PHẦN MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ VÂN ANH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ VÂN ANH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ VÂN ANH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH 7
1.1 Khái niệm, vai trò của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch 7
1.1.1 Du lịch 7
1.1.2 Đào tạo, dạy nghề 9
1.1.3 Nguồn nhân lực 13
1.1.4 Nguồn nhân lực du lịch 15
1.1.5 Nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch 16
1.1.6 Vai trò của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch 18
1.2 Phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch và các yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch của một tỉnh 19
1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 19
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch 20
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch 21
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 27
2.1 Tổng quan về tỉnh Lâm Đồng và du lịch Lâm Đồng 27
Trang 42.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 29
2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn của Lâm Đồng 29
2.1.4 Tình hình phát triển du lịch Tỉnh Lâm Đồng 30
2.1.5 Tình hình giáo dục – đào tạo tỉnh Lâm Đồng 33
2.2 Khái quát về các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch tại Lâm Đồng 34
2.3 Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch tại Lâm Đồng 36
2.3.1 Thực trạng về phát triển số lượng 37
2.3.2 Thực trạng về hợp lý hoá cơ cấu 39
2.3.3 Thực trạng về nâng cao chất lượng 41
2.4 Đánh giá chung về công tác phát triển nguồn nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch ở tỉnh Lâm Đồng 47
2.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân 47
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 49
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 52
3.1 Những cơ sở để xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch tỉnh Lâm Đồng 52
3.1.1 Xu hướng phát triển du lịch và yêu cầu về nhân lực du lịch trong thời gian tới 52
3.1.2 Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 55
3.1.3 Định hướng phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề của tỉnh Lâm Đồng 58
3.2 Các giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 59
Trang 53.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, giảng
viên đào tạo, dạy nghề du lịch 59
3.2.2 Kiện toàn bộ máy, quy hoạch, tuyển chọn đội ngũ giáo viên, giảng viên đào tạo, dạy nghề du lịch 60
3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng, đổi mới phương pháp cho đội ngũ giáo viên, giảng viên đào tạo, dạy nghề du lịch 64
3.2.4 Tạo động lực phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch 67
3.3 Một số kiến nghị 70
3.3.1 Đối với Nhà nước 70
3.3.2 Đối với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 70
3.3.3 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 70
3.3.4 Đối với Ủy ban nhân dân Tỉnh Lâm Đồng 71
3.3.5 Đối với các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh 71
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 6CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐNGVGV Đội ngũ giáo viên, giảng viên
VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng ĐNGVGV dạy du lịch ở các trường 37 Bảng 2.2 Thống kê số lượng ĐNGVGV dạy du lịch ở các trường năm 2009
và năm 2013 38 Bảng 2.3 Thống kê giới tính của ĐNGVGV 39 Bảng 2.4 Thống kê tuổi đời và thâm niên giảng dạy của ĐNGVGV 40 Bảng 2.5 Thống kê trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học của ĐNGVGV 43 Bảng 2.6 Thống kê trình độ, kiến thức sư phạm và sư phạm nghề của giáo viên 45 Bảng 2.7 Bảng khảo sát nhận thức của CBQLvà ĐNGVGV của các trường về công tác phát triển nguồn nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch tại Lâm Đồng 47
Trang 8DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1 Đánh giá về số lượng giáo viên, giảng viên dạy du lịch 39 Biểu đồ 3.2 Đánh giá về phẩm chất giáo viên, giảng viên dạy du lịch 42 Biểu đồ 3.3 Đánh giá về trình độ ngoại ngữ giáo viên, giảng viên dạy du lịch 44
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình hệ thống về quy trình đào tạo 10
Sơ đồ 1.2 Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonar Nadle 19
Trang 9Trong quá trình hội nhập, công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng với
sự phát triển nhanh về du lịch, cũng đòi hỏi sự phát triển nhanh về nguồn nhân lực du lịch Nhưng là một quốc gia đang phát triển, nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam cũng nằm trong tình trạng chung, mang những đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam: trẻ, thiếu và yếu; tính chuyên nghiệp chưa cao, thiếu tính đồng bộ Nhiều người, nhiều công việc thiếu những tiền lệ và sự trải nghiệm, đang trong quá trình tìm tòi, tiếp cận để học hỏi, bổ sung, hoàn thiện mình Đặc biệt là những người trực tiếp đào tạo, dạy nghề du lịch, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Du lịch Đây là một bộ phận nhân lực du lịch đông đảo, rất quan trọng, trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề du lịch, các khoa Du lịch trong các trường Đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên toàn quốc Với nhiều qui mô
và cấp độ đào tạo, dạy nghề khác nhau, các cơ sở đào tạo và dạy nghề du lịch đang là cơ sở đầu tiên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đa dạng, chất lượng cao cho kinh tế du lịch của đất nước
Trang 10Đề án “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Du lịch giai đoạn 2011 - 2020” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận định: Giai đoạn 2011 -
2015, các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được đặt ra là tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội; xây dựng chuẩn (tập trung vào chuẩn kỹ năng nghề) và thực hiện chuẩn hóa một bước nhân lực du lịch, phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế để tạo điều kiện cho hội nhập quốc tế về lao động trong du lịch; phát triển mạng lưới cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng du lịch đảm bảo liên kết chặt chẽ và cân đối giữa các bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo và phân bố vùng, miền hợp lý phù hợp với chiến lược phát triển du lịch quốc gia; xây dựng, công bố và thực hiện chuẩn trường để nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng du lịch; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào công tác nghiên cứu, thống kê phục vụ đào tạo, bồi dưỡng du lịch; tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho đào tạo nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội; tạo môi trường thuận lợi cho đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội
Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số UBND ngày 23/4/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 Trong đó, nội dung phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, được đặt ở vị trí quan trọng, nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế của tỉnh; chú trọng phát triển giáo dục đào tạo toàn diện nhằm nâng cao chất lượng nhân lực Điều này đòi hỏi phải nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập trung phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, bao gồm đội ngũ quản lý, lực lượng chuyên gia đầu ngành, đội ngũ nghiên cứu, giảng viên, giáo viên và lao động
916/QĐ-kỹ thuật cao
Lâm Đồng hiện nay có 06 cơ sở đào tạo và dạy nghề du lịch, trong đó Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Lạt chuyên đào tạo các nghề về du lịch,
Trang 1105 trường còn lại chỉ đào tạo một số nghề liên quan về du lịch như nghề Hướng dẫn du lịch, Quản trị Khách sạn Nhà hàng, Chế biến món ăn, Văn hóa
du lịch Đội ngũ giáo viên, giảng viên du lịch ở các cơ sở này còn chiếm tỷ trọng ít so với nhu cầu của xã hội với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ chưa cao Trong các sở, ban ngành và các doanh nghiệp
du lịch ở địa phương thì hầu hết các cán bộ quản lý đều được thuyên chuyển
từ các ngành kinh tế - văn hóa - xã hội khác sang làm việc trong lĩnh vực du lịch… Vì vậy để du lịch Lâm Đồng trở thành một ngành kinh tế trọng điểm thì cần phải thấy rõ thực trạng của đội ngũ đào tạo, giảng dạy về du lịch của tỉnh; từ đó mới đề ra những biện pháp nhằm kiện toàn, nâng cao chất lượng của đội ngũ này Đối với lĩnh vực này còn có một khoảng trống chưa có những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, tôi đã chọn đề tài: “Phát
triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về phát triển nguồn nhân lực du lịch ở các tỉnh, thành phố, phát triển đội ngũ giáo viên của trường và công tác đào tạo ở các trường nghề; trường cao đẳng chuyên nghiệp và đại học như:
Đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các
trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch ” (Luận văn Thạc
sĩ du lịch - Đoàn Thị Thắm - Đại học KHXHNV Hà Nội, năm 2012): luận văn đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng nhân lực du lịch của các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL đào tạo, từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các trường du lịch trực thuộc Bộ
Đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường
Cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Nghiên cứu điển hình tại
Trang 12trường Cao đẳng Kỹ Thuật Khách sạn và Du lịch)” (Luận văn Thạc sĩ du
lịch - Nguyễn Hải Dương - Đại học KHXHNV Hà Nội, năm 2013): Nội dung của luận văn là đánh giá chung thực trạng chất lượng đào tạo nhân lực
du lịch của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Khách sạn và Du lịch, đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Khách sạn và Du lịch
Đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường Cao đẳng
nghề Đà Nẵng” (Luận văn Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh – Trần Lê Uyên –
Đại học Đà Nẵng, năm 2013): Đề tài cũng chủ yếu phân tích thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường
Đề tài: “Giải pháp phát triển ngành Du lịch Lâm Đồng đến năm 2020”
(Luận văn Thạc sĩ kinh tế - Nguyễn Thị Hồng Nhạn – Đại học Kinh tế TP.HCM, năm 2010): nội dung của luận văn cho cái nhìn tổng thể về thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2008 và từ đó cũng đưa
ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020
Đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực Duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” (Luận án Tiến sĩ - Trần Sơn Hải - Học viện
Hành chính, năm 2010): Đề tài đưa ra một bức tranh tổng thể về thực trạng
chất lượng nguồn nhân lực ngành Du lịch của các tỉnh khu vực duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để từ đó đề ra những giải pháp đồng bộ phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nói riêng, qua đó thúc đẩy ngành Du lịch của khu vực phát triển
Các nghiên cứu trên hầu hết đề cập tới vấn đề phát triển đội ngũ làm việc trong ngành Du lịch; các giải pháp để phát triển du lịch của một tỉnh hay các biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, dạy nghề du lịch của các Trường nói chung mà chưa có công trình nào nghiên cứu về nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch của tỉnh Lâm Đồng một cách cụ thể
Trang 13Do vậy, đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo
du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” là một đề tài mới, tiếp cận cụ thể một
lĩnh vực chưa được đề cập nhiều Tác giả mong muốn có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề cho nhân lực du lịch của tỉnh Lâm Đồng nói riêng và của ngành Du lịch nói chung trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là đánh giá thực trạng chất lượng nguồn
nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch của tỉnh Lâm Đồng và
đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để thực hiện được mục tiêu
nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ chính sau đây: 1) Hệ thống hoá và có phát triển một số khái niệm và vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn; 2) Phản ánh, phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ đào tạo nhân lực du lịch tại các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thông qua các phương pháp nghiên cứu và phân tích các
dữ liệu, chỉ rõ ưu điểm và nguyên nhân, hạn chế và nguyên nhân; 3) Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển đội ngũ đào tạo nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đáp ứng nhu cầu xã hội và ngành Du lịch
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là phát triển nguồn nhân lực
trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch tại các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch tỉnh Lâm Đồng
Trang 14+ Về không gian nghiên cứu: Khảo sát tại các trường có đào tạo, dạy nghề về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
+ Về nội dung: Đề tài nghiên cứu ở phạm vi đánh giá tình trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch của các cơ sở đào tạo của tỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau được sử dụng:
- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa: Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu Sử dụng phương pháp này để thu thập, tích luỹ tài liệu, thông tin thực tế Kết quả điều tra thực tế này là cơ sở ban đầu và thẩm định lại một số nhận định trong quá trình nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này dự kiến được sử dụng để xử lý tư liệu, số liệu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch của các trường có đào tạo về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Từ đó có những đánh giá và đưa ra cách khắc phục những hạn chế tồn tại
- Phương pháp thu thập, phân tích xử lý dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để tập hợp và phân tích xử lý dữ liệu làm cơ sở đề ra các giải pháp
- Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng bảng hỏi, phát phiếu điều tra cho các đối tượng: Giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý trong các
cơ sở có đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1 Cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch; Chương 2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Chương 3 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH
1.1 Khái niệm, vai trò của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
1.1.1 Du lịch
Du lịch là một hiện tượng kinh tế, văn hóa, xã hội phổ biến không chỉ
ở các nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển Mặc dù hoạt động
du lịch có nguồn gốc hình thành từ lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, nhưng khái niệm “du lịch” lại được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia và từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, như Giáo sư, Tiến sỹ Bernecker nhận định
“Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [7, Tr 6]
Thuật ngữ Du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng” Thuật ngữ này được La tinh hoá thành
tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) Trong
tiếng Việt thuật ngữ này được dịch thông qua tiếng Hán, với nghĩa “du” là đi chơi, “lịch” là trải nghiệm Còn người Trung Quốc lại gọi “tourism” là “du lãm” với nghĩa đi chơi để nâng cao nhận thức
Theo nhà khoa học Guer Freuler (Đức) “ Du lịch là một hiện tượng
của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển những tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên”
Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf – Hai người được coi là đặt nền móng cho cho lý thuyết về cung du lịch, đưa ra định nghĩa như
sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong
các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời” [7 tr 13]
Trang 16Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa quốc tế về Du lịch (Viện Hàn
lâm khoa học quốc tế về du lịch): “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực
của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”
Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, du lịch không chỉ đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế
Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá
nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”
Trong giáo trình Thống kê du lịch, tác giả Nguyễn Cao Thường và Tụ
Đăng Hải cho rằng “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm
vụ phục vụ nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi hoặc cũng kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”
Các nhà nghiên cứu xã hội học lại cho rằng du lịch là quan hệ tương
hỗ của bốn nhóm đối tượng là: du khách, cơ quan cung ứng, chính quyền và
cư dân tại điểm đến du lịch tạo nên
Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hiệp Quốc (UNWTO) đưa ra định
nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm
trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà
có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.”
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì khái niệm du lịch được hiểu
như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
Trang 17người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
[5, Tr 10]
Như vậy, du lịch là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần
tham gia Hoạt động du lịch chẳng những đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… Bản thân hoạt động du lịch không nằm ngoài mục đích thỏa mãn các nhu cầu ngày một phong phú của con người như giải trí, tham quan, nghiên cứu, khám phá, tìm hiểu…
1.1.2 Đào tạo, dạy nghề
* Khái niệm đào tạo: Theo PGS Tiến sĩ Trần Kim Dung, tác giả cuốn
Phát triển nguồn nhân lực thì đào tạo là các hoạt động tác động lên quá trình học
tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành Đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại
Đào tạo có thể chia thành 2 nhóm, một là đào tạo trong công việc và hai là đào tạo ngoài công việc Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ được học những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn Còn đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách ra khỏi sự thực hiện các công việc thực tế
Một số nhà nghiên cứu cho rằng đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người
Đào tạo trong luận văn này được hiểu là một quá trình hoạt động có
mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động
Trang 18nghề nghiệp; là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi
cá nhân để thực hiện một nghề hay một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất
Phân loại nhu cầu đào tạo:
- Loại 1: Đào tạo để đáp ứng tiêu chuẩn quy định cho mỗi loại viên chức, trong đó có chuẩn ngạch giáo viên
- Loại 2: Đào tạo để thay đổi và phát triển trong tương lai (đào tạo để lấy bằng cấp cao hơn)
- Loại 3: Bồi dưỡng để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn (hướng dẫn thử việc, hội nghị, hội thảo trao đổi chuyên môn…)
Sơ đồ 1.1 Mô hình hệ thống về quy trình đào tạo
(Nguồn: Training in Organizations, Goldstein, 1993)
* Khái niệm nghề: Theo từ điển Tiếng Việt “Nghề là công việc
chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội” [17, tr 676] Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, muốn hành nghề tốt, mỗi người
Đánh giá nhu cầu đào tạo:
+ Phân tích tổ chức + Phân tích công việc
+ Phân tích cá nhân
Xác định mục tiêu đào tạo
Xây dựng các tiêu chuẩn
Lựa chọn các phương pháp đào tạo và áp dụng các nguyên tắc học
đào tạo với các tiêu chuẩn
Phản hồi
Trang 19phải trải qua quá trình đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động
để có thể hành nghề
Trong luận văn này thì nghề là một dạng lao động đòi hỏi con
người phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu của
cá nhân và xã hội
Một số nghề cơ bản được đào tạo trong lĩnh vực du lịch:
- Nghề lễ tân: Nghề lễ tân là nghề giao tiếp với khách hàng để chào bán
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung trong và ngoài khách sạn, nhằm mục đích mang lại lợi nhuận tối ưu cho khách sạn và sự hài lòng cho khách hàng
- Nghề phục vụ buồng: Nghề buồng hay còn gọi là nghiệp vụ lưu trú là
nghề thực hiện quá trình thu, dọn và thay đổi các vật dụng, đồ vải trong phòng khách; thực hiện qui trình vệ sinh sạch sẽ tất cả các khu vực phòng khách, khu vực công cộng, hậu sảnh theo tiêu chuẩn của khách sạn, khu resort hoặc các đơn vị có kinh doanh lưu trú; duy trì vẻ đẹp và kéo dài tuổi thọ của các loại trang thiết bị, tiện nghi trong khách sạn thuộc phạm vi trách nhiệm của bộ phận Buồng Ngoài ra, còn cung cấp các dịch vụ bổ sung cho khách lưu trú như giặt là, mini bar, phục vụ ăn, uống tại phòng, trông trẻ
- Nghề chế biến món ăn: Là nghề kỹ thuật, trực tiếp chế biến các loại
món ăn tại các cở sở kinh doanh ăn uống (khách sạn, nhà hàng…) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm
- Nghề phục vụ bàn và pha chế đồ uống: Là nghề chuyên tổ chức, đón
tiếp và phục vụ khách ăn uống tại các nhà hàng, khách sạn và các cơ sở kinh doanh ăn uống khác, với các hình thức phục vụ đa dạng phong phú (ăn theo thực đơn, chọn món, buffet, các loại tiệc, các loại đồ uống pha chế, đồ uống
Trang 20không cồn, đồ uống có cồn, các hình thức phục vụ khác ) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vệ sinh, an toàn, an ninh, chu đáo và lịch sự
- Nghề hướng dẫn du lịch: Là nghề chuyên tổ chức thực hiện và phục
vụ khách theo các chương trình du lịch với các nhiệm vụ cơ bản như: Chuẩn
bị, tổ chức thực hiện chương trình; thuyết minh; quản lý đoàn khách; hướng dẫn tham quan; hỗ trợ quảng cáo tiếp thị và bán chương trình du lịch; thiết lập
và duy trì các mối quan hệ với đối tác; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch; chăm sóc khách hàng… đáp ứng nhu cầu của du khách
- Nghề Quản trị Lữ hành: Quản trị lữ hành là nghề trực tiếp thực hiện,
quản lý và điều phối các hoạt động du lịch lữ hành Nhiệm vụ của nghề quản trị lữ hành bao gồm: Thiết kế chương trình du lịch; tổ chức xúc tiến và bán sản phẩm du lịch; điều hành tổ chức và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch nhằm đảm bảo thực hiện tốt việc chăm sóc khách hàng để duy trì thị phần, thiết lập và duy trì tốt các mối quan
hệ với đối tác; quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, đảm bảo an toàn, an ninh theo quy định, giám sát và đánh giá kết quả công việc một cách chặt chẽ nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao
- Nghề Quản trị khách sạn: Quản trị khách sạn gắn với trách nhiệm
chính là quản lý trực tiếp các hoạt động hàng ngày của các bộ phận trực tiếp
và gián tiếp phục vụ khách du lịch như: Lễ tân, buồng, nhà hàng, chế biến món ăn, dịch vụ giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, kế toán, bán hàng và marketing, nhân sự, các công việc chủ yếu chung nhất của nghề Quản trị khách sạn bao gồm: Quản lý toàn bộ hoạt động của khách sạn, quản lý bộ phận buồng, quản lý bộ phận lễ tân, quản lý bộ phận chế biến món ăn, quản lý dịch vụ khác, quản lý nhân sự hành chính, quản lý bán hàng và tiếp thị, quản
lý cơ sở vật chất - kỹ thuật, quản lý tài chính, quản lý an ninh an toàn
Trang 21* Khái niệm đào tạo nghề:
Theo tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002 thì đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học thực hành được một nghề trong
xã hội”
Như vậy, trong luận văn này thì đào tạo nghề được hiểu là quá trình
truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào tạo: là quá trình rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và năng lực nghề nghiệp ở người học để hình thành nhân cách nghề nghiệp Quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo chuẩn mực của các nghề đào tạo
Theo quy định trong hệ thống giáo dục, đào tạo và dạy nghề của nước
ta, chương trình gồm chương trình khung và chương trình chi tiết Chương trình khung là do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội ban hành, quy định khung tối thiểu kiến thức, kỹ năng cần thiết cần phải được đào tạo cho học viên của từng chuyên ngành/nghề đào tạo Chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo là do các cơ sở đào tạo xây dựng dựa trên nền tảng chương trình khung, người đứng đầu cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm ban hành và chỉ đạo cơ sở mình áp dụng thực hiện Tuy nhiên, xu hướng trong thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và dạy nghề đang dần bỏ quy định về chương trình khung,
để các cơ sở đào tạo chủ động, tự chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo của cơ sở mình đảm bảo tính đặc thù, cạnh tranh
1.1.3 Nguồn nhân lực
Bất cứ tổ chức nào cũng đều được hình thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó Do đó, có thể nói nguồn nhân lực trong một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó,
Trang 22còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực
Thể lực là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ chăm sóc y tế Thể lực con người tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng người Ở bất
kỳ lĩnh vực nào, việc tận dụng tiềm năng thể lực của con người phải luôn luôn được chú ý và có thể nói phải khai thác triệt để Nhưng sự khai thác tiềm năng trí lực của con người là luôn mới mẻ, khơi mở, chưa bao giờ cạn kiệt, đó là kho tàng bí ẩn của mỗi con người
Theo GS Phạm Minh Hạc, “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…”[3, tr.323]
Nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là:
- Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người
và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm: yếu tố bên trong bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân
- Chất lượng nguồn nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ, của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Trang 23- Cơ cấu nguồn nhân lực: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…
1.1.4 Nguồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Để phát triển du lịch cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực được đánh giá là một trong những yếu tố quyết định trong sự phát triển của ngành
Trong lĩnh vực du lịch, nhân lực tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch bao gồm:
- Nhân lực phục vụ tại các đầu mối giao thông: Nhân lực phục vụ du
khách đi lại bằng phương tiện giao thông đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển để đến điểm du lịch; tại hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như: sân bay, nhà ga, mạng lưới đường xá, cảng, các kho nhiên liệu, các phương tiện máy móc và sửa chữa,… Các dịch vụ và phương tiện phục vụ khách du lịch bao gồm: nhà hàng, quầy bar, cơ sở lưu trú, ngân hàng, viễn thông, các cửa hàng bán lẻ, cửa hàng sách…, và hoạt động của một số cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến phục vụ khách du lịch như biên phòng, xuất nhập cảnh, hải quan
- Nhân lực phục vụ tại điểm đến du lịch:
a) Nhân lực tại các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách, gồm: Dịch vụ lưu trú - khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống - nhà hàng, quán Bar; dịch vụ giải trí, thể thao, rạp hát, sòng bạc, công viên giải trí, viện bảo tàng, các sự kiện và hoạt động lễ hội; dịch vụ lữ hành, vận chuyển - các hãng lữ hành, phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, xe cho thuê
Trang 24b) Nhân lực tại các doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ du lịch bao gồm các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du khách như: Công ty xây dựng, kiến trúc, công ty quảng cáo, công ty bia rượu, nước giải khát, công ty phát hành thẻ tín dụng, công ty vận tải, thương mại bán buôn, bán lẻ hàng hóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện, nước, kỹ thuật, sức khỏe, y tế…
c) Nhân lực làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành
có liên quan đến hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lý các dịch vụ phục vụ du lịch như: Cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, cơ quan quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan quản lý văn hóa…
d) Cư dân liên quan đến phục vụ du lịch, như: Các gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người tham gia trong quá trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
đ) Các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, dạy nghề cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch trực tiếp phục vụ du khách hoặc các doanh nghiệp hỗ trợ phục vụ du lịch
Như vậy: Nguồn nhân lực du lịch bao gồm những lao động trực tiếp
hoặc gián tiếp tạo ra những sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của con người và nhu cầu phát triển xã hội
1.1.5 Nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
* Từ những khái niệm về du lịch, nguồn nhân lực, đào tạo, dạy nghề,
có thể hiểu nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch thực chất là đội
ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý làm việc trong các cơ sở giáo dục đào tạo, dạy nghề du lịch Đây là bộ phận nhân lực có trình độ học vấn cao
và có trình độ chuyên môn sâu nhất trong toàn bộ nhân lực du lịch Họ có kiến thức khá toàn diện và sâu sắc về lĩnh vực du lịch, có chức năng đào tạo, dạy nghề, quản lý, nghiên cứu khoa học về đào tạo, dạy nghề du lịch và đóng vai trò to lớn trong việc phát triển du lịch
Trang 25Trong Luật giáo dục 2005 và Luật dạy nghề 2006 cũng đã quy định rõ đối với giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý:
* Theo Điều 70 của Luật giáo dục năm 2005 thì: Nhà giáo là người làm
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, gọi là giáo viên; ở
cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên [4,tr.56]
* Theo Điều 58 Luật dạy nghề 2006 thì: Giáo viên dạy nghề là người
dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề Giáo viên dạy nghề có những tiêu chuẩn quy định tại khoảng 2 Điều 70 của Luật giáo dục Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề:
+ Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao
+ Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao
+ Giáo viên phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề (trừ trường hợp giáo viên đã tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật)
Luật giáo dục và Luật dạy nghề đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa của sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề nước ta, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
dưới nhiều hình thức, chú trọng dạy nghề
Trang 26Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực hiện tại, tương lai có đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành du lịch hay không có sự tác động lớn của những người làm công tác đào tạo Do vậy bộ phận này càng phải được đào tạo bài bản, lâu dài, hướng tới đạt trình độ khu vực và thế giới
1.1.6 Vai trò của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
Trong Luật giáo dục do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành năm 2005 khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” (Điều 15); “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục” (Điều 16) Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để
đánh giá đúng vai trò của nhà giáo, cán bộ quản lý trong quá trình đào tạo
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo,
cô giáo tốt hay xấu” [21, tr.280] Hơn nữa sự tác động của người thầy đến
người học không chỉ thông qua năng lực sư phạm mà bằng cả tấm gương về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách sống của mình Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Không có giáo viên tốt thì không có nhà
trường tốt, không có giáo dục tốt thì không thể có chất lượng cao” [22,
tr.23]
Các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch có môi trường đào tạo với nhiều đặc điểm riêng bởi tính chất, mục tiêu của ngành nghề đào tạo Sinh viên, học viên sau khi được đào tạo ra trường phải là những người không chỉ hiểu biết về ngành Du lịch, có các kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ du lịch mà còn cần có kiến thức tổng hợp, khả năng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ làm việc chuyên nghiệp, cầu thị vì đối tượng phục vụ là khách du lịch với trình độ hiểu biết và nhu cầu phục vụ rất đa dạng Để đạt được mục tiêu này, cần có nhiều yếu tố tác động trong quá trình giáo dục, đào tạo góp phần hình thành ở sinh viên, học viên những phẩm chất chính trị, kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp theo yêu cầu của thực tiễn
Trang 27công việc, trong những yếu tố đó phải đặc biệt nhắc đến “Người thầy” Do
đó, người thầy chính là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo và thể hiện rõ nét, sâu sắc nhất trong mối quan hệ tác động qua lại với người học
Bên cạnh đó, cán bộ quản lý cơ sở đào tạo có vai trò hết sức quan trọng trong đào tạo nhân lực nói chung, đào tạo nhân lực du lịch nói riêng Nếu cán bộ quản lý giỏi có kỹ năng bao quát, điều hành công việc tốt, biết sử dụng nhân lực, vật lực đúng chỗ, đúng việc hiệu quả sẽ tác động tích cực tới công tác đào tạo, ngược lại người quản lý yếu kém, không có năng lực sẽ có tác động không tốt tới công tác đào tạo thậm chí kìm hãm sự phát triển của các cơ sở đào tạo
1.2 Phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch và các yếu
tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch của một tỉnh
1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch
Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của tác giả Leonar Nadle (Hoa Kỳ) năm
1980 được thể hiện qua ba khâu: Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; sử dụng
nguồn nhân lực; tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển
Sơ đồ 1.2 Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonar Nadle
(Nguồn: Quản lý nguồn nhân lực của Leonar Nadle, Mỹ 1980)
Phát triển nguồn nhân lực
Giáo dục và Đào
tạo nguồn nhân lực
- Giáo dục, đào tạo
- Bồi dưỡng
- Tự bồi dưỡng
Sử dụng nguồn nhân lực
- Môi trường làm việc
- Môi trường pháp lý
- Các chính sách đãi ngộ
Trang 28Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, được thể hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức, đạo đức của nguồn nhân lực
Ngày nay, phát triển nguồn nhân lực được hiểu một cách tổng quát, phát triển nguồn nhân lực về cơ bản là làm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn và thể lực…
Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm
tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc và điều chỉnh
cơ cấu của lực lượng lao động đang và sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, bao gồm: lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch , lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
Nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch là nguồn nhân lực có chất lượng cao, là đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý - yếu tố cực
kỳ quan trọng trong phát triển du lịch của quốc gia nói chung và của một tỉnh nói riêng
Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý - Đó chính là sự vận động phát triển cả về chất lượng và số lượng trên cơ sở đảm bảo ổn định
Nó bao gồm cả sự phát triển cơ cấu tổ chức, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới… theo những quy luật của nó, mang tính khách quan, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống GD-ĐT và cho xã hội Đó cũng là sự phát triển toàn diện giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý với tư cách là con người, là thành viên cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn trong hoạt động đào tạo nguồn
Trang 29nhân lực Kết quả công tác phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý phải bao gồm không chỉ trình độ chuyên môn, trình độ nghề nghiệp ngày càng được nâng cao mà còn là sự thõa mãn cá nhân, sự trung thành tận tụy của người giáo viên đối với nhà trường, với sự nghiệp và có sự thăng tiến
cá nhân trong sự phát triển của nhà trường
Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch là:
những hoạt động nhằm tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc và điều chỉnh cơ cấu của đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản
lý về du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng
và đại học cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
du lịch trong từng giai đoạn phát triển
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch
Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch bao gồm việc tăng quy mô (hay số lượng), nâng cao chất lượng và hợp lý hoá cơ cấu nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
Để tăng số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý hoá cơ cấu nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch, cần căn cứ chính sách phát triển nguồn nhân lực của địa phương, vùng, quốc gia; chính sách phát triển qui mô, mật độ và cơ cấu dân số; chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, kế hoạch, các chương trình,
dự án phát triển du lịch Trong chiến lược phát triển du lịch và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cần đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch, trong đó có đánh giá về hiện trạng và tiềm năng của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch; định hướng phát triển nhân lực trong đào tạo, dạy nghề
du lịch, cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; và các giải pháp tổ chức thực hiện phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch
Trang 30Ba nội dung nêu trên (tăng quy mô (hay số lượng), nâng cao chất lượng
và hợp lý hoá cơ cấu nguồn nhân lực) của phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch là một thể thống nhất Mỗi nội dung đều có vị trí và tầm quan trọng riêng, nhưng chúng không tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh giúp cho ĐNGVGV tồn tại và phát triển để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
1.2.3.1 Phát triển quy mô nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch
Số lượng GVGV của một trường đào tạo và dạy nghề du lịch cụ thể phụ thuộc vào quy mô phát triển về các ngành nghề đào tạo của nhà trường, cũng như các yếu tố tác động khách quan khác (chỉ tiêu biên chế, chế độ chính sách đối với giáo viên, giảng viên, quy mô học sinh sinh viên, ) Nhưng trong bất cứ điều kiện nào, muốn có được ĐNGVGV đáp ứng được yêu cầu phát triển của nhà trường, người quản lý phải quan tâm giữ vững sự cân bằng về số lượng ĐNGVGV với kế hoạch đào tạo hiện tại và kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn của trường Muốn tăng số lượng GVGV, cơ sở đào tạo, dạy nghề phải thực hiện tuyển dụng mới theo quy hoạch phát triển ĐNGVGV đã được phê duyệt, số định biên được cấp có thẩm quyền giao Phát triển số lượng nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch còn
là việc thu hút nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp, các trường khác tham gia vào hoạt động đào tạo, dạy nghề dưới các hình thức là GVGV thỉnh giảng, báo cáo chuyên đề, chuyên gia, hướng dẫn thực tập hoặc từ ngành khác tham gia vào hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch Mặt khác trong nền kinh tế thị trường thường có hiện tượng chuyển đổi công việc, “nhảy việc”, sự mất việc phải tìm cơ hội mới Trong hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch cũng là một lĩnh vực có sự biến động kiểu này của nguồn nhân lực du lịch, nên có cơ hội thu hút các đối tượng nhân lực tài năng ở các ngành, nghề khác, địa phương vào làm trong các vị trí, các chỗ làm việc phù hợp Bên cạnh đó cũng có thể
Trang 31thông qua chính sách thu hút nhân tài của địa phương, của cơ sở đào tạo, dạy
Về mặt phẩm chất của ĐNGVGV, đây là yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng và hiệu quả trong đào tạo, dạy nghề Phẩm chất đó được hình thành từ phẩm chất của mỗi cá nhân trong ĐNGVGV, nó bao gồm hàng loạt các yếu tố như: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nghề, tính kỷ luật,… Vì vậy, để nâng cao sức mạnh của ĐNGVGV, đòi hỏi mỗi GVGV trong đội ngũ phải hội đủ tất cả những phẩm chất trên và không ngừng rèn luyện, tu dưỡng để đóng góp cho sự ổn định và phát triển của nhà trường
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ của người giáo viên, giảng viên dạy trước hết là hệ thống tri thức và kỹ năng mà người giáo viên phải nắm được, đó là những kiến thức về các môn khoa học, các kỹ năng nghề có liên quan đến môn học hoặc mô đun mà người GVGV phụ trách giảng dạy Bên cạnh đó, người GVGV cần phải nắm được các kiến thức về giáo dục học, tâm lý học, phương pháp giảng dạy và những kiến thức công
cụ như ngoại ngữ, tin học, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học,… Đối với GVGV dạy nghề thì kinh nghiệm thực tế là rất bổ ích và cần thiết
Về mặt năng lực thì năng lực được biểu hiện ở mức độ nắm vững và
sử dụng thành thạo các kỹ năng hoạt động sư phạm dạy nghề và biến nó
Trang 32thành kỹ xảo Như vậy, năng lực sư phạm của người GVGV được hình thành dựa trên hệ thống tri thức và kỹ năng của GVGV Đối với người giáo viên dạy nghề yêu cầu cao hơn về kỹ năng thực hành và kỹ năng tổ chức công việc sát hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh của xã hội Các yếu tố trên cùng với phẩm chất chính trị, đạo đức hợp thành một thể hoàn chỉnh, giúp cho người GVGV nói riêng và ĐNGVGV nói chung hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của mình, đáp ứng được yêu cầu cao của xã hội
Chất lượng của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch phát triển dựa trên sự phát triển tri thức của người đào tạo, dạy nghề du lịch Đây
là yếu tố quyết định đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ được giao có kết quả hay không Phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề
du lịch chất lượng cao có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần vào sự phát triển kinh tế, cải thiện trình độ dân trí và đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Vì thế, việc đào tạo, dạy nghề và bồi dưỡng ĐNGVGV trong các cơ sở đào tạo, dạy nghề, gửi
đi học tập trung ở trong nước và nước ngoài phải được ưu tiên và thỏa mãn các tiêu chuẩn trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ
1.2.3.3 Hợp lý hóa cơ cấu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch
Bên cạnh nội dung phát triển số lượng, nâng cao chất lượng, thì nội dung hợp lý hoá về cơ cấu nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch cũng đóng vai trò quan trọng không kém Để đảm bảo được tính hiệu quả nhiều mặt của hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch, có được đầu ra đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu nhân lực du lịch cho quản lý nhà nước, hoạt động sự nghiệp và kinh doanh du lịch, thì cơ cấu ĐNGVGV theo trình độ và các cấp trong hệ thống giáo dục và đào tạo, dạy nghề du lịch cần phải xác định rõ Điều này sẽ đảm bảo hoạt động đào tạo, dạy nghề du lịch cân bằng theo nhu cầu đào tạo, dạy nghề của xã hội, từ
đó làm giảm thiểu sự mất cân bằng cung cầu lao động trên thị trường lao động
du lịch, không gây lãng phí nguồn nhân lực của xã hội
Trang 33Có thể hiểu cơ cấu ĐNGVGV chính là cấu trúc bên trong của ĐNGVGV Cấu trúc này là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các cơ cấu thành phần sau:
- Cơ cấu về chuyên môn nghiệp vụ: Đảm bảo tỉ lệ hợp lý về chuyên ngành được đào tạo của GVGVcác khoa, tổ bộ môn, phù hợp với mục tiêu và ngành nghề đào đạo của trường
- Cơ cấu về giới tính: Đảm bảo về tỉ lệ thích hợp giữa GVGV nam và
nữ trong từng khoa, từng tổ, phù hợp với quy mô và nhiệm vụ của nhà trường
- Cơ cấu về độ tuổi: Đảm bảo được sự cân đối giữa các thế hệ GVGV; vừa có những GVGV cao tuổi, những GVGV trung niên để khai thác những kinh nghiệm nghề nghiệp, sử dụng họ để bồi dưỡng, giúp đỡ GVGV trẻ; đồng thời phải có những GVGV trẻ năng động, nhiệt tình, sáng tạo để kế tục
và tiếp tục đào tạo phát triển lâu dài
Để điều chỉnh hợp lý cơ cấu ĐNGVGV đào tạo, dạy nghề du lịch, các trường phải có một quy hoạch dài hạn về nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch
và phải tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch này một cách nghiên chỉnh Khi tuyển dụng mới GVGV và cán bộ quản lý đào tạo, dạy nghề phải căn cứ vào quy hoạch để xây dựng kế hoạch tuyển dụng theo “chuẩn đầu vào” đối với người được tuyển dụng Đối với đội ngũ hiện có, để hợp lý hoá cơ cấu, cần rà soát, điều chỉnh ĐNGVGV một cách phù hợp thông qua hình thức điều động, luân chuyển; đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng GVGV còn thiếu các yêu cầu về chất lượng
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa chọn lọc các khái niệm về du lịch, đào tạo, dạy nghề, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch, nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch và phát triển nguồn nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch Những luận điểm của các nhà khoa học về lý thuyết phát triển
Trang 34nguồn nhân lực du lịch và phát triển đội ngũ giáo viên giảng viên dạy du lịch; những vai trò, yêu cầu, nội dung công tác phát triển ĐNGVGV dạy du lịch được nêu ra ở Chương 1 sẽ là cơ sở khoa học để khảo sát thực trạng và
đề xuất các biện pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch của tỉnh Lâm Đồng nói riêng và các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch trong toàn quốc nói chung, góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục và đào tạo, dạy nghề du lịch
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Tổng quan về tỉnh Lâm Đồng và du lịch Lâm Đồng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2; Phía Đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận; Phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai; Phía Nam - Đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; Phía Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc Lâm Đồng nằm giữa ba vùng lãnh thổ có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch là: Tây Nguyên - Duyên hải Nam Trung Bộ - Đông Nam Bộ
- Khí hậu: Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 25 0c
, thời tiết
ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng
- Thủy văn: Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng Sông suối phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2 Phần lớn sông suối chảy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn Ba sông chính ở Lâm Đồng là: Sông Đa Dâng (Đạ Đờng), Sông La Ngà, Sông Đa Nhim
Trang 36- Địa hình: Địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam: Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên LangBian với những đỉnh cao từ 1.300 m đến hơn 2.000 m như Bi Đúp (2.287 m), LangBian (2.167 m) Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000 m) Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên
- Hệ động thực vật:
+ Động vật: Lâm Đồng là nơi cư trú của nhiều loài thú quý hiếm như:
tê giác một sừng, nai, hổ, bò tót… Các bộ thú quan trọng như bộ Linh trưởng, bộ móng guốc ngón chẵn, bộ cánh da, bộ ăn sâu bọ cũng đều xuất hiện phổ biến tại Lâm Đồng
+ Thực vật: Tổng diện tích rừng của Lâm Đồng là 607.280 ha, trong
đó rừng tự nhiên là 557.857 ha, rừng trồng là 49.423 ha Nơi đây tập trung khá nhiều loài thực vật quý hiếm như: thông hai lá dẹt, thông năm lá, pơmu, thông đỏ, họ Dầu, họ Mộc Lan, họ Na…Ngoài ra, Lâm Đồng còn là nơi tập trung của các loài cây họ Phong Lan quý hiếm như: Hoàng Thảo, Hài, Lan Gấm…
- Dân tộc, dân cư: Tỉnh Lâm Đồng có 12 huyện, thành phố, đó là các huyện: Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Đam Rông, Lạc Dương, Đơn Dương, Lâm Hà, Bảo Lâm, Di Linh, Cát Tiên, Đức Trọng, thành phố Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt, với 145 đơn vị hành chính cấp xã (18 phường, 109 xã, 11 thị trấn), trong
đó có 35 xã thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Hiện nay Lâm Đồng có khoảng 1.145.687 người (bằng 10,12 dân số cả nước) với 205.000
hộ, mật độ dân số 117người/km2 Lâm Đồng là một tỉnh đa dân tộc gồm 40 dân tộc với 270.186 người dân tộc thiểu số, trong đó có các dân tộc chủ yếu:
Trang 37người Kinh là dân tộc chiếm đa số khoảng 77% và các dân tộc bản địa K’Ho,
Mạ, M’Nông, Chu Ru, Rắc Lây, X’Tiêng Ngoài ra có các dân tộc Miền Bắc
di cư lập nghiệp: Tày, Nùng, Thái, Mường, Thổ và người Hoa
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Trong 5 năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng luôn ổn định và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 14%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt hơn 32.300 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được chú trọng đầu tư, an sinh xã hội được đảm bảo Hiện thu nhập bình quân đầu người đã đạt gần 20 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5% Các lĩnh vực về y tế, giáo dục, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đã có bước phát triển khá An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững
Điều kiện kinh tế-xã hội của tỉnh cơ bản đã đáp ứng được việc phát triển giáo dục của tỉnh Tuy nhiên Lâm Đồng vẫn còn là tỉnh nghèo, còn nhận sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, vì vậy việc đầu tư cho giáo dục, dạy nghề cũng có phần hạn chế, nhất là ở các vùng dân tộc
2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn của Lâm Đồng
- Di sản văn hóa: Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới Hiện nay tại các bản dân tộc
Mạ, Chu Ru ở Lâm Đồng còn khoảng 2.700 bộ cồng chiêng với những nét riêng so với cồng chiêng Tây Nguyên được coi là tài nguyên du lịch quý giá của Lâm Đồng
- Di tích lịch sử, văn hóa và khảo cổ: Lâm Đồng có nhiều khu di tích lịch
sử, văn hóa và khảo cổ của Tây Nguyên như: Khu Thánh địa Bà La Môn Cát Tiên, Khu mộ cổ của dân tộc Mạ
Trang 38- Công trình tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật: nét độc đáo của Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng là hệ thống kiến trúc cảnh quan như nhà thờ, chùa chiền, khu biệt thự cổ, thiền viện, dinh thự…Ngày nay Đà Lạt có hơn 2500 biệt thự, đặc biệt là không biệt thự nào giống biệt thự nào Mỗi biệt thự đều mang trong mình một dáng vẻ riêng, một kiến trúc riêng
- Lễ hội văn hóa dân gian: Lâm Đồng là tỉnh có thành phần dân cư dân tộc khá đa dạng với trên 40 dân tộc Tính đa dạng về sắc tộc và thành phần dân cư đã mang lại cho tỉnh Lâm Đồng vốn tài sản lễ hội truyền thống rất phong phú, trước hết phải kể đến lễ hội truyền thống các dân tộc bản địa Lâm Đồng: Lễ hội hoa, lễ hội trà, lễ hội Mơnhumhama của người Churu, lễ hội đâm trâu của người Bana, lể cúng cơm mới,…
- Nghề thủ công truyền thống: Lâm Đồng cũng có nhiều nghề thủ công truyền thống có giá trị phục vụ du lịch như: nghề dệt vải thổ cẩm từ sợi bông của người Mạ ở Đạ Đờn – Đơn Dương, người Lạch ở Lạc Dương; nghề đan len ở Đà Lạt; nghề làm gốm bằng tay ở một số làng người dân tộc Churu ở Đơn Dương; nghề chạm khắc gỗ; nghề thêu XQ; nghề trồng hoa…Tất cả đều tạo nên những sản phẩm lưu niệm độc đáo giúp thu hút khách du lịch đến Lâm Đồng
- Tài nguyên nhân văn khác: Lâm Đồng còn có nhiều ngôi chùa, đình, di tích lịch sử cách mạng, bản mang đậm nét văn hóa của các dân tộc…có giá trị phục vụ du lịch
2.1.4 Tình hình phát triển du lịch Tỉnh Lâm Đồng
Trong những năm qua, du lịch Lâm Đồng đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng cả về số lượng và chất lượng
- Về hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Hệ thống giao thông
đường bộ của tỉnh có mối liên hệ thuận tiện với các tỉnh trong khu vực; Mạng lưới giao thông phát triển khá tốt, tỉnh đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp trên 826 km đường quốc lộ, tỉnh lộ (trong đó có 19,2 km đường cao tốc)
Trang 39Giao thông đường hàng không cũng là một thế mạnh của tỉnh Các hệ thống cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc… cũng đang được đầu tư, nâng cấp xây dựng mới nhiều
- Về khách du lịch: Giai đoạn 2009 - 2013, lượng khách du lịch đến Lâm
Đồng tăng đáng kể, từ 2.500.000 lượt năm 2009 (130.000 lượt khách quốc tế), đến năm 2013 ước đạt 4.200.000 lượt (3.971.500 lượt khách quốc tế), tốc độ tăng trưởng bình quân 11%/năm Thời gian lưu trú bình quân tăng từ 2,4 ngày năm 2009 lên 2,45 ngày năm 2013
- Về thu nhập xã hội từ du lịch: Thu nhập từ ngành Du lịch của tỉnh
Lâm Đồng giai đoạn 2009 – 2013 đã có sự tăng trưởng đáng kể; Năm 2009 doanh thu xã hội từ du lịch đạt 3.400 tỷ đồng, đến năm 2013 đạt 7.555 tỷ đồng Doanh thu thuần từ hoạt động du lịch (lưu trú, ăn uống trong cơ sở lưu trú, vé tham quan khu điểm du lịch) chiếm tỉ lệ khoảng 40% doanh thu xã hội
từ hoạt động du lịch Chi tiêu bình quân đạt trên 1.700.000đ/ khách
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Cơ sở lưu trú: Tính đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 812 cơ sở lưu trú
du lịch, với tổng số 12.823 phòng Trong đó, có 254 khách sạn cao cấp từ 1-5
sao với 6.914 phòng (bao gồm 24 khách sạn cao cấp từ 3-5 sao với 1.962
phòng) Riêng thành phố Đà Lạt có 637 cơ sở lưu trú du lịch, với tổng số
10.717 phòng (chiếm 80% số cơ sở và 85% số phòng toàn tỉnh)
Lữ hành vận chuyển: Toàn tỉnh hiện có 35 doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành - vận chuyển du lịch (tăng 05 doanh nghiệp so với năm 2012, đều là
DN lữ hành nội địa), trong đó có 06 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế, 29
đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa và vận chuyển du lịch
Khu, điểm du lịch: Giai đoạn 2009 – 2013 có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư nâng cấp, toàn tỉnh hiện có 32 khu, điểm du lịch hoạt động kinh doanh phục vụ khách và hơn 60 điểm tham quan miễn phí khác (các danh thắng tự nhiên, các công trình kiến trúc cổ, cơ sở tôn giáo, làng
Trang 40nghề…) Một số khu, điểm trong những năm gần đây đã quan tâm đầu tư, nâng cấp mở rộng dự án, phát triển sản phẩm theo chiều sâu, tạo sức hấp dẫn thu hút khách
- Về nguồn nhân lực ngành Du lịch: Lao động ngành Du lịch của tỉnh
Lâm Đồng thời gian qua tăng nhanh về số lượng và từng bước được chuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ Đến nay đã thu hút được 9.000 lao động trực tiếp hoạt động tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, trong đó có khoảng 65% lao động đã qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ từ bậc sơ cấp trở lên
-Về đầu tư phát triển du lịch: Từ năm 2009 đến nay, toàn tỉnh đã thu hút
được 230 dự án đầu tư trên lĩnh vực du lịch với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 70.586,306 tỷ đồng, trong đó có 85 dự án được chủ trương đầu tư đang tiến hành lập báo cáo đầu tư và 145 dự án đã được thoả thuận đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư Đa số các dự án tập trung đầu tư vào loại hình
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và hội nghị - hội thảo
Trung ương và tỉnh đã quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án quốc lộ 20, đường tỉnh lộ 723, 721, 725, đường cao tốc Liên Khương – Prenn, đường đô thị và vành đai, nâng cấp nhà ga sân bay Liên Khương; mở thêm các đường bay Đà Lạt- Hà Nội, Đà Lạt- Đà Nẵng… đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, trong đó
có ngành du lịch
- Về xúc tiến, quảng bá du lịch: Công tác xúc tiến quảng bá được chú
trọng đổi mới dưới nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp du lịch: phát hành ấn phẩm, đĩa VCD về du lịch, thương mại và đầu tư trên địa bàn tỉnh, quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo, đài PTTT Lâm Đồng và các địa phương, VTV, HTV, tổ chức và tham gia nhiều hội chợ du lịch, phối hợp Vietnam Airline xây dựng kế hoạch quảng bá du lịch Lâm Đồng trên các chuyến bay quốc tế