọng, qua thảo luận nhóm sinh viên phát hiện những vấn đề mình còn thiếu hụt để tự bổ sung Những vấn đề đã nắm bắt được qua thảo luận nhóm cũng được khẳng định Tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo không phải để so sánh mà tìm ra cách

tổ chức đào tạo nào ưu việt hơn Mỗi cách tổ chức đào tạo đều phù hợp với một giai đoạn lịch sử nhất định, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định

Tìm ra sự khác nhau để thích ứng quản lý với hình thức tổ chức đào tạo mới - hình thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (xem người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học

là chính, phải lấy tự học làm cốt

Trang 33

1.2.5 Những nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ

a Nguyên lý dân chủ hóa

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời để đáp ứng nhiều mục tiêu, trong đó có

sự thay đổi về quan niệm giáo dục Từ quan niệm một nền giáo dục dựa trên quyền lực, theo đó người học chỉ có nhiệm vụ là phục tùng, là chấp nhận vô điều kiện chương trình mà cơ sở đào tạo quy định và nội dung mà người dạy truyền đạt, đến quan niệm dân chủ trong giáo dục Dân chủ trong giáo dục được thể hiện bằng các nỗ lực sau đây [1, tr.2]:

Quan tâm đến điều kiện của người học: quan niệm giáo dục dành cho tập thể (cả lớp học chung nội dung như nhau) nhường bước cho sư phạm cá thể hoá đó, người học ở đó được tạo nhiều điều kiện thích hợp để phát triển

Quan tâm đến nhu cầu và sở thích của người học: người học ngày càng

có nhiều tiếng nói trong suốt quá trình đào tạo của họ; chẳng những họ có quyền chọn lựa ngành nghề, mà họ còn có quyền thiết kế lộ trình đào tạo, nội dung đào tạo của chính họ (nguyên lý tiệc buffet), cũng như quyền tham gia xây dựng và tích luỹ kiến thức trong chừng mực cho phép

Quan niệm giáo dục xem người học làm trung tâm chính là biểu hiện tập trung nhất của việc trao quyền dân chủ cho người học càng ngày càng nhiều hơn

b Nguyên lý dạy học tích cực

Phát triển các tư tưởng giáo dục mới của các nhà triết học Châu Âu như J.J Rouseau, Thuyết Tiến bộ được J Dewey áp dụng trong Trường Thực nghiệm thuộc Đại học Chicago Ông cho rằng đã đến lúc các vấn đề về môn học phải phụ thuộc vào người học Bằng cách nhấn mạnh rằng các nhu cầu và mối quan tâm của người học cần phải được xem xét và bằng cách nhận ra rằng người học mang vào nhà trường cơ thể, tình cảm và tinh thần cùng với tâm trí của mình, các nhà tiến bộ đã thu hút được sự chú ý và lòng trung thành của các nhà giáo dục [1, tr.3]

Trang 34

Các nhà tư tưởng theo thuyết Tiến bộ cho rằng chân lý là tương đối, và giáo dục là nhằm giúp người học không ngừng tìm kiếm chân lý Vì thế, dạy học là hướng dẫn người học nắm bắt phương pháp khoa học: Phương pháp khoa học, còn được biết như suy nghĩ phản ảnh, giải quyết vấn đề và hiểu biết thực tế, đã trở thành mục đích lẫn kỹ thuật trong nhà trường tiến bộ Phương pháp khoa học là kỹ năng cần phải đạt được và phương thức tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề Đó chính là nền tảng của nguyên lý dạy học tích cực ngày nay

c Nguyên lý xã hội hóa giáo dục đại học

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong thời hiện đại ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại có tính năng động càng ngày càng cao, nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá giáo dục đại học nhờ sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông Xã hội hóa giáo dục đại học được xem là biện pháp tối ưu trong nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực ngày càng có hàm lượng tri thức cao và nâng cao trình độ dân trí Vì thế xã hội hoá giáo dục đại học cũng chính là biện pháp hữu hiệu

để thực hiện phương châm học tập suốt đời mà các nền giáo dục của các nước tiên tiến đang theo đuổi

Xã hội hoá giáo dục đại học được thể hiện qua việc:

Tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhiều người có thể tiếp cận với nền giáo dục đại học, bằng cách mở rộng cửa đón tiếp họ khi họ có điều kiện học đại học, bất kể tuổi tác

Xây dựng quy chế đào tạo đáp ứng được quỹ thời gian dành cho học tập của người học

Quy chế tốt nghiệp dựa trên số tín chỉ mà họ tích luỹ được, chứ không

gò bó ở khung thời gian cứng nhắc

Trang 35

1.3 Quan niệm về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

1.3.1 Quan niệm về quản lý đào tạo

- Quan niệm về Quản lý:

Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Thuật ngữ “quản

lý theo từ Hán Việt gồm hai quá trình tích nhau Quá trình “quản” là coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái ổn định Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống tổ chức vào thế phát triển Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức [23, tr.6]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [22, tr.1]

Theo Henri Fayol, xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng “quản lý

là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [22, tr.15]

Theo F W Taylor thì “Quản lý là biết được chính xác điều người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [22, tr 13]

Khái quát các nghiên cứu trên, tác giả thống nhất với quan niệm: “Quản

lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động

và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” [24]

Trang 36

1.3.2 Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

Quản lý đào tạo: là quá trình cơ sở đào tạo xây dựng mục tiêu, chương

trình, kế hoạch đào tạo, tổ chức, chỉ đạo giảng viên và sinh viên thực hiện chương trình và kiểm tra đánh giá các kết quả học tập của sinh viên theo yêu cầu chuẩn mực đã được đề ra trong chương trình [8, tr 28]

Quản lý đào tạo tín chỉ là quá trình mà các chủ thể quản lý xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả của hoạt động đào tạo nhằm tạo ra mức độ mềm dẻo trong việc cho phép người học chọn tiến độ hoàn tất chương trình đào tạo theo khả năng của mình trong việc lựa chọn ngành học, môn học theo nguyện vọng của bản thân

Trong quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ có các yếu tố sau:

Học phần: là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ

2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ [34, tr.1]

Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần (gồm điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần) nhân với trọng số tương ứng, sau đó chuyển thành điểm chữ như Bảng 1.1 sau:

Bảng 1.1 Mức điểm đối với môn học

(Nguồn: Quy chế 43 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Môn học bắt buộc: là môn học của chương trình đào tạo mà tất cả các sinh viên bắt buộc phải học và phải đạt yêu cầu

Trang 37

Môn học tiên quyết: Là các môn học mà sinh viên phải theo trước và đạt yêu cầu mới được theo học môn học tiếp theo

Các môn học tự chọn bắt buộc: là các môn học mà sinh viên bắt buộc phải chọn trong tập hợp các môn học theo chương trình đào tạo do trường quy định cho nhóm ngành

Các môn học tự chọn tự do: là tập hợp những môn học mà sinh viên có thể lựa chọn tùy ý

Lớp học phần: Bao gồm sinh viên học cùng một học phần, có cùng một thời khóa biểu của học phần đó Mỗi lớp học phần được gắn một mã số riêng Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn chuẩn tối thiểu quy định (thường là

30 sinh viên) thì lớp đó sẽ bị hủy

Lớp khóa học: là lớp học bao gồm các sinh viên được tổ chức theo đơn

vị lớp cố định theo khóa tuyển sinh do nhà trường sắp xếp ngay từ ngày đầu khóa học, đây là nơi hình thành các tổ chức đoàn thể của sinh viên

Khóa học: Là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình đào tạo Khóa học theo một chương trình đào tạo được quy định số học

kỳ chính hay thành số tín chỉ tối thiểu phải tích lũy [34, tr.3]

Năm học: Năm học thường được chia ra 3 học kỳ, gồm 2 học kỳ chính

và 1 học kỳ hè Học kỳ hè không phải là học kỳ bắt buộc học cho mọi sinh viên

Học kỳ: Là khoảng thời gian nhất định gồm một số tuần dành cho các hoạt động giảng dạy, học tập và một số tuần dành cho việc đánh giá các kiến thức (kiểm tra, thi, bảo vệ luận văn…)

Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần [34, tr.3]

Điểm trung bình chung tích lũy: là điểm trung bình của tất cả các học phần và được đánh giá bằng điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy

Trang 38

được từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xét và lúc kết thúc mỗi học kỳ [34, tr.3]

Xét công nhận tốt nghiệp: là việc sinh viên sẽ được nhận bằng tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện quy định trong Thông tư 57/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cụ thể [39, tr.3]:

Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo;

Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên; Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc ngành đào tạo chính và các điều kiện khác do Hiệu trưởng quy định;

Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng – an ninh đối với các ngành đào tạo không chuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các ngành không chuyên về thể dục - thể thao;

Có đơn gửi Phòng đào tạo đề nghị được xét tốt nghiệp trong trường hợp

đủ điều kiện tốt nghiệp sớm hoặc muộn so với thời gian thiết kế của khóa học

1.3.3 Nội dung về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

a Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản của các cơ quan nhà nước:

Đó là các quan điểm, chỉ đạo của Đảng, nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ Các Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về hoạt động chuyển hướng sang đào tạo theo học chế tín chỉ trong các giai đoạn cụ thể

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý trực tiếp về hoạt động đào tạo theo tín chỉ Các văn bản hướng dẫn cụ thể về đào tạo theo học chế tín chỉ Xây dựng các quy chế về đào tạo theo học chế tín chỉ, làm căn cứ để các trường đại học nói chung và đại học công lập nói riêng có cơ sở pháp lý triển khai hoạt động đào tạo theo tín chỉ đi vào thực tiễn

Trang 39

Các trường đại học công lập ban hành các quyết định về việc quy định đào tạo theo học chế tín chỉ cụ thể của mình Từ đó xây dựng các văn bản về chương trình, kế hoạch đào tạo cụ thể và định hướng cho sự phát triển trong tương lai Ban hành các Quyết định thành lập các bộ phận quản lý trực tiếp về đào tạo theo học chế tín chỉ Và cùng với đó là các văn bản báo cáo công việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ về Bộ Giáo dục và Đào tạo để Bộ nắm được tình hình và quản lý hoạt động này

b Quy định mục tiêu, chương trình; hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học

Quản lý mục tiêu đào tạo

Quản lý mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo được xây dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn Quản lý mục tiêu đào tạo bắt đầu từ việc xây dựng sứ mạng và tầm nhìn của nhà trường Sứ mạng và tầm nhìn được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của đào tạo đại học, nhưng phải phản ánh một cách cô đọng, đầy đủ và có sức thuyết phục mục tiêu cụ thể của nhà trường Việc xây dựng mục tiêu đào tạo cũng phải đảm bảo tính mềm dẻo, cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết

Trên cơ sở mục tiêu đào tạo cụ thể, trường đại học công lập triển khai xây dựng các nhiệm vụ đào tạo Ngoài những nhiệm vụ đào tạo đại học chung như hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ khoa học, mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo phải được thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh và được triển khai thực hiện Phải xây dựng kế hoạch định kỳ so sánh, đối chiếu mục tiêu với kết quả đạt được để đánh giá một cách toàn diện hoạt động đào tạo, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu, có biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo

Trang 40

Quản lý hoạt động dạy của giảng viên

Trong hoạt động đào tạo ở trường đại học, người giảng viên là chủ thể, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đào tạo Giảng viên bằng hoạt động dạy của mình tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học tập của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã được quy định phù hợp với mục tiêu đào tạo của mỗi nhà trường

Quản lý hoạt động dạy bao gồm các nội dung: quản lý việc người giảng viên thực hiện quy chế đào tạo; quản lý việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học Trong đào tạo theo học chế tín chỉ quy chế đào tạo có sự thay đổi đáng kể so với quy chế đào tạo tổ chức theo niên chế Hệ thống quản lý phải đảm bảo những điểm khác biệt này được các chủ thể của hoạt động dạy học (giảng viên, cố vấn học tập và sinh viên) nhận thức đầy đủ và tuân thủ nghiêm túc Phương pháp dạy học ở đại học, với tư cách tổ hợp các cách thức hoạt động, tương tác giữa thầy và trò trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học, có chức năng xác định những phương thức hoạt động dạy

và học theo nội dung nhất định nhằm thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ dạy học Đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏi phải đổi mới phương pháp giảng dạy Quản lý phương pháp dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ hướng đến đảm bảo các phương pháp đào tạo phải góp phần hình thành động cơ nhận thức, các phương pháp nhận thức, bồi dưỡng cho sinh viên phương pháp

tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên, phát huy năng lực vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học tỏ ra là một giải pháp hữu hiệu cho mục tiêu này

Kiểm tra, đánh giá là một yếu tố cấu trúc của hoạt động đào tạo Kết quả kiểm tra, đánh giá giúp giảng viên và nhà trường xác định mục tiêu đào tạo có phù hợp hay không, việc giảng dạy của giảng viên có thành công hay

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Trần Thanh Ái (2011), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ - các nguyên lý, thực trạng và giải pháp, đăng tải trên Website http:/dvhnn. org.vn// Sách, tạp chí
Tiêu đề: đăng tải trên Website http:/dvhnn
Tác giả: PGS.TS. Trần Thanh Ái
Năm: 2011
3. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Lê Thạc Cán - Khái niệm học phần trong tổ chức quá trình đào tạo đại học. Trong: “Thông tin chuyên đề Viện nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp - 8/1988” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm học phần trong tổ chức quá trình đào tạo đại học." Trong: “Thông tin chuyên đề Viện nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp - 8/1988
5. Lê Thạc Cán (2006), Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ. Báo cáo tại Tọa đàm về đào tạo theo tín chỉ ở Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2006), Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 2006
6. Đại học Đà Nẵng (2006), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường Đại học và cao đẳng Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về đào tạo theo học chế tín chỉ, Đà Nẵng, (11/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2006
7. Nguyễn Minh Đức (2007), Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Năm: 2007
8. Nguyễn Ngọc Hà (2010), Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 2010
11. Đặng Xuân Hải (2007), Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam: Đặc điểm và điều kiện triển khai, Tạp chí Khoa học Giáo dục, (22/7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2007), "Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam: Đặc điểm và điều kiện triển khai, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Năm: 2007
13. Lại Đức Hậu (2011), Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Học viện Phòng không - Không quân trong đào tạo theo học chế tín chỉ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Học viện Phòng không - Không quân trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Lại Đức Hậu
Năm: 2011
15. Bùi Quỳnh Hoa (2010), Quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng khi chuyển đổi sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ, luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng khi chuyển đổi sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Bùi Quỳnh Hoa
Năm: 2010
17. Phạm Thị Minh Huệ (2011), Quản lý hoạt động dạy - học trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động dạy - học trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia
Tác giả: Phạm Thị Minh Huệ
Năm: 2011
18. Đoàn Thị Dương Huyền (2012), Quản lý Nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Tác giả: Đoàn Thị Dương Huyền
Năm: 2012
19. Lê Viết Khuyến (1994), cải tiến việc quản lý đào tạo đại học theo học chế học phần - Trong: “ Kỷ yếu Hội nghị giáo dục đại học toàn quốc 1994” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Kỷ yếu Hội nghị giáo dục đại học toàn quốc 1994
Tác giả: Lê Viết Khuyến
Năm: 1994
20. Lê Viết Khuyến (2010), Quá trình chuyển đổi quy trình đào tạo hệ tín chỉ trong trường Đại học và cao đẳng ở Việt Nam, Bài giảng quản lý giáo dục, Học viện quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển đổi quy trình đào tạo hệ tín chỉ trong trường Đại học và cao đẳng ở Việt Nam
Tác giả: Lê Viết Khuyến
Năm: 2010
21. Nguyễn Trung Kiên (2007), Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ đối với hệ cử nhân sư phạm tại khoa Sư phạm - Đại học quốc gia, Luận văn Thạc sĩ, Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ đối với hệ cử nhân sư phạm tại khoa Sư phạm - Đại học quốc gia
Tác giả: Nguyễn Trung Kiên
Năm: 2007
22. Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Chí (2008), Lý luận Đại cương về quản lý, tài liệu giảng dạy cao học quản lý giáo dục, trường Đại học Giáo dục – ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Chí
Năm: 2008
23. Phạm Đình Lượng (2010), Quản lý sinh viên ở trường Đại học ngoại ngữ - Đại học quốc gia phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sinh viên ở trường Đại học ngoại ngữ - Đại học quốc gia phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
Tác giả: Phạm Đình Lượng
Năm: 2010
24. Bùi Văn Quân (2007), Giáo trình Quản lý Giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Giáo dục
Tác giả: Bùi Văn Quân
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
26. Lâm Quang Thiệp (2008), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ các học viện, trường đại học, cao đẳng, Học viện Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ các học viện, trường đại học, cao đẳng
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Năm: 2008
27. Lâm Quang Thiệp (2009), Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy đại học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, ngày 22/03/2009, tr.252 – 266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy đại học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Năm: 2009

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w