1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Kinh Tế Thể Chế - Đề Tài :Cải Cách Thể Chế Kinh Tế Trung Quốc

23 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải Cách Thể Chế Kinh Tế Trung Quốc
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Thể Chế
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 82,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ TRUNG QUỐC 1 1 Cải cách chế độ sở hữu Chế độ sở hữu là gì ? Chế độ sở hữu là Chế độ pháp lý gồm tổng thể các quy phạm pháp Luật hiến pháp quy định hình thức sở hữu đối với của[.]

Trang 1

CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ TRUNG QUỐC 1.1 Cải cách chế độ sở hữu

Chế độ sở hữu là gì ?

Chế độ sở hữu là Chế độ pháp lý gồm tổng thể các quy phạm pháp Luật hiếnpháp quy định hình thức sở hữu đối với của cải vật chất mà trước hết là các

tư liệu sản xuất, các tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng và các tài sản khác Chế độ

sở hữu xuất hiện từ khi xuất hiện nhà nước và pháp luật

Trung quốc đã khẳng định ngay từ khi bước đầu vào cải cách, Trung Quốc

khẳng định cải cách chế độ sở hữu là vấn đề không thể né tránh

MỤC ĐÍCH : nhằm giải phóng và phát triển sức sản xuất.

Tư tưởng của cải cách là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó công hữu có vài trò chủ thể (chế độ công hữu là trong đó tư liệu sản xuất thuộc về

xã hội hoặc thuộc về tập thể, phân biệt chế đô tư hữu)

Tiêu chí : Hình thức sở hữu nào có lợi cho phát triển của sức sản xuất, sức

mạnh tổng hợp của đất nước, và cho việc nâng cao mức sống của người dân đều được xem là nhân tố tích cực và được khuyến khích phát triển tối đa

( công hữu- tư liệu xản xuất thuộc xã hội và tập thể dưới sự quản lí của nhà nước và phi công hữu- tư liệu sản xuất thuộc ngoài nhà nước đều là nhân tố

tích cực)

Hội nghị Trung ương 3 khóa XII đã thông qua Nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc (10/1984) về cải cách thể chế kinh tế Nghị quyết chỉ rõ:

NỀN TẢNG : “Nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ

sở chế độ công hữu Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hóa là giai đoạn không thể

bỏ qua của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu để thực hiện hiện đại hóa Trung Quốc” và trải qua các HNTW 3 thì nghị quyết ấy hầu như khôngthay đổi

- Nên kinh tế TQ chia thành:

Trang 2

+ Kinh tế công hữu: (1) kinh tế quốc hữu ( sở hữu nhà nước)

(2) Kinh tế tập thể+ kinh tế phi công hữu: ( nền kinh tế ngoài nhà nước )

(1) Kinh tế có vốn bên ngoài (Hồng kong, Ma Cao, Đài Loan)

(2) Kinh tế tư doanh

+ Kinh tế quốc hữu phải khống chế mạch máu của nền kinh tế quốc dân (kinh

tế nhà nước đóng chiếm ưu thế trong sự phát triển nền kinh tế tổng thể)

+ Kinh tế quốc hữu đóng vai trò chủ đạo đối với phát triển kinh tế ( nền kinh tế nhà nước là chủ đạo, nồng cốt, quyết định việc phát triển kinh tê của đất nước)

+ Bên cạnh đó, TQ coi trọng vị thế của kinh tế phi công hữu Nhà nước có nhiều chính sách đối xử bình đẳng với tất cả các loại hình doanh nghiệp

( không phân biệt nhà nước hay tư nhân), không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành luật bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, kiện toàn các chính sách vĩ mô ( cung tiền, chính sách tài khóa, thuong mại, ) tạo môi trường canh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp Đồng thời nhà nước cũng

khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp vừ và nhỏ phát triển

1.2 Xây dựng đồng bộ khung thể chế kinh tế thị trường XHCN (mang màu sắc Trung Quốc)

Trang 3

Theo tiến trình cải cách, Nhà nước TQ dần rút lui khỏi sự can thiệp trực tiếp vào thị trường cũng như hoạt động của doanh nghiệp, tăng sự điều tiết của thịtrường, thay vào đó, nhà nước ban hành các đạo luật và đưa ra các chính sách hỗ trợ cho các cơ chế thị trường và cũng như khuyến khích sáng tạo, đổimới, phân phối có hiệu quả nguồn lực.

Kể từ năm 1978 chính quyền Trung Quốc đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn duy trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Chế độ này được gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xãhội mang màu sắc Trung Quốc", là một loại kinh tế hỗn hợp

- Đổi mới công tác kế hoạch hóa: Kinh tế Kế hoạch hóa-> Kinh tế kế hoạch hóa tập trung -> kinh tế kế hoạch làm chính, lấy điều tiết thị

trường làm bổ trợ-> nền kinh tế XHCN

+ Kế hoạch hóa: bao gồm toàn bộ hành vi can thiệp có chủ định của Nhànước vào nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đề ra

+ Kinh tế kế hoạch hóa là một nền kinh tế trong đó Nhà nước kiểm soát toàn

bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền quyết định việc sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Trong một nền kinh tế như vậy, các nhàlàm kế hoạch quyết định loại và khối lượng hàng hóa nào sẽ được sản xuất, các xí nghiệp thực thi việc sản xuất này

+ Kinh tế thị trường định hướng XHCN là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thaythế nền kinh tế kế hoạch tập trung bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo

cơ chế thị trường mà ở đó kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo

+ Từ năm 1945- 1977, Trung Quốc duy trì và quản lý kinh tế theo mô hình

quản lý thống nhất tập trung cao độ mà Liên Xô đã áp dụng trước đó - thể chế kinh tế kế hoạch Đặc trưng của mô hình này là nhà nước thống nhất quản

lý; chỉ huy điều tiết mọi hoạt động kinh tế thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, lưuthông, phân phối, tiêu thụ; đưa nền kinh tế vào quỹ đạo kế hoạch pháp lệnhcủa nhà nước Trong giai đoạn đầu sau thế chiến hai 1945 mô hình này đãgiúp cho Trung Quốc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tuy nhiên sau một thời

Trang 4

gian thực hiện, thể chế kinh tế kế hoạch bắt đầu bộc lộ những yếu kém Donhà nước tập trung quá nhiều quyền lực, quản lý xí nghiệp quá chặt, khôngphân biệt rõ chức năng chính quyền và xí nghiệp… nên làm mất đi sức sốngcủa kinh tế XHCN, hiệu quả kinh tế rất thấp Do đó đổi mới mô hình thể chếchế kinh tế mới là vấn đề cần thiết

+ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) quyếtđịnh tiến hành cải cách và mở cửa Trung Quốc phát triển đường lối xây dựngnền kinh tế thị trường XHCN của Trung Quốc gắn liền với việc từng bướcđoạn tuyệt với nền kinh tế KHH tập trung

- Giai đoạn một (1978-1984): “lấy kinh tế kế hoạch làm chính, lấy điều tiết thị trường làm bổ trợ” Đây là bước chuyển mang tính đột phá

- Giai đoạn hai (1984-1993): “nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hoá

có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu”.

=> Một nền kinh tế hỗn hợp giữa kế hoạch và thị trường trong đó khu vực nhànước và tư nhân cùng tồn tại song song chứa đựng nhiều mặt trái của nềnkinh tế kế hoạch như quan liêu,quyền sở hữu tư nhân chưa được tôn trọng vàcác mặt trái củachủ nghĩa tư bản như thu nhập bất thường, phân hóa giàunghèo, lạm phát tăng cao Những căng thẳng kinh tế cùng những tác độngxấu về mặt chính trị khiến BắcKinh quay về đường lối cũ, tái thắt chặt kiểmsoát của Trung ương trong những khoảng thời gian nhất định

- Giai đoạn ba (1993-2003): xây dựng “thể chế kinh tế thị trường XHCN”, thực chất là làm cho thị trường có vai trò cơ sở đối với phân phối tài nguyên, dưới sự kiểm soát vĩ mô của nhà nước; hình thành thể chế xí nghiệp

hiện đại phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, tách chính quyền khỏi xínghiệp

- Giai đoạn bốn (từ HNTW 3 khoá XVI, 2003): khẳng định “nền kinh tế thị trường XHCN” Đi liền với sự khẳng định này là việc xác định khung thể chế

cơ bản của nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc

- Cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại hình thị trường:

Trang 5

+ Thị trường hàng hóa: cải cách chế độ bán buôn, bán lẻ trong thương mại,

cho phép kinh tế phi quốc hữu được tham gia buôn bán, lập ra các chợ bánbuôn và các trung tâm thương mại, hình thành dần thị trường hoàng hóa, nốiliền thành thị và nông thôn

+ Thị trường vốn: được hình thành và phát triển thông qua việc thiết lập thị

trường tín dụng, đẩy mạnh hoạt động của thị trường cổ phiếu và trái phiếu

+ Thị trường lao động: hình thành thông qua việc nới lỏng những hạn chế

đối với việc di cư từ nông thôn ra thành thị, tạo tính linh hoạt cao hơn cho laođộngt hành thị và mở ra các cơ sở giới thiệu việc làm

+ Thị trường khoa học, công nghệ: Nhà nước khuyến khích hội chợ thương

mại hàng công nghệ, giảm bớt hàng rào nhập khẩu công nghệ, nới lỏng quyđịnh đối với hợp đồng chuyển nhượng bằng sáng chế công nghệ,…

VD: TQ ứng phó thành công với khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (năm

1997) và đặc biệt là chủ động mở cửa, đưa Trung Quốc phát triển vượt bậckhi gia nhập WTO Năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nềnkinh tế có tổng lượng GDP lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ(2) Mức tăngtrưởng kinh tế trong giai đoạn 1997 - 2008 bình quân đạt trên 8%/năm

- Cải cách giá cả:

+ Năm 1979, Trung Quốc xác định mục tiêu của cải cách giá cả là xây dựng thể chế giá cả của thị trường được tiến hành theo ba bước: điều chỉnh, nới lỏng từng bước, và gắn với thị trường Năm 1984, Nhà nước bắt đầu thực

hiện “chế độ hai giá” đối với tư liệu sản xuất, nhưng đến năm 1990 chuyểnsang chế độ một giá

+ Giá cả hàng hóa nhập khẩu cũng được thả nổi, giá hàng xuất khẩu được thịtrường quyết định, còn hàng nhập khẩu thì 95% theo giá thị trường và 5% donhà nước định giá và phần chênh lệch được nhà nước bù

- Thay đổi sự can thiệp của Chính Phủ vào hoạt động các doanh nghiệp:

Trang 6

+ Trong giai đoạn đầu của cải cách (1978-1993) nền kinh tế Trung Quốc tuy

có thay đổi nhưng vẫn còn nền kinh tế XHCN hàng hóa kế hoạch và pháp lýcòn yếu kém nên Nhà nước vẫn còn can thiệp sâu vào hoạt động của cácdoanh nghiệp

+ Từ 1993 đến nay Trung Quốc bước vào xây dựng “thể chế kinh tế thị trườngXHCN”, Nhà nước dần rút lui và không còn can thiệp sâu vào hoạt động củacác doanh nghiệp, để các doanh nghiệp tự hoạt động và để thị trường tự điềutiết thông qua các hình thức tư nhân hóa, công ty hóa, chứng khoán hóa, cònNhà nước sẽ quản lý chung và sẽ can thiệp, hỗ trợ khi cần thiết

1.3 Cải cách thể chế kinh tế ở nông thôn:

* Giai đoạn 1 (1978 - 1992)

Giai đoạn này Trung Quốc đã có nhiều cải cách lớn tạo ra bước đột phá chonền kinh tế nông thôn Trung Quốc, trong đó có 3 nội dung lớn cần phải đề cậpđến:

- Khoán sản lượng đến hộ gia đình

Trước khi thực hiện cải cách thì TQ áp dụng chế độ phân phối bình quân ởnông thôn theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung Sau đó cải cáchthành chế độ “khoán sản lượng đến hộ gia đình”: tức là tùy theo số người laođộng, tư liệu sản xuất của từng hộ gia đình mới quyết định số lượng nông sảncần nộp Điều này đã nâng cao được ý thức trách nhiệm của người nông dân,chất lượng cũng như số lượng sản phẩm Chế độ này được bắt đầu từ cácvùng núi hẻo lánh sau đó mới dần dần lan rộng ra các vùng nông và các vùngđồng bằng ven biển , từ các đội công xã nghèo khó đến các các đơn vị giàucó

Kết quả đem lại cực kì khả quan, sự giải phóng năng lực sản xuất cho hàngtrăm hộ nông dân đã mang đến bước tiến lớn cho nền kinh tế TQ và đảm bảo

về mặt thể chế cho sự phát triển ổn định của nông nghiệp TQ trong nhiều thập

kỉ qua

- Xóa bỏ chế độ công xã nhân dân

Công xã nhân dân:  là cấp bậc cao nhất trong ba cấp bậc hành chánh ở nôngthôn trong thời kỳ từ năm 1958 đến năm 1985 Công xã, đơn vị tập thểhóa lớn nhất, được chia thành những đội và đoàn sản xuất Các công xã cócác chức năng kinh tế, chính trị và chính quyền Mỗi công xã là một tập hợpcác nông trại tập thể hóa nhỏ hơn tổng cộng có chừng 4.000-5.000 hộ gia

Trang 7

đình, và các công xã lớn hơn có thể có đến 20.000 hộ gia đình Trong công

xã, tất cả các tư liệu sản xuất, nhà bếp, tiền bạc đếu của chung; các hoạtđộng sản xuất sinh hoạt đều tập trung không được hoạt động theo hộ gia đìnhKhi Trung Quốc áp dụng chế độ “Khoán sản lượng đến hộ gia đình” chế độCông xã nhân dân tại thời điểm này không còn phù hợp nữa vậy nên vào đầunhững năm 1980, công xã nhân dân tự tan rã dần và thay vào đó là hệ thốngchính quyền nông thôn mới Chính quyền mới đặc biệt chú trọng đến các khâudịch vụ trước, trong và sau sản xuất, lập ra các mạng lưới phục vụ nôngnghiệp hóa nông thôn với chủ thể là các hợp tác xã cung cấp cho nông dâncác dịch vụ tổng hợp vê thông tin, vật tư, kỹ thuật, chế biến,

- Cải cách thể chế lưu thông nông sản

Trước khi tiến hành cải cách, Trung Quốc áp dụng cơ chế Nhà nước thu muatập trung

Trong thời kì nền kinh tế còn tăng trưởng theo chiều rộng cơ chế này đem lạirất nhiều ưu điểm: ổn định giá cả tuy nhiên nó cũng đem lại rất nhiều nhượcđiểm: triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tínhnăng động sáng tạo của các đơn vị kinh doanh

Vậy nên Trung Quốc đã chuyển sang áp dụng cơ chế thu mua theo hợp đồng

và thu mua theo thị trường cho phép người lao động có thể đem sản phẩmcủa mình ra trao đổi mua bán với nhau Điều này cũng tác động đến cải cáchgiá cả vào đầu những năm 1990, giá cả của phần lớn các loại nông sản đãđược thị trường quyết định có sự của điều tiết của Nhà nước

Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các xí nghiệp hương trấn và phát triển mạnh

mẽ vào những năm 1980 cũng là một điểm sáng của kinh tế nông thôn TrungQuốc Nhà nước Trung Quốc rất ủng hộ các mô hình doanh nghiệp vừa vànhỏ này ở nông thôn, Chính phủ đã đưa ra một loạt các chính sách để khuyếnkhích phát triển mô hinh này: miễn giảm thuế, điều chỉnh tỉ giá đồng Nhân dântệ, Sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này lại thúc đẩy những thay đổithể chế tiếp theo: những quy định về sự dịch chuyển vốn, lao động và côngnghệ ở nông thôn, rút ngắn khoảng cách thành thị và nông thôn

1.4 Cải cách doanh nghiệp Nhà nước:

* Giai đoạn 1:

Trước khi thực hiện cải cách, TQ là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nênNhà nước kiểm soát mọi yếu tố sản xuất và phân phối thu nhập Sau đó,Trung Quốc đã chuyển sang thực hiện chế độ quỹ và vốn với DNNN, mở rộngquyền tự chủ quản lý kinh doanh của DNNN điều này đem lại lợi thế về lợi

Trang 8

nhuận cho các doanh nghiệp, tăng sự tự chủ của doanh nghiệp,quy định tỷ lệtrích lợi từ lợi nhuận để lại cho DNNN

Từ năm 1981, bắt đầu thực hiện chế độ khoán lợi nhuận đối với DNNN Trên

cơ sở mức sản xuất trước đây, doanh nghiệp phải nộp cho Chính phủ mộtmức lợi nhuận quy định Hai năm tiếp đó thay đổi từ việc trích lợi nhuận củaDNNN sang thu thuế thu nhập hoặc thuế lợi nhuận .Tuy nhiên, biện pháp cảicách này cũng nảy sinh một số vấn đề bất hợp lý như: tỷ lệ phân chia lợinhuận của các doanh nghiệp tăng lên thì tỷ trọng thu nhập tài chính của nhànước trong toàn bộ thu nhập quốc dân bị giảm xuống Nếu cứ kéo dài tìnhtrạng này, nhà nước sẽ bị thất thu thuế, nhà nước sẽ không đủ vốn để xâydựng các dự án trọng điểm và phát triển kết cấu hạ tầng

Đến năm 1986, thực hiện khoán trách nhiệm kinh doanh với nhiều hình thứckinh doanh Phổ biên nhất là khoán nộp lợi nhuận cho nhà nước Điều naygiúp cho các DNNN có điều kiện hoàn thành cải thiện kỹ thuật, thực hiện gắntổng mức tiền lương với lợi nhuận thực hiện Quan hệ phân phối giữa Nhànước và doanh nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc “Cố định mức khoán,đảm bảo nộp lên trên, vượt mức được để lại, thiếu phải bù”.Tuy nhiên, chế độnhận khoán kinh doanh kéo theo một số vấn đề phức tạp mới như sự phânphối thiên về dành cho doanh nghiệp và cá nhân, tỷ lệ thu nhập tài chính củanhà nước suy giảm mạnh, các doanh nghiệp chỉ coi trọng sản xuất, xem nhẹđầu tư và không chú ý bảo dưỡng trang thiết bị

Năm 1991, Trung Quốc ban hành “Biện pháp 20 điều tăng cường sức sốngcho dnnn” nhắm thúc đẩy cơ chế kinh doanh của DNNN Một năm sau đó, banhành “Điều lệ tạm thời chuyển đổi cơ chế kinh doanh của dn công nghiệpthuộc sở hữu toàn dân” Điều này giúp DNNN được hưởng 14 quyền kinhdoanh: quyền quyết sách sx, quyền mua sắm vật tư, quyền quản lí nhân sự,

* Giai đoạn 2:

Năm 1993, tại hội nghị TW 3 khóa XIV đề ra mục tiêu mới về DNNN: Xâydựng “Thể chế doanh nghiệp hiện đại hóa” trong đó yc dn phải có “Quyền ts rõràng, quyền lợi và trách nhiệm phân minh, chính quyền và doanh nghiệp táchriêng, phải quản lý khoa học” Theo đó, DNNN được thực hiện chế độ phápnhân, được hoạt động như các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổphần Điều này đã tạo tiền đề thúc đẩy các DNNN phát triển hơn nữa

Năm 1996, kế hoạch 5 năm lần 9 đã đưa ra các biện pháp cải cách mới: chínhsách tập trung vốn, thí điểm chính sách sáp nhập, phá sản, đối với cácdoanh nghiệp nhỏ cho phép tùy tình hình cụ thể để thực hiện hình thức cải tạothích hợp

Trang 9

Tại Đại hội XV và Hội nghị TW 4 đã đi sâu giải quyết một số vấn đề quan trọngnhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, trong đó:

- Vai trò của kinh tế Nhà nước không chỉ được thực hiện qua doanh nghiệp100% vốn Nhà nước mà còn phát triển mạnh chế độ cổ phần

- Kinh tế Nhà nước trong các lĩnh vực quan trọng và lĩnh vực then chốt củanền kinh tế quốc dân chiếm vị trí chi phối, điều khiển dẫn dắt và thúc đẩy sựphát triến của nền kinh tế

- Kinh tế nhà nước cần duy trì số lượng cần thiết, cần phân bố tối ưu và nângcao chất lượng

Bên cạnh đó Nhà nước cũng chú trọng quan tâm đến các doanh nghiệp vừa

và nhỏ Theo đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ được phát triển theo hướngđặc biệt, ngày càng xích gần hoặc phát triển theo hướng doanh nghiệp lớn ,xây dựng theo chế độ công ty hiện đại,

Phân loại doanh nghiệp để chỉ đạo cải tổ có tính chiến lược DNNN bao gồm 4loại chính:

1 DNNN để Nhà nước độc quyền kinh doanh: vừa phải cố gắng thích ứng với

cơ chế thị trường, vừa cần có sự hỗ trợ từ nhà nước để phát huy tối đa nănglực của doanh nghiệp

2 DNNN có thực lực trong cạnh tranh: cần thu hút đầu tư va đẩy mạnh pháttriển

3 các DNNN sản phẩm có thị trg nhưng còn gặp nhiều khó khăn, cần hợpnhất, liên kết để sắp xếp tài sản, điêu chỉnh cơ cấu, tăng tài sản

4 các DNNN sản phẩm không có thị trường: thua lỗ, không có triển vọng lãi,lãng phí tài nguyên, kỹ thuật lạc hậu, cần phải đóng cửa

* Giai đoạn 1998 – 2002: Giai đoạn Trung Quốc tiến hành giải thể quản lý nhà

nước trên qui mô rộng lớn:

+ Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998 tuy không ảnh hưởng lớn,nhưng cũng ít nhiều có ảnh hưởng đến nền kinh tế Trung Quốc Các doanhnghiệp nhà nước Trung Quốc đã gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó vớigiảm nhu cầu thanh khoản, dẫn tới hàng hóa sản xuất bị tồn đọng lớn

Năm 1998, qui mô thua lỗ và nợ nần tăng lên đáng kể, công nhân bị sa thảihàng loạt Ủy ban Quản lý tài sản nhà nước đã giải tán và chuyển quyền chomột loạt các tổ chức thuộc thành phần Bộ Tài chính, Tổng cục quản lý tài sảnnhà nước, Cục đánh giá tài sản nhà nước, Vụ công tác tài sản nhà nước….Cục tài sản nhà nước được phân theo nhiều ngành khác nhau Chỉ có các

Trang 10

doanh nghiệp nhà nước lớn thuộc quyền của các cơ quan cấp cao mới tiếptục được nhà nước quản lý tình trạng tài sản nhà nước của doanh nghiệpmình, còn những xí nghiệp vừa và nhỏ đã được chuyển dần sang cho thuê,khoán, hoạt động kinh doanh theo hình thức cổ phần, bị bán hay sáp nhập vớinhững đơn vị khác.

Thực tế quyền sở hữu tiếp tục bị phân nhỏ, còn các cổ tức, nhà nước thìkhông được nhận tuần hoàn tài chính của chính mình Mắt xích khu vực của

hệ thống quản lý tài sản nhà nước bị phá bỏ hoàn toàn, chỉ một vài khu vực cóđược khả năng này do tham gia thực nghiệm quá trình thực hiện hiện hàngloạt thí điểm như ở Thượng Hải, Thâm Quyến, Hạ Môn, Quảng Châu

* Giai đoạn 2003 – 2016: giai đoạn đẩy mạnh cải cách mạnh mẽ doanh

nghiệp nhà nước, xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn, thực thi cải cách quản lýtài sản nhà nước:

Hội nghị Trung ương 3 khóa XVI (2003) thông qua nghị quyết: “ Về một số vấn

đề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN” đã nêu rõ: “Xí nghiệp cổ phần

là một trong những hình thức sở hữu xã hội chủ yếu đối với phương tiện sảnxuất” Trung Quốc đẩy mạnh cổ phần hóa, cho phép sáp nhập, phá sản cácdoanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ Bởi vậy, số doanh nghiệp nhà nước

đã có xu hướng giảm dần, đảm bảo tính hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh

Về vấn đề “cải cách quản lý tài sản nhà nước”, Trung Quốc đã thực hiện dựatrên nguyên tắc: “3 kết hợp: quản lý tài sản, quản lý con người, quản lý côngviệc Và dựa vào “3 thống nhất”: về quyền lợi, về nghĩa vụ, về trách nhiệm.Đồng thời tiến hành “3 tách bạch”: chính phủ với các doanh nghiệp, chính phủvới tài sản, chính phủ với công việc hành chính. 

Trang 11

- Thuế giá trị gia tăng ( VAT)

- Thuế nhập khẩu+ Thuế địa phương gồm:

- Thuế doanh thu

- Thuế lợi tức địa phương

+ Thuế trung ương và địaphương cùng hưởng

Tập trung vào Hệ thống thuế thương mại( liên quan đến xuất nhập khẩu ) và thuế côngnghiệp ( liên quan đến sản xuất )

Trong đó:

+ Thuế VAT đánh vào hàng hóa bán buôn , bán lẻ , xuất nhập khẩu và dịch vụ lao động +Thuế thu nhập của DNNN,

DN tập thể và DN tư nhân

được THỐNG NHẤT một loại thuế Tuy nhiên DN có vốn

đầu tư nước ngoài vẫn dùng luật thuế năm 1991

+ Thuế thu nhập cá nhân áp dụng cho người TQ, nước ngoài, thuế sản xuất và kinh doanh áp dụng với DN cá thể

và tư => 1 loại thuế thu nhập

Cải cách cơ quan

Điều tiết thu nhập Thực hiện chính sách lớn liên quan đến xã hội ( như điều tiết thị trường

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w