1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Khoa Học Công Nghệ, Thanh Quyết Toán Tài Chính, Nghiên Cứu Khoa Học, Quản Lý Tài Chính.pdf

92 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Chế Độ Thanh Quyết Toán Tài Chính Theo Kết Quả Nghiên Cứu Đối Với Hoạt Động Nghiên Cứu Khoa Học Thuộc Lĩnh Vực Xã Hội Nhân Văn
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Khoa Học Và Công Nghệ
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do nghiên cứu (9)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu (12)
  • 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (18)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (18)
    • 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (18)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (19)
    • 4.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu (19)
    • 4.2. Phạm vi thời gian nghiên cứu (19)
  • 5. Câu hỏi nghiên cứu (20)
  • 6. Giả thuyết nghiên cứu (20)
  • 7. Phương pháp chứng minh giả thuyết (21)
  • 8. Luận cứ chứng minh (21)
    • 8.1. Luận cứ lý thuyết (21)
    • 8.2. Luận cứ thực tiễn (22)
  • 9. Đóng góp của luận văn (22)
  • 10. Cấu trúc của luận văn (22)
  • CHƯƠNG 1 (24)
    • 1.1. Một số khái niệm cơ bản (24)
    • 1.2. Những vấn đề đặt ra trên phương diện lý luận (30)
  • CHƯƠNG 2 (35)
    • 2.1. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước (35)
      • 2.1.1. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học có sử dụng Ngân sách nhà nước từ các văn bản (35)
      • 2.1.2. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước (44)
    • 2.2. Quá trình xây dựng và thực hiện chế độ tự chủ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2002 -2014) (50)
      • 2.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học trong những năm qua của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (51)
      • 2.2.2. Xây dựng và thực hiện chế độ tự chủ thanh quyết toán tài chính (58)
  • CHƯƠNG 3. (73)
    • 3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp (73)
    • 3.2. Nhóm giải pháp (74)
    • 1. Kết luận (82)
    • 2. Khuyến nghị (83)
  • PHỤ LỤC (92)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TUẤN ANH HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN TUẤN ANH

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC

KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN TUẤN ANH

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC

KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Minh Hòa

Hà Nội, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN - 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT - 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU - 6

PHẦN MỞ ĐẦU - 7

1 Lý do nghiên cứu - 7

2 Lịch sử nghiên cứu - 10

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - 16

3.1 Mục tiêu nghiên cứu - 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - 16

4 Phạm vi nghiên cứu - 17

4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu - 17

4.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu - 17

5 Câu hỏi nghiên cứu - 18

6 Giả thuyết nghiên cứu - 18

7 Phương pháp chứng minh giả thuyết - 19

8 Luận cứ chứng minh - 19

8.1 Luận cứ lý thuyết - 19

8.2 Luận cứ thực tiễn - 20

9 Đóng góp của luận văn - 20

10 Cấu trúc của luận văn - 20

CHƯƠNG 1 - 22

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC - 22

LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - 22

1.1 Một số khái niệm cơ bản - 22

1.2 Những vấn đề đặt ra trên phương diện lý luận - 28

Trang 4

Kết luận Chương 1 - 31

CHƯƠNG 2 - 33

THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, - 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) - 33

2.1 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước - 33

2.1.1 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học có sử dụng Ngân sách nhà nước từ các văn bản 33

2.1.2 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước - 42

2.2 Quá trình xây dựng và thực hiện chế độ tự chủ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2002 -2014) - 48

2.2.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học trong những năm qua của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - 49

2.2.2 Xây dựng và thực hiện chế độ tự chủ thanh quyết toán tài chính trong nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2002 - 2014) - 56

Kết luận Chương 2 - 70

CHƯƠNG 3 - 71

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC - 71

LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - 71

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp - 71

3.2 Nhóm giải pháp - 72

Kết luận Chương 3 - 78

Trang 5

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 80

1 Kết luận - 80

2 Khuyến nghị - 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 84

PHỤ LỤC - 90

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập chương trình cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, lãnh đạo và cán bộ các phòng, khoa của trường, các đồng nghiệp nơi công tác và bạn bè Đến nay luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành Tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc của mình đến tất cả mọi người – những cá nhân và tổ chức đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần giúp cho bản luận văn này được hoàn thành

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập ở nước ta, khoa học và công nghệ có một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng, đổi mới và hội nhập của đất nước Những thành tựu đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực khoa học,

từ khoa học tự nhiên, công nghệ… đến khoa học xã hội và nhân văn đang dần

tự khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế tri thức ngày một phát triển để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từng bước hòa nhập với trình độ khoa học kỹ thuật chung của khu vực và thế giới Sự đóng góp to lớn

đó đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận: “Khoa học xã hội và nhân văn đã cung

cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng hệ thống quan điểm phát triển đất nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam”.[9; 74-75] Hoạt động khoa học và công nghệ trong hệ thống các trường đại học, nhất là nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế của các đại học trọng điểm/đầu ngành đã đóng góp một phần quan trọng vào thành tích chung đó

Nghiên cứu khoa học là một trong hai chức năng cơ bản của các trường đại học Việt Nam nói chung Đặc biệt, đối với các trường đại học trọng điểm/tốp đầu/đầu ngành thì hoạt động khoa học và công nghệ có vị trí quan trọng, mang tính chiến lược và tạo ra những yếu tố cho sự phát triển bền vững trong đào tạo và nghiên cứu Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học đã không ngừng được mở rộng

về phạm vi, hình thức hoạt động, nâng cao về chất lượng và hiệu quả khoa học, đóng góp một phần rất quan trọng vào sự nghiệp đào tạo và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa…của xã hội

Đối với các trường đại học, hoạt động khoa học và công nghệ là một

Trang 10

trong những nhiệm vụ quan trọng Nhưng, với các trường đại học trọng điểm, đầu ngành thì hoạt động này không những quan trọng mà còn có quan hệ trực tiếp đến sự phát triển và thương hiệu của nhà trường

Hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học vừa có những đặc điểm chung như hoạt động khoa học và công nghệ trong xã hội, lại vừa có

những đặc điểm riêng Cụ thể là: hoạt động khoa học và công nghệ mang tính

liên ngành; luôn gắn liền với nhu cầu đào tạo và phục vụ cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Và đầu tư cho hoạt động khoa học và

công nghệ trong trường đại học còn phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học

Đối với các đại học vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Hà Nội… thì nhiệm

vụ nghiên cứu khoa học có những bước tiến rõ nét, được triển khai trên tất cả các hướng từ nghiên cứu khoa học giáo dục, nghiên cứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển đất nước, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội ; hoạt động được diễn ra dưới nhiều hình thức, như hội thảo quốc gia và quốc tế, dự án, đề tài, chương trình, điền dã, khảo sát, khai quật, phục chế, dịch thuật

Tuy nhiên, để hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học

xã hội và nhân văn trong các trường đại học ngày càng phát triển và phục vụ

có hiệu quả cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu của lĩnh vực này; góp phần đắc lực cho xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của đất nước thì cần phải khắc phục những bất cập về chế tài trong các khâu quản lý, trong

đó cần tháo gỡ những vấn đề không phù hợp, mà cụ thể là chế độ thanh quyết toán tài chính

Trong những năm qua, các cơ quan quản lý hoạt động khoa học và công nghệ nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính…) đã xây dựng được nhiều văn bản nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, tạo điều kiện để

Trang 11

khoa học và công nghệ phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, không ngừng nâng cao hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đất nước Nhưng, khi vận dụng các văn bản đó vào công tác quản lý chung, nhất là việc thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học, đặc biệt là đối với nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn giai đoạn hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra,

cụ thể như sau: Một số định mức trong văn bản của Nhà nước qui định còn thấp so với giá cả thực tế, ví dụ định mức dịch tài liệu, định mức đi khảo sát nghiên cứu ở nước ngoài, định mức xây dựng các chuyên đề mức 1 và mức 2… Mặc dù theo văn bản của Nhà nước đã cho chủ trì đề tài tự chủ các mức chi, nhưng cơ quan cấp trên lại khống chế tổng kinh phí cho một đề tài, nên chủ trì đề tài không thể nâng mức chi lên được

Các văn bản qui định đối với hoạt động khoa học và công nghệ do Nhà nước đã ban hành là cơ sở pháp lý, là khung tài chính áp dụng cho hoạt động nghiên cứu khoa học của mọi lĩnh vực khoa học nói chung, nên không chứa đựng được hết các nội dung chi và mức chi đối với tất cả các đề tài ở mọi lĩnh vực nên trong quá trình xây dựng dự toán kinh phí và cơ quan cấp trên thẩm định kinh phí của đề tài cũng gặp nhiều khó khăn

Năm 2012, năm đánh dấu bước chuyển biến mới về khoa học và công nghệ bằng sự ra đời của một nghị quyết chuyên đề về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01-11-2012 - Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6, khóa XI) Nghị quyết này đã chỉ ra một số hạn chế của cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ những năm qua, trong đó một

điểm đáng chú ý là: “Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm

được đổi mới” [9; 76] Và, một vấn đề cấp bách và cũng là nhiệm vụ căn bản

được đặt ra là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế

quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển

Trang 12

khoa học và công nghệ: phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán

bộ cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [9; 78]

Đặc biệt, với chủ trương của Đảng và Nhà nước là thực hiện một xã hội học tập, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi mặt thì vấn đề tự chủ về tài chính, quản lý các nguồn tài chính là nhiệm vụ rất quan trọng để có thể vừa hoàn thành nhiệm vụ được giao, vừa phát triển nâng cao uy tín, vị thế của các đại học, trong đó không thể thiếu vắng các đại học đầu ngành, cơ bản

Từ những vấn đề được đặt ra vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan

trọng nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài

chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (nghiên cứu trường hợp Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)” làm Luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ Nghiên cứu chủ đề

trên, nhằm góp phần khảo sát, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp về công

tác quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, mà trong đó

trọng tâm là Chế độ thanh quyết toán lấy hiệu quả nghiên cứu làm căn cứ

nhằm đưa hoạt động nghiên cứu khoa học ngày một hiệu quả hơn

hợp, nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, đó là sách Khoa học và Công nghệ thế giới

những năm đầu thế kỷ XXI, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ, thuộc

Bộ KH&CN xuất bản, 2006, đã khái quát kinh nghiệm các nước, như Mỹ, Canada,

Trang 13

Cộng hoà Liên bang Đức, Anh Quốc, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, về đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN, những nhận thức và quan niệm về vai trò của nghiên cứu khoa học và công nghệ, tầm quan trọng của nguồn lực tài chính, cơ cấu nguồn đầu tư tài chính và trình bày các biện pháp thực hiện đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ trong các trường đại học Và, chính những thông tin, kết quả được công bố từ các nguồn tài liệu trên đã được tác giả luận văn kế thừa và vận dụng trong quá trình thực hiện chủ đề trên

Ở Việt Nam, những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng sách xuất bản đề cập đến những vấn đề chung về lý luận

và phương pháp luận khoa học, về khoa học chính sách và luật khoa học và công nghệ, về cơ chế quản lý hoạt động khoa học, trong đó có vần đề quản lý

tài chính cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ nói chung Cụ thể là: Luật

Khoa học và Công nghệ (2003, NXB CTQG HN); Lý luận và phương pháp

luận khoa học (Vũ Cao Đàm, 2009, NXB ĐHQG HN); Giáo trình Khoa học chính sách (Vũ Cao Đàm, 2010, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội)

Về các đề tài nghiên cứu, có thể nêu một số công trình thuộc đề tài

nghiên cứu cấp Bộ, như: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt

động KH&CN trong các Trường Đại học Việt Nam (đề tài cấp Bộ, mã số:

B2003.38.76TĐ, Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm); Hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính đối với các Trường Đại học công lập ở Việt Nam (đề tài cấp Bộ,

mã số: B2005.38.125, Phạm Hồng Chương, 2005); Đổi mới tổ chức và quản

lý hoạt động Nghiên cứu Khoa học kinh tế phục vụ đào tạo và thực tiễn (Đề

tài cấp Bộ B2003.38.70,Vũ Duy Hào làm chủ nhiệm) Gần đây nhất, năm

2011, đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội đã được thực hiện với chủ đề: “Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đào tạo và hoạt động khoa học khoa học xã hội & nhân văn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Qua nghiên cứu và khảo sát trường hợp Đại học Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), mã số: QGTĐ.12 –

17, do PGS.TS Phạm Xuân Hằng làm Chủ nhiệm đề tài

Trang 14

Một số nội dung chủ yếu được đề cập và nhấn mạnh của các công trình nghiên cứu trên là: Đề cập đến các khái niệm, về cơ chế quản lý tài chính, về ngân sách nhà nước; phân tích cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học trong các trường Đại học Việt Nam; phân loại nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động này… Đó là những kết quả nghiên cứu rất hữu ích cho luận văn này Nhưng, để có được những gợi mở cụ thể về chế độ thanh quyết toán tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở các đại học trọng điểm, chuyên ngành thì chưa được đề cập đến một cách cụ thể, mới chỉ dừng lại ở từng nội dung, vấn đề riêng lẻ chứ chưa được trình bày một cách có hệ thống

Về cơ chế tài chính áp dụng cho khoa học và công nghệ nói chung và vấn đề đầu tư, quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học ở các trường đại học công lập Việt Nam còn được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu dưới hình thức bài viết công bố trên tạp chí chuyên ngành, hội thảo, như:

Tài chính với việc phát triển khoa học - công nghệ, (Hoàng Ngọc Hà, 2003,

Kỷ yếu Hội thảo Học viện Tài chính, 3/2003); Xã hội hoá hoạt động KH&CN:

Nên hiểu thế nào? (Nguyễn Văn An, 2006,T/c Hoạt động khoa học, 3/2006); Công tác Nghiên cứu Khoa học trong các Trường Đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2005 và định hướng 2006-2010 (Hoàng Ngọc Hà, 2006, Tạp chí

Hoạt động khoa học, 2/2006); Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách Nhà

nước đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ (Mai Ngọc Cường, Kỷ yếu

Hội thảo khoa học, Kiểm toán Nhà nước - Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà

Nội, 8/2006); Về cơ chế quản lý tài chính chương trình KH&CN trọng điểm

cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005 (Nguyễn Trường Giang, Tạp chí

Kiểm toán, 9/2006); Thông tư liên tịch số 93/2006/TTL/BTC-BKHCN: Tự chủ

hơn trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án (Nguyễn Minh Hoà,

Tạp chí Hoạt động khoa học, 11/2006); Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó

"đong đếm" (Minh Nguyệt, Tạp chí Hoạt động khoa học, 9/2006); Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN (Nguyễn Thị Anh Thư, Tạp chí Hoạt

Trang 15

động khoa học, 3/2006); Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp

khoa học giai đoạn 2001-2005, những bất cập và kiến nghị (Trần Xuân Trí,

Tạp chí Kiểm toán, 9/2006); Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012

(641): Những vấn đề mới trong xây dựng đề tài, dự án khoa học & công nghệ

cấp Nhà nước và đổi mới cơ chế tài chính trong nghiên cứu, triển khai của

Trần Ngoc Hiên; Mô hình đại học nghiên cứu ở Việt Nam (Nguyễn Thị Lê

Hương, Đào Hiền Chi, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012 (641) Gần đây nhất, trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 14-2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã cập nhật một số nội dung về Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 qua cuộc trao đổi và phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nghiêm Vũ Khải, trong đó có đề cập đến cơ chế tài

chính cho Khoa học và Công nghệ; Bài Tăng cường năng lực Nghiên cứu

Khoa học của đại học (GS.TSKH.NGND Nguyễn Thiện Phúc, Tạp chí Khoa

học và Công nghệ Việt Nam, số 2+3 - 2013), Đổi mới cơ chế tài chính cho

hoạt động Khoa học và Công nghệ (Liêu Thị Ngọc Sương, Tạp chí Khoa học

và Công nghệ Việt Nam, số 2+3 - 2013); Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu

ngân sách Nhà nước cho Khoa học và Công nghệ (Đinh Thị Nga, Tạp chí

Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 14-2013) Các công trình trên đã nêu những nội dung cơ bản sau: Khẳng định vai trò, tầm quan trọng và sự đóng góp của các trường đại học vào sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nước nhà, nhất là từ sau đổi mới đến nay; nêu ra những vấn đề xung quanh việc đổi mới nhận thức mối quan hệ giữa “đội quân thứ nhất” - lực lượng khoa học ở các trường đại học với việc thực hiện phát triển khoa học và công nghệ hiện nay; Về cơ chế tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, chế tài quản lý tài chính theo chế độ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này; Gợi mở những vấn đề về tự chủ tài chính trong nghiên cứu khoa học của các trường đại học và đưa ra những bất cập cần giải quyết Tuy nhiên,

vì nhiều lý do nên các công trình này ít đề cập đến cơ chế thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trang 16

có sử dụng ngân sách nhà nước ở các trường đại học; thậm chí chưa chú trọng đến phương thức thanh toán lấy kết quả nghiên cứu, sản phẩm công bố làm căn cứ, điều kiện để thanh quyết toán… Do vậy, trong phạm vi luận văn này, ngoài việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã nêu trên, sẽ nghiên cứu về cơ chế tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, qua khảo sát một đơn vị cụ thể là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - Là một trong những trung tâm, một đại học đầu ngành và trọng điểm trong hệ thống đại học Việt Nam có sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu các khoa học khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay

Một mảng tư liệu không kém phần quan trọng để cung cấp những thông tin, số liệu, đồng thời gợi mở những vấn đề trong nghiên cứu của luận văn này là các Luận án, Luận văn của các nghiên cứu sinh, học viên cao học đã

thực hiện Cụ thể là: Đổi mới vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động

Khoa học Công nghệ ở Việt Nam hiện nay (Vũ Thị Hiền, 2005, LVThS); Biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng Nghiên cứu Khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (Đỗ

Văn Thắng ,2006, LVThS); Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho chúng tôi trong khi thực hiện luận văn

Một trong những nhóm tài liệu rất quan trọng, có tính chỉ đạo để thực hiện luận văn là: Nghị quyết 6, khóa XI, số 20-NQ/TW về phát triển Khoa học và Công nghệ phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; các thông tư liên bộ: Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN ngày 04-10-2006 về việc “Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước”, “Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07-5-2007 về việc “Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước” và Thông tư số 97/2010/TT-BTC,

Trang 17

ngày 06-7-2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập

Ngày 18-6-2013, Quốc hội đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ (Luật số 29/2013/QH13) Bộ luật này được đánh giá là lời giải cho bài toán quản lý hoạt động và phát triển khoa học và công nghệ của đất nước Bộ Luật

đã đề cập đến những vấn đề như: Những đề tài, chương trình khoa học và công nghệ phải có sản phẩm khoa học cuối cùng được sử dụng/xã hội hóa, có địa chỉ ứng dụng rõ ràng Nghĩa là trước khi phê duyệt, trong thuyết minh đề tài phải nêu ra nghiên cứu này được ứng dụng vào lĩnh vực gì, đơn vị nào ứng dụng, để ứng dụng thì cần bố trí nguồn lực và kinh phí bao nhiêu

Những nội dung cơ bản của các tài liệu trên là cơ sở lý luận và pháp lý của nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Những vấn đề được quan tâm là: Về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, trong đó có những định hướng, cơ chế, khung pháp lý trong quản lý liên quan trực tiếp đến chế độ thanh quyết toán tài chính trong nghiên cứu khoa học được sử dụng ngân sách nhà nước

Gần đây nhất, Nghị quyết 6 (khóa XI) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ ra những bất cập trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ,

cụ thể là: Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, cơ chế tài chính còn chưa hợp lý Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp Đầu tư nguồn lực cho khoa học và công nghệ chưa tương xứng Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khoa học và công nghệ còn thiếu chủ động, quyết liệt Chưa có các giải pháp đồng bộ và

cơ chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả trong quản lý Và, chưa tạo được môi

Trang 18

trường minh bạch trong hoạt động khoa học và công nghệ; thiếu quy định về dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Đây là một văn kiện rất quan trọng đối với công tác quản lý hoạt động khoa học của nước ta trong thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới

và hội nhập nói chung, đặc biệt có ý nghĩa lý luận sâu sắc đối với những người làm chính sách quản lý hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay Luận văn sẽ quán triệt tinh thần, chủ trương trên của Đảng trong quá trình nghiên cứu về đổi mới và hoàn thiện cơ chế thanh quyết toán tài chính của hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong trường đại học

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn là; trên cơ sở khảo sát các văn bản về quản lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà nước, nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác thanh quyết toán hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội để đề xuất giải pháp hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu cuối cùng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; hạn chế những bất cập để giảm nhẹ các thủ tục thuần túy hành chính trong chế độ thanh quyết toán; và đảm bảo quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách hiệu quả, phục vụ tốt cho sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát và phân tích các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ, trong đó chú trọng đến mảng văn bản quy định về chế

độ tài chính, quản lý ngân sách, xây dựng dự toán và chế độ thanh quyết toán tài chính đối với các nhiệm vụ hoạt động khoa học công nghệ trong những năm qua (từ 2002 đến nay) Trên cơ sở đó, làm rõ thêm những bất cập trong

Trang 19

cơ chế quản lý tài chính hiện nay đối với nghiên cứu khoa học của các ngành khoa học có tính đặc thù ( như lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn)

- Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học, đặc biệt là chế độ thanh quyết toán tài chính trong nghiên cứu khoa học của một trường đại học chuyên ngành về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) Trên cơ sở đó để có thêm cơ sở thực tiễn xác định sự phù hợp, hay không phù hợp và những vấn đề cần bổ sung, chỉnh sửa trong các văn bản quản lý tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ hiện nay, nhất là đối với các ngành khoa học có tính đặc thù trong trường đại học

- Từ kết quả nghiên cứu của hai nhiệm vụ trên, Luận văn đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói chung và hoạt động khoa học đó trong các trường đại học nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có sử dụng Ngân sách nhà nước ở các trường đại học

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Chế độ thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có sử dụng Ngân sách nhà nước (khảo sát, nghiên cứu các văn bản của Nhà nước; thực trạng thực hiện khâu thanh quyết toán tài chính trong hoạt động khoa học của Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

4.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu

Phạm vi thời gian nghiên cứu: trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến nay Cụ thể là, khảo sát, nghiên cứu các văn bản có liên quan đến quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ của Nhà nước đã ban hành và

Trang 20

được áp dụng từ năm 2002 đến nay; Khảo sát và đánh giá khâu thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2002 đến nay

5 Câu hỏi nghiên cứu

Hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả đầu ra như thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Chế độ thanh quyết toán tài chính hiện nay có tác động không tích cực

đến hoạt động nghiên cứu khoa học

Ví dụ : Các thủ tục thanh, quyết toán đều do cơ quan quản lý nhà nước quy định, mà không dựa vào đề xuất của các tổ chức nghiên cứu khoa học,

vào thực tế của hoạt động chuyên môn, không mang tính cập nhật

- Các biện pháp hoàn thiện cơ chế tài chính:

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện các văn bản

về cơ chế chính sách tài chính phù hợp với tình hình thực tế, các định mức phải được điều chỉnh thường xuyên, phù hợp với giá cả thị trường và đánh giá đúng giá trị sức lao động đối với loại hình lao động đặc biệt - lao động trí óc

Đối với các đơn vị thực hiện: Thực hiện tốt các qui định của nhà nước, nhưng trong quá trình triển khai thực hiện phải chủ động đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền về các văn bản qui định nội dung chi, mức chi và phương thức thanh toán không còn phù hợp, không đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động nghiên cứu khoa học

Để thực hiện các nội dung của giả thuyết nghiên cứu, chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi gồm các câu hỏi, nội dung có liên quan đến chế độ thanh quyết toán tài chính đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay; về sản phẩm khoa học cuối cùng của nhiệm vụ khoa học (đề tài, dự án, chương trình ); về sự gắn kết giữa 3 yếu tố trong quản lý hoạt động khoa học công nghệ: Kinh phí khoán - sản

Trang 21

phẩm cuối cùng - hiệu quả ứng dụng; về quyền hạn và trách nhiệm của tập thể,

cá nhân đối với chất lượng của sản phẩm khoa học cuối cùng trước khi thanh quyết toán tài chính để điều tra, thu thập ý kiến, quan điểm của các nhà quản

lý, giảng viên, nhà khoa học hiện đang làm việc tại Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

7 Phương pháp chứng minh giả thuyết

Để chứng minh và làm rõ các giả thuyết trên, tác giả của luận văn sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp tiếp cận và phân tích tài liệu: Là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình khảo sát các văn bản về quản lý tài chính hoạt động khoa học cộng nghệ của Nhà nước từ năm 2002 đến nay; phân tích các tài liệu có đề cập đến việc thực hiện công tác quản lý tài chính trong hoạt động khoa học từ năm 2002 đến nay của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Phương pháp tiếp cận, khảo sát trường hợp nghiên cứu đại diện, điển hình trong môi trường đại học thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đó là công tác thực hiện chế độ thanh quyết toán đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn đại diện một số nhà quản lý khoa học, các nhà khoa học và giảng viên đã có thâm niên làm việc tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

8 Luận cứ chứng minh

8.1 Luận cứ lý thuyết

Làm rõ một số khái niệm: Chế độ thanh quyết toán tài chính, quản lý tài chính, Ngân sách nhà nước, nghiên cứu khoa học, tự chủ tài chính, tự chủ trong hoạt động nghiên cứu khoa học

Trang 22

8.2 Luận cứ thực tiễn

Thông qua các tư liệu thu thập được để phân tích và làm rõ tác động không tích cực đến hoạt động nghiên cứu khoa học của những điểm, nội dung bất cập, không phù hợp của chế độ thanh quyết toán tài chính hiện nay, đặc biệt đối với hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Từ đó đưa ra một số giải pháp có thể ứng dụng nhằm góp phần hoàn thiện chế

độ thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước

9 Đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác

động của chế độ thanh quyết toán đến hoạt động nghiên cứu khoa học có sử dụng Ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay với mục đích đưa ra cơ sở

lý luận nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó có cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân

văn

- Về mặt thực tiễn: Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện chế độ thanh

quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu cuối cùng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; hạn chế những bất cập để giảm nhẹ các thủ tục thuần túy hành chính trong chế độ thanh quyết toán; và đảm bảo quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách hiệu quả, phục vụ tốt cho sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học hiện nay trong trường đại học, nhất là các đại học đầu ngành, nghiên cứu khoa học cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Đồng thời, có thể ứng dụng các giải pháp trên để góp phần hoàn thiện cơ chế thanh quyết toán tài chính trên các văn bản pháp quy nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ có sử dụng Ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 23

nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Chương 2 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 Những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trang 24

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Khi nghiên cứu về quản lý, sử dụng tài chính trong hoạt động khoa học

và công nghệ ở Việt Nam nói chung, chế độ thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động trên tại các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước nói riêng cần phải bắt đầu từ những khái niệm cơ bản có liên quan đến những nội dung trên

Theo Từ điển Wikipedia tiếng Việt (Bách khoa toàn thư mở):

Thứ nhất, về Tài chính

Bản chất của tài chính là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế; Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền Và phân phối là một trong những chức năng cơ bản của tài chính Cụ thể: Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính

được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội Như vậy,

Trang 25

những vấn đề cơ bản của Tài chính là: Các quan hệ tài chính, tổng hợp các

mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền; Phân phối là một trong những chức năng cơ bản và là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành Cho nên, khi xây dựng cơ chế quản lý tài chính cho bất

kỳ một hoạt động nào trong xã hội, nhất là hoạt động đó được thụ hưởng ngân sách công thì phải coi đó là nền tảng lý luận, là những nội dung và nguyên tắc

cơ bản nhất trong quá trình thực hiện

Thứ hai, về Ngân sách nhà nước (NSNN)

Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16-12-2002 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Thứ ba, về Quyết toán Ngân sách nhà nước

Quyết toán Ngân sách nhà nước là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại

quá trình lập và chấp hành NSNN Quyết toán NSNN được thực hiện tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách ở những chu trình tiếp theo

Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc chấp hành NSNN cũng như các chính sách tài chính ngân sách của một hoạt động Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn

vị sử dụng ngân sách, cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra, kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của mỗi quốc gia

Thứ tư, về Cơ chế tài chính

Cơ chế tài chính là tổng thể các biện pháp, hình thức tổ chức quản lý

Trang 26

quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế tài chính phải phù hợp và thích ứng với cơ chế quản lý kinh

tế của từng giai đoạn phát triển của xã hội” Và, cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, trong đó có nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học cũng là tổng thể các biện pháp, các hình thức quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong khuôn khổ quy định nhà nước

Thứ năm, về Chi thường xuyên

Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước Xét theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên bao gồm: chi cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có chi cho các sự nghiệp nghiên cứu khoa học Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế

mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước

Từ những nội dung cơ bản của các khái niệm về Ngân sách nhà nước

(NSNN), Quyết toán ngân sách nhà nước, Chi thường xuyên cho thấy: Các khoản thu, chi trong dự toán được thực hiện trong một năm; nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm; chi thường xuyên bao gồm: Chi cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có chi cho các sự nghiệp Nghiên cứu Khoa học Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước là những căn cứ, những định tính để xây dựng cơ chế sử dụng,

quản lý và thanh quyết toán Ngân sách nhà nước trong hoạt động khoa học và công nghệ có sử dụng Ngân sách nhà nước

Thứ sáu, về Hoạt động khoa học và công nghệ

Trang 27

Hoạt động khoa học và công nghệ là các hoạt động có hệ thống liên

quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn Như vậy, hoạt động khoa học và công nghệ có những đặc trưng là: Tính sáng tạo, tính mới và các quan điểm tiếp cận là: Hệ thống, phát triển, thực tiễn và khách quan

Thứ bảy, về Khoa học Xã hội và Nhân văn

Cũng theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Khoa học xã hội” bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về các phương diện con người của thế giới: Nhân học, Nghiên cứu về văn hoá, Kinh tế học, Giáo dục, Địa lý học nhân văn, Sử học, Ngôn ngữ học, Khoa học chính trị, Tâm lý học, Chính sách xã hội, Chính sách xã hội học, Xã hội học, Phát triển xã hội học, Khoa học thư

viện…

Còn “Khoa học Nhân văn” bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về: ngôn ngữ học (các ngôn ngữ cổ điển và hiện đại), văn học, triết học, tôn giáo, các ngành nghệ thuật như nhạc và kịch Những ngành nhân văn khác như lịch

sử, nhân học, các lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu truyền thông, nghiên cứu văn hóa, luật, và ngôn ngữ học…

Một đặc điểm khác với các ngành khoa học và công nghệ khác là, nghiên cứu các ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên, những phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân tích, lập luận, hoặc suy đoán, và có đáng kể yếu tố lịch sử - khác với những cách tiếp cận chủ yếu dựa trên thực nghiệm của các ngành khoa học tự nhiên

Các khái niệm về Hoạt động Khoa học và Công nghệ, Khoa học Xã hội

và Nhân văn đều có điểm chung là các hoạt động mang tính hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ Nhưng đối

với khoa học xã hội và nhân văn thì, mọi hoạt động nghiên cứu đều sử dụng

các phương pháp chủ yếu là phân tích, lập luận, hoặc suy đoán và có yếu tố

Trang 28

lịch sử, chứ không phải dựa trên thực nghiệm như các ngành khoa học tự

nhiên

Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ nói chung, đòi hỏi phải có tính mới và không thể loại trừ tính rủi ro khi triển khai thực hiện Trong nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cả hai tính đặc thù đó đều có, nhưng sự thể hiện của nó không rõ ràng, khó nhận biết được ngay như đối với lĩnh vực khoa học kỹ thuật Chính vì thế, hai đặc điểm này có ảnh hưởng đến chế độ khoán và thanh quyết toán tài chính Vì, trong lộ trình tìm được tính mới trong sản phẩm nghiên cứu khoa học của một số ngành Sử, Ngôn ngữ, Xã hội học có nhiều khoản chi cho các hoạt động có nguy cơ không mang lại kết quả như đề án/đề tài đã đặt ra vì những yếu tố rất khách quan Hơn nữa, vì

có những khoản chi cho việc phát hiện cái mới không nằm trong khoản mục đã quy định, thì lại cần phải có chế độ chi/thanh quyết toán khác với sự quy định cũ

Vì vậy, chế độ thanh quyết toán tài chính phải có sự bổ sung, điều chỉnh theo cho phù hợp

Do yếu tố khách quan, nên sự rủi ro trong nghiên cứu có thể sảy ra, như: Triển khai nghiên cứu không mang lại kết quả gì?, hoặc, có sản phẩm nghiên cứu nhưng không đạt được như nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu đề ra Hiện tượng này không chỉ có trong quá trình tác nghiệp nghiên cứu trong khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ mà rất dễ gặp phải khi nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn Cũng chính vì vậy, để hạn chế những bất cập có thể xảy ra trong quá trình thanh quyết toán tài chính, khi xây dựng cơ chế thanh quyết toán tài chính cần có những phương thức thanh quyết toán phù hợp với từng ngành khoa học có tính đặc thù

Cho nên, khi xây dựng chế độ quản lý, thanh quyết toán tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học các ngành khoa học xã hội và nhân văn cần chú ý đến những đặc điểm này để có những giải pháp tốt

Từ tính đặc thù của lĩnh vực khoa học này, khi xây dựng các chính sách, nhất là chính sách về quản lý tài chính cần coi đó là cơ sở thực tiễn để đưa ra

Trang 29

chế tài quản lý đúng, phù hợp và tạo các yếu tố thuận để khoa học xã hội và nhân văn nước ta hoạt động có hiệu quả, phát triển và bền vững

Thứ tám, về Đại học và Đại học nghiên cứu

Trong Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia, Wikipedia tiếng Anh định nghĩa về đại học nghiên cứu như sau: A university is an institution of higher education and research which grants academic degrees in a variety of subjects and provides both undergraduate education and postgraduate education (Có thể dịch là: “Trường Đại học là một tổ chức giáo dục bậc cao và nghiên cứu,

có chức năng đào tạo trình độ hàn lâm về các chủ đề khác nhau, cả bậc đại học và sau đại học”); Wikipedia tiếng Pháp định nghĩa về đại học nghiên cứu là:Une université est un établissement qui fédère en son sein la production (recherche), la conservation (publications et bibliothèques) et la transmission (études supérieures) de différents domaines de la connaissance Elle se distingue en cela des écoleset des grandes écoles, qui sont centrées sur la seule transmission d'un domaine bien défini de la connaissance (Có thể dịch là: “Trường Đại học là một tổ chức liên kết trong lòng nó cả hai hoạt động: sản xuất (nghiên cứu), tàng trữ (ấn phẩm, thư viện) và truyền bá (đào tạo đại học) về các lĩnh vực tri thức khác nhau Trường Đại học phân biệt với các Trường Đại học thành viên (école) ở chỗ, các trường thành viên chỉ đào tạo theo một lĩnh vực tri thức xác định”) Như vậy, đã là đại học, chức năng cơ

bản của nó không chỉ có nhiệm vụ đào tạo mà phải nghiên cứu [15]

Đại học nghiên cứu có những đặc điểm sau: Tính tự chủ cao, tự chịu trách nhiệm cao, là nơi giao thoa của ba chức năng: Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội; Thời gian dành cho nghiên cứu khoa học và dịch vụ tương đối lớn Như vậy, trường đại học có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động khoa học và công nghệ của đất nước, nhất là nghiên cứu cơ bản, chiếm tới 50% tổng số kinh phí của cả nước; với ba thế mạnh: Tiềm năng chất xám của đội ngũ cán bộ cao; lực lượng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học (sinh viên sau đại học và thực tập sinh sau Tiến sĩ) có thường xuyên và

Trang 30

hùng hậu và tạo ra hiệu quả kép (sản phẩm khoa học và công nghệ và sản phẩm đào tạo)” Những đặc điểm, chức năng và cả tiềm năng to lớn này có ở

cả trường đại học khoa học cơ bản, chuyên sâu về khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta Và để đại học này đảm đương được các nhiệm vụ xã hội trên, thì cần phải có một chế độ tài chính phù hợp với tính đặc thù khoa học xã hội của nó

1.2 Những vấn đề đặt ra trên phương diện lý luận

Từ những nội dung chủ yếu của các khái niệm về Ngân sách nhà nước

(NSNN), Quyết toán ngân sách nhà nước (QTNSNN), Chi thường xuyên (CTX), Hoạt động Khoa học và Công nghệ (HĐKH&CN), Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV), Đại học và Đại học nghiên cứu (ĐH&ĐHNC) có thể đưa

ra những vấn đề sau:

Thứ nhất: Các khoản thu, chi thuộc ngân sách Nhà nước cho mọi hoạt

động của xã hội, trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học đều gắn liền với hiệu quả của mỗi hoạt động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Cũng chính vì vậy, nội dung các khái niệm trên là căn cứ để xây dựng cơ chế sử dụng, quản lý và thanh quyết toán Ngân sách nhà nước cho mọi hoạt động có sử dụng Ngân sách nhà nước

Thứ hai: Hoạt động Khoa học và Công nghệ, trong đó có nghiên cứu

Khoa học Xã hội và Nhân văn là các hoạt động mang tính hệ thống gắn kết với phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước; nhưng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có nhiều điểm khác với các ngành khoa học tự nhiên

Thức ba: Ở Việt Nam, khái niệm trường đại học đào tạo định hướng

nghiên cứu lần đầu tiên chính thức được đặt ra tại Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy

hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 Quan

điểm quy hoạchcủa Chính phủ về xây dựng đại học nghiên cứu là:

Trang 31

“Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của công

nghiệp hóa và hiện đại hóa; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước; góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài; thực hiện điều chỉnh cơ cấu hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội; gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học

và đời sống xã hội;…” [33] Quan điểm trên đã được cụ thể trong các Giải

pháp thực hiện như sau:

Nhóm giải pháp về đầu tư, huy động vốn:

- Từng bước tăng đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, đồng thời tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước;

- Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục;

- Thu hút các nguồn vốn ODA và FDI đầu tư cho giáo dục đại học;

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cung cấp các dịch vụ chất lượng cao theo nhu cầu xã hội nhằm tăng thu nhập cho các trường

- Ban hành chính sách thu hút, sử dụng các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy ở trường đại học, cao đẳng; ” [33]

Để hệ thống các trường đại học có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập, thì giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020 cần phải:

“Tập trung phát triển mạnh đội ngũ giảng viên, nâng chất lượng các

trường đại học, cao đẳng lên một bước; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến; tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc đổi mới phương pháp đào tạo ở các trường; tiếp tục phát triển, mở rộng mạng lưới trường đại học, cao đẳng một cách phù hợp, theo đúng Quy

Trang 32

hoạch”[33]

Như vậy, không chỉ có quan điểm xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học ở mức độ ”phổ cập” như trước đây, mà cần quan tâm, chú trọng và đầu tư phát triển đại học nghiên cứu, trọng điểm, mũi nhọn để lấy đó làm nền tảng cho sự đột phá trong hoạt động khoa học và công nghệ của nước nhà, đồng thời là nơi chủ yếu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

về khoa học và kỹ thuật

Thứ tư: Khoa học xã hội và nhân văn là một ngành khoa học nghiên

cứu về xã hội và con người Nhiệm vụ của khoa học xã hội là cung cấp các luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển đất nước nhanh và bền vững trên các mặt trận kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa

Có nhiều ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội Điển hình như ngành Xã hội học, trên cơ sở nhận diện hiện trạng xã hội và sử dụng các lý thuyết dự báo, các nhà xã hội học sẽ dự đoán sự vận động của xã hội trong tương lai Hay như ngành Kinh tế học, ngành này nghiên cứu về quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ Cũng chính từ tầm chiến lược, vai trò và vị trí quan trọng của hoạt động khoa học xã hội và nhân văn trong toàn bộ quá trình vận động, phát triển của xã hội, nên Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến lĩnh vực khoa học này Đối với khoa học xã hội và

nhân văn, Đảng ta xác định định hướng nhiệm vụ chủ yếu sau: “Khoa học Xã

hội và Nhân văn tập trung vào nghiên cứu lý luận và tổng ết thực tiễn quá trình đổi mới đất nước và dự báo xu hướng phát triển Tiếp tục cung cấp luận

cứ làm r con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở iệt Nam, phục vụ xây dựng đường lối, chính sách phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới Chú trọng các nghiên cứu về mô hình và chiến lược phát triển, hoàn thiện thể chế inh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xu thế phát triển của xã hội, văn hóa, dân tộc, tôn giáo và con người iệt Nam; tăng cường Nghiên cứu Khoa học lịch sử; dự báo các xu thế phát triển của hu vực và thế giới, hội

Trang 33

nhập quốc tế, nâng cao vai trò của iệt Nam trong giải quyết các vấn đề hu vực và toàn cầu ” [ 9; 89-90]

Để thực hiện được định hướng nhiệm vụ chủ yếu trên, cùng với sự hỗ trợ của các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác, hoạt động khoa học xã hội

và nhân văn cần có sự tập trung đầu tư tài chính của nhà nước, mà cốt lõi của các chính sách đầu tư đó là xây dựng một cơ chế tài chính riêng, phù hợp cho hoạt động khoa học xã hội và nhân văn Đồng thời, cần có chính sách đầu tư, khai thác chất xám của các nhà khoa học, trong đó phải kể đến một đội ngũ chuyên gia, cán bộ nghiên cứu khoa học và giảng dạy của các trường đại học, học viện chuyên ngành về các khoa học xã hội và nhân văn của nước ta (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Học viện Khoa học

Xã hội Việt Nam )

Thứ năm: Trong xu thế hiện nay, khi các trường đại học đang phát triển

theo xu hướng đại học nghiên cứu thì hoạt động khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu Bởi vậy, để hoạt động khoa học và công nghệ trong hệ thống đại học phát triển, phục vụ tốt đào tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội thì cần đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong nghiên cứu khoa học; phù hợp với hoạt động khoa học của từng lĩnh vực, trong đó có nghiên cứu khoa học cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn

Kết luận Chương 1

Cơ chế tài chính về hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, cơ chế quản lý, sử dụng và thanh quyết toán tài chính của hoạt động Nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các trường đại học nói riêng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường Cơ chế này đảm bảo nguồn lực tài chính cho sự phát triển khoa học và công nghệ của mỗi đơn

vị đào tạo và nghiên cứu; đóng vai trò quản lý, hướng dẫn sử dụng phương thức phân bổ, thanh quyết toán và kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính trong

Trang 34

hoạt động khoa học và công nghệ của đại học được sử dụng nguồn Ngân sách nhà nước

Từ những đặc thù hoạt động khoa học của trường đại học, sự khác biệt của hoạt động khoa học xã hội và nhân văn ở các đơn vị này đặt ra vấn đề khi xây dựng cơ chế tài chính, trong đó quy định/khung về sử dụng và thanh quyết toán tài chính phải chú ý tính khác biệt đối với từng lĩnh vực khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn) để đảm bảo sự phù hợp và tạo điều kiện cho hoạt động khoa học trong trường đại học, trong đó có các đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phát triển cả nguồn lực, chất lượng nghiên cứu và đào tạo

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) 2.1 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước

2.1.1 Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học có sử dụng Ngân sách nhà nước từ các văn bản

Trong những năm gần đây, Nhà nước, các Bộ, liên Bộ (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính ) đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, trong đó có cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ ở các trường đại học Cụ thể là: Nghị định số 10/NĐ-CP ngày 16-1-2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu được thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25-4-2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị công lập; Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9-8-2006 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25-4-2006 của

Chính phủ; Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN ngày

04-10-2006 về hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của các đề tài/dự án sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 7-5-

2007 về hướng dẫn xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí của các đề tài/dự án

sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư liên tịch số 57/2007/TT-BTC ngày 11/06/2007 của Bộ Tài chính Quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc

Trang 36

tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước; Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BDGĐT-BNV, ngày 15-4-2009 về Hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo; Quy định chế

độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước (01/2010/TT-BTC, 06/01/2010); Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30-3-2010 về việc “Hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự

nghiệp môi trường”; Quy định về việc tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu cơ

bản trong Khoa học Xã hội và Nhân văn do Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia tài trợ (ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ –HĐQLQ ngày 8-4-2010 của Hội đồng quản lý Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia); Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (97/2010/TT-BTC, 06/07/2010); Quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí (102/2012/TT-BTC, 21/06/2012); Hướng dẫn thẩm định nhiệm vụ khoa học

và công nghệ cấp nhà nước do Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia tài trợ (Kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐQLQ-NAFOSTED ngày 04 tháng

10 năm 2013 của Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Và một văn bản rất quan trọng đối với hoạt động khoa học và công nghệ được Quốc hội ban hành - Luật khoa học và công nghệ (Luật số 29/2013/QH13)…

Những văn bản pháp quy trên là cơ sở pháp lý để các cơ quan hữu quan, nhà quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, các trường đại học tham gia quản lý hoạt động khoa học và công nghệ tại đơn vị thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước không chỉ về chế độ tài chính mà còn có nghĩa vụ và trách nhiệm trước pháp luật về những vấn đề có liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ của đất nước Từ các văn bản này, trải qua quá trình triển

Trang 37

khai thực hiện và quản lý khoa học và công nghệ, sẽ có nhiều đề xuất quan trọng nhằm không ngừng đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, đặc biệt là những thay đổi theo chiều hướng tích cực, đạt hiệu quả cao và tháo gỡ những bất cập trong cơ chế thanh quyết toán tài chính hoạt động khoa học và công nghệ, nhất là đối với trường đại học trọng điểm, chuyên ngành

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các văn bản trên, còn có nhiều vấn

đề đặt ra, đặc biệt là cơ chế khoán chi, thanh quyết toán đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học có sử dụng ngân sách nhà nước

Qua các văn bản có tính pháp quy về quản lý khoa học và công nghệ trên đã cho thấy những bất cập trong cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ hiện nay là chưa quan tâm đến tính đặc thù cho từng lĩnh vực khoa học, mà chỉ đưa ra một cơ chế tài chính chung trong hoạt động khoa học cho tất cả các ngành khoa học, như: khoa học tự nhiên, khoa học và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn Bất cập trên được phản ánh trong Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN về Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng Ngân sách nhà nước giữa Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và công nghệ là:

“Phạm vi áp dụng: Các đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước thuộc các lĩnh vực khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn (bao gồm đề tài, dự án cấp nhà nước; đề tài, dự án cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng công ty 91, các Ban của Đảng,

ăn phòng Quốc hội, ăn phòng Chủ tịch nước, cơ quan trung ương các Hội đoàn thể; đề tài, dự án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - gọi chung

là đề tài, dự án cấp bộ, tỉnh, thành phố) đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mục tiêu, nội dung, yêu cầu về sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và dự toán inh phí” [35] Theo Thông tư này, dự toán kinh

phí, cơ chế khoán, cơ chế thanh quyết toán, định mức chi cụ thể của hoạt động khoa học các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng

Trang 38

như các lĩnh vực khoa học công nghệ khác Và, Thông tư liên tịch số 44 /2007/TTLT-BTC-BKHCN, ngày 07 tháng 5 năm 2007 giữa Bộ Tài chính

và Bộ Khoa học và công nghệ về Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ

dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng Ngân sách nhà nước cũng có quy định chung cho hoạt động khoa học của các lĩnh vực khoa học như vậy:

“Thông tư này áp dụng đối với: Các đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước (bao gồm đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN cấp nhà nước, cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ăn phòng Chủ tịch nước, ăn phòng Quốc hội, các Ban của Đảng, cơ quan trung ương các Hội đoàn thể, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương - dưới đây viết tắt là đề tài, dự án KH&CN); các hoạt động phục vụ công tác quản lý các

đề tài, dự án KH&CN của cơ quan có thẩm quyền

Các định mức chi, lập dự toán khác của đề tài, dự án KH&CN không quy định cụ thể tại Thông tư này được thực hiện theo các quy định hiện hành của nhà nước” [37]

Những bất cập đó được thể hiện ở nhiều góc độ: ngân sách được thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang nặng hình thức thực hiện theo cách lập ngân sách theo dòng chi tiêu hay theo khoản mục Nghĩa là các nhiệm vụ/nội dung/khoản mục chi đã được phê duyệt thì có quyền chi hết, không được chuyển sang thời gian tiếp theo mặc dù kết quả thực hiện của nội dung/nhiệm vụ khoa học đó chưa đạt Như vậy, cơ chế quản lý này sẽ dẫn đến

hệ quả: cá nhân/đơn vị được giao quyền triển khai tìm mọi cách chi tiêu hết nguồn tài chính được cấp trong năm, mặc dù khối lượng công việc, hàm lượng khoa học của nhiệm vụ/nội dung đó chưa đạt Có nghĩa, vấn đề sản phẩm nghiên cứu cuối cùng của hoạt động khoa học cụ thể (đề tài, dự án, chương trình ) chưa được đặt lên hàng đầu đối với cơ chế thanh quyết toán tài chính Hơn nữa, cách quản lý thanh quyết toán tài chính này sẽ dẫn đến sự

Trang 39

xem nhẹ việc nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học

Các văn bản quản lý tài chính về hoạt động khoa học và công nghệ đã được ban hành còn bị chi phối của cơ chế tài chính bao cấp, hành chính và chậm chuyển đổi, chưa phù hợp với tình hình thực tế Vì vậy, nhiều khoản chi/mức chi đã quá “cũ” so với thực tế thay đổi giá cả; những khoản chi/nội dung chi phát sinh chưa có văn bản bổ sung kịp thời dẫn đến sự không thống nhất trong thủ tục thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động khoa học nói chung Đối với việc thanh quyết toán tài chính của hoạt động nghiên cứu các khoa học thuộc khoa học xã hội nhân văn thì càng gặp khó khăn hơn khi thực hiện công việc này Hơn nữa, trong các văn bản đã được triển khai và thực hiện, chưa có những điều khoản quy định bắt buộc người nghiên cứu/chủ nhiệm đề tài/cơ quan chủ trì cam kết về chất lượng của sản phẩm cuối cùng có địa chỉ sử dụng cụ thể, hoặc sự cam kết của các cơ quan sử dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học đó Đó cũng là những nguyên nhân để dẫn đến nhiều đề tài sau khi nghiệm thu xong, sản phẩm được “cất kỹ trong tủ”

Một bất cập tiếp theo của cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ nói chung hiện nay là: Vấn đề thanh quyết toán còn nhiều hạn chế, như định mức chi tiêu thực hiện bị giới hạn quá thấp, không phù hợp với thực tế khi triển khai nhiệm vụ khoa học Ví dụ, mức chi cho công lao động chất xám chỉ là một quy ước theo cách tính hành chính (tính bình quân theo mức của chuyên đề), định mức chi cho dịch thuật tài liệu tiếng nước ngoài, phỏng vấn sâu, phiếu điều tra, nhân công lao động phổ thông dùng trong khai quật không phù hợp với giá cả thực tại Đây cũng là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng kém hiệu quả công việc khi triển khai và chất lượng của sản phẩm nghiên cứu khoa học không được như mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra Chúng ta có thể tham khảo dẫn chứng sau đây để thấy rõ được những nội dung của bất cập trên:

Trang 40

Bảng 2.1 Tổng hợp hướng dẫn xây dựng định mức và phân bổ dự toán kinh phí đối với các hoạt động thực hiện đề tài, dự án KH&CN

5 Lập mẫu phiếu điều tra;

-Trong nghiên cứu KHCN -Trong nghiên cứu KHXH và nhân văn:

+ Đến 30 chỉ tiêu + Trên 30 chỉ tiêu

Phiếu mẫu được

500 1.000

6 Cung cấp thông tin : -Trong nghiên cứu KHCN -Trong nghiên cứu KHXH và nhân văn:

+ Đến 30 chỉ tiêu + Trên 30 chỉ tiêu

Phiếu

50

8 Báo cáo khoa học tổng kết đề tài, dự

án (bao gồm báo cáo chính và báo cáo tóm tắt)

(Nguồn: Thông tư liên tịch số 44 /2007/TTLT-BTC-BKHCN,

ngày 07 tháng 5 năm 2007)

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2006): Xã hội hoá hoạt động KH&CN: Nên hiểu thế nào?. Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 3- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá hoạt động KH&CN: Nên hiểu thế nào
Tác giả: Nguyễn Văn An
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003): Một số văn bản pháp quy về quản lý hoạt động KH&CN, Hà Nội, tháng 10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản pháp quy về quản lý hoạt động KH&CN
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
3. Bộ Tài chính (2005): Tờ trình Chính phủ số 25/TTr-BTC dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Chính phủ số 25/TTr-BTC dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị công lập
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
4. Mai Ngọc Cường (2004): Điều tra thực trạng và kiến nghị giải pháp đổi mới đầu tư tài chính đối với các Trường Đại học Việt Nam phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Dự án điều tra cơ bản cấp Bộ năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng và kiến nghị giải pháp đổi mới đầu tư tài chính đối với các Trường Đại học Việt Nam phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Năm: 2004
5. Mai Ngọc Cường (2005): Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các Trường Đại học Việt Nam. Đề tài cấp Bộ B.2003.38.76TĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các Trường Đại học Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Đề tài cấp Bộ B.2003.38.76TĐ
Năm: 2005
6. Mai Ngọc Cường (2006): Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách Nhà nước đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội, tháng 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách Nhà nước đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Năm: 2006
7. Phạm Hồng Chương (2005): Đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động Nghiên cứu Khoa học kinh tế phục vụ đào tạo và thực tiễn. Đề tài cấp Bộ B2003.38.70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động Nghiên cứu Khoa học kinh tế phục vụ đào tạo và thực tiễn
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Lưu hành nội bộ). Văn phòng Trung ương Đảng, HN. 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Văn phòng Trung ương Đảng
Năm: 2012
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
11. Vũ Cao Đàm (2009): Tuyển tập các công trình đã công bố. Lý luận và phương pháp luận khoa học (tập 1), Hà Nội - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình đã công bố. Lý luận và phương pháp luận khoa học (tập 1)
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
12. Vũ Cao Đàm (2010): Giáo trình Khoa học chính sách. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
13. Hoàng Ngọc Hà (2006): Công tác Nghiên cứu Khoa học trong các Trường Đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2005 và định hướng 2006-2010.Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 2- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác Nghiên cứu Khoa học trong các Trường Đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2005 và định hướng 2006-2010
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
14. Vũ Duy Hào (2005): Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các Trường Đại học công lập ở Việt Nam. Đề tài cấp Bộ B.2005.38.125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các Trường Đại học công lập ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Duy Hào
Nhà XB: Đề tài cấp Bộ B.2005.38.125
Năm: 2005
15. Phạm Xuân Hằng (chủ nhiệm): Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đào tạo và hoạt động khoa học khoa học xã hội & nhân văn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Qua nghiên cứu và khảo sát trường hợp Đại học Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), mã số: QGTĐ.12 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đào tạo và hoạt động khoa học khoa học xã hội & nhân văn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Qua nghiên cứu và khảo sát trường hợp Đại học Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Tác giả: Phạm Xuân Hằng
16. Nguyễn Minh Hoà (2006): Thông tƣ liên tịch số 93/2006/TTL/BTC-BKHCN: Tự chủ hơn trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án. Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ liên tịch số 93/2006/TTL/BTC-BKHCN: Tự chủ hơn trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án
Tác giả: Nguyễn Minh Hoà
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
17. Học viện Tài chính (2005): Giáo trình Quản lý Tài chính công. Nhà xuất bản Tài chính, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Tài chính công
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005
18. Học viện Tài chính (2003): Tài chính với việc phát triển khoa học - công nghệ. Kỷ yếu Hội thảo, Hà Nội 3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính với việc phát triển khoa học - công nghệ
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo
Năm: 2003
19. Vũ Thị Hiền (2005): Đổi mới vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động Khoa học Công nghệ ở Việt Nam hiện nay. Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động Khoa học Công nghệ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Hiền
Nhà XB: Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Năm: 2005
20. Phạm Duy Hiển (2006): Nghiên cứu Khoa học tầm quốc tế ở các viện và trường đại học Việt Nam. Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 4.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Khoa học tầm quốc tế ở các viện và trường đại học Việt Nam
Tác giả: Phạm Duy Hiển
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Lê Hương, Đào Hiền Chi (2012): Mô hình đại học nghiên cứu ở Việt Nam. Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình đại học nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê Hương, Đào Hiền Chi
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w