1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Giáo Dục Trung Học Phổ Thông Từ Năm 2001 Đến Năm 2014.Pdf

140 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãnh đạo giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014
Tác giả Lê Thị Bích Liên
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Kim Đỉnh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN =========== LÊ THỊ BÍCH LIÊN ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2014 LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========

LÊ THỊ BÍCH LIÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========

LÊ THỊ BÍCH LIÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Kim Đỉnh

Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Lê Thị Bích Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã rất tâm huyết giảng dạy, trao truyền những tri thức quý báu cho chúng tôi

Tôi xin chân cảm ơn Ban Giám hiệu trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Yên Bái - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành quá trình học tập; cảm ơn cán bộ Thư viện tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu của luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Kim Đỉnh - người hướng dẫn khoa học, người luôn đồng hành giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thị Bích Liên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 5

3.2- Nhiệm vụ 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Tư liệu nghiên cứu 6

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI ĐỐI VỚI HỆ THỐNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 8

1.1 - Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái 8

1.1.1- Những cơ sở hình thành chủ trương 8

1.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện 29

1.2.1- Quá trình chỉ đạo 29

1.2.2 Kết quả thực hiện 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2014 37

2.1- Quan điểm chung của Đảng 37

2.2- Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái 46

2.3- Tổ chức chỉ đạo 57

2.3.1- Huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh tới cơ sở vào cuộc phát triển giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục 57

2.3.2- Rà soát, sắp xếp lại quy mô, mạng lưới trường lớp 61

Trang 6

2.3.3- Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông

63

2.3.4- Chăm lo phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục 65

2.3.5- Tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục: 69

2.4- Kết quả thực hiện 70

2.4.1- Huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh tới cơ sở vào cuộc phát triển giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục 71

2.4.2- Rà soát, sắp xếp lại quy mô, mạng lưới trường lớp 74

2.4.3- Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông 76

2.4.4- Chăm lo phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục 79

2.4.5- Tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục 82 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 85

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 86

3.1- Nhận xét chung 86

3.2 Bài học kinh nghiệm 95

KẾT LUẬN 103

PHỤ LỤC 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mỗi thời kỳ phát triển của lịch sử, giáo dục luôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển của cá nhân, của cộng đồng và cả nhân loại Theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, giáo dục và đào tạo có tầm quan trọng bậc nhất, góp phần không chỉ làm nên sự nghiệp của một con người, mà còn là động lực làm nên lịch sử của cả một dân tộc

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, gây ảnh hưởng sâu sắc đên sự phát triển kinh tế, xã hội của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam Khoa học công nghệ mà nền tảng của nó là giáo dục

và đào tạo chính là chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa tương lai của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, Đảng Cộng sản Việt Nam coi giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấu nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của nước

ta hiện nay, yếu tố mang tính đột phá chú trọng đầu tiên chính là giáo dục phổ thông vì giáo dục phổ thông là nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân

và chính nó sẽ là cơ sở đem đến chất lượng cho cả hệ thống giáo dục Trong hệ thống giáo dục phổ thông (bao gồm bậc tiểu học, cấp học trung học cơ sở, trung học phổ thông), trung học phổ thông là cấp học mà các em học sinh bắt đầu định hướng con đường tương lai cho bản thân, bắt đầu biết lựa chọn những ngành, nghề phù hợp để đăng ký tham gia sau cấp học Đây là giai đoạn rất quan trọng trong các cấp học

Đối với tỉnh Yên Bái là tỉnh miền núi, kinh tế chậm phát triển, điểm xuất phát của tỉnh thấp, trình độ dân trí chưa cao và không đồng đều, do đó việc phát

Trang 8

triển giáo dục phổ thông lại càng quan trọng và cấp thiết Tuy nhiên, việc đầu

tư cho giáo dục ở Yên Bái còn gặp rất nhiều khó khăn, vì ở nhiều địa phương trong tỉnh, lứa tuổi 13, 15, 17 đã là lao động chính trong gia đình, cộng với cái đói, cái nghèo chi phối dẫn đến việc huy động học sinh ra lớp rất thấp, đặc biệt

là cấp trung học phổ thông, tình trạng học sinh bỏ học tràn lan, chất lượng giáo dục có nhiều bất cập và thiếu tính bền vững

Thấy được sự cần thiết trong việc phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, định hướng việc làm, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã có những chủ trương chính sách đối với sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm

2001, đặc biệt từ 2009 đến nay, mặc dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, tuy nhiên, sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Yên Bái đã đạt được những thành tựu quan trọng, các chỉ số về phát triển giáo dục đạt ở mức khá so với khu vực và từng bước hướng tới sự phát triển bền vững, có chất lượng cao Qua đó, đã hình thành nên những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc phát triển giáo dục và đào tạo ở những địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như Yên Bái

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến 2014” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong sự

phát triển hưng thịnh của đất nước, trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Trong quá trình tiếp cận tài liệu để phục vụ nghiên cứu, tác giả đã chia những công trình nghiên cứu ấy thành ba nhóm cơ bản:

Nhóm công trình nghiên cứu thứ nhất: Gồm các bài viết, phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước; những báo cáo tổng kết về công tác giáo dục, đào tạo Những phương hướng, nhiệm vụ đối với giáo dục - đào tạo được phản ánh trong các Văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X, XI và các Hội nghị

Trang 9

chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên giáo Trung ương Những tài liệu này phản ánh nhận thức

và lý luận của Đảng về giáo dục - đào tạo để đưa ra đường lối, chủ trương phát triển giáo dục phù hợp với các giai đoạn lịch sử

- Nhóm nghiên cứu thứ hai: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo của các tập thể và cá nhân đã được xuất bản chuyên nghiên cứu sâu về giáo dục:

Phạm Văn Đồng (1999), Về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị, Quốc gia Hà Nội; Đỗ Mười (1995) Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Trần Hồng Quân (1996), Giáo dục 10 năm đổi mới và những chặng đường trước mắt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Phạm Minh Hạc (2002), Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Những công trình này là một hệ thống quan điểm về quản lý, phát triển giáo dục Góp phần nghiên cứu lý luận, hoạch định đường lối, chính sách giáo dục đang được tiến hành ở nước ta Nó được vận dụng để phát triển một nền giáo dục khoa học nhằm xây dựng con người xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới

- Nhóm nghiên cứu thứ ba: Một số luận văn thạc sỹ Lịch sử, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã được bảo vệ

Các luận văn nghiên cứu về giáo dục - đào tạo gồm: Trần Hoàng Hạnh

(2011), Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 1997 đến 2007; Phạm Thị Hồng Thiết (2009), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006; Tường Thúy Ngân, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ 1986 đến năm 2000

Các luận văn nghiên cứu về giáo dục: Nguyễn Thị Lâm Sính (1998)

Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo xây dựng phát triển giáo dục phổ thông

Trang 10

trong những năm 1986-1996; Nguyễn Ánh (2001), Giáo dục phổ thông ở Hưng Yên trong những năm kháng chiến chống Mỹ (1954-1975); Nguyễn Sỹ Hà, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ 1991 đến năm 2001

Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết trên các tạp chí Cộng sản, tạp chí Lịch

sử Đảng, tạp chí Tia sáng, báo Giáo dục và thời đại; trên các diễn đàn trao đổi

Về Giáo dục và đào tạo Yên Bái, cho đến nay, có một số công trình nghiên cứu có hệ thống về Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển giáo dục

như “Giáo dục và đào tạo Yên Bái, 60 năm xây dựng và trưởng thành” do Sở Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2005, “Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến 2010” của Nguyễn Thị Thùy Chi

Những công trình đề cập đến vấn đề giáo dục - đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng rất phong phú, đa dạng Những tài liệu trên đây đã giúp tác giả có được nguồn tư liệu phong phú để tham khảo cho luận văn của mình

Liên quan đến đề tài đã có rất nhiều công trình khoa học nhìn nhận dưới nhiều góc độ, ở nhiều địa phương, các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh vai trò quan trọng, quyết định của giáo dục - đào tạo trong sự phát triển kinh tế - xã hội

và yêu cầu phải tập trung phát triển giáo dục, coi đây là chìa khóa thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tìm hiểu, phân tích thực trạng giáo dục nước ta, đề ra những giải pháp, những vấn đề cần phải tháo gỡ

và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, đề cập cụ thể về Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với giáo dục trung học phổ thông lại chưa có

một công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc Vì thế, tôi

chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014 làm đề làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành lịch sử

Đảng Cộng sản Việt Nam Đề tài này mong muốn được góp phần nhỏ trong

Trang 11

bước đầu tìm hiểu về các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trên lĩnh vực quan trọng này

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1- Mục đích

Luận văn làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong việc lãnh đạo phát triển giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014

Nêu lên nhận xét, đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả hơn đường lối giáo dục của Đảng trong thời kỳ mới

3.2- Nhiệm vụ

- Tập hợp và hệ thống những nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chủ yếu là các nguồn tài liệu tại Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng

Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục - Đào tạo, thư viện tỉnh Yên Bái

- Khái quát chủ trương của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về giáo dục

từ năm 2001 đến 2014 Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển giáo dục trung học phổ thông

- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của của giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Rút ra một số kinh nghiệm, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh với phát triển giáo dục trung học phổ thông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong việc phát triển giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014

Trang 12

- Về không gian: Địa bàn tỉnh Yên Bái

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1- Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển giáo dục trung học phổ thông

5.2- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,

ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác của khoa học lịch

sử như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, để xử lý các sự kiện,

số liệu nhằm dựng lại quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái hoạch định chủ trương và chỉ đạo phát triển giáo dục trung học phổ thông trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2014

6 Tư liệu nghiên cứu

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về

giáo dục đào tạo

- Các Văn kiện của Đảng, đặc biệt là các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, những Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ; các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định, các chủ trương, chính sách của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tại địa phương và những chính sách

Trang 13

đặc thù của địa phương trong phát triển giáo dục - đào tạo Các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện hiện nhiệm vụ của Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Yên Bái từ năm 2000 đến năm 2014

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo có liên quan (báo, tạp chí, đề tài khoa học, chuyên khảo) do các cơ quan nghiên cứu đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Sử học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội … là nguồn tư liệu quan trọng của luận văn

7 Đóng góp của luận văn

- Trình bày có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014 Qua đó làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với sự nghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Bước đầu nêu lên những đánh giá, nhận xét có cơ sở khoa học về thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu về quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo giáo dục trung học phổ thông ở yên Bái giai đoạn từ năm

2001 đến năm 2014

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc biên soạn lịch

sử truyền thống của Giáo dục đào tạo tỉnh Yên Bái

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương

Chương I: Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối

với hệ thống giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2005

Chương II: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển giáo dục trung học

phổ thông từ năm 2005 đến năm 2014

Chương III: Nhận xét và bài học kinh nghiệm

Trang 14

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI ĐỐI VỚI HỆ THỐNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 - Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

1.1.1- Những cơ sở hình thành chủ trương

1.1.1.1- Một số quy định đối với giáo dục trung học phổ thông

Luật Giáo dục 2005 quy định rõ: Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

- Giáo dục đại học và sau đại học

Trong đó, giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng

Trang 15

nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

1.1.1.2 Chủ trương chung của Đảng về phát triển giáo dục trung học phổ thông

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp vào thời điểm có ý nghĩa trọng đại: Thế kỷ XX đã kết thúc, thế kỷ XXI vừa bắt đầu Toàn Đảng, toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991-2000 và 15 năm Đổi mới Đại hội IX có nhiệm vụ kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và khuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới, phấn đấu nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, động viên và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vững bước đi vào thế kỷ mới

Đánh giá về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đại hội đã khẳng định: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả

về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất

Quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân Năm học 1999-2000 so với năm 1994-1995, quy mô học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần, học sinh trung học

cơ sở gấp 1,6 lần, học sinh trung học phổ thông gấp 2,3 lần, đào tạo đại học gấp

3 lần, đào tạo nghề gấp 1,8 lần Đến hết năm 2000 có 100% tỉnh, thành phố đạt

Trang 16

chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Phong trào học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, ngoại ngữ phát triển nhanh Số sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2000 đạt 117 người, số năm đi học trung bình của dân cư là 7,3 năm

Cơ sở vật chất - kỹ thuật các trường được nâng cấp, cải thiện Mạng lưới trường phổ thông đã được sắp xếp tương đối ổn định Hầu hết các xã đã có trường tiểu học; phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở Các trường ngoài công lập đã hình thành và bắt đầu phát triển mạnh Hệ thống các trường dân tộc nội trú tỉnh, huyện được củng cố và mở rộng Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường chuyên nghiệp đang từng bước được tổ chức, sắp xếp lại Hệ thống các trường đào tạo nghề phát triển rộng khắp

Chất lượng giáo dục và đào tạo có chuyển biến bước đầu Số đông học sinh, sinh viên có năng lực tiếp thu nhanh các kiến thức, nhất là về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, ngoại ngữ và tin học Tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt tiêu chuẩn tăng lên Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được cải tiến, hằng năm trên 80% giáo viên được đào tạo nâng cao và chuẩn hoá Việc xã hội hoá trong lĩnh vực này bước đầu được triển khai

Tiếp tục quán triệt quan điểm Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đại hội

lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.” [18, tr 654]

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện

Trang 17

học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người", “cả nước trở thành một xã hội học tập” Thực hiện phương châm “học

đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn

bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính

Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục bậc trung học thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội học tập, tiếp tục phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số, chú trọng quyền được học tập của nhân dân ở trên hai nghìn xã nghèo nhất

Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục

Trong những năm trước mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng

“thương mại hoá” giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp văn bằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trường học cả công lập và ngoài công lập

Trang 18

Nhằm đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã nhấn mạnh: “Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” [19, tr.263] Chiến lược

cũng khẳng định mục tiêu giáo dục để phát triển toàn diện con người, nhân tố

thúc đấy phát triển kinh tế xã hội: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái,

ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ

kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản

lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.” [18, tr.723]

Xác định được tầm quan trọng của Giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng, ngày 26/7/2002, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương đã họp để đánh giá và kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, những nội dung về giáo dục được trình bày trong Văn kiện Đại hội IX và thông qua Kết luận số 14-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến 2005 và đến 2010”

Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đã kiểm điểm sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, kiểm điểm ở tầm thực hiện “quốc sách hàng đầu” chứ không phải chỉ ở mức độ những chính sách thông thường Trước những thành tựu đạt được cũng như những yếu kém còn tồn tại, đặc biệt hạn chế lớn nhất lại đúng vào vấn đề bức xúc nhất mà mục tiêu giáo dục đề ra chưa thực hiện được, là sự yếu kém về chất lượng và hiệu quả giáo dục, Hội nghị

Trang 19

xoáy sâu vào việc trả lời các câu hỏi cũng là nỗi trăn trở lớn: “Chúng ta phải trả lời câu hỏi giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ đã thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội chưa? Thực sự là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chưa? Vì sao?” [17,tr.7]

Trả lời những câu hỏi đặt ra đó, trên cơ sở những định hướng cơ bản của Đại hội lần thứ IX, Kết luận số 14-KL/TW đã xác định tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và

nhấn mạnh yêu cầu: “Tập trung phát triển giáo dục - đào tạo mạnh hơn, nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề ra một số việc cụ thể trong 5 - 10 năm tới, nhất là các giải pháp có tính đột phá, để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, ưu tiên phát triển sự nghiệp giáo dục ở các khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục” [17, tr.8]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, tiếp tục quán triệt các quan điểm tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Kết luận số 14-KL/TW nhấn mạnh phương hướng tiếp tục đổi mới giáo

dục: “Nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu về cả 4 yêu cầu: đầu tư tài chính, đầu tư cán bộ, chính sách ưu tiên, tổ chức quản lý, tập trung phát triển giáo dục mạnh hơn, khẩn trương và hiệu quả hơn, theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, đưa nền giáo dục nước nhà vào thế ổn định với chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [17, tr.43]

Để tạo sự “chuyển biến cơ bản, toàn diện” về phát triển giáo dục trung học phổ thông trong những năm 2001-2006, Ban Chấp hành Trung ương chủ

Trang 20

trương toàn Đảng, toàn dân mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục cần đặc biệt tập trung vào các nhiệm vụ sau :

Một là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu nhất của giáo dục phổ thông nói chung và Trung học phổ thông nói riêng nhằm tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học

Để làm được nhiệm vụ đó cần tăng cường phối hợp nhà trường và gia đình, phát huy vai trò giáo dục gia đình Đặc biệt, giai đoạn này, giáo dục Trung học phổ thông cần thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương, vùng, miền

Hai là: Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo với sử dụng

Thực hiện phổ cập trung học ở những nơi đã phổ cập xong trung học cơ

sở Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề và trung học chuyên nghiệp Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập

Ba là: Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Có chính sách hỗ trợ

học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Chú trọng đào tạo cán bộ vùng dân tộc Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội

Trang 21

trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số; từng bước mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp ứng yêu cầu đào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chính sách học bổng cho học sinh các trường này Thực hiện chế độ miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh người dân tộc thiểu số Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn Có chính sách bổ túc kiến thức cần thiết cho số học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp để các em trở về địa phương tham gia công tác ở cơ sở

Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đã tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục

là quốc sách hàng đầu và mục tiêu giáo dục toàn diện, tăng cường thực hiện những điều đó ở mức độ quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn, khẩn trương hơn, xứng với vị thế “quốc sách hàng đầu” để tạo nên “khâu đột phá” làm chuyển biến cơ bản, toàn tiện nền giáo dục quốc dân, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội nhanh, bền vững

1.1.1.3- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội

Yên Bái là tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc - Đông Bắc và Trung

du Bắc bộ Yên Bái có phạm vi giới hạn ở toạ độ địa lý từ 21024’ - 22016’ vĩ độ Bắc; 103056’ - 105003’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái là 688.627,64 ha, bằng 2% diện tích tự nhiên của cả nước và bằng 10,4% diện tích vùng Đông Bắc; xếp thứ 8 so với 11 tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc về quy mô đất đai Toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180

xã, phường, thị trấn (157 xã và 23 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao

và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế

- xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng

Trang 22

bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 62 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của

cả nước

Yên Bái có lợi thế để phát triển ngành nông - lâm sản gắn với vùng nguyên liệu: trồng rừng và chế biến giấy, bột giấy, ván nhân tạo; trồng và chế biến quế, chè, cà phê; trồng và chế biến sắn, hoa quả; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản Với nguồn khoáng sản phong phú, tỉnh có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và chế biến khoáng sản như: đá quý, cao lanh, fenspat, bột cácbonnát canxi, sắt và sản xuất vật liệu xây dựng: xi măng, gạch, sứ kỹ thuật,

sứ dân dụng, đá xẻ ốp lát, đá mỹ thuật và các loại vật liệu xây dựng khác

Yên Bái có phong cảnh thiên nhiên đa dạng và nhiều địa danh đẹp như hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái Suối Giàng, cánh đồng Mường Lò; di tích lịch sử khu lăng mộ Nguyễn Thái Học, Căng đồn Nghĩa Lộ Kết hợp với bản sắc văn hoá riêng của đồng báo các dân tộc là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái

Với vị trí địa lý là cửa ngõ miền Tây Bắc, lại nằm trên trung điểm của một trong những tuyến hành lang kinh tế chủ lực Trung Quốc - Việt Nam: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng đã tạo cho Yên Bái có điều kiện và cơ hội thuận lợi để tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc

Yên Bái có vị trí quan trọng trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc phòng

đã được khẳng định trong lịch sử đấu tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, Yên Bái đã và đang được xây dựng thành khu vực mạnh về kinh tế và trở thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 23

Dân cư và các thành phần dân tộc

Năm 2014, tổng dân số toàn tỉnh là 773.854 người, mật độ dân số trung bình là 114 người/ km2, gồm 30 dân tộc chung sống, trong đó có bảy dân tộc có dân số trên 10.000 người, hai dân tộc có từ 2.000 đến 5.000 người, ba dân tộc

có từ 500 đến 2.000 người Người Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người Mông chiếm 8,9% người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác

Cộng đồng và các dân tộc trong tỉnh với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo, sâu sắc nhân văn và những truyền thống tập quán trong lao động sản xuất có nhiều bản sắc dân tộc

Truyền thống văn hóa

Yên Bái được biết đến với nhiều di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh với hệ thống các đình, đền chùa và các lễ hội dân gian giàu bản sắc văn hoá truyền thống, gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Theo số liệu tổng kiểm kê di sản văn hoá năm 2011 thì hiện nay trên địa bàn tỉnh Yên Bái có trên 1.200 di sản văn hoá, trong đó hơn 700 di sản văn hoá vật thể và trên 400 di sản văn hoá phi vật thể Nhận thấy giá trị của các di sản văn hoá chính là một trong những tiềm năng dồi dào để trở thành nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Yên Bái đã rất quan tâm tới công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể, nhằm bảo tồn được các giá trị văn hoá đang có nguy cơ bị mai một, gắn với phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương

Với trên 30 dân tộc cư trú trên địa bàn, hội tụ nhiều sản phẩm văn hoá dân tộc đặc sắc, đó là những nét văn hoá truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc như: các lễ hội, các làn diệu dân ca, dân vũ, các nghi lễ, phong tục tập quán; chữ viết, ngôn ngữ, ẩm thực, nghề truyền thống…có sức cuốn hút khách du lịch trong và ngoài nước

Trang 24

Truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng

Kể từ khi thành lập (11/4/1900) đến nay, tỉnh Yên Bái đã trải qua lịch sử hơn 100 năm đấu tranh, xây dựng và trưởng thành Quá trình một thế kỷ, in đậm nhất vẫn là thời kỳ đấu tranh đầy gian khổ để giành lại nền độc lập tự do, bảo vệ toàn vẹn thành quả cách mạng, kháng chiến thắng lợi, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của

Mỹ, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Dù trải qua biết bao gian nan vất vả, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái vẫn không ngừng phát huy cao độ tinh thần yêu nước và yêu quê hương, đoàn kết chặt chẽ, lập nên những thành tựu lớn lao góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc và sự nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp

Suốt ba chục năm đầu thế kỷ XX, hết lớp này đến lớp khác, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã vùng lên chống thực dân Pháp, dù họ là người Dao, người Mông, người Tày hay người Kinh Những chiến công vang dội trên các nẻo núi rừng Yên Bái đã làm rạng rỡ những trang sử của địa phương Đặc biệt tinh thần chiến đấu anh dũng vô song của cuộc khởi nghĩa Yên Bái mùa xuân năm 1930

đã thực sự làm cho quân thù khiếp sợ

Sự lớn mạnh của Đảng bộ Yên Bái trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã trở thành nhân tố quan trọng và quyết định đối với những thắng lợi ở vùng địch hậu, trong chiến thắng của chiến dịch Nghĩa Lộ và chiến thắng Sông Thao Một lần nữa Đảng bộ Yên Bái tỏ ra vững vàng trong việc vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương của Khu ủy liên khu Việt Bắc và sau này là Khu ủy Tây Bắc Trình độ giác ngộ cách mạng, tinh thần yêu nước đã trở thành những nhân tố và những động lực quan trọng để huy động mọi sức mạnh của toàn dân đóng góp cho những thắng lợi của chiến dịch Lê Hồng Phong, chiến dịch Lý Thường Kiệt và chiến dịch Tây Bắc giải phóng quê hương

Trang 25

Trong chiến dịch Đông - Xuân (1953-1954), Yên Bái đã chứng tỏ được

vị trí của một địa bàn cửa ngõ Tây Bắc, đầu mối của các trục giao thông quan trọng Từ đây, súng đạn và lương thực được chuyển tới Điện Biên Phủ, góp phần làm nên chiến thắng hết sức to lớn kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Truyền thống yêu nước lại được tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ Hàng vạn đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái đã tham gia khai hoang, phục hóa khắc phục nạn đói những năm đầu hòa bình mới lập lại, tham gia vào chiến dịch tiêu phỉ và vây bắt biệt kích, bắn rơi máy bay trở biệt kích Lúc cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ bắt đầu, nhân dân Yên Bái đã tích cực tham gia dân quân tự vệ, bắn rơi và bắn cháy nhiều máy bay địch Phong trào “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang” đã trở thành lẽ sống để chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ Tổ quốc Hàng vạn con em Yên Bái, Nghĩa Lộ đã có mặt khắp các chiến trường Những người ở lại hậu phương ngoài nghĩa vụ “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” còn tự nguyện dời bỏ bản làng mồ mả cha ông, dời nơi ở nhường chỗ cho xây dựng công trình thủy điện Thác Bà - đứa con đầu lòng của ngành thủy điện Việt Nam

Đất nước thống nhất, nhân dân các dân tộc Yên Bái lại đồng cam cộng khổ khắc phục hậu quả chiến tranh, bắt tay khôi phục lại nhà cửa bị tàn phá trong cuộc chiến tranh hủy diệt của kẻ thù Hàng vạn con em tình nguyện lên biên giới xây dựng và chiến đấu vì sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc

Qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, tình đoàn kết dân tộc, đức tính lao động cần cù, sáng tạo Đây là những giá trị tinh thần bền vững mà Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã kế thừa, phát huy cao độ

Trang 26

trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa trên quê hương mình

Giáo dục - Con người

Trải qua những thăng trầm của các thời kỳ, nhân dân Yên Bái đã không ngừng bồi đắp nên truyền thống trong đấu tranh cũng như trong lao động sáng tạo xây dựng quê hương Yếu tố chính làm nên thành công đó là con người Yên Bái được hun đúc từ bao đời trên một vùng đất thiêng, non sông tươi tốt, giàu đẹp, ngày nay được Đảng và nhân dân khơi dậy tiềm năng, phát huy trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội đất nước Yếu tố con người, yếu tố có tính quyết định, một phần to lớn là do giáo dục mà nên Vì vậy giáo dục đã được hình thành, phát triển cùng với quá trình đấu tranh xây dựng đất nước, quê hương bằng việc dạy bảo của thế hệ trước cho thế hệ sau học tập, rèn luyện, trưởng thành Việc dạy, việc học đã thành truyền thống lâu đời, mang bản sắc riêng, nét đẹp văn hóa của các dân tộc Yên Bái

1.1.1.4- Tình hình giáo dục trung học phổ thông Yên Bái trước năm 2001 Bước đầu xây dựng ngành học Giáo dục phổ thông 1945-1955

Tại Nghị quyết Đại hội Quốc dân Tân Trào tháng 8/1945, trong nhiệm vụ thứ 9 đã nêu rõ: Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ phổ thông

và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hóa mới Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 8/9/1945, Chính phủ đã ban hành một lúc ba sắc lệnh (17, 19, 20SL) về thành lập Nha Bình dân học vụ, về thiết lập các lớp bình dân học vụ buổi tối và bắt buộc học chữ quốc ngữ cho tất cả mọi người Nhân dân Yên Bái nô nức đi học các lớp bình dân, vì vậy việc tổ chức và xây dựng ngành giáo dục phổ thông chưa trở thành một mảng công tác riêng biệt, mà gắn với công tác trọng tâm là chống nạn thất học và xóa mù chữ

Trang 27

Những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ở Yên Bái, việc tổ chức và xây dựng ngành giáo dục phổ thông nói riêng và giáo dục nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, hoạt động về giáo dục còn lẻ tẻ, thiếu liên tục

Năm 1951, Ty Giáo dục Yên Bái được thành lập, cũng là năm trường trung học Yên Bái có 3 lớp (lớp 5, 6 và lớp 7) hoàn chỉnh

Năm 1951, thực hiện cải cách giáo dục lần thứ nhất, hệ thống giáo dục phổ thông được bố trí thời gian là 9 năm với ba cấp học: Cấp I: 4 năm; cấp II: 3 năm; cấp III: 2 năm Các lớp từ thấp đến cao từ lớp 1 đến lớp 9, không có kỳ thi tốt nghiệp, chỉ có các kỳ thi chuyển cấp

Năm học 1955, ở Yên Bái lần đầu tiên có 1 lớp 8 nằm trong trường phổ thông cấp II + III Có thể nói, đến năm 1955 Yên Bái đã hoàn thành việc xây dựng bước đầu, cơ bản cho ngành học phổ thông

Giáo dục phổ thông trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 -1975)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đất nước ta chuyển sang giai đoạn lịch

sử mới: Miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục cải tạo nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Miền Nam tiếp tục công cuộc kháng chiến chống Mỹ để thống nhất đất nước Trong bối cảnh lịch sử đó, sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục Yên Bái nói riêng cần có những chủ trương chính sách mới phù hợp để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ do cách mạng đặt ra

Tháng 3/1956, Đại hội Giáo dục toàn quốc họp đã thảo luận và thông qua

đề án của Bộ Giáo dục, thống nhất thực hiện hệ thống trường phổ thông 10 năm thay thế hệ thống trường phổ thông 9 năm trước đây và hệ thống giáo dục 11 năm trong vùng địch tạm chiếm vừa mới giải phóng Đây là cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 Hệ thống giáo dục mới có tính chất xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và nhằm phục vụ nhân dân lao động Cải cách giáo dục lần thứ hai đã đi vào cuộc sống của nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, góp phần quan trọng vào việc đào tạo lớp người phục vụ cho sự

Trang 28

nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Từ năm 1955 đến 1975, giáo dục phổ thông Yên Bái phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và đạt được những thành tích to lớn: Mạng lưới trường, lớp, các cấp học phát triển mạnh, được phân bố hầu khắp các địa bàn Năm học 1975-

1976, ở vùng thấp, tất cả các xã đều có trường tiểu học, các xã lớn có trường trung học cơ sở và toàn tỉnh có 10 trường trung học phổ thông Giáo dục phổ thông chẳng những phát triển để đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân

mà còn góp phần quan trọng trong bồi dưỡng thể hệ trẻ thành những người lao động làm chủ nước nhà, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa và kỹ thuật,

có sức khỏe, nhằm phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân lao động

Giáo dục phổ thông thời kỳ 1976-1991

Cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước của nhân dân ta kết thúc thắng lợi,

mở ra thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta bước vào chặng đường đầu củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là điều kiện thuận lợi to lớn cho cả dân tộc ta phát triển kinh tế - văn hóa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước, tiềm năng kinh tế, trí tuệ của cả dân tộc được phát huy làm cho dân giàu nước mạnh

Năm 1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục (cải cách giáo dục lần 3), sắp xếp lại các trường phổ thông theo hệ thống 12 năm chia thành 2 bậc, 3 cấp Bậc phổ thông cơ sở gồm 2 cấp: Tiểu học 5 năm (từ lớp 1 đến lớp 5) và Trung học

cơ sở 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9), bậc Trung học phổ thông 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12)

Ngoài những thuận lợi và khó khăn của cả nước, giáo dục Yên Bái và Hoàng Liên Sơn nói chung còn đứng trước những thử thách khó khăn mới, có

Trang 29

tính chất khu vực, không kém phần gay gắt, đó là việc sáp nhập ba tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn (ngày 27/12/1975) Sự lớn lên về kinh tế cũng như mọi tiềm năng khác là một thuận lợi nhưng cũng kéo theo nhiều khó khăn: Địa bàn giáo dục trở lên rộng lớn, đa dạng và phức tạp, dân trí thấp, lạc hậu, thiếu thốn cơ sở vật chất cho giáo dục, đặc biệt là trường, lớp Hơn nữa, mới sau 3 năm thành lập, tỉnh Hoàng Liên Sơn đã phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, trường, lớp bị phá hoại, nhân dân và học sinh phải sơ tán, phải tham gia bảo vệ đất nước Có thể nói, cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, giáo dục Yên Bái ở vào tình trạng xuống cấp nặng nề

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã có những sự chỉ đạo cụ thể, kịp thời; đồng thời, ngành Giáo dục phổ thông Hoàng Liên Sơn đã có nhiều cố gắng, bám sát tình hình trong nước và địa phương, kịp thời chuyển hướng tổ chức các hoạt động trên mọi phương diện

Trong 15 năm từ 1976 đến 1991 là giai đoạn giáo dục Yên Bái có nhiều biến động, có những biến động gây khó khăn, trở ngại và có cả những chuyển biến theo hướng tốt đẹp và cuối cùng là sự khỏi sắc, đẩy lùi tình trạng xuống cấp, giữ vững và phát triển cả về số lượng và chất lượng Đến năm 1991, toàn tỉnh có 98 trường tiểu học, 44 trường trung học cơ sở và 14 trường trung học phổ thông

Giáo dục phổ thông giai đoạn 1991-2000

Thực hiện cải cách giáo dục lần thứ ba, hệ thống trường phổ thông 12 năm chia thành 2 bậc, 3 cấp Học sinh học xong mỗi cấp, mỗi bậc đều phải dự

kỳ thi tốt nghiệp lấy bằng tốt nghiệp

Trang 30

Tháng 9-1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái Năm học 1991 -1992, năm học đầu tiên tái thiết tỉnh Yên Bái cũng là năm học đầu tiên Bộ Giáo dục tiến hành phân ban trung học phổ thông

Giáo dục trung học phổ thông toàn tỉnh có 14 trường (trong đó có 4 trường phổ thông liên cấp 2+3), gồm:

Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ Trường Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt Trường Trung học phổ thông Chuyên Hoàng Liên Sơn Trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú vùng cao Trường Trung học phổ thông Nghĩa Lộ

Trường Trung học phổ thông Văn Yên Trường Trung học phổ thông Trấn Yên Trường Trung học phổ thông Yên Bình Trường Trung học phổ thông Thác Bà, Yên Bình Trường Trung học phổ thông Lục Yên

Trường Trung học phổ thông Văn Chấn Trường Phổ thông liên cấp 2+3 Mù Cang Chải Trường Phổ thông liên cấp 2+3 Trạm Tấu Trường Phổ thông liên cấp 2+3 Hưng Khánh Trường Phổ thông liên cấp 2+3 Cẩm Nhân Sau khi tỉnh Yên Bái được tái thiết, thực hiện việc điều chỉnh, sắp xếp hệ thống mạng lưới trường lớp nhằm quán triệt thực hiện Chỉ thị 17/CT ngày 12/8/1992 của Bộ Giáo dục về những nhiệm vụ chính trong năm học 1992-

1993, trong đó có chương trình đổi mới công tác quản lý tổ chức và quản lý Giáo dục và Đào tạo Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế và tăng cường quản lý giáo dục trung học phổ thông, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Giáo dục phối hợp với các địa phương chỉ đạo việc chuyển đổi trường Trung

Trang 31

học phổ thông Lục Yên, Trung học phổ thông Văn Chấn, Trung học phổ thông Thác Bà thành trường Phổ thông liên cấp 2+3 để tăng số lượng vì học sinh trung học phổ thông bỏ học quá nhiều Thực hiện xã hội hóa giáo dục, đa dạng hóa loại hình trường lớp, từ năm 1991-1992, Yên Bái đã thí điểm mở lớp bán công trung học phổ thông trong trường trung học phổ thông công lập Đến năm học 1993-1994, tỉnh đã thành lập thêm trường Phổ thông liên cấp 2+3 khu vực Chấn Thịnh, Văn Chấn, đồng thời thành lập riêng trường Trung học phổ thông Bán công Yên Bái, thay cho mở lớp bán công trong trường công lập như những năm trước Năm học 1996-1997, sau khi xem xét tình hình trường lớp Trung học phổ thông bán công có hướng phát triển, ổn định, tỉnh đã chủ trương cho cho trường phổ thông lao động mở thêm khối lớp bán công trung học phổ thông Cũng trong thời gian từ 1994-1998, các trường bồi dưỡng giáo dục Yên Bình, Văn Yên, Trấn Yên, Lục Yên, thị xã Nghĩa Lộ được giao nhiệm vụ mở lớp bán công trung học phổ thông Do vậy, đã tăng đáng kể số lượng học sinh trung học phổ thông, giảm được sức ép với các trường trung học phổ thông công lập, đáp ứng nhu cầu học tập đối với con em nhân dân

Trong năm 1999, quy mô, mạng lưới trường trung học phổ thông được

mở rộng theo hướng đa dạng hóa loại hình, xã hội hóa nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục, đã được tỉnh cho thành lập thêm 8 trường trung học phổ thông:

Trường Trung học phổ thông Hoàng Quốc Việt, huyện Trấn Yên Trường Trung học phổ thông Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn

Trường Phổ thông liên cấp 2+3 Hồng Quang, Lục Yên Trường Trung học phổ thông bán công Phan Bội Châu, thị xã Yên Bái Trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Trãi, thị xã Nghĩa Lộ Trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Khuyến, huyện Văn Yên Trường Trung học phổ thông bán công Hồ Tùng Mậu, huyện Lục Yên Trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Du, huyện Trấn Yên

Trang 32

Thực hiện chủ trương gắn nhà trường với đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, năm 2000, huyện Văn Yên được thành lập trường Trung học phổ thông Nguyễn Lương Bằng Trường đã góp phần đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhân lực phát triển vùng lúa cao sản khu vực 8 xã Đại An, An Phú, An Bình, tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Văn Yên

Thống kê mạng lưới trường, lớp, quy mô học sinh trung học phổ thông từ năm 1991 đến 2000

Chất lượng dạy và học không ngừng được tăng lên Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học, số học sinh giỏi quốc gia, học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng

Trang 33

Tuy nhiên sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, nhất là vùng cao, vùng xâu vùng xa Một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên yếu về năng lực và chuyên môn Một bộ phận học sinh ý thức học tập và rèn luyện chưa tốt Trong thi cử, xét tuyển, dạy thêm, học thêm và sử dụng các nguồn thu trong nhà trường quản lý chưa thật chặt chẽ

1.1.1.4.- Chủ trương phát triển giáo dục trung học phổ thông của Đảng

bộ tỉnh Yên Bái

Ngày 03/02/2001 Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XV nhiệm kỳ 2001-2005, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, trong lúc nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, từng bước hội nhập vào khu vực và thế giới, đã xác định:

15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên bái lần thứ XIV, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

đã vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của địa phương để đề ra những chủ trương sát hợp Đồng thời trong lãnh đạo có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với yêu cầu và sự biến động của thị trường Nhìn tổng quát 15 năm 1986-2000 và nhất là chặng đường 5 năm (1996-2000), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã giành được nhiều thành tựu quan trọng

Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XV tiến hành trong bối cảnh quốc

tế có nhiều biến đổi sâu sắc Khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt chưa từng thấy, nhất là công nghệ thông tin Hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế quốc

tế ngày càng trở thành xu thế khách quan, đây là điều kiện thuận lợi, nhưng cũng rất khó khăn đối với những nước đang phát triển như nước ta Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn đang tiếp tục sử dụng thành tựu khoa học, công nghệ và tiềm lực kinh tế, quân

Trang 34

sự nhằm thống trị thế giới Chủ nghĩa xã hội thế giới tạm lâm vào thoái trào, nhưng tính chất thời đại vẫn không thay đổi

Tình hình kinh tế trong nước thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng Cơ sở vật chất được tăng cường Sự hợp tác liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển, tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị xã hội ổn định Bên cạnh đó, sự thấp kém của nền kinh trong quá trình đi lên là một thách thức lớn đối với nước ta

Đối với Yên Bái, trở ngại lớn nhất vẫn là tỉnh nghèo về kinh tế, trình độ dân trí thấp, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, yếu về tổ chức và quản lý Để đưa tỉnh ta trở thành tỉnh phát triển, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân phải nắm bắt thời

cơ, vượt qua khó khăn, nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, chủ động, sáng tạo vươn lên trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ tình hình đó Đại hội Đảng bộ lần thứ XV đã đưa ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu giai đoạn 2001-2005, trong đó cũng đưa ra phương hướng

cụ thể cho ngành Giáo dục: “Phát triển giáo dục - đào tạo để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [70, tr.53]

Xuất phát từ phương hướng đó, Đảng bộ tỉnh đã đề ra những nhiệm vụ

cụ thể cho ngành giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng

Thứ nhất: Tiếp tục phát triển mạnh giáo dục - đào tạo theo hướng toàn

diện, thực hiện giáo dục thường xuyên, giáo dục tại chức

Thứ hai: Đổi mới phương thức dạy, học để nâng cao chất lượng, cân đối

các ngành học, cấp học và giữa các vùng

Trang 35

Thứ ba: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống trường, lớp

Quan tâm đúng mức sự nghiệp giáo dục vùng cao, vùng sâu, vùng xa Giữ vững thành quả và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục

Thứ tư: Khuyến khích phát triển các trường dạy nghề, bán công, tư thục,

xúc tiến mở rộng các trường Cao đẳng sư phạm, phấn đấu để trở thành trường đại học hoặc cao đẳng đa ngành của tỉnh và khu vực trong quy hoạch, hệ thống các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo [70, tr.56]

1.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện

1.2.1- Quá trình chỉ đạo

Thứ nhất, phát triển quy mô giáo dục trung học phổ thông Triển khai

thực hiện các Nghị quyết của Đảng về phát triển giáo dục trung học phổ thông, tiến tới phổ cập trung học phổ thông vào giai đoạn tới Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo tập trung tăng cường củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học theo hướng đúng độ tuổi; đẩy mạnh, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở tạo tiền đề; trên cơ sở đó, chủ động mở rộng mạng lưới trường, lớp trung học phổ thông, tạo điều kiện huy động tối đa thanh thiếu niên tốt nghiệp trung học cơ sở vào học ở cấp trung học phổ thông

Năm 2004, chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở của tỉnh chuyển sang giai đoạn tăng tốc, do đó, số thanh thiếu niên tốt nghiệp trung học

cơ sở tăng lên, phần lớn là ở địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa và có nhu cầu học lên trung học phổ thông Theo quy hoạch và kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; Đảng bộ tỉnh đã cho phép thành lập mới một số trường trung học phổ thông, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc Tuy nhiên, trước khó khăn về cơ sở vật chất, đội ngũ, một số địa phương chủ trương thành lập các phân hiệu trường trung học phổ thông, tuyển sinh thu hút học sinh

là người dân tộc thuộc vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa đi học Cụ thể:

Trang 36

- Năm 2003, thành lập phân hiệu Dân tộc nội trú khu vực Miền tây, đặt trong trường Trung học sư phạm 12+2 Nghĩa Lộ; và phân hiệu Mai Sơn thuộc trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ huyện Lục Yên

- Năm 2004, thành lập 3 phân hiệu trung học phổ thông: Phân hiệu An Bình thuộc trường Trung học phổ thông Chu Văn An, huyện Văn Yên; Phân hiệu Nghĩa Tâm thuộc trường Trung học phổ thông Văn Chấn, huyện Văn Chấn và Phân hiệu Nậm Búng thuộc trường Trung học phổ thông Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn

Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục

Ngày 09/12/2000, Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khoá X ban hành Nghị quyết 40/2000/QH-10 về việc “Đổi mới chương trình nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông” Triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 3668/KH-BGDĐT ngày 11/5/2001 về việc “Triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”

Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để triển khai chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

Nền tảng nâng cao năng lực người lao động là trình độ văn hoá, vì vậy Đảng ta đã đặt mục tiêu đến năm 2000 cả nước hoàn thành xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, đến năm 2010 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Do

đó, giai đoạn từ 1991 đến 2000 là thời kỳ đảm bảo đội ngũ giáo viên phục vụ tốt nhiệm vụ trọng tâm hoàn thành xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, chuẩn bị đầy đủ đội ngũ giáo viên tiến tới phổ cập trung học cơ sở Từ năm 2000-2005 là giai đoạn hoàn thiện cơ cấu, nâng cao chất lượng, chuẩn hoá đội ngũ, đáp ứng giáo dục toàn diện và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Đảng bộ tỉnh xác định để hoàn thành được nhiệm vụ trên, công tác đào tạo, bồi

Trang 37

dưỡng đội ngũ giáo viên cho các ngành học cấp học phải đi trước, chuẩn bị đủ

số lượng, chất lượng, cơ cấu, vùng miền phục vụ mục tiêu đã đề ra

Thứ tư, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị trường học

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt chương trình xóa phòng học tạm tại Quyết định số 346/QĐ-UB ngày 08/7/2002 Quyết định được ban hành trước khi Chính phủ ban hành Quyết định 159/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2003 phê duyệt Đề án xây dựng kiên cố xoá phòng học tạm

Thứ năm, thực hiện chính sách giáo dục vùng khó khăn

Đa dạng hoá các nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế Kết luận số /KL-TW ngày 26/7/2002 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo từ nay đến năm 2005 và đến năm

14-2010, Đảng bộ tỉnh Yên Bái chủ trương “Tăng cường đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo”, Nghị quyết số 20-CTr/TU ngày 18/10/2002 của Tỉnh uỷ Yên Bái về

Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 14-/KL-TW ngày 26/7/2002

Nghị quyết TW2 khoá VIII của Đảng

Quyết định số 331/QĐ-TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin từ nay đến 2010, Công văn số 7485/KHTC ngày 24/8/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sử dụng nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu Quốc gia giáo dục và đào tạo năm 2004, 2005 Phấn đấu đến 2010 phổ cập kiến thức và kỹ năng sử dụng máy tính và Internet đến 100% cán bộ, công chức và viên chức, 100% sinh viên đại học và cao đẳng, 100% học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học nghề và trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở

Trang 38

Nguồn: Giáo dục và Đào tạo Yên Bái - 60 năm xây dựng và trưởng thành

Trong 5 năm, giáo dục trung học phổ thông tỉnh Yên Bái tiếp tục có bước phát triển mạnh về quy mô Tuy số trường không thay đổi nhưng số lớp, số học sinh có sự phát triển mạnh mẽ: Tăng 202 lớp, tăng 8.595 học sinh So với năm học 1990-1991, quy mô học sinh trung học phổ thông tăng 5,92 lần, về cơ bản

đã đảm bảo tạo mọi điều kiện cho con em đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng

xa đi học trung học phổ thông, thực hiện công bằng trong giáo dục, chuẩn bị triển khai thực hiện phổ cập trung học phổ thông ở một số khu vực vùng thuận lợi trong tỉnh

Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học

Cùng với sự đầu tư của các Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ngân sách tập trung của tỉnh và các nguồn vốn khác mỗi năm cũng chỉ đầu tư xây dựng mới được từ 80 đến 100 phòng học, sửa chữa được từ 55 đến 70 phòng học trong khi đó theo số lượng thống kê thời điểm tháng 8/2002 toàn tỉnh Yên Bái có 2.165 phòng học tạm, (chưa kể các phòng học mượn) Tỷ lệ phòng học xây toàn tỉnh trước khi có chương trình kiên cố hoá trường, lớp học chỉ đạt

Trang 39

40%, sau gần 3 năm thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp học tỷ lệ phòng học xây toàn tỉnh đã đạt gần 87% tăng 47% và đến hết năm 2005 toàn tỉnh đã xoá xong 2.165 phòng học tạm Hàng năm bằng các nguồn vốn đã đầu

tư bổ sung trang bị được trên 2000 bộ bàn ghế giáo viên, học sinh, trên 300 bảng chống loá cho các cơ sở giáo dục

Đối với giáo dục trung học phổ thông, các nguồn lực được ưu tiên đầu tư

Tỷ lệ phòng học xây đạt trên 90%, đã xóa bỏ tình trạng học ba ca; một số trường đã được đầu tư các thiết bị hiện đại vào thời điểm trước 2005 như máy

vi tính, phòng học tin học, phòng học chức năng, các công trình phụ trợ phục

có nhiều em học sinh đạt giải quốc gia

Với kết quả phong trào thi đua “Hai tốt”, chất lượng giáo dục và đào tạo được giữ vững, nhiều học sinh của tỉnh thi đỗ vào các trường đại học trong nước và đi học ở nước ngoài Hàng năm có gần 1.000 học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong nước…

Trang 40

Thực hiện việc phân ban ở cấp trung học phổ thông: Trong thời gian bắt

đầu từ năm học 2003-2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thí điểm chương trình phân ban trung học phổ thông Yên Bái được Bộ chỉ định tham gia Dự án thí điểm chương trình phân ban trung học phổ thông tại 4 đơn vị trường Trung học phổ thông: Nguyễn Hụê và Lý Thường Kiệt, thành phố Yên Bái; Lê Quý Đôn, huyện Trấn Yên và Nghĩa Lộ, thị xã Nghĩa Lộ

- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà giáo

Cùng với việc tăng quy mô, số lượng giáo viên cấp trung học phổ thông

có sự tăng trưởng để đáp ứng yêu cầu Cùng với đó, từ năm 2001, Sở Giáo dục

đã xây dựng Dự án đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp Kết quả đến năm 2005, tỷ lệ giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn trở lên đạt 97% [41, tr.6]

1.2.2.3- Thực hiện chính sách giáo dục vùng khó khăn

Tập trung tăng quy mô trường dân tộc nội trú cấp trung học phổ thông Đến năm 2005, tỉnh có 1 trường Phổ thông dân tộc nội trú đặt tại trung tâm thành phố Yên Bái và 01 phân hiệu đặt tại thị xã Nghĩa Lộ; hàng năm tuyển mới 4 lớp với trên 100 học sinh người dân tộc từ các địa phương trong tỉnh Cơ

sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và các điều kiện phục vụ học tập, sinh hoạt của học sinh người dân tộc được quan tâm, chú trọng Chất lượng giáo dục của trường dân tộc nội trú được đánh giá thuộc nhóm các trường có chất lượng cao trong tỉnh

Trong một giai đoạn dài, giáo dục vùng cao Yên Bái thường trong tình trạng vào ngày mùa, sau Tết Nguyên đán, vụ giáp hạt học sinh nghỉ học, không đến trường Tình trạng này diễn ra ở tất cả các cấp học, đặc biệt là ở bậc trung học phổ thông, do các em đã trở thành lao động chính trong gia đình Thực hiện chủ trương hỗ trợ học sinh đến trường ở cấp trung học phổ thông, đặc biệt ở hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải; Tỉnh ủy đã phân công các đồng

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w