ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƢƠNG SỸ TÂM NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG Ở PHÍA TÂY HÀ NỘI (HÀ TÂY CŨ) NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG SỸ TÂM
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG Ở PHÍA TÂY HÀ NỘI (HÀ TÂY CŨ)
NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG SỸ TÂM
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG Ở PHÍA TÂY HÀ NỘI (HÀ TÂY CŨ)
NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG
VÀ DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG
11
1.1.2 Cơ sở hình thành tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng 15 1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng 17 1.1.4 Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của Văn hóa tín ngưỡng 23
1.2.1 Khái niệm về loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng 27 1.2.2 Vai trò, đặc điểm của Du lịch văn hóa tín ngưỡng 30 1.2.3 Điều kiện phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng 33
1.3 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng của một số địa
phương tại Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Phú Thọ
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Nam Định
41
51
53 Chương II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TẠI CÁC HUYỆN PHÍA TÂY HÀ NỘI
(TỈNH HÀ TÂY CŨ)
45
2.1 Tiềm năng và điều kiện phát triển Du lịch Văn hóa tín ngưỡng tại khu
vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ)
2.2.3 Các hoạt động chính của khách du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các
huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ)
74
2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý và khai thác Du lịch Văn hóa tín
ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội
75
Trang 42.3.2 Tồn tại, hạn chế 79
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC
LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TẠI CÁC HUYỆN
PHÍA TÂY HÀ NỘI (TỈNH HÀ TÂY CŨ)
3.3 Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín
ngưỡng tại khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) đến năm 2020
92
3.3.1 Áp dụng linh hoạt các bài học kinh nghiệm của các địa phương vào
thực tiễn khu vực phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ)
92
3.3.2.1 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với khách du lịch
Văn hóa tín ngưỡng
94
3.3.2.2 Xây dựng và tạo hành làng pháp lý cho phát triển loại hình Du lịch
văn hóa tín ngưỡng
95
3.3.2.3 Phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng một cách bền vững nhằm bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa
97
3.3.2.5 Phát triển bộ máy, đội ngũ quản lý văn hóa, lễ hội, tài nguyên 101
3.3.2.7 Quy hoạch hạ tầng, quản lý hoạt động dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ
thuật tại các điểm đến Du lịch văn hóa tín ngưỡng
Trang 5 VH-TT&DL: Văn hóa – Thể thao và Du lịch
WLO: World Labor Organization
Tổ chức lao động thế giới
Danh mục từ tiếng Anh:
Accessible, approach: khả năng tiếp cận
Trang 7Xu thế phát triển du lịch ngày nay là phát triển du lịch văn hóa, khi mà các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên ngày càng cạn kiệt và bị khai thác quá tải Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa được chú trọng khai thác bởi ngoài việc thỏa mãn tốt nhu cầu của khách du lịch, chúng còn là nguồn tài nguyên du lịch luôn được bổ sung, tái tạo do sự sáng tạo vô tận của xã hội loài người
Tinh Hà Tây cũ là một khu vực địa lý rộng lớn và giầu tiềm năng du lịch, đặc biệt phong phú là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn Sau khi sáp nhập vào Hà Nội (cũ) đã có những bước chuyển biến và hội nhập trong tình hình mới Tuy nhiên, một số nguồn tài nguyên du lịch là thế mạnh của Hà Tây
cũ đã không còn được duy trì vị thế vốn có trong định hướng, quy hoạch phát triển du lịch của Thủ đô, từ đó dẫn đến sự lãng phí tài nguyên Mặt khác có sự ngắt quãng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù mang định hướng tài nguyên trong chiến lược phát triển ngành của địa phương Đây là lý do chính tác giả lựa chọn nghiên cứu tiềm năng khai thác những giá trị văn hóa tín ngưỡng nhằm phát triển du lịch, một nguồn tài nguyên chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong
hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Hà Tây (cũ) để làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình với hy vọng phần nào làm cho
Trang 8nguồn tài nguyên đó được khai thác một cách có hiệu quả và đúng vị thế vốn
có của nó trong sự phát triển du lịch trong thực tiễn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Trong thời gian gần đây, du lịch văn hóa nói chung, du lịch tín ngưỡng nói riêng nhận được rất nhiều sự quan tâm của Nhà Nước, ngành Văn hóa – Thể thao – Du lịch và các công ty lữ hành Loại hình du lịch này không những đáp ứng xu thế phát triển du lịch hiện đại mà còn khai thác được tối đa tiềm năng phát triển của nguồn tài nguyên du lịch, phù hợp với đặc điểm tự nhiên - văn hóa của đất nước Chính vì lý do đó, việc xây dựng khung lý thuyết và nghiên cứu thực địa về du lịch văn hóa tín ngưỡng đang đặt ra một yêu cầu bức thiết đối với các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, đối tượng du lịch khai thác văn hóa tín ngưỡng thường chỉ được quan tâm dưới góc độ rộng; các đề tài nghiên cứu cụ thể về du lịch văn hóa tín ngưỡng xuất hiện với tần xuất thấp, chủ yếu được đưa vào các đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng hơn là du lịch văn hóa và du lịch tâm linh (khai thác văn hóa tín ngưỡng và các tôn giáo lớn)
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch tâm linh, trong đó đáng
chú ý là một số đề tài như Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở Việt Nam
do T.S Nguyễn Trùng Khánh thực hiện Đề tài này có nhiều đóng góp trong việc phân loại du lịch tâm linh trên cơ sở nguồn tài nguyên và động cơ du lịch, đồng thời xây dựng được cơ sở lý thuyết trên phương diện du lịch cho những nghiên cứu chi tiết hơn như nghiên cứu phát triển du lịch gắn với Phật
giáo, tín ngưỡng dân gian… Đề tài Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh
tỉnh Nam Định do TH.S Nguyễn Thị Thu Duyên thực hiện đi sâu vào phân
tích tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tâm linh gắn với nguồn tài nguyên
du lịch văn hóa của tỉnh Nam Định và đưa ra các nhóm giải pháp về mặt quản
Trang 9lý Nhà Nước, quy hoạch không gian du lịch Đề tài Nghiên cứu các điều kiện
phát triển du lịch Thiền (Zen tour) ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thùy Lan
nghiên cứu nhánh du lịch tâm linh khai thác Phật giáo, phân tích chi tiết môi trường vĩ mô và vi mô của du lịch Thiền Đây là luận văn nghiên cứu vấn đề tương đối hẹp, tuy nhiên những cơ sở lý luận tác giả đưa ra gợi mở khá nhiều hướng nghiên cứu cho các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng và
tôn giáo khác vốn rất đa dạng ở Việt Nam Luận văn Khai thác văn hóa Phật
giáo Khmer phục vụ phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh của tác giả Hà Thế Linh
lấy đối tượng nghiên cứu tương đối khác biệt là Phật giáo của nhóm dân tộc thiểu số Khmer Luận văn phân tích được những tồn tại và triển vọng phát triển du lịch tâm linh ở Trà Vinh và đưa ra những giải pháp nhằm khai thác loại hình du lịch này phát triển một cách bền vững trong tương lai Ngoài những luận văn trên còn một số luận văn tốt nghiệp lấy đối tượng nghiên cứu
là nhóm du lịch văn hóa tâm linh – tín ngưỡng như Du lịch tâm linh Phật giáo
ba tỉnh Nam Định – Thái Bình – Ninh Bình, đề tài Giải pháp phát triển du lịch Phật giáo khu vực Hà Nội mở rộng… Các đề tài nghiên cứu này thường
đánh giá khái quát du lịch tâm linh trên một địa bàn nhất định; đánh giá thực trạng trên cơ sở khảo sát, kế thừa tài liệu và đưa ra những giải pháp ngắn hạn, dài hạn nhằm phát triển du lịch gắn với tôn giáo và tín ngưỡng Tuy nhiên, do
có sự chưa thống nhất cụ thể về khái niệm du lịch tâm linh, các luận văn này thường ít chú ý đến văn hóa tín ngưỡng, một trong hai đối tượng chính trong hoạt động khai thác loại hình du lịch tâm linh đầy triển vọng ở Việt Nam Đối tượng nghiên cứu thường là đạo Phật, một loại hình tôn giáo - văn hóa tâm linh phổ biến và thâm nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa – xã hội ở nước ta Trong khi đó, đứng trên phương diện quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, du lịch tâm linh bao gồm cả tôn giáo – tín ngưỡng dân gian
và những biểu hiện vật thể, phi vật thể gắn liền với chúng
Trang 10Về du lịch tâm linh ở Hà Nội, một số đề tài nghiên cứu về du lịch tôn giáo – tín ngưỡng đã được tiến hành trên địa bàn Hà Nội, điển hình là luận
văn Tìm hiểu hoạt động du lịch văn hoá tâm linh của người Hà Nội (khảo sát
trên địa bàn quận Đống Đa của tác giả Đoàn Thị Thùy Trang Đây là luận
văn được thực hiện tương đối công phu, có khảo sát xã hội học trên thực địa
và có số liệu tương đối chính xác về nhân khẩu học, đối tượng tiến hành du lịch, động cơ và doanh thu du lịch Một số luận văn, tiểu luận, bài báo khác lấy đối tượng là các hình thức tôn giáo – tín ngưỡng điển hình và các điểm di tích văn hóa cụ thể ví du lịch như đình làng, tục thờ mẫu,đền thờ (đền Và, Đình Tường Phiêu)… làm trọng tâm nghiên cứu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về du lịch tâm linh chưa nhiều và chưa đề cập đầy đủ các khía cạnh của du lịch tâm linh Qua đánh giá tài liệu, những chuyên đề, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng trong mối quan hệ với hoạt động du lịch ở Hà Tây (cũ), một tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phong phú
có thể phát triển du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng ở đồng bằng sông Hồng lại hầu như chưa có Đây là một trong những khoảng trống trong nghiên cứu văn hóa phát triển du lịch tâm linh bởi Hà Tây cũ là một trong những khu vực địa lý có bề dầy văn hóa – lịch sử và số lượng di tích gắn với tôn giáo – tín ngưỡng rất lớn trên phạm vi cả nước trước khi được sáp nhập cùng với Hà Nội Tình trạng sáp nhập tạo ra cơ hội mới cho thành phố Hà Nội trong phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa Tuy nhiên cũng có nhiều thách thức trong ưu tiên đầu tư trọng điểm vào sản phẩm du lịch, tận dụng những thành tựu đã đạt được và khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực du lịch của cả Hà Nội (cũ) và Hà Tây (cũ) Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài làm luận văn tốt nghiệp của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 113.1 Mục đích
Luận văn được thực hiện với mục đích nghiên cứu, đánh giá, nguồn tài nguyên du lịch là tín ngưỡng cả trên phương diện vật thể và phi vật thể, thực hiện phân tích thực trạng khai thác các nguồn tài nguyên đó trong phạm vi hoạt động du lịch từ đó đưa ra những giải phát nhằm góp phần thúc đẩy loại hình du lịch này phát triển
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn phải đảm bảo các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu hệ thống nguồn tài nguyên dựa trên các giá trị tín ngưỡng
ở địa bàn Hà Tây (cũ) và những tiềm năng khai thác phát triển du lịch của nguồn tài nguyên này
- Phân tích thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch trong phạm vi du lịch khai thác các giá trị tín ngưỡng
- Đánh giá môi trường vĩ mô, môi trường vi mô của đối tượng nghiên cứu từ đó rút ra những giải pháp để làm cho hoạt động du lịch phát triển có hiệu quả hơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hóa gắn với tín ngưỡng cả trên phương diện phi vật thể và hữu thể trên địa bàn Hà Tây cũ trong mối quan hệ với phát triển hoạt động du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12- Phạm vi không gian: toàn bộ địa phận tỉnh Hà Tây cũ, nhấn mạnh đến phân chia khu vực phát triển du lịch trong quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Hà Tây cũ và Hà Nội mới hiện nay
- Phạm vi thời gian: sử dụng các liệu thống kê trong ngành du lịch, văn hóa từ năm 1998 đến năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp: Nghiên cứu thu thập tài liệu từ các công
trình nghiên cứu trước để tổng hợp, phân tích và đưa ra những đánh giá phù hợp với đối tượng nghiên cứu
5.2 Phương pháp quan sát: Quan sát các cơ sở tín ngưỡng nhằm khái quát và
cụ thể hóa thực trạng tại các điểm tín ngưỡng, thu thập thong tin từ người dân
địa phương
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, luận văn bao gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về văn hóa tín ngưỡng và du lịch văn hóa tín ngưỡng
Chương II: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) trong quá trình phát triển du lịch Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ)
Trang 13Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG
VÀ DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG
1.1 Khái quát về tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
1.1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng thường được đặt trong mối quan hệ với tôn giáo hoặc được nhìn nhận dưới góc độ hệ tư tưởng, triết học, khoa học hiện đại
Trong công trình Văn hóa nguyên thủy, Tylor E B cho rằng: “Cần đặc
biệt chú ý là những tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có những nền tảng vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thủy, như thể chúng đã thực sự mọc lên
từ đó Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm của sự ngu dốt hơn là của nhà triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ hơn là những sản phẩm của đời sau, khi chuyển từ sức sống đầy đủ sang trạng thái tàn tích.” [2, tr.939] Định nghĩa này cho rằng tín ngưỡng có nguồn gốc từ thuyết vật linh nguyên thủy, (ví dụ như Shaman giáo hoặc thuyết vạn vật hữu linh) Theo quan điểm chủ quan của tác giả Tylor, tín ngưỡng là sản phẩm có từ thời kỳ nhận thức của con người còn tăm tối, chưa đạt được đến trình độ nhận thức triết học, khoa học như thời hiện đại và trong thời kỳ hiện đại chúng chỉ tồn tại dưới dạng tàn tích của ý thức sơ khai
Trang bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia tiếng Anh định nghĩa từ
“popular belief” (thường được các dịch giả Việt Nam coi là khái niệm tín ngưỡng) được diễn giải: “ là một lĩnh vực nhánh của các ngành khoa học xã hội, như lịch sử và nhân chủng học, thứ (nhánh này) kiểm chứng, xem xét những niềm tin tâm linh mà chúng phát triển không độc lập khỏi tôn giáo (tương tự tôn giáo), nhưng vẫn nằm ngoài các tổ chức tôn giáo đã được hình thành Những khía cạnh sùng bái thường thấy, văn hóa dân gian có tính lịch sử và những hình thức mê tín dị đoan có tính chất lịch sử (để lại) là một bộ phận của những chủ đề được tìm hiểu” [30,] Định nghĩa này xem xét tín ngưỡng như là một đối tượng
Trang 14nghiên cứu của ngành khoa học xã hội Nhìn chung đề cập đến văn hóa dân gian,
mê tín dị đoan, sự sùng bái tự nhiên và coi chúng là một bộ phận không tách rời với tôn giáo
Ở Việt Nam tín ngưỡng cũng có nhiều định nghĩa khác nhau Định nghĩa đến từ các tác giả trong nước thường đứng trên phương diện văn hóa Tín ngưỡng được xem là một di sản của văn hóa dân tộc, là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử theo lát cắt đồng đại Hệ thống định nghĩa của các tác giả trong nước xác định tín ngưỡng trong mối quan hệ với tôn giáo và định vị những giá trị truyền thống tồn tại trong đó
Từ điển Hán Việt do tác giả Thiều Chửu biên soạn định nghĩa: “tín” là
niềm tin vào một cái gì đó, “ngưỡng” hàm nghĩa là kính mến, kính trọng bậc bề trên Theo cách lý giải về mặt ngôn từ, “tín ngưỡng” có thể hiểu là một niềm tin,
sự tôn sùng hướng thượng đối với các lực lượng siêu nhiên đứng trên quyền năng của con người
Giáo sư Ngô Đức Thịnh định nghĩa: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin
mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng.” [16, tr.16]
Như vậy, tín ngưỡng theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu văn hóa có đặc điểm chung là xem xét tín ngưỡng trong mối quan hệ với tôn giáo trong đó
hai khái niệm này có sự tương đồng là hệ thống các niềm tin của con người vào
lực lượng siêu nhiên để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân,
cộng đồng Khác biệt giữa chúng là khá rõ:
- Tôn giáo là một hình thái ý thức có tổ chức tương đối chặt chẽ, có hệ
thống giáo lý được quy chuẩn thành văn bản, có một cộng đồng cùng tuân thủ các nguyên tắc thực hành nghi lễ xoay quanh trung tâm của nó là giáo đường,
có một hệ thống văn bản kinh sách và giáo luật Mỗi loại hình tôn giáo thường
có một giáo chủ cụ thể
Trang 15- Tín ngưỡng không có những hình thức đó, nếu có thì rất mờ nhạt, mang tính địa phương, tùy thuộc vào mỗi vị thần được tôn vinh ở mỗi cộng đồng.Vì vậy quá trình thực hành nghi lễ tín ngưỡng không ổn định
Về mặt pháp quy, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 định nghĩa,
hoạt động tín ngưỡng “… là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức, xã hội”
Từ những định nghĩa và khái niệm trên, trong luận văn này, tín ngưỡng
được hiểu là một sản phẩm văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình Tín ngưỡng bao gồm hệ thống niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên hoặc các vị nhân thần và cho rằng những đối tượng đó
có ảnh hưởng lớn hoặc chi phối đến cuộc sống con người Tín ngưỡng mang nhiều yếu tố tâm lý thuộc phạm vi tinh thần (tính thiêng) Tín ngưỡng được hình thành từ lâu đời và lưu truyền qua nhiều thế hệ và đã trở thành truyền thống
1.1.1.2 Văn hóa tín ngưỡng
Giáo sư Ngô Đức Thịnh đã lập luận trong cuốn Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng: “Tương ứng với các cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Nho giáo, đạo Mẫu… đều có các dạng thức văn hoá tương ứng: văn hoá Phật giáo, văn hoá Kitô giáo, văn hoá Nho giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá đạo Mẫu… Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hoá đặc thù Đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” Như vậy, theo quan điểm của G.S tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng là hai đối tượng “song trùng” luôn tồn tại và phát triển cùng với nhau Trong thực tế, văn hóa tín ngưỡng được hình thành dựa trên những niềm tin và con người sử dụng những phương tiện khác nhau nhằm biểu
Trang 16thị lòng tin đó Các phương tiện đó được thể hiện qua những công trình vật chất, các nghi lễ, lễ hội, những nguyên tắc, những biểu tượng cụ thể… Những biểu hiện đó được hiểu là văn hóa tín ngưỡng Để lấy ví dụ cho lập luận trên, G.S Ngô Đức Thịnh đã lấy “đạo Mẫu” làm điển hình: “Từ nhân lõi tôn giáo tín ngưỡng này, đạo Mẫu đã sản sinh và tích hợp nhiều yếu tố, giá trị văn hoá: văn học đạo Mẫu, diễn xướng đạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trí, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng gắn với đạo Mẫu” Ngô Đức Thịnh (chủ biên) 2001 [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam - HN: Nxb Khoa học xã hội.]
Nhà nghiên cứu Patrick B Mullen cũng đồng quan điểm với G.S Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn và các ứng xử thực tế Xin nhắc lại, văn hoá dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hoá trừu tượng, mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày như là một phương tiện sáng tạo văn hoá” [Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản Ngô Đức Thịnh - Frank Proschan, NXB Khoa học Xã hội 2005, Hà Nội, tr.280] Ý kiến này minh họa cho quan điểm của giáo sư Ngô Đức Thịnh, nhìn chung coi văn hóa tín ngưỡng
là phần “hình thức” và niềm tin của con người chính là phần “linh hồn” cốt lõi của tín ngưỡng Niềm tin vào lực lượng siêu nhiên và văn hóa tín ngưỡng chính
là hai bộ phận chính cấu thành lên tín ngưỡng cũng như sự phổ biến của chúng trong xã hội loài người
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu các công trình nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng; tác giả nhận thấy các nhà nghiên cứu thường không đưa
ra định nghĩa cụ thể về văn hóa tín ngưỡng Nguyên nhân có thể do sự phức tạp trong định nghĩa Văn hóa (có tới 164 định nghĩa về văn hóa) và nhiều quan điểm khác nhau về tín ngưỡng Các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thường chỉ lý giải
và những đưa ra lập luận logic về sự tồn tại văn hóa tín ngưỡng trong xã hội nhằm tránh những tranh luận không cần thiết về mặt tên gọi, ngôn ngữ
Trang 17Trong luận văn này, văn hóa tín ngưỡng được hiểu theo cách giải thích của Giáo Sư Ngô Đức Thịnh
1.1.2 Cơ sở hình thành tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
Đối chiếu tín ngưỡng với tôn giáo và xác định sự khác biệt giữa chúng là một công việc cần thiết trong việc xác định cơ sở hình thành tín ngưỡng
Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo do các nhà nghiên cứu xem xét lại các khái niệm khác nhau giữa quan điểm về tôn giáo – tín ngưỡng của cách phân loại văn hóa Đông - Tây Nhìn chung các quan điểm về tôn giáo – tín ngưỡng cho rằng điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo Tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ và có giáo đường như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không
có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng
lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo Một số nhà nghiên cứu xem tín ngưỡng là một loại “tôn giáo sơ khai, tôn giáo nguyên thủy” Với vai trò là cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người
có thể sờ mó, quan sát được Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm
Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin
Trang 18tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - đó
là những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [13, tr 263]
Như vậy cơ sở hình thành tín ngưỡng, như đã được chỉ ra trong định nghĩa của E.B Taylor (phần định nghĩa tín ngưỡng) và G.S Trần Ngọc Thêm là được hình thành khi nhận thức của con người chưa được hoàn thiện và phát triển như hiện tại; tín ngưỡng xuất hiện khi triết học và khoa học chưa cung cấp đầy đủ tri thức về thế giới, về con người và vị trí của con người trong thế giới đó Nhận thức sơ khai về các hiện tượng tự nhiên, xã hội vẫn còn sơ đẳng, mang đậm tính huyền thoại dẫn đến việc thiêng hóa và tôn thờ Trải qua thời gian và lớp lăng kính di truyền văn hóa, hiện nay tín ngưỡng đã trở thành một hình thức văn hóa – văn hóa tín ngưỡng tồn tại lâu bền trong xã hội loài người
Nếu chỉ nhìn nhận dưới góc độ triết học, khoa học; tín ngưỡng và đôi khi tôn giáo chỉ đơn thuần là một biểu hiện nhận thức lạc hậu của con người, không phù hợp với quan điểm duy vật của hệ tư tưởng Marxist Tuy nhiên đứng dưới lăng kính văn hóa, tín ngưỡng là những di sản văn hóa biểu lộ đặc trưng tri thức truyền thống, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của những thế hệ trước; phần nào còn tồn tại trong tâm thức của xã hội hiện đại Đặc biệt khi trở thành văn hóa tín ngưỡng, giá trị của chúng còn mang tính bảo tồn và duy trì đường vạch nối giữa quá khứ - hiện tại, giữa các thế hệ đi trước - thế hệ hiện tại – thế hệ tương lai, góp phần định hình lên bản sắc các nền văn hóa
1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
Trang 19- Tín ngưỡng vạn vật hữu linh: Từ thời cổ đại đã xuất hiện học thuyết nói
về linh hồn, đó là thuyết vật linh (Animism) Theo thuyết này thì tất cả mọi loài, mọi thứ trên trái dất từ con người đến con thú, những vật vô tri vô giác như cỏ cây , đất đá cũng đều có linh hồn Quan niệm này tồn tại trong dân gian qua các câu nói, viết : " Hồn thiêng sông núi " “Hồn nước " Tuy nhiên tùy theo phong tục tập quán mỗi quốc gia mà sự định nghĩa và tin tưởng có vài khác biệt, điểm quan trọng nhất trong niềm tin đó là con người tin tưởng rằng vạn vật đều có linh hồn bất diệt, kể cả con người
Đối với các nhà triết học cổ đại như Platon, Pythagore, Hereclite, Empedocles, Aristote Epicure họ đều có nghiên cứu và đề cập nhiều đến linh hồn và coi linh hồn như là một thể quan trọng trong sự chuyển hóa đời sống Về sau có Ploton, Descarts, Pascan, Schopenhauer, Ralph Waldo Emerson, Prederic Wlliam Henry Myers tiếp nối sự nghiên cứu tìm hiểu cũng như tin tưởng vào sự hiện hữu của Linh hồn
Người Việt Nam, theo truyền thống quan niệm rằng cơ thể con người gồm
- Thể hồn ( Hay còn gọi là Linh hồn ) là một khái niệm để chỉ một biểu tượng mơ hồ, ảo ảnh của một cá thể động vật cao cấp, chủ yếu là con người và một số loại cây cổ thụ đã chết, nhưng vẫn hiện diện tính thiêng, kính cẩn, luôn thường trực trong tâm trí con người; mà nhiều khi do chính tâm lý thương nhớ, tôn vinh của người sống tạo ra
Trang 20Ba bộ phận này khác nhau trong cách hiểu của người Việt, nếu thiếu một trong ba số chúng, con người không thể sống được hoặc ít nhất cũng bị bệnh tật, tai ách
Đặc thù của tín ngưỡng vạn vật hữu linh là nhấn mạnh đến sự hiện hữu linh hồn ở mọi sự vật, hiện tượng trong toàn bộ giới tự nhiên chứ không chỉ có trong đời sống văn hóa tâm linh, tư tưởng con người Do đó xuất hiện những hình thức tín ngưỡng cụ thể gắn với một hay nhiều đối tượng cụ thể
- Tín ngưỡng thờ thần mặt trời: Từ thời nguyên thủy, mặt trời được tôn
vinh là vị thần linh thiêng Mặt trời mang lại cho con người ánh sáng, niềm tin, hơi ấm và xua đuổi đêm tối, tà khí, hồi sinh sự sống Trong các trống đồng cổ của người Việt, biểu tượng mặt trời luôn nằm vị trí trung tâm trên bề mặt và con người, muông thú được chạm khắc xung quanh biểu tượng ngôi sao nhiều cánh
đó Mặc dù là một hình thức tín ngưỡng cổ xưa nhưng hiện nay hình thức tín ngưỡng này vẫn còn hiện hữu trong một số nghi lễ truyền thống trong sinh hoạt làng xã ở Việt Nam do đặc tính di truyền văn hóa của xã hội loài người
- Tín ngưỡng thờ đá: Đá được suy tôn kể từ khi con người biết sử dụng
công cụ lao động chế tác từ đá thời nguyên thủy Là một công cụ lao động mang lại hiệu quả cao, cộng với việc sử dụng các hòn đá đập vào nhau, con người có thể tạo ra lửa Đá được coi là có sức mạnh siêu nhiên, được con người tôn thờ và được coi là vật thiêng, dùng để trấn áp các lực lượng đen tối nên được cắm quanh mộ người chết (người Mường cổ) Một số địa phương cất hòn đá vào điểm thờ tự công cộng như đình, miếu Người Việt – Mường tạc tượng chó đá để trấn áp tà khí Ngày nay, tín ngưỡng thờ đá còn biểu hiện qua việc thiêng hóa những nhũ đá trong các hang động có gắn liền với điểm di tích tôn giáo và tín ngưỡng
- Tín ngưỡng thờ cây: Con người cho rằng mọi cây cổ thụ đều có linh hồn,
đặc biệt những cây cổ thụ có vị trí nơi vắng vẻ thường là nơi cư trú của những linh hồn lang thang không nơi nương tựa Xúc phạm đến cây cổ thụ là động đến
Trang 21những linh hồn đó và cuộc sống con người sẽ không được yên ổn Cây cổ thụ thường gắn với miếu, đình và được xem là một biểu tượng linh thiêng trong tâm thức con người từ xa xưa
Tín ngưỡng vạn vật hữu linh còn có nhiều biểu hiện khác như totem giáo hoặc được biểu hiện qua phong tục tập quán truyền thống như: tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ “hồn cây Đa, ma cây Gạo”… Tính đa dạng của nó còn được thể hiện rất cụ thể trong nếp sống văn hóa, đất lề quê thói vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở từng dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S Trong quá trình tiếp xúc văn hóa, tín ngưỡng vạn vật hữu linh cũng du nhập những nghi lễ của các tôn giáo lớn như đạo Phật, đạo Giáo… theo hướng thế tục hóa
- Tín ngưỡng thờ tứ pháp ở Việt Nam có nguồn gốc văn hóa nông nghiệp
trồng lúa nước, do đó các hiện tượng tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến mùa màng được người Việt tôn sùng, thờ cúng Trong số các hiện tượng tự nhiên thì mây, mưa, sấm, chớp có quan hệ trực tiếp đến sản xuất đảm bảo sự sinh tồn của vạn vật muôn loài Bốn hiện tượng tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp nếu “hòa cốc phong đăng” thì tạo ra thuận lợi mang lại nguồn lực cho vạn vật sinh sôi nảy nở, cho mùa thu hoạch thắng lợi Ngược lại nếu mây mưa sấm chớp quá mức cần thiết hoặc không có thì lụt úng, hạn hán khiến cây cỏ, vật nuôi, muông thú…khô héo, thậm chí là bị tiêu diệt Trong quá trình tiếp biến văn hóa, khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, người Việt đã khéo léo kết hợp tín ngưỡng dân gian bản địa này nhập thân vào những vị Phật trong chùa, tạo ra đặc điểm Phật giáo Việt Nam Điều này thể hiện khá rõ ở các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt ở Hà Nội (cũ), Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam… Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong tín ngưỡng Tứ Pháp đã được linh thiêng hóa như
bà Đanh, bà Dâu, bà Đậu và bà Tướng Các vị thần này cũng là biểu hiện tâm lý coi tự nhiên là mẹ và thái độ sống hòa hợp với thiên nhiên của người Việt
- Tín ngưỡng thờ mẫu: Cho dù có một thời kỳ tương đối dài tiếp xúc với
nền Nho học du nhập từ quốc gia phương bắc, văn hóa bản địa người Việt vẫn
Trang 22lưu giữ những đặc thù truyền thống lâu đời như ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ, tâm thức coi trọng phụ nữ và vai trò của họ trong gia đình, cộng đồng Biểu hiện tiêu biểu của tâm thức này là tín ngưỡng thờ mẫu với hàng loạt các công trình kiến trúc tín ngưỡng trải dài khắp mọi miền tổ quốc Tín ngưỡng thờ Mẫu thường được thể hiện qua thờ Tam Phủ, Tứ Phủ và hình thức tín ngưỡng này vẫn tồn tại mạnh mẽ trên mọi miền đất nước
- Tín ngưỡng Phồn thực: Với mong muốn vạn vật sinh sôi nảy nở, đặc
biệt là những vật nuôi, cây trồng gắn liền với đời sống nông nghiệp của con người; người Việt Nam đã phát triển quan niệm cho rằng sự sinh nở đều khởi nguồn từ các bộ phận sinh thực khí Quan niệm tôn thờ vật thể tạo ra sự đơm hoa kết trái, nên biểu tượng “âm dương hòa khí” dẫn đến sinh sản trở thành động lực sáng tạo ra những nghi thức, nghi lễ gắn liền với quan niệm đó Sinh thực khí có mạnh, giống nòi mới khỏe, mọi vật mới trưởng thành mạnh mẽ Một số nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng phồn thực có ảnh hưởng qua lại với văn hóa người Chăm xưa, với biểu tượng nổi tiếng là Linga – Yoni Thực ra, quan niệm này đã được dân gian hóa từ trước; dưới hình thức các tục hèm trong lễ hội truyền thống của người tiền Việt – Mường, với rất nhiều vật thờ cúng, tượng thần, phù điêu trên các chi tiết đắp nổi bằng vôi vữa, đục đẽo bằng gỗ trên cửa võng, xà ngang, đầu đấu đình làng, miếu, chùa ở Việt Nam Điển hình hơn cả là tục bắt chạch trong chum hay hành vi đâm biểu tượng dương vật vào hình âm vật bằng gỗ trong lễ hội xuân ở Phú Thọ, Bắc Giang, Hà Tây, Bắc Ninh
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ
quan niệm cho rằng những thế hệ đi trước khi mất đi không hoàn toàn từ bỏ cõi dương gian mà vẫn tồn tại dưới một hình thức siêu hình, trong những dịp đặc biệt như ngày giỗ, lễ tết, sóc vọng… thường quay trở lại gia đình để trông nom, phù hộ, độ trì thế hệ sau Quan niệm này tạo ra một chiều sâu văn hóa và chiều rộng về ý thức gia đình Gia đình không chỉ bao gồm những người còn sống, mà
có cả những người đã khuất Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ giới hạn
Trang 23trong một gia đình hạt nhân mà còn được mở rộng ra chi họ, dòng tộc Đến thời hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được nâng tầng cấp quốc gia khi tất cả người Việt đều thừa nhận vua Hùng là ông tổ khai sinh đất nước Ngày 10 tháng
3 âm lịch được coi là quốc giỗ, người dân trong cả nước đều được nghỉ và tổ chức cúng giỗ, viếng đền Hùng (Phú Thọ), thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của dân tộc Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ lâu đời, là lá chắn văn hóa vững vàng xuyên suốt quá trình lịch sử Người Pháp khi xâm lược Việt Nam nhìn nhận hiện tượng tín ngưỡng này như là một tôn giáo thế tục và coi đó là một rào cản vô hình ngăn chặn quá trình “khai hóa” văn minh ở Đông Dương, trong đó có quá trình truyền bá Thiên chúa giáo
- Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng: Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa,
thờ thành hoàng ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc Tuy nhiên, tục thờ thành hoàng của người Trung Quốc chủ yếu hướng vào thờ cúng vị thần trông coi các thành – công trình phòng vệ tuyến ngoài của đô thị cổ Trung Quốc; trong khi đó tục thờ thành hoàng của người Việt chủ yếu hướng vào thờ cúng những vị thần bảo trợ cho làng xã Những vị thần này có thể là người khai khẩn đất hoang, dựng làng, lập ấp… thực chất là người có công đầu tiên trong quá trình hình thành và phát triển của làng Cụ thể như thần tổ nghề - mang nghề đến cho nhân dân; những vị tướng tài mang lại độc lập tự do cho cộng đồng Các vị quan văn, quan võ đã thi tài, đỗ đạt có gốc gác hoặc có đóng góp cho làng Cá biệt ở một số nơi còn thờ những vị thần thác vào giờ thiêng hoặc có nghề nghiệp không mấy được coi trọng trong xã hội như thần làm nghề hót phân, ăn trộm, hoạn lợn, đôi khi là người lạ chết trong đất của làng Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng phổ biến ở Việt Nam, gắn bó mật thiết với lễ hội và những công trình kiến trúc nổi tiếng là đình, đền, miếu, phủ Các công trình này là nơi lưu giữ nhiều tầng văn hóa khác nhau theo tiến trình lịch sử Đó là những hoành phi, câu đối, những bản thần tích, sắc phong qua nhiều triều đại, những văn tự Hán Nôm nói về lịch sử hình thành và phát triển của làng, những ghi chép về trùng tu, tôn tạo qua thời
Trang 24gian Đình làng được coi là địa điểm tổ chức chính thức các lễ hội truyền thống, nét văn hóa đã trở thành đặc điểm nổi trội trong bản sắc văn hóa dân tộc Lễ hội truyền thống gắn liền với đình làng và các công trình tín ngưỡng – tôn giáo khác, tạo được không gian linh thiêng, không khí đầu năm mùa xuân rộn rã nên rất hấp dẫn mọi tầng lớp lứa tuổi, thu hút khách du lịch bởi mức độ đa dạng và những nét biểu trưng của nó trong nền văn hóa Việt
- Các hình thức tín ngưỡng khác: Ngoài những hình thức tín ngưỡng phổ
biến trên, trong đời sống văn hóa truyền thống còn tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng khác tùy theo văn hóa vùng miền, đặc thù địa lý Trong số đó có thể đề cập đến tín ngưỡng thờ Sơn Tinh – Thủy Tinh, một trong tứ bất tử trong văn hóa dân gian Tín ngưỡng thờ Sơn Tinh – Thủy Tinh gắn liền với truyền thuyết trong thời kỳ đầu dựng nước, biểu lộ tinh thần đấu tranh với sự khắc nghiệt của thiên nhiên Tín ngưỡng Sơn Tinh – Thủy Tinh Sơn rất phổ biến ở khu vực đồng bằng sông Hồng, do nơi đây phải thường xuyên chống chọi với lũ lụt, bảo vệ mùa màng, con người và vật nuôi
Tín ngưỡng thờ thủy thần phổ biến ở những ngôi làng ven biển hoặc gần sông lớn Tục thờ thủy thần biểu hiện lòng tôn kính đối với vị thần bảo trợ, mang lại bình yên cho những chuyến đi dài ngày trên biển hoặc trên sông nước, hoặc ít nhất là biểu lộ lòng tôn kính để vị thần này không gây hại cho nghề nghiệp của những người làm nghề đánh bắt thủy sản Tín ngưỡng thờ thủy thần gắn liền với việc thờ các vật thủy linh như rồng, rắn Khu vực đồng bằng sông Hồng xưa kia vẫn còn là địa vực gần biển, do đó di sản thờ cúng thủy thần vẫn còn nhiều dấu vết trong các làng Việt cổ Thờ thủy thần cũng được biểu hiện qua tục thờ cá ông của cư dân Việt sinh sống ven biển
Một số tín ngưỡng khác hiện nay vẫn còn tồn tại phổ biến ở các làng quê Việt Nam như tín ngưỡng thờ cây hương, tín ngưỡng thờ ông Đống, bà Đống, tín ngưỡng thờ đức thánh Trần, tín ngưỡng cầu mưa và tín ngưỡng thờ thần thổ địa…
Trang 251.1.4 Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của Văn hóa tín ngưỡng
- Điều kiện tự nhiên: Môi trường tự nhiên là một trong những nhân tố lớn
hình thành lên các nền văn hóa Theo cuốn cơ sở văn hóa Việt Nam, văn hóa được hình thành dựa trên cách thức ứng xử của con người môi trường tự nhiên Khi con người phát triển đến một trình độ nhất định hình thành lên các xã hội có
tổ chức được gọi là môi trường xã hội nhân văn Tập quán ứng xử của bản thân con người với xã hội – tự nhiên tạo ra văn hóa và lớp văn hóa ấy là cơ sở cho việc con người có nội tâm, tư tưởng và tình cảm hay mối quan hệ với chính bản thân Mối quan hệ con người – tự nhiên, con người – xã hội, con người – bản ngã chính là ba mối quan hệ cơ bản cho việc xuất hiện văn hóa Đặc điểm hình thành lên tín ngưỡng cũng không nằm ngoài quy luật đó
Môi trường tự nhiên của văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam bao gồm những đặc điểm sau:
+ Hệ thống sông ngòi dày đặc tạo môi trường hết sức thuận lợi cho con người sinh sống Các lớp phù sa làm cho đất mầu mỡ thuận tiện cho canh tác nông nghiệp Sông ngòi cũng cung cấp đủ nước cho sinh hoạt, chăm sóc cây trồng và vật nuôi
+ Có nhiều vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau nhưng rất phì nhiêu, trong
đó có hai khu vực đồng bằng rộng lớn thuận lợi cho việc định cư, canh tác và nuôi gia súc là đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng sông Cứu Long Đồng bằng sông Hồng được xem là trung tâm cổ xưa của văn hóa Việt sau đó lan tỏa đi khắp mọi miền đất nước, với hàng loạt các nền văn hóa và tiểu văn hóa khác nhau ra đời, phát triển và lụi tàn tạo tiền đề cho nền văn hóa Việt Nam hiện nay
+ Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều: đây là môi trường lý tưởng cho động thực vật nhiệt đới, bán nhiệt đới phát triển
Những đặc điểm môi trường tự nhiên kể trên chính là cơ sở nội tại để phát sinh và phát triển nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở nước ta Ngoài ra môi trường tự nhiên còn có một số đặc điểm như: hệ sinh thái phong phú, hệ thực vật
Trang 26phát triển hơn so với hệ động vật, bờ biển dài 3260 km làm cho nền văn hóa trở lên phong phú hơn với những đặc điểm văn hóa ven biển
Đặc điểm vị trí địa lý cũng góp phần hình thành lên môi trường tự nhiên của văn hóa tín ngưỡng:
+ Đường biên giới dài với các nước Trung Quốc, Campuchia và Lào: đặc điểm này khiến cho dân tộc có cơ hội giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác Các nước này cũng là khu vực tiếp dẫn tinh hoa của các nền văn hóa lớn như Ấn Độ, trung tâm văn hóa Trung Quốc Vị trí địa lý của Việt Nam nằm trong giao điểm của các luồng văn hóa, các luồng di dân, luồng giao thông đường biển và đường bộ
+ Rừng núi chiếm ¾ tổng diện tích với hệ thực vật và động vật hết sức phong phú Điều này làm cho kinh tế truyền thống không chỉ thuần túy nông nghiệp trồng lúa nước mà việc làm nương, rẫy, thu hái lâm sản cũng đã trở thành tập tục thói quen có từ lâu đời
Ở nước ta, môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
là nguồn gốc ra đời của những tín ngưỡng gắn với nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng vạn vật hữu linh cũng như một số hình thức tín ngưỡng đặc thù khác
- Điều kiện xã hội - con người: Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều
thành phần dân tộc trải dài khắp mọi miền tổ quốc Với 54 dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất hình chữ S, các dân tộc đó đã hình thành nên một nền văn hóa đa dạng, nhiều mầu sắc Tuy nhiên tính đa dạng đó nằm trong một thể thống nhất là văn hóa mang bản sắc Việt Nam Việt Nam cũng là nơi con người xuất hiện sớm (từ thời Pleistonecen, khoảng 600,000 đến 12,000 năm trước công nguyên) nên tính bản địa đã được hình thành từ lâu đời Trong quá trình lịch sử,
có nhiều luồng di cư khác nhau, sự sáp nhập các tiểu vương quốc cũng góp phần hình thành nên tính đa dạng về chủng tộc Nước ta cũng có một bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời trên cơ sở một nền văn hóa có chiều sâu lịch sử,
đa tầng, phong phú, đặc sắc
Trang 27Lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt và chống ngoại xâm Đây là yếu tố cơ bản hình thành nên đặc điểm tính cách người Việt: thương yêu, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, trọng cồng đồng, coi trọng vai trò người phụ nữ trong gia đình, có lòng yêu nước cao độ Ngoài
ra, với ảnh hưởng của điều kiện kinh tế dựa vào nông nghiệp, tính cách người Việt cũng được bổ xung một số đặc điểm như: cần cù, chịu khó, ham học hỏi và phần nào thụ động dựa vào môi trường bên ngoài (xã hội, tự nhiên)…
Xã hội Việt chủ yếu lấy những tôn giáo, hệ tư tưởng tiếp nhận từ bên ngoài làm nền tảng xây dựng tổ chức nhà nước và căn cứ vào chúng để xây dựng các quy tắc đẳng cấp hoặc quan hệ xã hội Mối quan hệ giữa con người và nhà nước, giữa con người với cộng đồng góp phần rất lớn hình thành lên các loại hình tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam như tín ngưỡng thờ thành hoàng làng (vua, quan mở làng lập ấp hoặc có công chống giặc ngoại xâm), tín ngưỡng thờ Mẫu (nhiều thần Mẫu là mẹ, vợ hoặc người thân của quan, vua trong chế độ phong kiến; quan niệm coi trọng người phụ nữ), thờ thần…
Con người Việt Nam là người chủ của một nền văn hóa đa dạng, giầu bản sắc; là người sáng tạo, duy trì và phát triển những hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo tồn tại cho đến tận ngày nay
- Môi trường quốc tế và giao lưu với các nền văn hóa khác: Nằm ở vị trí
“ngã ba đường”, nơi chuyển tiếp của các nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn
Độ, Phương Tây… nước ta rất có điều kiện để làm giầu nền văn hóa bản địa bằng cách thức tiếp nhận, chuyển hóa tinh hoa của các nền văn hóa lớn khác và dung hợp vào nền văn hóa sẵn có Quá trình này được gọi là tiếp biến văn hóa (acculturate), làm cho văn hóa Việt Nam nói chung, tín ngưỡng nói riêng nằm trong môi trường tương đối “động”, nghĩa là có sự thay đổi, thích nghi và quá trình hoàn thiện được diễn ra liên tục xuyên suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Nước ta tiếp nhận những tác động về mặt tín ngưỡng – tôn giáo rất lớn
từ văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp (phương tây) Về mặt hệ tư tưởng và tôn
Trang 28giáo – tín ngưỡng, chúng ta tiếp nhận những thành quả văn hóa lớn từ Trung Hoa
là Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Nho… Những hệ tư tưởng – tôn giáo này không những ảnh hưởng mạnh đến văn hóa mà còn tác động bao trùm lên hình thái tổ chức nhà nước, lối sống, thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt Đối với
Ấn Độ, những ảnh hưởng lớn có thể liệt kê ở đây là ảnh hưởng của Đạo Phật, Đạo Bà la môn và cách thức tổ chức nhà nước – xã hội tiểu vương quốc Ấn Độ giáo đã từng phát triển hết sức phồn thịnh trên lãnh thổ Việt Nam từ xa xưa (Chăm –Pa, Phù Nam, Chân Lạp…) Tiếp xúc với phương Tây diễn ra rất sớm từ giữa thế kỷ XVIII theo con đường truyền giáo nhưng đến tận cuối thế kỷ XIX tiếp xúc cưỡng bức văn hóa Việt Pháp mới tạo nên sự đột phá mới với sự kiện nước Pháp chiếm đóng Việt Nam làm thuộc địa Ảnh hưởng của giai đoạn tiếp xúc văn hóa ngắn ngủi này mang lại nhiều thay đổi lớn trong xã hội, văn hóa cũng như tín ngưỡng – tôn giáo của Việt Nam, đặc biệt có rất nhiều thay đổi về văn học, tư tưởng, nghệ thuật Về mặt tôn giáo – tín ngưỡng, Thiên Chúa giáo được hợp pháp hóa khi được truyền bá ở Việt Nam và đối với nhà thờ, những hình thức tín ngưỡng dân gian được con là dị giáo, là biểu hiện mê tín lạc hậu của người bản địa
Người Việt Nam vốn có tính bao dung, do đó khi tiếp xúc với các dân tộc khác và các nền văn hóa khác họ tiếp nhận, biến đổi những yếu tố thích hợp, loại
bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giầu cho nền văn hóa sẵn có Quá trình tiếp hợp hay truyền thống hóa những yếu tố ngoại sinh và hiện đại hóa những yếu tố nội sinh diễn ra liên tục hình thành nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng, giầu bản sắc như hiện nay
Tín ngưỡng là một bộ phận của văn hóa, do đó khi có những chuyển biến văn hóa do môi trường tự nhiên, những thay đổi đột ngột về kiến trúc thượng tầng, những bước phát triển mới về tư tưởng; hệ thống tín ngưỡng cũng có những thay đổi tương ứng và có những biểu hiện thích nghi mới phù hợp với những chuyển biến đó
Trang 291.2 Khái quát về du lịch văn hóa tín ngƣỡng
1.2.1 Khái niệm về loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng
Du lịch văn hóa tín ngưỡng là một sản phẩm du lịch lấy tín ngưỡng và những biểu hiện của chúng làm cơ sở hình thành và phát triển Do du lịch gắn với tín ngưỡng là một trong số vô vàn những sản phẩm du lịch được phân loại cho nên có rất ít những định nghĩa chính thống về sản phẩm du lịch này
Tuy nhiên, với tư cách là một sản phẩm du lịch khai thác nguồn tài nguyên du lịch văn hóa, du lịch gắn với tín ngưỡng mang đầy đủ đặc thù là một sản phẩm du lịch văn hóa
Do đó, để đưa ra được khái niệm hoặc chí ít một cách hiểu có thể chấp nhận được về du lịch văn hóa tín ngưỡng trong luận văn này cần có sự đối chiếu, phân tích các nội dung khái niệm du lịch văn hóa để từ đó đưa ra được nội dung
cơ bản về Du lịch văn hóa tín ngưỡng:
Theo Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội
và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích, đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” Theo định nghĩa,
du lịch văn hóa bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng chủ yếu đề cập đến môi trường xã hội nhân văn - trong đó con người và sản phẩm đặc trưng của con người - văn hóa là đối tượng khai thác chủ yếu của ngành du lịch Định nghĩa cũng nhằm phân biệt du lịch văn hóa với du lịch đến với các điểm tài nguyên tự nhiên, vốn là hình thức du lịch được biết đến nhiều hơn và chiếm tỷ lệ lớn trong động cơ tiến hành hoạt động du lịch truyền thống Du lịch văn hóa trong diễn giải nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội của hoạt động du lịch, đó là nhu cầu giao lưu, khám phá của con người trong một môi trường văn hóa nhất định đối với một nền văn hóa thuộc một hoặc nhiều xã hội khác
Trang 30Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng “Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim” [1, tr.8] Như vậy, Giáo sư nhấn mạnh vào khía cạnh cung du lịch; nghĩa là xem xét du lịch trên phương diện kinh tế, với chủ thể là những đơn vị, tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm du lịch với tư cách là một ngành dịch vụ Ngành dịch vụ đó lấy văn hóa làm tài nguyên du lịch, một nguồn lực để phát triển thành sản phẩm du lịch phục vụ cho xã hội
Luật Du lịch Việt Nam năm 2006 định nghĩa: “Du lịch văn hóa là hình
thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.”
Định nghĩa của Luật du lịch Việt Nam xác định du lịch văn hóa là một sản
phẩm du lịch có đối tượng khai thác là nguồn tài nguyên văn hóa Nguồn tài nguyên này đóng vai trò phục vụ phát triển du lịch cho nên đứng trên khía cạnh ngành du lịch đó là những giá trị văn hóa có khả năng hấp dẫn khách du lịch và khai thác phát triển du lịch Tuy nhiên, du lịch văn hóa không có mối liên hệ trực tiếp đến toàn bộ “bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng” mà chỉ khai thác những khía cạnh có nguồn lực văn hóa cá biệt, có khả năng hấp dẫn khách du lịch và các nhà đầu tư du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch tại những điểm đó Định nghĩa của luật du lịch cũng đề cập chủ yếu đến mục tiêu
“bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống”, đặt nặng mục tiêu phát triển bền vững của hoạt động du lịch
Các định nghĩa trên cho thấy, khái niệm du lịch và du lịch văn hóa được
nhìn nhận trên hai phương diện chính là phương diện xã hội và phương diện kinh
tế Trong phạm vi kinh tế, du lịch văn hóa cũng được nhìn nhận theo khái niệm cung và cầu, trong đó văn hóa là đầu vào, là nguồn tài nguyên hình thành lên những sản phẩm du lịch, nối kết giữa nhu cầu hưởng thụ văn hóa của du khách
và những đối tượng khai thác các giá trị văn hóa nhằm phát triển du lịch với mục đích thu lại những lợi ích kinh tế cụ thể Đứng trên khía cạnh còn lại, du lịch văn
Trang 31hóa là một nhóm nhu cầu của con người di chuyển đến các điểm du lịch trọng yếu tố nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu giao lưu, tìm hiểu khám phá những nền văn hóa mới lạ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời tạo ra sự lưu thông tiền
tệ tại các điểm đến
Như vậy du lịch văn hóa được hiểu là một hình thức du lịch khai thác các
giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch; mang lại lợi ích kinh tế cho những tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch (chức năng kinh tế) và trong một số trường hợp là phương tiện để đạt được một số mục tiêu chính trị (như giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc.)
Từ định nghĩa về du lịch văn hóa, có thể rút ra một số nội dung của du lịch văn hóa tín ngưỡng như sau:
- Thứ nhất, du lịch tín ngưỡng khai thác hệ thống văn hóa vật thể gắn với tín ngưỡng có sức hấp dẫn cao để phát triển du lịch
- Thứ hai, du lịch văn hóa tín ngưỡng khai thác văn hóa phi vật thể gắn với tín ngưỡng có sức hấp dẫn cao để phát triển du lịch
- Thứ ba, du lịch tín ngưỡng phải đáp ứng hai mục tiêu chính là mục tiêu thỏa mãn nhu cầu xã hội (thỏa mãn cầu đi du lịch, giao lưu, học hỏi của xã hội)
và mục tiêu kinh tế (mang lại thu nhập cho các chủ thể phía đối tượng cung ứng
du lịch) Là một hình thức du lịch đặc thù, du lịch tín ngưỡng hướng đến thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu giá trị tín ngưỡng truyền thống của người Việt, nhu cầu giao lưu văn hóa của khách du lịch quốc tế và nhu cầu nghiên cứu tín ngưỡng
- Thứ tư, du lịch văn hóa tín ngưỡng phải gắn liền với bảo tồn tín ngưỡng truyền thống, không làm mất đi những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc được được bồi đắp qua tiến trình lịch sử
- Cuối cũng là du lịch văn hóa tín ngưỡng phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng có tín ngưỡng
Trang 32Trong luận văn này, du lịch văn hóa tín ngưỡng được hiểu là: một loại
hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa tín ngưỡng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu du lịch của xã hội (nhu cầu tham dự vào không gian tín ngưỡng, nhu cầu tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng và nhu cầu giải trí gắn với hoạt động du lịch ở điểm tín ngưỡng), mang lại những lợi ích kinh tế và bảo tồn các giá trị tín ngưỡng truyền thống gắn với sự tham gia của cộng đồng bản địa có tín ngưỡng
1.2.2 Vai trò, đặc điểm của Du lịch văn hóa tín ngưỡng
Tín ngưỡng là nguồn tài nguyên du lịch văn hóa giầu tiềm năng: Như
chúng ta đã biết, du lịch văn hóa hiện nay được các quốc gia trên thế giới coi là loại hình du lịch nhiều triển vọng do sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia Khi
so sánh với các điểm du lịch tự nhiên hầu như đã cạn kiệt và đi vào chu kỳ bão hòa của vòng đời điểm đến; du lịch văn hóa trở thành đối tượng quan trọng thỏa mãn được nhu cầu phát triển sản phẩm không ngừng của ngành du lịch do đặc tính sáng tạo liên tục, các lớp lịch sử bồi tụ qua thời gian Tín ngưỡng với tư cách là một bộ phận của nguồn tài nguyên du lịch văn hóa cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Tín ngưỡng có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách du lịch ở mức độ cao:
Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa gắn với từng tộc người, từng nền văn hóa Chúng mang tính bản sắc cao và tương đối độc nhất khi so sánh với các dân tộc khác Chính sự khác biệt văn hóa nói chung, tín ngưỡng nói riêng giữa các dân tộc tạo nên tính hấp dẫn du lịch, xây dựng nền tảng hình thành lên sản phẩm du lịch mang đặc tính văn hóa Tín ngưỡng thường tồn tại ở nhiều hình thức, hết sức
đa dạng; tính đa dạng tạo lên sự phong phú của các sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch ở mức độ cao
Tín ngưỡng với vai trò là nguồn tài nguyên du lịch mang tính mùa vụ thấp: Du lịch văn hóa khi so sánh với du lịch khai thác các giá trị tự nhiên cũng
có nhiều thuận lợi Du lịch về với tự nhiên bị chi phối nhiều bởi nhân tố thời tiết, hạn chế về mặt không gian, khả năng phục hồi chậm và có giới hạn khai thác do
Trang 33tính đa ngành cũng như yêu cầu bảo tồn các nguồn tài nguyên tự nhiên Du lịch gắn với tín ngưỡng ít gặp phải trở ngại do yếu tố thời tiết, quy hoạch không gian
do đó có thể được khai thác trong mọi thời điểm trong năm
- Tín ngưỡng với vai trò là nguồn tài nguyên du lịch dễ khai thác và mang lại hiệu quả kinh tế cao:
Đứng trên phương diện kinh tế, du lịch gắn với tín ngưỡng không đòi hỏi những tổ chức, đơn vị doanh nghiệp và ngành du lịch phải đầu tư nhiều vào điểm (sites) do giá trị sẵn có Khi xem xét điểm du lịch tín ngưỡng trong mối quan hệ với các loại hình du lịch khai thác yếu tố tự nhiên như điểm du lịch biển; Điều dễ thấy là nguồn vốn đầu tư ban đầu của các điểm du lịch như bãi biển thường lớn: xây dựng khách sạn, cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí hiện đại và hàng loạt những dịch vụ bổ xung khác Ngược lại, điểm du lịch tín ngưỡng thường chỉ tập trung vào đường giao thông và những cơ sở vật chất tối thiểu phục vụ khách du lịch do
đặc thù của chúng Như vậy, các điểm tín ngưỡng đóng vai trò là nguồn tài
nguyên dễ khai thác và có chi phí ban đầu tương đối thấp, thuận tiện cho việc thu hồi vốn
Thị trường du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngành Thị trường thể hiện qua lượng cầu và khả năng cung ứng của các chủ thể kinh doanh
du lịch Lượng cầu được quy định bởi khả năng thanh toán và động cơ du lịch của các nhóm du khách Chúng thúc đẩy động cơ du lịch, cho việc tiến hành các chuyến đi với mục đích du lịch Khách du lịch hiện nay thường bị hấp dẫn bởi những yếu tố văn hóa do tính mới lạ tương đối của chúng và mục đích tiến hành
sử dụng sản phẩm du lịch để mở mang nhận thức bản thân và hiểu biết về những con người, những nền văn hóa nằm ngoài quốc gia hoặc chí ít địa điểm nơi họ
sinh sống Trong nội dung này, tín ngưỡng có vai trò là nhân tố quyết định đến
lượng cầu du lịch dành cho sản phẩm du lịch văn hóa
Văn hóa tín ngưỡng thường có mối liên hệ chặt chẽ với các tôn giáo lớn khác ở Việt Nam qua quá trình tiếp biến văn hóa Việc hòa trộn tín ngưỡng vào
Trang 34các địa điểm thờ tự tôn giáo và ngược lại rất phổ biến ở Việt Nam Hiện tượng này này làm cho tính chặt chẽ của tôn giáo khi du nhập vào Việt Nam bị giảm nhẹ, tính chính thống được thay thế bằng tính dân gian, các luật lệ bị gia giảm thành quy ước từ đó vai trò của người đứng đầu tôn giáo cũng bị dung hòa với vai trò của những người đứng trong cộng đồng tôn giáo – tín ngưỡng Theo điều tra của Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2009, người tham gia và các hoạt động và tổ chức tín ngưỡng – tôn giáo ở Việt Nam có tỷ lệ theo dân số cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Tỷ lệ tôn giáo – tín ngƣỡng theo dân số:
1 Không tôn giáo 81.69%
2 Phật giáo (Đại thừa) 7.93%
số tín điều tôn giáo mà không nhất thiêt phải là thành viên của tôn giáo đó Ví dụ như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gần như có đến 100% người Việt tiếp tục duy trì như là một nét văn hóa truyền thống tiêu biểu
Trang 35Hiện nay tổng dân số ở khu vực nông thôn vẫn còn chiếm 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, dân số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số cả nước Như vậy, 69.4% dân số vẫn sinh sống ở khu vực nông thôn, nơi văn hóa truyền thống Việt Nam vẫn còn mang đậm dấu ấn mà chưa bị quá trình đô thị hóa, hội nhập làm phai nhạt Tại trung tâm đô thị Hà Nội, các biểu hiện tín ngưỡng dân gian vẫn còn rất đậm nét biểu hiện qua sự phục hồi nhanh chóng các lễ hội truyền thống gắn với các điểm di tích, hình thức biểu diễn dân gian như hát văn, ca trù, múa rối nước có nhiều nghệ sỹ tâm huyết theo đuổi và hình thành các khu vực biểu diễn ngay trong nội đô
Cùng với sự phổ biến và phục hồi các hình thức biểu hiện gắn tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam; Du lịch tín ngưỡng được xem như là cánh cửa để bước vào tìm hiểu nền văn hóa dân tộc Việt Nam đối với du khách nước ngoài Điều này được khẳng định qua sự đa dạng hóa các sản phẩm du lịch khai thác lễ hội truyền thống, các hình thức biểu diễn dân gian, phong tục tập quán trong đông đảo tầng lớp nhân dân và thực hành tín ngưỡng ở mọi người dân có quốc tịch Việt Du lịch tín ngưỡng là nền tảng để du khách nước ngoài tiến hành hoạt động du lịch
có mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, khảo cứu các nền văn hóa trong nước gắn với con người Việt Nam
1.2.3 Điều kiện phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng
Những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch khai thác các giá trị tín ngưỡng
Một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển du lịch nói chung, du lịch tín ngưỡng nói riêng là môi trường bên ngoài của hoạt động du lịch Chúng thường là những nhân tố mà khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch
và ngành du lịch địa phương chịu sự tác động, không nằm trong khả năng kiểm soát của họ Môi trường bên ngoài nếu như phù hợp, có thể thúc đẩy hoạt động
du lịch phát triển; ngược lại, chúng kiềm chế và gián tiếp tạo ra những sản phẩm
du lịch chưa hoàn thiện, kém hiệu quả và phát triển không bền vững Phần này
Trang 36chủ yếu đề cập đến môi trường vĩ mô, có tác động từ bên ngoài đến khả năng phát triển du lịch tín ngưỡng tại địa phận Hà Tây (cũ)
- Các chính sách phát triển của Nhà Nước, ngành: Để phát triển du lịch
nói chung, du lịch tín ngưỡng nói riêng chính sách dành cho du lịch là nhân tố mang tính quyết định đến việc hình thành, định hình và phát triển sản phẩm du lịch Chính sách dành cho du lịch tác động rất mạnh đến việc quy hoạch không gian lãnh thổ, các cụm du lịch với sản phẩm trọng điểm; tổng số lượng vốn dành cho giao thông vận tải, lưu trú; công tác xúc tiến phát triển du lịch và quảng bá, ngân sách dành cho phát triển du lịch Nếu như chính sách dành cho ngành du lịch phù hợp với nguồn tài nguyên, chiến lược phát triển phù hợp với thị trường quốc tế và tình hình trong nước; các sản phẩm du lịch chắc chắn sẽ được kích thích phát triển và đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội – chính trị đã đề ra Tuy nhiên, nếu như chính sách không theo sát thực trạng nguồn tài nguyên, không thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, đối tượng hoạt động trong ngành và người dân đia phương; chúng có thể kìm hãm hoạt động du lịch phát triển đúng với tiềm năng sẵn có của điểm đến Chính sách phát triển du lịch của Hà Nội hiện nay được thể hiện qua các bản quy hoạch du lịch, các văn bản pháp quy nằm trong phạm vi tác động vào hoạt động du lịch; trong đó có không gian du lịch thuộc địa bàn Hà Tây cũ Nhìn chung chính sách dành cho du lịch ở địa bàn thường tập trung vào tổng số ngân sách dành cho cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú và các điểm du lịch có quy mô lớn Ngoài ra chúng cũng tập trung vào việc xây dựng các sản phẩm chủ đạo theo không gian lãnh thổ như các cụm du lịch và phân chia theo quận, huyện
Hà Nội không chỉ là trung tâm kinh tế - chính trị của cả nước mà cũng là địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú; do đó hoạt động du lịch cũng được xác định cần phải phát triển với tốc độ cao, với mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn 2015 – 2030 Đối với các điểm tín ngưỡng, chính sách phát triển du lịch không chỉ tập trung vào quy hoạch mà
Trang 37còn chú trọng đến công tác bảo tồn di sản văn hóa và xúc tiến do đặc thù tài nguyên du lịch của các điểm này
- Cơ sở hạ tầng có trình độ phát triển ở mức độ tối thiểu để phục vụ cho hoạt động du lịch: Cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ bản kích thích hoạt động du lịch
phát triển, đặc biệt là du lịch đại chúng Các điểm du lịch có vị trí địa lý xa xôi, tài nguyên du lịch đặc sắc thường hấp dẫn đối tượng khách du lịch ưa mạo hiểm Tuy vậy, nhóm khách này có số lượng nhỏ, mang lại lợi ích kinh tế không đáng
kể và thường không đến tham quan các điểm du lịch tín ngưỡng Để kích thích đầu tư và thu hút mối quan tâm của các công ty lữ hành, khách du lịch; các điểm tín ngưỡng cần hoàn thệ hệ thống giao thông vận tải nhằm thuận tiến hóa quá trình tiến hành chuyến du lịch, khuyến khích đầu tư cơ sở lưu trú, các dịch vụ bổ sung tại điểm
- Khả năng tiếp cận: Vị trí địa lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong
hoạt động lữ hành Nếu như một điểm tín ngưỡng có nguồn tài nguyên đặc biệt hấp dẫn nhưng nằm ở vị trí địa lý xa xôi, giao thông khó khăn, địa hình hiểm trở không thuận tiện cho hoạt động di chuyển đến các điểm du lịch lân cận; điểm du lịch đó khó có thể phát triển thành điểm du lịch đúng nghĩa bởi yếu tố tâm lý, ngân sách tác động lên quá trình ra quyết định cuối cùng của du khách Khả năng tiếp cận cũng thể hiện qua thái độ của người dân và chính quyền địa phương dành cho khách du lịch Người dân có thái độ thân thiện với khách du lịch, hợp tác với các đối tác lữ hành thường được đánh giá rất cao, ngược lại người dân có thái ghét bỏ, không mong muốn tiếp xúc với khách du lịch thường tác động mạnh đến nhu cầu an toàn, sự thoải mái của khách du lịch
- Có mức độ hấp dẫn du lịch tương đối cao trong tổng thể hệ thống tài nguyên du lịch gắn với tín ngưỡng: thể hiện qua sự xuất hiện của những điểm du
lịch tín ngưỡng trong các tour du lịch của các công ty lữ hành, mật độ xuất hiện trên các báo, tạp chí chuyên đề giới thiệu điểm du lịch và biểu hiện qua số lượng khách du lịch có mong muốn quay lại điểm Mức độ hấp dẫn du lịch cũng được
Trang 38thể hiện qua các giá trị văn hóa, tính truyền thống, giá trị cảnh quan, kiến trúc,
mỹ thuật và các di sản được bảo tồn tại điểm di tích – tín ngưỡng Yếu tố đặc sắc, nhấn mạnh tính khác biệt so với những điểm du lịch tương tự khác cũng góp phần quy định mức độ hấp dẫn du lịch Mức độ hấp dẫn du lịch tác động mạnh mẽ đến động cơ và quyết định cuối dẫn đến việc mua sản phẩm đối với khách du lịch
Tại các điểm du lịch tín ngưỡng, tính thiêng là một yếu tố hết sức quan trọng đối với khách du lịch nội địa, châu Á Các điểm di tích – tôn giáo tín ngưỡng cổ kính và nổi tiếng bởi tính thiêng (ở đây tính thiêng được hiểu theo khía cạnh đánh giá của người đi lễ chùa, cầu cúng tại các điểm tín ngưỡng về phản hồi của các bậc thần phật vô hình theo những thỉnh cầu của họ) thường thu hút rất nhiều khách du lịch đến từ các địa phương khác nhau Cho dù đây là vấn
đề nhạy cảm đối với những nhà quản lý văn hóa - du lịch và những người ban hành chính sách do đường biên giới mỏng manh giữa tôn giáo- tín ngưỡng và mê tín – dị đoan nhưng chúng góp phần rất lớn tạo đà phát triển cho hoạt động du lịch tại điểm Tính thiêng là một bộ phận rất đặc thù tạo ra năng lực hấp dẫn du lịch của điểm, trong một số trường hợp là nhân tố chính thúc đẩy loại hình du lịch tâm linh
- Nhu cầu tiến hành chuyến du lịch đến với các điểm tín ngưỡng: Nhu cầu
tiến hành du lịch ở nhóm khách du lịch nội địa thường tương đối cao, tập trung vào thời điểm mùa xuân, sau tết Nguyên Đán Khách du lịch nội địa có động cơ tâm linh cao như cầu tài lộc, danh vọng, tình duyên hoặc chỉ đơn thuần tham gia
lễ hội truyền thống Khách du lịch nước ngoài, ngược lại, chú trọng vào yếu tố kiến trúc, tuổi đời di tích (giá trị lịch sử), nghệ thuật thuật dân gian và vị trí của
di tích - tín ngưỡng trong tâm thức của người Việt mà đối với họ là người bản địa Nhu cầu có khả năng chi trả của khách du lịch định hình lên lượng cầu Lượng cầu cao thúc đẩy hoạt động du lịch dù có quy hoạch phát triển hay không Mặt khác, lượng cầu thấp đưa ra yêu cầu tự thay đổi của chính quyền địa
Trang 39phương, các tổ chức lữ hành nhằm đánh giá lại mức độ hấp dẫn của điểm và điều chỉnh kích cầu thu hút khách du lịch
1.2.4 Các hình thức Du lịch văn hóa tín ngưỡng
- Du lịch khai thác lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống được xem là
một trong những nguồn tài nguyên du lịch giầu tiềm năng do số lượng rất lớn và
bề dầy lịch sử văn hóa được tích tụ trong đó Lễ hội truyền thống được ví là bảo tàng sống về đời sống văn hóa từ xa xưa cho đến hiện tại của người Việt Nam Chính vì thế, chúng thu hút được mối quan tâm của khách du lịch nước ngoài, những du khách từ địa phương khác trong nước kéo theo việc hình thành các tuyến điểm, sản phẩm du lịch lễ hội
Hiện nay Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%).Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây và Phú Thọ Với số lượng lớn, phân bố rộng khắp trên mọi miền đất nước, lễ hội truyền thống trở thành nguồn tài nguyên du lịch giầu tiềm năng trong quá trình phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam
Lễ hội tín ngưỡng ở Việt Nam thường được tổ chức tại các điểm di tích lịch sử - văn hóa, các công trình tín ngưỡng mà chúng đóng vai trò trung tâm của đời sống văn hóa cộng đồng cư dân nông nghiệp (biểu hiện qua số liệu thống kê) Tại các điểm đô thị lớn, lễ hội tín ngưỡng truyền thống vẫn được tổ chức với cấu trúc, ý nghĩa mang đậm tính nông nghiệp
Về cơ bản, lễ hội tín ngưỡng được phân chia tương đối thành hai bộ phận: phần lễ và phần hội Có sự phân chia tương đối này nhằm xác định yếu tố thiêng của chúng Ví dụ như phần lễ, nhấn mạnh đến tính linh thiêng Đó là yếu tố chiếm vị trí quan trọng trong tâm thức những người tiến hành và tham gia lễ hội;
ví như sự biểu lộ lòng biết ơn với thành hoàng làng đã mang nghề, lập lên làng Phần hội chủ yếu được tổ chức với mục đích thế tục, ví dụ như giải trí sau những
Trang 40ngày lao động vất vả hoặc là nơi con người giải tỏa những kìm nén bản năng do luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến nho giáo (nhiều trò chơi dân gian mang đậm yếu tố tín ngưỡng phồn thực) Xét về tổng thể, phần lễ và phần hội luôn luôn có sự đan xen với nhau thành một thể thống nhất Tính thiêng luôn gắn bó chặt chẽ với những hành vi thế tục hóa mang đậm yếu tố dân gian
Sản phầm du lịch lễ hội tín ngưỡng có đặc điểm là mang tính thời vụ cao
do chỉ được tổ chức vào mùa xuân Khách du lịch muốn tham quan, nhập thân vào một lễ hội đặc biệt chỉ có thể tiến hành hoạt động du lịch vào thời điểm này
Vì lý do đó, du lịch lễ hội mặc dù rất giầu tiềm năng nhưng vẫn chưa thể trở thành một sản phẩm du lịch có lượng du khách đông đảo và mang lại lợi nhuận cao
- Du lịch tham quan thắng cảnh: Các tín ngưỡng dân gian luôn gắn liền
với một hoặc một số điểm di tích Các điểm này thường là đình, đền, miếu, nhà thờ họ Di tích tín ngưỡng luôn có những giá trị hấp dẫn du lịch; Đó là giá trị cảnh quan do được đặt trên một khoảng đất rộng trong mối tương quan với tổng thể không gian địa lý của làng, gắn với những quan niệm văn hóa (thuật phong thủy) Giá trị văn hóa thể hiện qua kiểu mẫu công trình kiến trúc, những di sản văn hóa như sắc phong, các vị thần được thờ; những tác phẩm nghệ thuật dân gian như tượng thờ, phù điêu, điêu khắc trên các đình làng, những truyền thuyết gắn liền với di tích Tất cả những thứ đó thể hiện một cách tiêu biểu nhân sinh quan, thế giới quan, tư tưởng thẩm mỹ, triết học của người Việt
Các điểm di tích gắn với tín ngưỡng dân gian thường đóng vai trò là điểm tham quan trong ngày của tour du lịch do quy mô không đủ lớn để có thể xây dựng các khách sạn cho khách du lịch Điểm tham quan khác trong tuyến cũng
có thể là các điểm di tích tín ngưỡng (sản phẩm du lịch chuyên đề) hoặc các điểm du lịch thuộc nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên nhằm gia tăng giá trị hấp dẫn sản phẩm du lịch