1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết cấu truyện cứu đất cứu mường của nhà văn tô hoài

12 721 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết cấu truyện cứu đất cứu mường của nhà văn tô hoài
Tác giả Tô Hoài
Trường học Trường Đại Học Hà Nội
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 51,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tập Truyện Tây Bắc (1953), nhà văn Tô Hoài đã khắc họa thật chân thực, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của người dân miền núi dưới ách áp bức nặng nề của thực dân phong kiến. Để làm được điều đó, tác giả đã bố trí, sắp xếp cốt truyện, nhân vật, ngôn từ, không gian, thời gian,… một cách linh hoạt, sinh động và mang màu sắc riêng. Có lẽ, chúng ta đã quá quen thuộc với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trích trong tập truyện này. Bởi, nó quá ấn tượng. Và khi đến với truyện ngắn Cứu đất cứu mường, nhà văn Tô Hoài cũng tạo nên một kết cấu phức tạp nhưng hấp dẫn không kém. Dưới đây, theo khuynh hướng Thi pháp học cấu trúc và phê bình mới, chúng tôi sẽ khảo sát kết cấu truyện ngắn Cứu đất cứu mường theo bốn loại sau: Kết cấu cốt truyện, kết cấu trần thuật, kết cấu hình tượng và kết cấu ngôn từ liên văn bản.

Trang 1

Kết cấu truyện Cứu đất cứu mường

của nhà văn Tô Hoài

“Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” (Trần Đình

Sử, Văn học tập 1, Nhà xuất bản Hà Nội, 1993) Có thể hiểu, kết cấu góp phần triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lí hệ thống nhân vật, tổ chức điểm nhìn trần thuật, tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm Như vậy, kết cấu của tác phẩm văn học vô cùng quan trọng Nó không chỉ bộc lộ chủ đề, tư tưởng mà còn góp phần quyết định đến sức hấp dẫn của tác phẩm Theo đó, dưới khuynh hướng

Thi pháp học cấu trúc và phê bình mới, tác phẩm văn học gồm nhiều loại kết cấu

như: Kết cấu cốt truyện, kết cấu trần thuật, kết cấu hình tượng và kết cấu ngôn từ

-liên văn bản, kết cấu thể loại,… Trong tập Truyện Tây Bắc (1953), nhà văn Tô

Hoài đã khắc họa thật chân thực, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của người dân miền núi dưới ách áp bức nặng nề của thực dân phong kiến Để làm được điều đó, tác giả đã bố trí, sắp xếp cốt truyện, nhân vật, ngôn từ, không gian, thời gian,… một cách linh hoạt, sinh động và mang màu sắc riêng Có lẽ, chúng ta

đã quá quen thuộc với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trích trong tập truyện này Bởi,

nó quá ấn tượng Và khi đến với truyện ngắn Cứu đất cứu mường, nhà văn Tô Hoài

cũng tạo nên một kết cấu phức tạp nhưng hấp dẫn không kém Dưới đây, theo

khuynh hướng Thi pháp học cấu trúc và phê bình mới, chúng tôi sẽ khảo sát kết cấu truyện ngắn Cứu đất cứu mường theo bốn loại sau: Kết cấu cốt truyện, kết cấu

trần thuật, kết cấu hình tượng và kết cấu ngôn từ - liên văn bản

1 Kết cấu cốt truyện

Cốt truyện là hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự và kịch, thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Có thể hiểu, cốt truyện chính là bộ khung của tác phẩm tự sự Dựa trên bộ khung ấy, nhà văn mới đắp vào các thành tố khác như ngôn từ, nhân vật, không gian, thời gian Cốt truyện gồm nhiều loại kết cấu khác nhau như kết cấu biên niên, kết cấu đồng tâm, kết cấu vòng tròn, kết cấu bậc thang, kết cấu song song, kết cấu xâu chuỗi, kết cấu

đóng khung (truyện lồng chuyện),… Với truyện ngắn Cứu đất cứu mường, kết cấu

vòng tròn đan xen cùng kết cấu truyện lồng chuyện được sử dụng rất rõ nét Kết cấu vòng tròn còn được hiểu là kết cấu có đầu cuối tương ứng Câu chuyện được

mở đầu ở thời điểm hiện tại, trở về quá khứ rồi kết thúc trong cảnh ở hiện tại Trong kết cấu vòng tròn đó xuất hiện nhiều câu chuyện của các nhân vật

Trang 2

Trong truyện Cứu đất cứu mường, mở đầu tác phẩm là không gian núi rừng

Tây Bắc Cuộc sống của người dân Tây Bắc vào thời điểm giặc Tây đang hoành hành, và bộ đội, du kích đã về làng Trong không gian đó có sự xuất hiện của Nhấn – một người con của núi rừng Tây Bắc Nhấn tham gia du kích và gặp đồng chí Sơn – một cán bộ cách mạng Sau một thời gian sống cùng người Dao ở Mường Cơi, đồng chí Sơn phải lên đường vượt sông Đà sang Mường La để bắt mối với đội

võ trang ở vùng tạm chiếm Tây Bắc Nhấn đưa Sơn xuống khỏi lũng Trong cuộc tiễn đưa, Nhấn kể về cuộc đời mình cho anh Sơn nghe Đến khi anh Sơn đã khuất dần, Nhấn vẫn chưa thoát khỏi khí ức đó Lúc này, mạch truyện trở về quá khứ, kể lại cuộc đời khốn khổ của mẹ Nhấn – bà Ảng Bà Ảng trước đây là cô Ảng xinh đẹp nổi tiếng ở Mường Cơi Nhưng số phận thật bất hạnh, cô Ảng lại bị xem như món đồ chơi chuyền tay qua nhiền quan châu, quan lang, chúa đất cho đến khi tàn

tạ trở thành bà lão Ảng ăn mày,… Sau đó, mạch truyện trở về hiện tại khi Nhấn nghe được thông tin của bà Ảng và em gái mình Nhấn đón mẹ lên ở cùng,… tình tiết truyện tiếp tục phát triễn cho đến hết tác phẩm

Với kết cấu vòng tròn, truyện lồng chuyện như trên rất phù hợp với những truyện lấy quá khứ làm tâm điểm Thông thường quá khứ là những biến cố có tác động mạnh tới hiện tại, là nguyên nhân xảy ra những tình huống trong hiện tại

Truyện Cứu đất cứu mường cũng vậy, cuộc đời của bà Ảng cùng những tình tiết,

hoàn cảnh xã hội trong quá khứ đã tác động rất lớn tới những tình huống xuất hiện trong hiện tại, đến cuộc đời của nhân vật Để chuyển tiếp từ thời điểm hiện tại về quá khứ một cách phù hợp, nhà văn để cho nhân vật của mình hồi tưởng lại Chính điều này đã làm cho câu chuyện, số phận nhân vật trở nên chân thực hơn Người đọc cũng dễ dàng hiểu hơn về hành động và tính cách nhân vật

Ngoài ra, một văn bản có thể có nhiều cốt truyện, mang tính đa nghĩa Cốt truyện có thể hiển hiện trên bề mặt câu chữ hay cốt truyện hàm ngôn, ẩn sâu trong lớp ngôn từ Cốt truyện cũng có thể là tảng băng trôi với ba phần nổi và bảy phần chìm Nhiều yếu tố trong tác phẩm cũng tác động đến cốt truyện Ví như trong

truyện Cứu đất cứu mường, hình ảnh con chim kỳ xuất hiện ở đầu và cuối tác

phẩm cũng mang những ý nghĩa nhất định Mở đầu truyện, tác giả Tô Hoài viết

“Con chim kỳ xanh biếc, chân đỏ Ít ai đã trông thấy chim kỳ, chỉ nghe tiếng nó thánh thót cao thấp như tiếng kèn gọi phường săn Nghe tiếng, người ta báo điềm lành” Đến khi kết thúc tác phẩm, Nhấn nhớ đến cuộc đời của mẹ Nhấn và đời

mình, Nhấn muốn khóc Giữa lúc ấy, Nhấn lại nghe tiếng chim kỳ hót thánh thót

“tiếng chim kỳ lanh lảnh như kèn giục phường săn Nhấn không khóc được… đầu

rừng nào có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng như hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng

Trang 3

đuổi theo hỏi thăm Nhấn” Như vậy, hình ảnh tiếng chim kỳ ở đầu và cuối tác

phẩm cũng tạo ra nhiều suy tưởng Nếu ở đầu truyện, tiếng chim kỳ báo hiệu mùa gặt hái sắp tới thì đến cuối truyện, tiếng chim kỳ lại biểu tượng cho hồn mẹ và hồn

em đang đuổi theo hỏi thăm Nhấn Và đối với mỗi người dân Tây Bắc, tiếng chim

kỳ sẽ biểu tượng một ý nghĩa riêng, tùy thuộc vào cuộc đời, hoàn cảnh của họ

2 Kết cấu trần thuật

Trong Truyện Tây Bắc, Cứu đất cứu mường không phải là truyện ngắn đặc trưng, tiêu biểu nhất của Tô Hoài Về dung lượng, Cứu đất cứu mường cũng là truyện ngắn nhất trong số ba truyên trong Truyện Tây Bắc (Cứu đất cứu mường,

Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ) Với khổ giấy in 13 cm x 19 cm của nhà xuất bản

Kim Đồng, Cứu đất cứu mường chỉ chiếm 24 trang Tuy nhiên, Cứu đất cứu mường lại là câu chuyện khiến người đọc suy ngẫm, xót xa nhất Bởi, so sánh với

Mỵ, Mát, Ích trong Tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài, cái kết của Ảng không có hậu Xót xa cho thân phận của cô Ảng Một người phụ nữ xinh đẹp nức tiếng nhưng lại có số phận bất hạnh Ảng chuyền tay từ quan lang này đến quan lang, quan châu khác, đến già trở thành bà Ảng ăn mày và cuối cùng bị Châu đoàn Cầm Vàng đánh chết dưới gốc cây Chính vì kết cấu cốt truyện cũng như dung lượng không lớn nên ta có thể dễ dàng thấy được những điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm

Nếu như trong truyện ngắn truyền thống, người trần thuật thường kể chuyện một cách tuyến tính Tức là kể về cuộc đời của một con người từ lúc sinh

ra cho đến khi lớn lên, trưởng thành và qua đời Tuy nhiên, trong truyện Cứu đất cứu mường lại khác, vì truyện có kết cấu cốt truyện vòng tròn nên chúng ta dễ

dàng nhận thấy người kể có sự đan xen giữa người kể chuyện và nhân vật cùng sự hồi tưởng của họ truyện được trần thuật từ thời gian hiện tại, cụ thể vào mùa thu năm 1951 - 1952, khi mà bộ đội đã vào lập căn cứ vào vùng Tây Bắc Ở thời điểm này, con của bà Ảng là Nhấn đã lớn, trở thành một đồng chí du kích Lúc này, tại vùng người Dao căn cứ bộ đội đã được thành lập Nhấn đã gặp anh Sơn – một cán

bộ cách mạng Từ cuộc gặp gỡ này, tác giả đã cho thời gian quay trở về quá khứ, khi mà mẹ Nhấn còn trẻ, vẫn còn được người dân gọi là cô Ảng phải đi ở cuông – hầu hạ cho nhà quan

Mở đầu tác phẩm tác giả đã giành 5/24 trang để miêu tả về cảnh núi rừng Tây Bắc ở Mường Cơi và cuộc tiễn đưa của Nhấn với đồng chí Sơn sang vùng căn cứ ở Mường La Lúc này, người đọc đang chú ý vào nhân vật Nhấn nhưng câu chuyện lại cắt ngang ở đó, người kể chuyện chuyển sang kể về bà Ảng – mẹ Nhấn thời

Trang 4

còn trẻ Lúc bấy giờ là cô Ảng đẹp nức tiếng đất Mường Cơi Tục đi ở cuông cho nhà quan lang đã khiến cuộc đời của cô Ảng gặp nhiều bất hạnh Và Nhấn chính là kết quả của những lần cô Ảng đi hầu quan lang, quan châu Dù là cốt nhục của nhà quan nhưng không ai ra nhận nên Ảng bị làng phạt vạ Ảng phải bán Nhấn cho người Dao để lấy tiền nộp phạt cho đứa trẻ thứ hai

Trong lúc đang hồi tưởng về quá khứ, kể về cô Ảng nay đã già thì tác giả quay trở về hiện tại với lời của người kể chuyện Đã ba năm nay, giặc Pháp quay trở lại Mường Cơi, lập lại quan châu, quan mường nên Nhấn chưa xuống thăm mẹ

và em được Khi nghe tin em gái phải đi ở hầu quan, cuộc đời đến “đến bỏ đi thôi”, tác giả đã để cho nhân vật tự bộc lộ cảm xúc, kể về suy nghĩ của mình: “Không, không thể bỏ đi thôi Mẹ ta, em ta sẽ lên đây ở Rồi ta đi bộ đội như anh Sơn Giặc

bỏ ta đi làm sao, ta phải bỏ nó đi mới được.” Như vậy, tác giả đã cho đan xen lời

kể của người kể chuyện và nhân vật Lời kể của người kể chuyện sẽ xuyên suốt tác phẩm, lời kể của nhân vật sẽ đan xen vào Tùy vào ngữ cảnh mà xuất hiện người kể

chuyện hay nhân vật Ví như trong Cứu đất cứu mường, quang cảnh rừng núi Tây Bắc và số phận của bà Ảng được người kể chuyện kể rất chi tiết “Mẹ Nhấn, ngày trước, người làng gọi là cô Ảng Cô Ảng xưa đã một thời đẹp nức tiếng đất Mường Cơi…” Vì tự mình kể chuyện nên đôi lúc, tác giả dễ dàng bộc lộ cảm xúc của mình: “Chao ôi! Những người con gái đẹp nhà quan thì càng làm đẹp cửa đẹp nhà nhà quan hơn, con cái nhà dân trắng mà đẹp chỉ sinh lo, sinh bệnh…” Tuy nhiên,

khi đi vào các cuộc độc thoại hay đối thoại của nhân vật, tác giả để cho nhân vật tự

kể Nhấn tự bộc lộ cảm xúc khi nghe tin em gái mình đi hầu quan, Nhấn tự đối thoại với mẹ mình và bố nuôi

Về kết cấu điểm nhìn trần thuật cũng khá đa dạng Có khi điểm nhìn trần thuật là của người kể chuyện với ngôi thứ ba Người kể chuyện tự giấu mình đi

như không có mặt mà gọi tên của nhân vật trong truyện như “Nhấn đứng lại, ngẩn ngơ nhìn Sơn, rồi Nhấn nói tiếp,…” Có khi, người kể chuyện lại xưng là chúng tôi

“Chúng tôi tới một làng người Dao- trong khu du kích Bản Thải.”, với ngôi thứ

nhất số nhiều này, tác giả đã tham gia vào diễn biến của câu chuyện, tạo nên sự hưởng ứng của số đông Tác giả cũng chính là bộ đội đến khu du kích ở Bản Thải, tạo nên một cộng đồng người đến mở rộng căn cứ Ngoài tác giả, nhân vật trong truyện cũng có cách xưng hô và điểm nhìn riêng Với nhân vật Nhấn, ở đầu tác

phẩm, Nhấn xưng “tôi”, “Tôi trông thấy đồng chí Sơn đi … đồng chí Sơn đi với mấy người đi đầu …” Nhấn đóng vai trò là người kể chuyện Khi nói chuyện với

bố nuôi Nhấn cũng xưng “tôi”: “Tôi đi đón mẹ, đón em lên làm nương”, hay khi nói chuyện với mẹ mình, “Em tôi đâu?” Lúc này, Nhấn đại diện cho điểm nhìn

Trang 5

của cá nhân, một người con trong gia đình Tuy nhiên, khi suy nghĩ, độc thoại,

Nhấn lại xưng “ta”: “Không, không thể bỏ đi thôi Mẹ ta, em ta sẽ lên đây ở Rồi ta

đi bộ đội như anh Sơn” Cách chuyển xưng hô từ “tôi” sang “ta” vừa thể hiện cái

tôi riêng cũng vừa thể hiện điểm nhìn mới với tâm hồn mở rộng, đại diện cho cả cộng đồng

3 Kết cấu hình tượng

Có thể nói, kết cấu hình tượng nhân vật chính là linh hồn của tác phẩm Vì vậy, nhà văn đều mong muốn xây dựng cho mình những hình tượng nhân vật điển hình với những nét tính cách riêng, số phận riêng và những hoàn cảnh riêng Thông qua nhân vật, nhà văn sẽ bộc lộ những quan điểm, tư tưởng, ước mơ, khát vọng

Trong truyện Cứu đất cứu mường, nhân vật được chia theo quan điểm sống, giữa

chính và phụ, thiện và ác Các nhân vật chính – phụ, thiện – ác đan cài vào nhau,

bổ sung nhau Tuy nhiên, mỗi nhân vật đều được xây dựng dựa trên miêu tả về ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, mối quan hệ với nhân vật khác hay hoàn cảnh tác động đến

Trong Cứu đất cứu mường, nhân vật Ảng hiện lên qua mối quan hệ với Nhấn, với bố mẹ cô với dân làng và quan châu đoàn Cầm Vàng Qua lời kể của người

khác “Cô Ảng xưa đã một thời đẹp nức tiếng Mường Cơi” “Mẹ cô buộc lòng phải bắt cô mặc váy vá, đừng quấn thắt lưng thêu, đừng mang khăn bịt đầu trắng Cho đừng ai biết đã lớn rồi, đừng ai để một đuôi mắt nào tới nó” Còn ngoại hình của Nhấn được thể hiện thông qua người kể chuyện: “Dù cái áo chàm tay rộng rách lướp tướp kia, dù mái tóc kín gáy lại xõa xuống khuôn mặt sạm như mặt người ngồi khói cả mùa đông vừa bước ra cửa rừng kia, ai chỉ mới thoạt trông tầm vóc người nhỏ lẳn và con mắt sắc, vành cằm nở, cũng biết Nhấn không phải người Dao”.

Để phát triễn tính cách, các nhân vật còn được thể hiện qua ngôn ngữ (độc thoại và đối thoại) Ví như với nhân vật Ảng, thời còn trẻ, số phận, hoàn cảnh và ngoại hình tác động rất lớn đến cuộc đời của cô thì đến khi về già bà Ảng được khắc họa rõ hơn về tính cách, cảm xúc thông qua ngôn ngữ độc thoại và đối thoại

Cụ thể, trong một đêm giông báo, bà Ảng canh nương, bà chợt nghĩ: “Một đời tao không biết mặt cái ruộng, tao không biết đi làm nương Bây giờ, già sắp chết mới được ngồi canh nương của mình thế này” Nghĩ thế, lòng bà vừa bùi ngùi vừa vui Hay trong đoạn đối thoại với châu đoàn Cầm Vàng, khi thì ngọt ngào nói “Nhà tao

là nhà quan châu Né ở Mường Cơi”, khi thì bà giãy giụa: “Thóc tao! Thóc của tao! Cầm Né! Cầm Né! Mày đốt thóc của mẹ con tao ư?” Sự phát triễn tính cách

Trang 6

như vậy đã thể hiện khá đa dạng thái độ với kẻ thù Ban đâu là căm thù, chống đối nhưng lo sợ nên vẫn phục tùng như phục tùng thần quyền và số mệnh Nhưng khi

kẻ thù quá mạnh, bà Ảng bị giày xéo quá nên bà đã vùng lên, liều lĩnh chống trả

Ở nhân vật Nhấn cũng vậy, tính cách của Nhẫn cũng được thể hiện rõ qua ngôn ngữ độc thoại và đối thoại Khi nghe tin về mẹ và em gái mình, Nhấn đã khóc Trong cuộc đối thoại với anh Sơn, Nhấn nói đến việc chuẩn bị đón mẹ lên ở chung, ánh mắt của Nhấn vui hẳn lên Nhấn nghe tin em mình lặp lại số phận của

bà Ảng, Nhấn nghĩ: “Không, không thể bỏ đi thôi Mẹ ta, em ta sẽ lên đây ở Rồi ta

sẽ đi bộ đội như anh Sơn” Nhấn là hình ảnh về thế hệ trẻ được sự dìu dắt của cách

mạng nên tính cách cứng rắn, mạnh mẽ và ngoan cường hơn Như vậy, nếu như nhân vật Ảng đại diện cho số phân tủi nhục, đắng cay của người phụ nữ Tây Bắc thì Nhấn sẽ trở thành người cán bộ trung kiên của cách mạng ở miền núi

Bên cạnh kết cấu hình tượng nhân vật, hình tượng không gian cũng được đặc

biệt chú ý trong truyện Cứu đất cứu mường Ngay ở nhan đề tác phẩm cũng đã cho

ta thấy không gian đóng một vai trò hết sức quan trọng Ở lời đề từ được trích trong lời bài hát tiếng dân tộc Mường ở châu Phù Yên (tỉnh Sơn La), không gian

thiên nhiên và không gian xã hội đã có sự kết hợp, đan lồng vào nhau: “Phải năm đất nước loạn lạc, núi lở sông cạn Cuối đồng mương ta rậm cỏ, giặc Tây ác đóng Ngọn suối mường ta cạn nước, giặc Thổ ác đóng Người mường ta phải đem nhau

đi ăn rừng ở nương…” Lời đề từ cho ta thấy rõ không gian núi rừng Tây Bắc vào

thời kì giặc Tây chiếm đóng, đất nước loạn lạc, núi lở sông cạn, người dân đói khổ, lầm than, phải đem nhau đi ăn rừng ở nương Chính không gian thiên nhiên núi rừng và không gian cộng đồng đồng bào miền núi đã tạo nên tính cách và số phận các nhân vật

Trước hết, chúng ta hãy nói đến không gian thiên nhiên trong truyện Mở đầu tác phẩm, không gian núi rừng Tây Bắc hiện lên vô cùng rõ nét Hình ảnh “con chim kỳ xanh biếc, chân đỏ” với tiếng hót nghe như “tiếng kèn gọi phường săn” rất đặc trưng của vùng núi Tây Bắc Chim kỳ xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm Nó

báo hiệu điềm lành, báo hiệu mùa gặt hái sắp tới “Tiếng chim kỳ lại thánh thót gọi mưa tạnh, trong từng khoảng trời dịu xanh quang, tạnh ráo” Ngoài hình ảnh chim

kỳ, các hình ảnh như: sườn núi, các lũng, khe sâu, khe suối, sông Đà, Mường La,

Mường Cơi,… cũng xuất hiện nhiều lần để khắc họa không gian: “Hai bên sườn núi trong các lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá trắng xám ngắt, không thấy một màu đá vàng của lúa chín Vẫn nghe tiếng chim kỳ lẩn quấn kêu trong gió và trong sương mù”

Trang 7

Ngoài thiên nhiên báo hiệu ngày mùa, còn có thiện nhiên để con người hoạt

động, con người khai phá, con người ẩn mình: “Năm nào cũng vậy, mỗi năm phải đổi nương một lần … Cho nên, năm nào cũng phải phát nương mới, năm nào cũng

đi tìm kiếm, lục lọi ra những khe sâu nữa, cao nữa Vần quanh hết núi này lại chuyển sang phía núi khác Trên các mỏm đá, người cứ leo xuống các vách đá dựng đứng, quanh năm vang động tiếng vượn hú Người leo sau, đàn vượn chạy trước” Thiên nhiên còn báo hiệu cho những thay đổi của không gian, cảnh vật Ví như tiếng vượn kêu hay không cũng báo hiệu sự thay đổi của núi rừng: “Buổi sáng nào cũng nghe tiếng vượn hú trong vách đá trước mặt Nhưng sáng nay không nghe tiếng Đàn vượn sáng nay sợ cái gì … Ai đi qua vách đã mà vượn sợ chạy?”

Thiên nhiên còn là nơi chiến đấu của các đồng chí du kích, bộ đội để chống

lại kẻ thù, giặc Tây, để bày tỏ nỗi lòng Khi Nhấn tham gia chiến đấu, “Nhấn bò xuống thấp, ra sát trên đồi … Nhấn mem gò gianh vượt lên trước, đến đợi ở chỗ cái bẫy đá treo bí mật giữa dốc vào lũng Hai loạt đá tảng chằng thừng để tựa vào vách núi Dưới khe, mấy chục lớp chông thuốc độc” Sau này đi xa, thiên nhiên,

không gian núi rừng Tây Bắc còn là nơi để Nhấn bày tỏ nỗi nhớ quê hương, nơi

gắn liền với cuộc đời khốn khổ của mẹ Nhấn và đời mình “Nhấn nhớ đồng ruộng, nhớ làng mạc ven chân rừng có ao cá, có đồi chè, có chuồng lợn, … Mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu rừng nào có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng như hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng vẫn đuổi theo hỏi thăm Nhấn”.

Ngoài không gian thiên nhiên, tác phẩm Cứu đất cứu mường còn có không

gian cộng đồng, xã hội Đầu tác phẩm, không gian xã hội cũng đã được tác giả Tô

Hoài lồng ghép vào không gian thiên nhiên Tác giả viết: “Cuối đồng mường ta ta rậm cỏ, giặc Tây ác đóng Ngọn suối mường ta cạn nước, giặc Thổ ác đóng” Chỉ

với câu văn trên, tác giả đã lột tả không chỉ thiên nhiên rừng núi Tây Bắc mà nơi này còn bị giặc Tây chiếm đóng, bọn lang đạo, lính ngụy hoành hành Đó không chỉ có không gian của bộ đội, du kích mà còn có cả không gian của giặc Tây, quan lang, quan châu, chúa đất Mường Cơi, Mường La Nơi đây có cộng đồng người sinh sống nên có cả không gian sinh hoạt, văn hóa của người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc

Tác giả Tô Hoài đã khắc họa lên không gian sinh hoạt của người Dao, người Mường với đầy đủ phương diện: con người, ngôn ngữ, phong tục, tính ngưỡng, trang phục,… thời kì trước và sau cách mạng những năm 1950 – 1952 Lúc này, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn lối sống cam chịu, phục vụ thần quyền, cường quyền, lối sống cam chịu không dám phản kháng vẫn còn đè nặng Điều này thể hiện rất rõ qua các hũ tục như tục đi ở “cuông” cho nhà quan, lệ làng bắt vạ nộp

Trang 8

mười hai đồng bạc hoa xòe với người đàn bà chửa hoang, không chia ruộng cho đàn bà,… Cụ thể, qua nhân vật cô Ảng, bố mẹ Ảng và người dân nơi đây Lệ làng vẫn bắt người dân đi ở “cuông”, bắt cả “cuông” đàn bà Con không đi được thì cha thay Hễ quan châu, quan lang nhìn trúng ai, người đó bị bắt về hầu quan không được phản kháng

Ngôn ngữ, trang phục cũng được khắc họa trong không gian sinh hoạt đó Nhà văn Tô Hoài đã sử dụng các từ ngữ rất đặc trưng của người dân vùng Tây Bắc

Ví như, từ “cuông” để chỉ việc đi hầu hạ, làm việc không công cho nhà quan Từ

“buộm” để chỉ những người chửa hoang, không chồng mà có con Từ “quảy ninh”

để chỉ vật dụng nhà bếp hình trụ hoặc phễu dung để đổ xôi, đỗ rau, đun cách thủy thức ăn Hay về trang phục, nếu con gái lớn đã thành thiếu nữ sẽ mặc váy có quấn thắt lưng thêu, mang khăn bịt đầu trắng Cảnh sinh hoạt ăn chơi của các quan lang, quan châu, chúa đất vùng Mường Cơi, Mường Vạt, Mường La cũng được tác giả

miêu tả rõ nét: “Ảng không đi hầu riêng ai, mà Ảng phải đi hầu khắp mọi người quan Mỗi lần có tri châu, châu đoàn về Mường Cơi, để đi săn hoặc đi chơi hang

đá, đi tắm suối nước nóng ngày Tết, các quan đều gọi Ảng theo hầu rượu, hầu thuốc phiện, hầu chăn đệm Tan cuộc chơi lại cho cô Ảng về”.

Một tác phẩm hoàn chỉnh không thể thiếu thời gian nghệ thuật Đối với Cứu đất cứu mường, chúng ta có thể thấy đầu tiên là thời gian trần thuật bị xáo trộn Mở đầu, tác giả miêu tả thời gian ở hiện tại, sau đó, để cho nhân vật hồi tưởng về quá

khứ: “Nhấn nhớ đến đời mình và mẹ mình” Từ kí ức này, tác giả để cho nhân vật

Nhấn quay ngược bánh xe thời gian, trở về quá khứ, với những kí ức về mẹ mình,

về vùng đất Mường Cơi với những hũ tục đè nặng lên cuộc đời họ Người kể chuyện đã để cho hình ảnh của cô Ảng xuất hiện một cách tự nhiên, vừa để giải thích cho nỗi buồn của Nhấn vừa để làm nổi bật lên chủ đề của câu chuyện Cô Ảng xuất hiện từ khi còn trẻ cho tới lúc trở thành bà lão Ảng ăn mày Thời gian

trong truyện còn gắn liền với không gian: “Ai cũng như thấy mùa đông đưng trở lại, có những điều tốt lành lại theo Đấy là mùa gặt hái sắp tới”.

Ngoài ra, tác giả còn xâu chuỗi hàng loạt thời gian gắn liền với biến cố cuộc đời của nhân vật Với nhân vật Nhấn, các mốc thời gian gắn liền với các sự kiện:

“Năm xưa, mẹ tôi bán tôi lên Mán … Năm ngoái, tôi trốn xuống Mường Cơi tìm không thấy mẹ đâu” Hay như cô Ảng “Rồi một năm, bố Ảng không còn sức đi ở thay con được … Ngót mười năm đày đọa Ảng, rồi tri châu Né chết … Mười mấy năm đã qua, Rách quá, ốm quá, già quá, chẳng mấy lâu là người Mường Cơi đều gọi cô Ảng là bà lão Ảng, bà lão Ảng ăn mày” Thời gian còn gắn liền với biến cố lịch sử, thời gian cách mạng: “Ba năm nay, giặc Pháp trở lại chiếm Mường Cơi,

Trang 9

lập lại quan châu, quan mường” Thời gian cách mạng còn gắn liền với thời gian cộng đồng: “Một năm sau Bấy giờ là cuối mùa thu năm 1952 Một tổ quân báo chúng tôi vượt vùng rừng núi đai trắng vào chuẩn bị chiến trường trong hậu địch Tây Bắc”.

4 Kết cấu ngôn từ - liên văn bản

Truyện ngắn Cứu đất cứu mường là một trong ba truyện đắc sắc viết về miền

Tây Bắc được rút ra từ tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài Ngay ở nhan đề truyện Tây Bắc đã cho chúng ta thấy rõ ngôn ngữ được sử dụng để viết nên là ngôn ngữ vùng miền, rất đặc trưng của vùng núi Tây Bắc Đây là thành công nổi bật

trong truyện ngắn của Tô Hoài Cũng như các tác phẩm khác, Cứu đất cứu mường

sử dụng hàng loạt từ ngữ, hình ảnh đặc trưng vùng Tây Bắc Về từ ngữ có thể kể đến từ “cuông” để chỉ việc đi hầu hạ, làm việc không công cho nhà quan Từ

“buộm” để chỉ những người chửa hoang, không chồng mà có con Từ “quảy ninh”

để chỉ vật dụng nhà bếp hình trụ hoặc phễu dung để đổ xôi, đỗ rau, đun cách thủy thức ăn Hay như ngay từ đầu tác phẩm cũng nhắc rất nhiều từ ngữ hình ảnh chỉ vùng núi Tây Bắc như: con chim kỳ xanh biếc, chân đỏ; hai bên sườn núi trong các lũng; trên mõm núi nhìn ra cách rừng đang thoai thoải xuống sông Đà,… Rồi tên các địa danh vùng núi: khe Mông mang, Mường Cơi, Mường Vạt, Mường La,… Tên các dân tộc thiểu số vùng núi: người Thái, người Dao, người Mường,… Hay tên của nhân vật, nghe thôi cũng biết họ sinh sống ở vùng núi Tây Bắc: Nhấn, Ảng, châu Né, châu đoàn Cầm Vàng,…

Ngôn ngữ kể chuyện, đối thoại, độc thoại cũng được tác giả vận dụng một cách linh hoạt Đầu tiên là ngôn ngữ kể Ta có thể thấy, ngay từ đầu tác phẩm, người kể chuyện đã xuất hiện ở thì hiện tại và kể một cách tỉ mỉ về cảnh núi rừng Tây Bắc khi sắp tới mùa gặt hái:

“Con chim kỳ xanh biếc, chân đỏ.

Ít ai đã trông thấy chim kỳ, chỉ nghe tiếng nó thánh thót cao thấp như tiếng kèn gọi phường săn Nghe tiếng, người ta bảo điềm lành.

Một buổi sớm nghe tiếng chim kỳ cuốn dài theo gió từ khe Mông Mang đưa ra Ai cũng như thấy mùa đông đưng trở lại, có những điều tốt lành lại theo Đấy là mùa gặt hái sắp tới”.

Ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện thường đan xen với những lời bình như vừa nói cùng nhân vật vừa kể chuyện cho độc giả nghe lại như vừa thủ thỉ với chính mình Có khi kể một câu ngắn gọn, có khi kể câu dài liền mạch, có

Trang 10

khi lại nhiều câu Mỗi câu, mỗi đoạn như lời nói hằng ngày Hay như khi kể chuyện về cô Ảng, người kể chuyện cũng kể với giọng của một người như được chứng kiến toàn bộ sự việc trong cuộc đời cô Ảng Đôi lúc, người kể chuyện còn

xen lẫn từ cảm thán để thể hiện cảm xúc: “Chao ôi, những như con gái đẹp nhà quan thì càng làm đẹp cửa, đẹp nhà nhà quan hơn, con cái nhà dân trắng mà đẹp thì chỉ sinh lo, sinh bệnh cho cha mẹ”

Tiếp đến, ngôn ngữ đối thoại Đối thoại thường thể hiện rất rõ biến cố cuộc đời, các biểu cảm của nhân vật Đôi lúc xen lẫn lời bình của người kể chuyện Với nhân vật Nhấn, khi đối thoại với anh Sơn, nhắc tới mẹ mình, Nhấn thể hiện cảm xúc vui buồn rất rõ:

“Nhấn nói:

- Năm xưa, hôm mẹ tôi bán tôi lên Mán, tôi vừa đi vừa khóc, tôi bảo: mẹ để cho ta khổ một mình thế này, bao giờ ta biết cầm dao thi ta đi giết chết mẹ Nhưng đến khi tôi lớn, bố nuôi đem tôi xuống cho gặp lại mẹ, thấy mẹ chỉ khóc thì tôi cũng khóc, không còn nhớ đến con dao nữa Mới biết mẹ con tôi

ai cũng khổ cả, không biết làm thế nào cho hết được!

Nói đến đây, Nhấn lại khóc:

- Năm ngoái, tôi trốn xuống Mường Cơi tìm không thấy mẹ đâu Chết đói hay Tây giết, châu đoàn giết mất rồi Anh sơn à, mùa này xong tôi lại xuống tìm

mẹ nữa.

- Lần này tìm thấy thì Nhấn nên đón mẹ lên ở trên nương này.

- Phải rồi! Phải rồi!

Nhấn hấp tấp nói, như chợt nghĩ ra Ánh mặt vui hẳn lên nhìn Sơn.”

Hay như bà Ảng, một nhân vật có cuộc đời bất hạnh, được nhắc tới thông qua người kể chuyện, sự hồi tưởng của Nhấn cũng có những đoạn đối thoại cho thấy sự thay đổi trong tâm tưởng Nếu giai đoạn đầu, thời Ảng còn trẻ, Ảng cam chiu, không dám kháng cự, Ảng ngồi một xó nhà, chỉ biết khóc thì đến giai đoạn sau, Ảng đã bắt đầu có tiếng nói, có đối thoại, có cảm xúc và biết bày tỏ thái độ khi đối diện với châu đoàn Cầm Vàng:

“Châu đoàn Cầm Vàng quát, gặng lại:

- Nhà mày ở đâu?

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w