UBND TỈNH BẮC NINH ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ HỒNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN BỔ, SỬ DỤNG NGÂN SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC CƠ QUAN TRUNG ƢƠNG VÀ ĐỊA PHƢƠN[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
Cơ sở lý luận và đặc điểm hoạt động khoa học và công nghệ
1.1.1 Một số khái niệm về khoa học và công nghệ
Hoạt động KH&CN 1 bao gồm nghiên cứu khoa học, triển khai thực nghiệm, phát triển và ứng dụng công nghệ, cung cấp dịch vụ KH&CN, cũng như khuyến khích sáng kiến và các hoạt động sáng tạo khác nhằm thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Nghiên cứu khoa học 1 là quá trình khám phá và tìm hiểu bản chất cũng như quy luật của các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Hoạt động này không chỉ giúp phát hiện ra những điều mới mẻ mà còn sáng tạo ra các giải pháp có thể ứng dụng vào thực tiễn.
- Nghiên cứu cơ bản 1 là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
Nghiên cứu ứng dụng 1 tập trung vào việc vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học để phát triển công nghệ mới, từ đó đổi mới công nghệ nhằm phục vụ lợi ích cho con người và xã hội.
Triển khai thực nghiệm 1 là quá trình ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ mới dưới dạng mẫu.
Sản xuất thử nghiệm 1 là quá trình áp dụng kết quả từ các thử nghiệm thực tế để sản xuất thử, nhằm hoàn thiện công nghệ và sản phẩm mới trước khi chính thức đưa vào sản xuất và ứng dụng trong đời sống.
Dịch vụ KH&CN 1 cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, đo lường và chất lượng sản phẩm Ngoài ra, dịch vụ này còn đảm bảo an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử, đồng thời cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo và phổ biến ứng dụng thành tựu KH&CN trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Tổ chức KH&CN 1 chuyên nghiên cứu khoa học, triển khai và phát triển công nghệ, đồng thời cung cấp dịch vụ khoa học và công nghệ Tổ chức này được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ KH&CN 1 tập trung vào việc giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo quốc phòng, an ninh và thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Phát triển công nghệ 1 là quá trình ứng dụng kết quả từ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, nhằm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm Mục tiêu của hoạt động này là hoàn thiện công nghệ hiện có và tạo ra các công nghệ mới.
Technology Development, known in English as "Technology Development," encompasses the Extensive Development of Technology, also referred to as the Diffusion of Technology, which signifies the expansion of technology.
“Phát triển công nghệ theo chiều sâu” - Intensive Development of Technology, còn gọi là “Upgrading of Technology” tức “Nâng cấp công nghệ”
Bảng 1.1 Tóm tắt quá trình R&D (nghiên cứu và triển khai) 3
R&D GIAI ĐOẠN KẾT QUẢ THU ĐƢỢC
Phát hiện quy luật của đối tượng nghiên cứu Làm ra các lý thuyết
Vận dụng lý thuyết để mô tả, giải thích hoặc tìm ra nguyên lý của các giải pháp (giải pháp công nghệ, giải pháp xã hội)
1 Làm ra các vật mẫu (Prototype)
2 Tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (làm pilot)
3 Sản xuất thử nghiệm ở loạt đầu (Seri “0”)
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khoa học và công nghệ 2
Hoạt động khoa học là lao động trí tuệ, bao gồm tất cả các hoạt động của con người nhằm khám phá bản chất và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội chưa được biết đến Lao động khoa học có những đặc điểm nổi bật như tính sáng tạo cao, tính tin cậy và thông tin, tính khách quan, tính rủi ro, tính kế thừa, tính cá nhân và tính phi kinh tế.
Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá những điều chưa biết, với mục tiêu hướng tới các phát hiện và sáng tạo mới Trong lĩnh vực này, không có sự lặp lại các phát hiện hay sáng tạo của những người đi trước, vì vậy tính mới là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lao động khoa học.
Một nghiên cứu phải có khả năng kiểm chứng nhiều lần bởi nhiều người khác nhau trong cùng điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm để đảm bảo tính tin cậy, tức là các kết quả thu được phải hoàn toàn giống nhau.
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, sản phẩm mới, hoặc mô hình thí điểm cho phương thức tổ chức sản xuất mới Tất cả những sản phẩm này đều mang đặc trưng thông tin quan trọng.
Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học
Tính mới của nghiên cứu khoa học không chỉ thể hiện sự sáng tạo mà còn gắn liền với tính rủi ro, một thuộc tính quan trọng khác Mỗi nghiên cứu đều có khả năng thành công hoặc thất bại.
Cơ sở lý luận về đầu tƣ tài chính hoạt động khoa học và công nghệ
1.2.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước
Ngân sách 4 là kế hoạch tài chính của nhà nước và các cơ quan, xí nghiệp, bao gồm dự toán và thực hiện các khoản thu nhập và chi tiêu cho hoạt động quản lý, đầu tư phát triển, kinh doanh hoặc sự nghiệp trong khoảng thời gian xác định Ngân sách 5 đề cập đến tổng số tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước, xí nghiệp hoặc cá nhân Ngân sách 6 là tổng số tiền thu và chi chung trong khoảng thời gian xác định của nhà nước, xí nghiệp hoặc cá nhân Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Ngân sách 7 là sổ tính toán các khoản chi và thu của Chính phủ.
Ngân sách nhà nước 4 là tổng hợp các khoản thu chi của nhà nước trong một năm, được quyết định và thực hiện bởi Quốc hội nhằm đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP) NSTƯ là phần chủ yếu, bao gồm dự toán thu chi của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, quỹ bảo hiểm xã hội và các khoản khác theo quy định của nhà nước, đóng vai trò quyết định trong việc tập trung thu nhập quốc dân để đáp ứng nhu cầu xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng và quản lý nhà nước NSĐP thực hiện các khoản thu chi ngân sách hàng năm của chính quyền địa phương theo chế độ phân cấp quản lý ngân sách, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương.
Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này
Ngân sách nhà nước 8 bao gồm tất cả các khoản thu, chi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm, nhằm đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP), trong đó NSĐP bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND).
- Phân bổ 6 là chia hết cái phải đóng góp hoặc cái được hưởng ra cho mỗi người, mỗi đơn vị nhận một phần
Kinh phí 6 là ngân sách do cơ quan nhà nước cấp cho các đơn vị trực thuộc nhằm chi cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, v.v Trong khi đó, kinh phí 5 là khoản tiền được cấp để tổ chức các hoạt động kinh tế và xã hội.
Chi đầu tư phát triển 9 là các khoản chi nhằm giải quyết những nhiệm vụ lâu dài của Nhà nước, với hiệu quả không thể đo lường trong thời gian ngắn.
Chi thường xuyên 9 là các khoản chi thiết yếu không thể hoãn lại, nhằm duy trì các hoạt động cần thiết cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
- Chi ngân sách nhà nước 10 gồm:
(1) Chi ĐTPT về: a) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế
Xã hội không có khả năng thu hồi vốn, do đó cần đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và tổ chức tài chính của Nhà nước Việc góp vốn cổ phần và liên doanh vào các doanh nghiệp cần thiết có sự tham gia của Nhà nước phải tuân theo quy định của pháp luật Ngoài ra, cần chi bổ sung dự trữ nhà nước và thực hiện các khoản chi đầu tư phát triển thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước, cũng như các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
Chi thường xuyên bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ, cũng như các sự nghiệp xã hội khác Nó cũng bao gồm các hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh, và trật tự an toàn xã hội Các cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, và các tổ chức như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, và Hội Cựu chiến binh Việt Nam đều tham gia vào các hoạt động này Ngoài ra, chi thường xuyên còn bao gồm trợ giá theo chính sách của Nhà nước, phần chi thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội, và trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội Các khoản chi khác cũng được quy định theo pháp luật hiện hành.
(3) Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay
(4) Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước
(5) Chi cho vay của ngân sách trung ương
(6) Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN
(7) Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị định này
(8) Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
(9) Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau
1.2.2 Đặc điểm đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ Đầu tư tài chính cho KH&CN không phải là cho “ăn ngay” mà là đầu tư cho lâu dài Đầu tư tài chính cho KH&CN là đầu tư cho tương lai, do vậy Nhà nước có trách nhiệm đầu tư cho tương lai ngay cả khi không thể tính toán được hiệu quả tác động của KH&CN trong ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước cho KH&CN được đánh giá qua đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP) vào GDP Các yếu tố ảnh hưởng đến TFP bao gồm chất lượng lao động, cơ cấu kinh tế, môi trường kinh doanh, chính sách và thể chế, cùng với đổi mới và phát triển KH&CN Nền tảng của những yếu tố này là nâng cao trình độ khoa học công nghệ, nghiên cứu và triển khai, sáng tạo, áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao hiệu quả quản lý Theo Viện Năng suất Việt Nam, KH&CN đóng góp khoảng 65-70% vào tăng TFP, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong tăng trưởng kinh tế.
Năm 2014, TFP đã đóng góp khoảng 40% vào tăng trưởng GDP, cho thấy rằng đầu tư của toàn xã hội cho khoa học và công nghệ, đặc biệt là từ ngân sách nhà nước, đã có ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng GDP thông qua yếu tố năng suất tổng hợp TFP.
Nguồn ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện nay bao gồm hai mục chi chính: chi đầu tư phát triển và chi sự nghiệp khoa học Chi đầu tư phát triển tập trung vào việc nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các tổ chức KH&CN thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, và các tổ chức địa phương Trong khi đó, chi sự nghiệp KH&CN nhằm duy trì hoạt động của các tổ chức công lập, hỗ trợ tài chính cho các tổ chức ngoài công lập, và đảm bảo lương cho nhân lực KH&CN trong khu vực nhà nước Ngoài ra, chi nhiệm vụ KH&CN cấp bộ và cấp tỉnh giúp giải quyết các vấn đề KH&CN theo yêu cầu phát triển của ngành và địa phương, trong khi chi nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia tập trung vào các vấn đề KH&CN phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tổng quan về phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước
1.3.1 Dự toán ngân sách nhà nước và yêu cầu lập dự toán ngân sách trung ương
Dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) là kế hoạch thu chi hàng năm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước Quy trình lập và phân bổ dự toán thu chi NSNN được quy định rõ ràng, bao gồm các thẩm quyền của các cơ quan liên quan và thời gian thực hiện.
Trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị nhằm xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách cho năm kế hoạch.
Trước ngày 10 tháng 6, Bộ Tài chính sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung và thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) dựa trên Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Thông tư này sẽ thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách, bao gồm tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách, áp dụng cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cũng như các cơ quan khác ở trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung và thời hạn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cũng như kế hoạch đầu tư phát triển (ĐTPT) và việc phối hợp thực hiện.
Bộ TC thông báo số kiểm tra vốn ĐTPT thuộc NSNN, vốn tín dụng đầu tư
Trước ngày 20 tháng 7, các cơ quan quản lý ngành ở Trung ương và địa phương cần phối hợp với cơ quan Tài chính và cơ quan Kế hoạch và Đầu tư để lập dự toán thu, chi ngân sách theo lĩnh vực phụ trách Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cũng phải phối hợp tương tự để lập dự toán ngân sách cho cả nước và từng địa phương Cuối cùng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương sẽ gửi báo cáo cho Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thảo luận về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) với các bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Mục tiêu của cuộc thảo luận là đánh giá nhu cầu chi tiêu và khả năng nguồn thu Đối với các địa phương, chỉ thảo luận về năm đầu của thời kỳ ổn định, trong khi các năm tiếp theo chỉ được xem xét khi có yêu cầu từ địa phương.
Bộ KH&ĐT phối hợp với Bộ TC để lập dự toán chi đầu tư phát triển (ĐTPT) và phương án phân bổ chi này Đồng thời, tổng hợp dự toán và phương án phân bổ cho chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là phần chi đầu tư xây dựng cơ bản Các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia sẽ lập và tổng hợp chung dự toán, phương án phân bổ chi, và gửi cho Bộ TC trước ngày 10 tháng 9 hàng năm.
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các cơ quan liên quan để lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) và phương án phân bổ ngân sách trung ương, trình Chính phủ xem xét trước khi gửi Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội chậm nhất vào ngày 01/10 Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội họp định kỳ hai lần mỗi năm, với kỳ họp đầu năm vào cuối tháng 4 để đánh giá kết quả thực hiện ngân sách cho KH&CN và bảo vệ môi trường, và kỳ họp cuối năm vào cuối tháng 9 để xem xét tình hình thực hiện ngân sách năm hiện tại và kế hoạch cho năm tới Tại các kỳ họp này, Ủy ban nghe báo cáo từ lãnh đạo các bộ liên quan và gửi báo cáo tới Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội.
UBTCNS của Quốc hội sẽ phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Ủy ban khác để thẩm tra báo cáo dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, hoàn thành trước ngày 05/10 Đồng thời, UBTCNS sẽ tổng hợp ý kiến từ Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khác và phản hồi của Chính phủ để lập báo cáo thẩm tra trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chính phủ, UBTCNS của Quốc hội trình UBTVQH báo cáo về dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTƯ năm sau, báo cáo thẩm tra chậm nhất vào ngày 12/10
UBTVQH cho ý kiến đối với báo cáo của Chính phủ về dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTƯ trước ngày 18/10 hằng năm
Báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội sẽ được chỉnh sửa và gửi đến các đại biểu Quốc hội ít nhất 10 ngày trước khi kỳ họp Quốc hội khai mạc.
Quá trình quyết định ngân sách nhà nước (NSNN) diễn ra qua hai giai đoạn chính: Quốc hội thông qua Nghị quyết dự toán NSNN và Nghị quyết phân bổ ngân sách trung ương (NSTƯ) Dựa trên dự toán NSNN do Chính phủ trình, Quốc hội quyết định các chỉ tiêu quan trọng như tổng số thu NSNN, bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, cùng với thu viện trợ không hoàn lại Đồng thời, tổng số chi NSNN cũng được xác định, bao gồm chi NSTƯ và chi ngân sách địa phương (NSĐP), chi tiết theo các lĩnh vực đầu tư phát triển (ĐTPT), chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, cũng như chi bổ sung Quỹ Dự trữ tài chính và dự phòng ngân sách Trong đó, có mức chi cụ thể cho lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), cùng với mức bội chi NSNN và nguồn bù đắp cho bội chi này.
Trong trường hợp dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) và phương án phân bổ ngân sách trung ương (NSTƯ) chưa được Quốc hội phê duyệt, Chính phủ sẽ lập lại dự toán NSNN và phương án phân bổ NSTƯ để trình Quốc hội vào thời gian do Quốc hội quyết định.
Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết Dự toán NSNN và Nghị quyết phân bổ NSTƯ trước ngày 15/11
UBTVQH quyết định về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa NSTƯ và NSĐP năm đầu thời kỳ ổn định
Sau khi Quốc hội phê duyệt dự toán ngân sách nhà nước (NSNN), Chính phủ sẽ xây dựng và trình Quốc hội phương án phân bổ ngân sách trung ương (NSTƯ) Phương án này bao gồm tổng số và mức chi cho từng lĩnh vực, dự toán chi của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Đồng thời, sẽ xác định mức bổ sung từ NSTƯ cho ngân sách của từng địa phương, bao gồm cả bổ sung cân đối ngân sách và bổ sung có mục tiêu.
Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN, Nghị quyết của
Quốc hội đã ban hành nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương (NSTƯ), trong đó quy định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa NSTƯ và ngân sách địa phương (NSĐP) Bộ Tài chính sẽ trình Thủ tướng Chính phủ để quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ Các nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, mức bổ sung cân đối (nếu có), và mức bổ sung có mục tiêu từ NSTƯ sẽ được xác định, cùng với dự toán chi từ nguồn kinh phí ủy quyền của NSTƯ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trước ngày 20 tháng 11 hàng năm.
Bộ Tài chính yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành nhiệm vụ thu, chi ngân sách trước ngày 25 tháng 11 hàng năm.
THỰC TRẠNG PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2013
Thực trạng phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ của cơ quan trung ƣơng
2.1.1 Sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
Hàng năm, chi NSNN cho KH&CN có 2 mục chi chính:
(1) Kinh phí chi đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
(2) Kinh phí chi sự nghiệp khoa học và công nghệ a Kinh phí chiĐTPT KH&CN
Kinh phí chi cho ĐTPT KH&CN ở Trung ương bao gồm việc đầu tư cho các tổ chức KH&CN thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ Ngoài ra, còn có nguồn kinh phí dành cho các PTNTĐ quốc gia, các phòng thí nghiệm chuyên ngành, cùng với các khu công nghệ cao như Hòa Lạc, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh.
Kinh phí dành cho phát triển khoa học và công nghệ (ĐTPT KH&CN) tại địa phương được phân bổ cho các tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với các tổ chức dịch vụ KH&CN.
Kinh phí cho sự nghiệp khoa học và công nghệ (SNKH&CN) từ ngân sách Trung ương được phân bổ cho các hoạt động và nhiệm vụ KH&CN cấp bộ, bao gồm chi lương và các hoạt động KH&CN Ngoài ra, kinh phí cũng được sử dụng cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước và cấp cho Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia.
Kinh phí chi cho khoa học và công nghệ từ ngân sách địa phương được sử dụng cho nhiều nội dung quan trọng, bao gồm thực hiện các nhiệm vụ khoa học và nghệ thuật, kinh phí cho các nhiệm vụ chuyển tiếp và triển khai nhiệm vụ mới, cũng như quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, kiểm soát an toàn bức xạ hạt nhân, và tiêu chuẩn đo lường chất lượng Ngoài ra, kinh phí cũng được dành cho hoạt động thường xuyên như lương và duy trì bộ máy, cùng với các nhiệm vụ đặc thù theo nhu cầu hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2.1.2 Đối tượng được sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ a Tổ chức KH&CN do Chính phủ thành lập
Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, chuyên nghiên cứu khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho quản lý và xây dựng chính sách phát triển kinh tế, xã hội Viện có 50 đơn vị trực thuộc, bao gồm 33 đơn vị nghiên cứu, 6 đơn vị hỗ trợ Chủ tịch Viện, 6 đơn vị phục vụ quản lý, 4 đơn vị tự trang trải kinh phí và 1 doanh nghiệp Nhà nước, nhằm đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao theo quy định pháp luật.
Tính đến tháng 12/2013, Viện Hàn lâm có tổng số trên 4000 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có 2649 cán bộ trong biên chế; 44 Giáo sư, 161 PGS, 35 TSKH,
Viện Hàn lâm có 706 tiến sĩ, 781 thạc sĩ và 794 cán bộ, viên chức với trình độ đại học, tham gia vào nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và đào tạo ở bậc đại học và sau đại học tại các cơ sở đào tạo trong cả nước.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, chuyên nghiên cứu các vấn đề cơ bản về khoa học xã hội và cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sách phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa Viện cũng thực hiện tư vấn về chính sách phát triển và đào tạo sau đại học trong lĩnh vực khoa học xã hội Hiện tại, Viện Hàn lâm có 42 đơn vị trực thuộc, bao gồm 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 5 đơn vị hỗ trợ Chủ tịch Viện và 5 đơn vị sự nghiệp khác.
Viện có tổng số biên chế là 1.449, bao gồm 134 Giáo sư và Phó Giáo sư, 273 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ, cùng 301 Thạc sĩ trong các chuyên ngành khoa học xã hội Tổ chức KH&CN được thành lập bởi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ.
Trước năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có 19 Viện nghiên cứu, bao gồm 16 viện về nông nghiệp, 2 viện về thuỷ lợi và 1 viện về lâm nghiệp, cùng với 4 Viện nghiên cứu về thuỷ sản thuộc Bộ Thủy sản Theo Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 09/9/2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án sắp xếp hệ thống tổ chức khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm nâng cao tính hệ thống, hiệu quả và phát huy tính chủ động, năng động của các đơn vị, phù hợp với đổi mới cơ chế hoạt động khoa học công nghệ.
Vào năm 2012, hệ thống nghiên cứu nông nghiệp tại Việt Nam được tổ chức lại thành 11 Viện, trong đó có 5 Viện chuyên về nông nghiệp, bao gồm Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Chăn nuôi, Viện Thú y, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, cùng với Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có 18 đơn vị thành viên, Viện Khoa học Thủy lợi có 14 đơn vị, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có 13 đơn vị, và có 4 Viện nghiên cứu về Thủy hải sản, bao gồm Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, II, III và Viện Nghiên cứu Hải sản.
Các tổ chức nêu trên đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115 Đến tháng 6/2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phê duyệt 156 đề án của các tổ chức KH&CN thuộc diện chuyển đổi Trong năm 2012, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức và hiện đang xây dựng đề án mới để trình.
Bộ phê duyệt chưa có đơn vị nào chuyển sang cơ chế hoạt động theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học công nghệ Đội ngũ cán bộ KH&CN đang nghiên cứu, đào tạo và phục vụ cho nghiên cứu khoa học công nghệ nông nghiệp, bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thú y, cơ điện, công nghệ sau thu hoạch, thủy lợi, thủy sản và lâm nghiệp, thuộc 11 Viện, Trung tâm và 3 trường Đại học (Thủy lợi, Lâm nghiệp và Đại học Nông lâm).
Tỉnh Bắc Giang hiện có hơn 10.800 người, bao gồm 134 giáo sư và phó giáo sư, 600 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, 1.801 thạc sĩ, 5.444 đại học, cùng với số còn lại là trung cấp và công nhân kỹ thuật.
Trong 11 Tổ chức KH&CN trực thuộc Bộ, có tổng cộng 7.934 cán bộ KH&CN, bao gồm 67 giáo sư và phó giáo sư, 426 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, 1.268 thạc sĩ, 3.809 đại học và cao đẳng, cùng với một số lượng trung cấp và công nhân kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu và thí nghiệm Đặc biệt, có 4.861 người được hưởng lương từ ngân sách SNKH của nhà nước, chiếm tỷ lệ 58,54%.
Theo số liệu đến hết năm 2013, cả nước có 421 cơ sở giáo dục đại học, bao gồm 207 trường đại học và 214 trường cao đẳng Trong số 207 trường đại học, có 2 đại học quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Tp HCM) và 3 đại học vùng (Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng) Các trường đại học này có thể thuộc quản lý nhà nước (153 trường) hoặc ngoài công lập (54 trường) Quy mô sinh viên đại học năm học 2010-2011 đạt 1.435.887, với 50.951 giảng viên, trong đó có 7.338 tiến sĩ và 22.865 thạc sĩ.
Thực trạng phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ của địa phương
2.2.1 Về các tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ
Các tổ chức hoạt động KH&CN tại 22 địa phương bao gồm các cơ quan lớn của Trung ương, đơn vị trực thuộc và các cơ quan địa phương thuộc các sở ngành chuyên môn Những tổ chức này hoạt động trong các lĩnh vực như nông lâm nghiệp, thủy sản, bảo vệ môi trường, và khoa học xã hội Nhiều tổ chức KH&CN đã nâng cao năng lực khảo sát, thiết kế, kiểm định và thí nghiệm, đáp ứng tốt yêu cầu của nhiệm vụ mới.
Trong lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), tỷ lệ các đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ còn thấp, chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở Số lượng phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia VILAS tại nhiều địa phương vẫn còn hạn chế Tuy nhiên, một số thành phố lớn đã tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm thông qua các chương trình như tăng cường tiềm lực KH&CN, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và các dự án nâng cao nguồn lực cho các đơn vị trong khu vực.
2.2.2 Việc sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
Các đề tài và dự án do địa phương thực hiện bao gồm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) ở các cấp, được tài trợ từ nguồn kinh phí dành cho KH&CN của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.
Trong giai đoạn 2006-2013, các địa phương đã thực hiện tổng cộng 11.911 đề tài, dự án cấp tỉnh và hơn 21.000 đề tài, dự án, mô hình KH&CN cấp cơ sở, với tổng kinh phí lên tới 6.603 tỷ đồng Trong đó, ngân sách sự nghiệp KH&CN nhà nước chiếm 81,33% với 5.370 tỷ đồng Hoạt động nghiên cứu và phát triển tại các địa phương đã được triển khai đầy đủ trên nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó lĩnh vực nông nghiệp chiếm một phần ba tổng số đề tài cấp tỉnh, tiếp theo là các đề tài về khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Năm 2013, các địa phương trên cả nước thực hiện khoảng 1.498 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh với tổng kinh phí trên 959 tỷ đồng (so với 1.875 nhiệm vụ và
Hai trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, Hà Nội và TP.HCM, không chỉ đóng góp vào nền kinh tế với tổng đầu tư 866 tỷ đồng năm 2012 mà còn nổi bật với hoạt động nghiên cứu mạnh mẽ Hà Nội dẫn đầu với 101 đề tài nghiên cứu, thu hút 120 tỷ đồng đầu tư.
TP Hồ Chí Minh (100 đề tài với 181 tỷ đồng)
Hoạt động KH&CN địa phương đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Các đề tài nông nghiệp tập trung vào việc lựa chọn và chuyển giao kỹ thuật tiên tiến, từ chọn giống đến quy trình sản xuất và công nghệ chế biến, phù hợp với đặc điểm từng vùng Điều này giúp tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, quy mô lớn và chất lượng đồng đều, nâng cao giá trị xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa Tỉnh Thái Bình đã thực hiện khảo nghiệm và tuyển chọn thành công các giống cây trồng.
Nghệ An đã công nhận 4 giống lúa và 1 giống lạc là giống quốc gia, đồng thời mở rộng diện tích lúa lai lên trên 76 nghìn hecta, giúp năng suất tăng thêm 15,2 tạ/ha và lợi nhuận tăng khoảng 400 tỷ đồng, góp phần đưa tổng sản lượng lương thực của tỉnh đạt trên 1 triệu tấn Tỉnh Bắc Giang cũng đã áp dụng mô hình sản xuất quả vải tươi theo tiêu chuẩn VietGAP, mở rộng từ 10 ha lên 4000 ha, với giá thành cao gấp 2-3 lần so với phương pháp sản xuất truyền thống.
Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, nhiều công trình nghiên cứu cơ bản đã tạo nền tảng cho việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ Những nghiên cứu này không chỉ giúp tiếp thu công nghệ hiện đại mà còn định hướng cho việc bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Nhiều kết quả nghiên cứu đã được các doanh nghiệp tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh triển khai ứng dụng.
Hồ Chí Minh và một số địa phương khác ứng dụng tạo ra các sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao, ví dụ như:
Tại TP Hồ Chí Minh, việc nâng cao năng lực nội sinh và tiếp thu công nghệ cao đang được chú trọng, với mục tiêu sản xuất các sản phẩm như pin mặt trời, năng lượng sinh khối và nhiên liệu sinh học Đặc biệt, dự án sản xuất chip thương mại SG8-V1 và thiết kế chip nhận dạng từ xa bằng sóng radio (RFID) đang được triển khai Ngoài ra, nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy nhuộm JET cũng đang được thực hiện để hoàn tất quy trình sản xuất vải sợi từ polyester.
Tại Hà Nội, chương trình thiết kế và chế tạo thiết bị thay thế nhập khẩu đã đầu tư vào 20 dự án trong 4 lĩnh vực ưu tiên: cơ khí, điện tử, hóa dược và nhựa-cao su Ngân sách hỗ trợ hơn 40 tỷ đồng cho việc thiết kế và chế tạo 55 máy móc, thiết bị, giúp chuyển giao 265 sản phẩm cho doanh nghiệp với giá bán rẻ hơn từ 20-60% so với hàng nhập khẩu, qua đó tiết kiệm khoảng 280 tỷ đồng ngoại tệ.
Dự án “Chuyển giao công nghệ sơn bột tĩnh điện Hải Phòng” góp phần tạo ra sản phẩm có giá thành rẻ hơn nhập ngoại 10%
Tỉnh Ninh Bình, với sản phẩm cầu trục từ 10 tấn đến trên 30 tấn của Xí nghiệp cơ khí Quang Trung, cung cấp giá thành chỉ bằng 30-50% so với máy nhập khẩu cùng loại Sản phẩm có chất lượng tương đương, giúp tiết kiệm hàng triệu đôla mỗi năm cho việc nhập khẩu thiết bị.
Đánh giá việc phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ của các cơ quan trung ương, địa phương
và công nghệ của các cơ quan trung ương, địa phương
2.3.1 Nhận xét chung tình hình sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
Kinh phí thực tế cho các nhiệm vụ KH&CN tại địa phương 22 thường chỉ đạt 50-70% so với kinh phí Trung ương phân bổ Nguyên nhân chính bao gồm: (1) Năng lực đề xuất và xây dựng dự án ĐTPT của các tổ chức KH&CN còn hạn chế; (2) Lãnh đạo địa phương chưa chú trọng đến việc tạo điều kiện cho các dự án KH&CN; (3) Nguồn kinh phí ĐTPT cho KH&CN chưa được ghi thành mục riêng trong ngân sách hàng năm, dẫn đến mức chi không đảm bảo theo phân bổ của Trung ương.
Từ năm 2006, các địa phương đã bắt đầu phân cấp kinh phí cho các huyện và thị xã, với số kinh phí năm sau cao hơn năm trước Kể từ năm 2009, các huyện, thị và một số sở ngành đã xây dựng kế hoạch hằng năm theo hướng dẫn của Sở KH&CN để đưa vào kế hoạch phân cấp ngân sách cho sự nghiệp KH&CN Cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN ở cấp huyện đã từng bước triển khai công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng Nhờ sự hỗ trợ của Bộ KH&CN, UBND các tỉnh, thành phố đã đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động KH&CN từ nguồn vốn ĐTPT, chủ yếu cho việc xây dựng các cơ quan nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, cũng như trang bị thiết bị hiện đại Những trang thiết bị này giúp nâng cao khả năng hoạt động của các đơn vị, từ đó hỗ trợ quản lý hiệu quả hơn trong lĩnh vực được giao.
Quy trình xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách hàng năm tại địa phương được thực hiện theo đúng Luật NSNN Cơ quan quản lý KH&CN lập kế hoạch và dự toán ngân sách, gửi đến cơ quan quản lý TC và KH&ĐT để thẩm định, sau đó báo cáo UBND và trình HĐND quyết định Sau khi HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết, UBND tỉnh giao Sở TC triển khai nhiệm vụ chi ngân sách, bao gồm ngân sách cho sự nghiệp KH&CN UBND tỉnh cũng quyết định phân bổ kinh phí cho các đơn vị, và dựa trên kế hoạch đã được phê duyệt, các đơn vị tiến hành thực hiện nhiệm vụ.
Năm sau, ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho sự nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) dự kiến tăng khoảng 9% so với năm trước Mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng kinh phí cho KH&CN vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, đặc biệt là chưa đạt mức đầu tư tối thiểu 2% tổng chi ngân sách địa phương theo Nghị quyết Trung ương 2 về KH&CN.
Nhiều tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực KH&CN vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội hóa Mặc dù đã có cơ chế và chính sách được đề ra, nhưng vẫn chưa thu hút được đội ngũ cán bộ khoa học xuất sắc, trí thức trẻ tài năng và các chuyên gia hàng đầu tham gia đóng góp cho sự phát triển của KH&CN.
Kinh phí sự nghiệp KH&CN cho địa phương đã được điều chỉnh phù hợp với tình hình thu chi ngân sách thực tế, giúp các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách kịp thời Sự chuẩn bị nhiệm vụ tốt đã cho thấy hiệu quả sử dụng ngày càng cao, phản ánh sự chuyển biến tích cực từ cách tiếp cận thực tế và nhu cầu riêng của từng địa phương.
Các địa phương đã đầu tư khoảng 60% ngân sách cho nghiên cứu ứng dụng và triển khai, trong khi phần còn lại được sử dụng để hỗ trợ quản lý nhà nước, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, cũng như các hoạt động KH&CN ở cấp huyện và cơ sở.
Kinh phí ĐTPT KH&CN tại khu vực trung ương, theo Báo cáo số 2528/BKHCN-KHTC ngày 6/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhằm tăng cường cơ sở vật chất cho các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, và cơ quan thuộc Chính phủ Mục tiêu là thực hiện tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
Đối tượng đầu tư chủ yếu bao gồm việc mua sắm trang thiết bị nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm và xây dựng khu nghiên cứu phát triển tại các khu công nghệ cao Hòa Lạc và Tp Hồ Chí Minh Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư nâng cao năng lực đo lường, thử nghiệm cho Viện Đo lường Việt Nam cùng các trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng tại Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Buôn Ma Thuột Hỗ trợ một số doanh nghiệp trong việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm cũng là một phần quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình, đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Việc đầu tư phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) tại các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực, với sự chủ động trong việc xây dựng, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư Trong giai đoạn 2006-2013, nguồn vốn đầu tư cho KH&CN chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu khoa học, các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cũng như các trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng tại các tỉnh, thành phố.
Nhiều địa phương đã tận dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, bao gồm kinh phí từ ngân sách trung ương, viện trợ quốc tế, vốn tự có và các nguồn huy động khác từ doanh nghiệp.
Kinh phí được huy động từ ngân sách khoa học và công nghệ (KH&CN) trung ương thông qua các nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước và các dự án hợp tác với các viện, trường.
Nguồn viện trợ nước ngoài bao gồm các dự án hợp tác theo Nghị định thư, các dự án hợp tác song phương và hỗ trợ không hoàn lại trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Các nguồn tài chính cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ngoài ngân sách chủ yếu đến từ việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, thành phố Doanh nghiệp cũng đóng góp kinh phí cho việc ứng dụng các tiến bộ trong KH&CN.
Chủ trương trích một phần vốn từ các dự án, công trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến nội dung và chất lượng của dự án vẫn chưa được thực hiện trên thực tế.
2.3.3 Một số hạn chế, tồn tại a) Trong việc thực hiện ngân sách cho KH&CN nói chung