1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Du Lịch, Du Lịch Văn Hóa, Văn Hóa Tâm Linh, Hà Nội.pdf

159 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hoạt Động Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh Của Người Hà Nội
Tác giả Đoàn Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Du Lịch
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ch­¬ng 1 mét sè quan ®iÓm lý luËn liªn quan ®Õn ®Ò tµi 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐOÀN THỊ THÙY TRANG NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI

(Khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, du lịch đã trở thành nhu cầu xã hội phổ biến trên thế giới Do nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, phong phú nên các loại hình du lịch cũng phát triển theo Ngoài những loại hình du lịch truyền thống như du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, các loại hình mới cũng được ra đời như du lịch mice, du lịch chữa bệnh, Trong đó, du lịch văn hóa lại được chia thành rất nhiều loại hình khác nhau như du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh

Du lịch văn hóa tâm linh gần đây đã hình thành và đang phát triển ở các nước trên thế giới đặc biệt là ở châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan Hàng năm, các cơ quan tôn giáo của các quốc gia này kết hợp với các công ty lữ hành tổ chức các chuyến du lịch văn hóa tâm linh cho du khách đến các thánh tích của nhau Ở châu Âu đặc biệt là nước Ý cũng tổ chức nhiều đoàn khách tham gia các lễ hội tôn giáo, các khóa tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo, các khóa tu thiền tại các quốc gia cùng châu lục và sang các quốc gia châu Á

Ở Việt Nam, trong vài năm gần đây bên cạnh nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, du khách còn có xu hướng nghiêng về nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh Đối với ngành du lịch loại hình này cũng đang ngày càng phát triển trở thành một sản phẩm du lịch quan trọng Về tài nguyên, nước ta vốn là đất nước của nhiều lễ hội tôn giáo, văn hóa đa dạng và phong phú kéo dài suốt cả năm trên khắp 3 miền Hơn nữa, Việt Nam còn có hệ thống các di tích tôn giáo, tín ngưỡng dải khắp cả nước đặc biệt là các trung tâm văn hóa lớn như

Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh sẽ ngày càng phát triển

Trang 3

Hà Nội mảnh đất ngàn năm văn hiến, nay là trung tâm chính trị, kinh tế

- văn hóa của cả nước Nói đến Hà Nội, người ta sẽ nghĩ ngay đến cái tên Tràng An, đại diện cho nhiều vẻ đẹp của mảnh đất này Hà Nội đẹp với con người thanh lịch, thông minh, đẹp với phong cảnh hữu tình, đẹp với cuộc sống năng động thời kinh tế mở cửa, đẹp với cuộc sống thanh lịch, ung dung

tự tại của truyền thống, Đó là những vẻ đẹp rất đỗi kinh kỳ, rất đỗi Thăng Long, rất đỗi Đông Đô và rất đỗi Hà Nội Hà Nội còn được biết đến với cái tên là mảnh đất ngàn năm văn vật Nơi đây hội tụ rất nhiều di tích lịch sử, di tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao như Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, Đền Ngọc Sơn Ngoài ra, thủ đô cũng có hàng ngàn các lễ hội truyền thống diễn ra quanh năm Với những điều kiện đó du lịch văn hóa tâm linh cũng trở thành loại hình du lịch quan trọng của Hà Nội

Hà Nội hiện đang cùng cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hà Nội không ngừng phát triển kinh tê, văn hóa – xã hội để luôn xứng tầm với vị thế thủ đô của cả nước Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,

Hà Nội cũng không thể tránh khỏi việc đối mặt với những khó khăn thách thức: sự gia tăng dân số, suy đồi về lối sống, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, Vì vậy, người dân Hà Nội đặc biệt người dân các quận nội thành đang hàng ngày phải chịu nhiều áp lực của cuộc sống đô thị

Do đó, để có thể cân bằng cuộc sống cũng như thỏa mãn nhu cầu tinh thần thì

họ đã dành thời gian cho các chuyến du lịch để nghỉ ngơi, giải trí, Bên cạnh, những chuyến du lịch thuần túy, họ còn thực hiện các cuộc hành trình kết hợp

cả hai yếu tố du lịch và tâm linh Trong các chuyến du lịch này, họ không chỉ được thỏa mãn các nhu cầu vật chất (các dịch vụ ăn uống, ngủ nghỉ, ) mà quan trọng hơn là được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần về mặt tâm linh (chiêm bái, cầu khấn, thực hành các nghi lễ truyền thống) Những chuyến hành trình đó còn được gọi là du lịch văn hóa tâm linh

Trang 4

Hà Nội có nguồn tài nguyên du lịch tín ngưỡng, tâm linh phong phú bậc nhất của cả nước, nhưng hiện nay chưa được nghiên cứu thật đầy đủ Hà Nội cũng là nơi có sản phẩm du lịch tín ngưỡng tâm linh đa dạng, nhiều vẻ,

và có sức hấp dẫn bậc nhất trong cả nước, nhưng chưa được khai thác có hiệu quả và đầy đủ Nhu cầu du lịch tín ngưỡng, tâm linh của người Hà Nội cũng rất cao, nhưng hầu như chưa có công trình nào đề cập đến một cách toàn diện

và kỹ lưỡng… Với những lý do trên, đề tài "Nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội" (khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa) là cần thiết

Do phạm vi tư liệu rất rộng, địa bàn khảo sát rất lớn, vấn đề khảo sát rất nhiều, nên chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát nghiên cứu vấn đề du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội tại một quận nội thành tiêu biểu, nơi tập trung nhiều di tích tín ngưỡng tâm linh, nhiều sinh hoạt tín ngưỡng, và đông dân cư tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh Chúng tôi chọn địa bàn được khảo sát tại Quận Đống Đa - Hà Nội, nhằm nghiên cứu chi tiết hơn về hoạt động này và đề xuất các giải pháp tương ứng

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, đề tài du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội còn mới

mẻ Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như về văn hóa tâm linh

và du lịch văn hóa, du lịch Hà Nội tuy phong phú nhưng chưa có tài liệu nào

đề cập đến du lịch văn hóa tâm linh Tuy nhiên, đây lại là nguồn tư liệu rất bổ ích để chúng tôi kế thừa phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Về vấn đề văn hóa và văn hóa tâm linh, các công trình nghiên cứu rất

phong phú như Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương; Trần Quốc Vượng với Cơ sở văn hóa Việt Nam;Toan Ánh với Nếp cũ – tín ngưỡng Việt

Nam; Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục; Nguyễn Đăng Duy với Văn hóa tâm linh; Văn hóa tâm linh Nam Bộ; Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt

Trang 5

Nam; Mai Thanh Hải với Tôn giáo thế giới và Việt Nam; Nguyễn Duy Hinh

với Người Việt Nam với Đạo giáo; Hồ Văn Khánh với Tâm hồn – khởi nguồn

cuộc sống văn hóa tâm linh, Phan Ngọc với Bản sắc văn hóa Việt Nam Các

công trình đã nghiên cứu chủ yếu về các vấn đề như lý luận văn hóa; đặc trưng chức năng của văn hóa; các thành tố văn hóa Việt Nam; tôn giáo, tín ngưỡng trong văn hóa Việt Nam; quan niệm về văn hóa tâm linh

Các nghiên cứu về Hà Nội, người Hà Nội, văn hóa Hà Nội cũng rất

nhiều tiêu biểu như: Nguyễn Viết Chức với Nếp sống người Hà Nội từ truyền

thống của thủ đô Hà Nội, Lý Khắc Cung với Hà Nội văn hóa và phong tục,

Nguyễn Trọng Đàn với Thăng Long Hà Nội, Nguyễn Thế Long với Chùa Hà

Nội, Nguyễn Thế Long với Đình, đền Hà Nội….Nội dung chủ yếu mà các

công trình này nghiên cứu là về đặc điểm văn hóa của người Hà Nội, thành tựu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Hà Nội qua hàng ngàn năm lịch

sử

Bên cạnh đó, các công trình về du lịch Hà Nội tiêu biểu như: Nguyễn

Vinh Phúc với Hà Nội - thành phố ngàn năm, Hà Nội – cõi đất, con người,

Hà Nội qua những tháng năm, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân,

Nguyễn Hữu Quỳnh với Bách khoa thư Hà Nội, Giang Quân với Hà Nội xưa

và nay, Thăng Long Hà Nội 1000 năm truyền thống và thanh lịch, Mai Thục

với Tinh hoa Hà Nội, Hoàng Đạo Thúy với Hà Nội thanh lịch, Người và cảnh

Hà Nội, Phố phường Hà Nội xưa, Trần Quốc Vượng với Hà Nội nghìn xưa…

đã nghiên cứu rất đầy đủ về tài nguyên cũng như sản phẩm du lịch Hà Nội

Về đề tài du lịch văn hóa, tâm linh, nói chung và trên địa bàn Hà Nội

nói riêng cũng có một số công trình như: Nguyễn Vinh Phúc với Du lịch Hà

Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long, Nguyễn Phạm Hùng với Tượng đài Hà Nội và du lịch văn hoá, Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, Khai thác món ăn dân tộc trong các khách sạn ở Hà Nội, Tiềm năng

Trang 6

du lịch phố cũ Hà Nội, Du lịch đêm Hà Nộ; Đa dạng văn hóa và sự phát triển

du lịch ở Việt nam… Các nghiên cứu này đã đề cập đến du lịch văn hóa và

việc khai thác các di sản văn hóa Hà Nội vào hoạt động du lịch văn hóa

Như vậy, tất cả những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra nội dung rất phong phú về văn hóa, văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch Hà Nội nhưng chưa đề cập đến du lịch văn hóa tâm linh Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, các tài liệu nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi rất nhiều trong khi thực hiện đề tài Chúng tôi đã kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu trước đây Đồng thời, chúng tôi cũng nhận thấy, vấn đề du lịch tín ngưỡng, tâm linh của người Hà Nội hiện là một nội dung nghiên cứu còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục tìm hiểu, đánh giá, nghiên cứu để có thể có được những kết luận thỏa đáng cho việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh nói riêng, phát triển du lịch văn hóa ở Hà Nội nói chung

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung vào các mục đích nghiên cứu sau đây:

- Hệ thống hóa một số quan điểm lý luận liên quan đến du lịch văn hóa tâm linh

- Nghiên cứu thực trạng du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội trên địa bàn quận Đống Đa

- Đưa ra một số giải pháp để hoạt động du lịch văn hóa tâm linh diễn

ra phù hợp với lợi ích của du khách và xã hội

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Luận văn tập hợp và xây dựng hệ thống lý luận

về du lịch văn hóa tâm linh và đưa ra phương pháp nghiên cứu các dạng thức hoạt động du lịch văn hóa tâm linh Đề tài là một nghiên cứu mới đóng góp cho ngành khoa học du lịch ở Việt Nam Đây cũng có thể là cơ sở tham khảo cho các đề tài khác có liên quan

Trang 7

- Ý nghĩa thực tiễn: các kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ đóng góp làm tài liệu khảo cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan Nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Với đề tài này, luận văn tập trung vào nghiên cứu các đối tượng cụ thể sau: Các hoạt động du lịch tín ngưỡng, tâm linh

Các nghiên cứu, giới thiệu về du lịch tín ngưỡng, tâm linh

- Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi thời gian: nghiên cứu các hoạt động du lịch tín ngưỡng, tâm linh hiện nay (từ năm 2008 đến năm 2010)

+ Phạm vi về không gian: thuộc địa bàn quận Đống Đa – Hà Nội + Phạm vi vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu thực tiễn, thực trạng hoạt động du lịch tín ngưỡng, tâm linh, và một số đề xuất, giải pháp cho hoạt động du lịch này

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: sách, giáo trình; báo, tạp chí chuyên ngành và báo, tạp chí có nội dung liên quan; công trình khoa học; văn bản pháp quy về du lịch và liên quan đến du lịch, các văn bản pháp quy

về tín ngưỡng tôn giáo và việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa; các báo cáo của quận Đống Đa; hồ sơ di tích, các trang web

6.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho mục đích điều tra và nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành các quan điểm, nhận xét để đưa cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu

Trang 8

6.3 Phương pháp khảo sát

Khảo sát là phương pháp nghiên cứu hiệu quả để thu thập được những thông tin mong muốn Phương pháp này cho cái nhìn khách quan về đối tượng và mang tính trung thực Phương pháp này được áp dụng tại các điểm

du lịch tín ngưỡng, tâm linh trên địa bàn quận Đống Đa, nhằm tìm hiểu về điểm đến, các sản phẩm của du lịch văn hóa tâm linh và đặc điểm của khách

du lịch

7 Bố cục của Luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương với nội dung chính như sau:

Chương 1: Một số quan điểm lý luận liên quan đến đề tài, trình bày

quan điểm lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và đưa ra hiệu quả của du lịch văn hóa tâm linh

Chương 2: Thực trạng du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (qua khảo sát ở quận Đống Đa), trình bày các hình thức tổ chức hoạt động

du lịch văn hóa tâm linh của người dân quận Đống Đa; các sản phẩm du lịch tương ứng, các điểm đến du lịch văn hóa tâm linh, đặc điểm khách du lịch tham gia loại hình du lịch này

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (qua khảo sát ở quận Đống Đa), trình bày cơ sở đề

xuất để đưa ra giải pháp nhằm phát triển hợp lý hoạt động du lịch văn hóa tâm linh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Hà Nội

Trang 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÂN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA

TÂM LINH

1.1 Những vấn đề về văn hóa tâm linh

Khái niệm văn hóa tâm linh mới chỉ xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây Nó ra đời khi mà con người có bao vấn đề xoay quanh tín ngưỡng, tôn giáo chưa có câu trả lời Họ phân vân liệu tâm linh có phải là tín ngưỡng tôn giáo hay không và nên phải ứng xử như thế nào khi xã hội bước vào văn minh hiện đại xã hội chủ nghĩa Một nhiệm vụ đặt ra cho các nhà nghiên cứu là phải tìm ra bản chất của văn hóa tâm linh Văn hoá tâm linh là một khái niệm hợp nhất bởi hai yếu tố văn hoá và tâm linh Để hiểu được khái niệm này cần phải phân tích ý nghĩa của hai thuật ngữ văn hóa và tâm linh

1.1.1 Văn hóa

Văn hoá là hiện tượng xã hội xuất hiện từ thuở bình minh của xã hội loài người Mặc dù văn hoá rất gần gũi, và thậm chí gắn bó máu thịt của sự phát triển con người – xã hội, nhưng việc nhận thức sâu sắc và đầy đủ về nó

là cả một quá trình rất lâu dài Ngay khi đứng trên góc nhìn của một khoa học thì các nhà nghiên cứu cũng có những quan niệm rất khác nhau về văn hoá

Do vậy, sự bùng nổ các định nghĩa về văn hoá là tất yếu, khiến cho người ta chỉ có thể tập hợp theo nhóm chứ không thể liệt kê đây đủ, chi tiết từng định nghĩa Theo sự thống kê của nhà nghiên cứu người Nga A.X Ca-rơ-min, đến nay con số định nghĩa văn hoá có thể lên tới 500 định nghĩa và ông đã phân chia số định nghĩa ấy thành 14 nhóm Còn theo hai nhà nhân loại học Hoa Kỳ

là A.Croeber và C.Kluckholn thì trong giới nghiên cứu phương Tây có 6 nhóm định nghĩa về văn hoá Sự phong phú của quan niệm văn hóa giúp ta có cái nhìn đa chiều về nó

Trang 10

Ở nước ta, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm "văn hiến" Từ đời Lý (1010) người Việt đã tự hào nước mình là một "văn hiến chi bang" Đến đời

Lê (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi đã viết "Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang" – Duy nước Đại Việt ta thực sự là nước văn hiến Từ văn hiến

mà Nguyễn Trãi dùng ý muốn chỉ một nền văn hóa cao trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng Cũng trong tác phẩm "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết:

Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Theo một số nhà nghiên cứu, từ "văn hiến" mà Nguyễn Trãi dùng ở đây, về một khía cạnh nào đó, đồng nghĩa với từ "văn hoá" Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX thì khái niệm văn hoá mới xuất hiện với tư cách là khái niệm khoa học

Từ khi UNESCO phát động "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá" (1988-1997), nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã chú trọng nghiên cứu lý luận về văn hoá Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét các vấn đề văn hoá Tuy nhiên, do văn hoá là hiện tượng vô cùng phức tạp, các nhà nghiên cứu lại nghiên cứu văn hoá từ những phương diện, góc nhìn khác nhau, nên các quan niệm về văn hoá cũng khác nhau Vì vậy, để tránh lạc lối trong nghiên cứu về bản chất của văn hoá, trước hết, chúng ta có thể phân thành hai loại quan niệm về văn hoá: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Từ góc độ tiếp cận Triết học Mác – xít, các nhà nghiên cứu ở nước ta đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về bản chất và vai trò của văn hoá Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, nói văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá là tính sáng tạo và tính nhân văn, văn hoá đóng vai trò là

Trang 11

mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, xung quanh vấn đề phạm vi thực tồn của văn hoá lại có những quan niệm khác nhau

Quan niệm cho rằng, văn hoá là một loại quan hệ đặc thù riêng có của con người Đó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ý thức con người với thế giới hiện thực Từ quan niệm này, nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định:

Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác [23, tr.16]

Xem xét văn hoá trong mối quan hệ với con người, với nhu cầu và mục đích sống của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn ở và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá."[56,tr21]

Trong định nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến "sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt" và "biểu hiện của nó", tức đã đề cập đến

cả hoạt động sống của con người và những thành tựu do hoạt động đó tạo ra Nhưng dù là "hoạt động" hay "thành tựu" thì đều phải đáp ứng "những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" mới được gọi là văn hoá Hơn nữa, khi nhìn nhận văn hoá theo nghĩa rộng, Người đã xem văn hoá là thế giới giá trị, tức là tất cả những gì của con người, do con người và vì con người

Dựa trên quan niệm giá trị, GS Trần Ngọc Thêm cho rằng: " Văn hoá

là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

Trang 12

và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội."[42,tr10]

Tất nhiên, ở đây giá trị cần được hiểu không chỉ là một loại "thước đo" hoàn toàn mang tính chủ quan Giá trị được nhận thức là thuộc tính của sự vật

có ích cho con người khi quan hệ với con người Giá trị được quyết định bởi cấu trúc, tính chất và công năng của bản thân sự vật nhưng chỉ phát lộ trong quan hệ với con người Do đó, giá trị không hoàn toàn mang tính chủ quan mà

có cả mặt khách quan và mặt chủ quan Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn nhấn mạnh: "Tất nhiên, toàn bộ giá trị ở đây là những sản phẩm có ích, thoả mãn nhu cầu nhân sinh, đáp ứng sự phát triển - tiến bộ của xã hội Bởi những sản phẩm do con người sáng tạo ra không những không đáp ứng nhu cầu tiến bộ,

mà còn phản tiến bộ, đó là sản phẩm phản văn hoá." [15, tr.52] Như vậy, việc xem văn hoá là giá trị vật chất và tinh thần kết tinh năng lực bản chất của con người khắc phục được quan niệm đối lập tuyệt đối giữa xã hội với tự nhiên và quan niệm đồng nhất giữa văn hoá với xã hội Đồng thời, nó bao hàm ý nghĩa rằng, văn hoá không phải là cái tồn tại một cách cô lập với con người mà luôn trong mối quan hệ hữu cơ với con người, do con người sáng tạo ra và đến lượt

nó lại có tác dụng hoàn thiện, hoàn mỹ con người – xã hội

Như vậy, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, tức tất cả những gì phi tự nhiên

là văn hóa, thì nó vừa giá trị, vừa lại phản giá trị Nhưng văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp thì chỉ là giá trị mà thôi Thuật ngữ văn hóa tâm linh được dùng là theo nghĩa hẹp

1.1.2 Tâm linh

1.1.2.1 Khái niệm Theo nhà tâm lý học Sigmund Freud, con người là thực thể đa chiều Trong đó có 3 kích thước cơ bản: bản chất sinh học, bản chất xã hội và bản chất tâm linh Ba bản chất này được tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều

Trang 13

cao của con người Bản chất sinh học và bản chất xã hội thì đã được nghiên cứu rất nhiều, nên tuy không còn phải vấn đề nữa nhưng việc nhận định nó thì

đã khá xác định Còn bản chất tâm linh thì ít được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, bởi có thời người ta coi nó không phải là đối tượng của khoa học,

mà là đối tượng của huyền môn Vì thế, tâm linh đã phải chịu không ít hiểu lầm và ngộ nhận

Trước đây, nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng và tôn giáo, và đồng nhất nó với tín ngưỡng và tôn giáo Thực ra, khái niệm tâm linh vừa hẹp hơn nhưng lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng tôn giáo Hẹp hơn vì ở tín ngưỡng tôn giáo ngoài phần tâm linh ra còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo Bởi đó vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh thần vừa là một thiết chế xã hội, mà đã là thiết chế xã hội thì không tránh khỏi

sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị Rộng hơn vì tâm linh gắn liều với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu việt không chỉ có ở đời sống tôn giáo, mà còn có cả ở đời sống tinh thần, đời sống xã hội Không chỉ có ở Thượng đế, có Chúa trời, Thần, Phật mới thiêng liêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng thiêng liêng không kém Có như vậy, con người mới đạt đến chiều cao của con người Vì nếu những cái đó bị giải thiêng thì con người không biết lấy cái

gì để khu biệt mình với động vật

Mặc dù không được nhận biết, không được nghiên cứu và bị hiểu lầm, nhưng tâm linh vẫn tồn tại trong và cùng với con người như là một chiều kích, thậm chí là chiều kích quan trọng nhất của con người Đó là một giá trị cơ bản bao trùm và vĩnh cửu của đời sống con người Tuy nhiên, trong xã hội cổ truyền trước đây việc nghiên cứu tâm linh không được đặt ra một cách cấp thiết Chỉ khi con người bước vào thời đại công nghiệp cơ khí đại quy mô, duy lý cực đoan và duy khoa học thực nghiệm, nhất là từ thế kỷ XX thì vấn đề

Trang 14

tâm linh mới trở thành một tiếng gọi Bởi lẽ, con người càng chiếm lĩnh mạnh

mẽ và có hiệu quả thế giới bên ngoài, thiết lập nên một nền văn minh vật chất phong phú bao nhiêu, thì đời sống bên trong, đời sống nội tâm của nó càng nghèo đi bấy nhiêu Con người đang tự đánh mất mình Không coi nhẹ ý nghĩa của những hoạt dộng "bên ngoài", nhưng việc giảm sút hoặc mất đi những hoạt động "bên trong", nhất là những hoạt động của đời sống tâm linh,

là điều tệ hại nhất đối với sự tồn tại người Vấn đề đặt ra là phải lập lại sự cân bằng của hai hoạt động ấy, hai "đời sống" ấy

Như vậy, cái tâm linh không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa học

mà còn là đối tượng của khoa học Và không chỉ có nghiên cứu về nó, người

ta còn có thể đề ra những phương pháp phát triển tâm linh của con người bằng những thể nghiệm, những thực nghiệm về nó Từ đây chí ít ở lĩnh vực đời sống tâm linh, tôn giáo và khoa học không còn loại trừ nhau như nước với lửa nữa, mà có thể gần gụi nhau, thúc đẩy nhau làm phong phú lẫn nhau nhằm đưa con người đến một sự phát triển hài hòa ở tất cả các mặt sinh học – xã hội – tâm lý – tâm linh

Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo hai nghĩa: "1 Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm 2.Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh."

Thuật ngữ tâm linh có hai từ tiếng Anh tương đương là spiritualism và psychic Spiritualism mang hai nghĩa: thứ nhất là niềm tin tôn giáo – triết học

về sự tồn tại sau cái chết; thứ hai là tâm trí, tâm hồn, tinh thần (nghĩa này ít dùng) Còn psychic lại được hiểu theo nghĩa hiện tượng dị thường, huyền bí

Trong cuốn "Tâm linh Việt Nam", Nguyễn Duy Hinh quan niệm: Tâm linh là thể nghiệm của con người (Tâm) về cái Thiêng (linh) trong Tự nhiên

và Xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logíc không phân biệt thiện ác.[13,tr52]

Trang 15

Tác giả giải thích tâm linh là một khát vọng trí tuệ của con người Trong quá trình tồn tại, con người không bằng lòng khai thác tự nhiên hái quả săn mồi sinh con đẻ cái như mọi động vật khác Con người luôn có khát vọng tìm hiểu và lý giải tự nhiên (trời, đất, nước, muôn loài ) và bản thân con người để cải thiện cuộc sống của họ Đó là khác biệt cơ bản giữa con người và động vật Qua trải nghiệm cụ thể, lâu dài mỗi dân tộc có một tâm linh riêng biệt đặc sắc song cũng đều qui vào giải thích về trời đất và con người Giải thích về sức mạnh vô hình tác động đến cái Sống của con người Mạnh và vô hình nên gọi là Thiêng Một số hiện tượng tâm linh thành tín ngưỡng hoặc có thờ cúng hoặc không thờ cúng Đó là tâm linh tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, cúng hồn lúa Còn tâm linh phát triển thành tâm linh tôn giáo thì người ta tin theo tâm linh của một giáo Chủ nào đó truyền dạy có trình độ lôgíc nhất định cao hơn tâm linh tín ngưỡng Nhưng dù vậy mỗi cộng đồng người tiếp thu tâm linh giáo Chủ nào đó đều ít nhiều thông qua tâm linh tín ngưỡng của mình

Từ quan niệm trên cho thấy, tâm linh chỉ tồn tại ở con người và là kết quả trải nghiệm của họ trong quá trình sống ở mỗi môi trường nhất định Từ

đó hình thành nên tâm linh riêng biệt của mỗi dân tộc Tâm linh không phải là tín ngưỡng tôn giáo mà tâm linh chứa đựng chúng Tín ngưỡng tôn giáo chỉ

có thể tồn lại trong môi trường tâm linh ở đó con người có niềm tin vào những đối tượng thiêng như thánh thần, Phật, Chúa

Một quan niệm khác về tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn "Văn hoá tâm linh": Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm [8,tr14]

Trang 16

Như vậy, tâm linh là cái tồn tại trong mỗi con người Nó thể hiện qua niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người

Và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh thiêng liêng,

1.1.2.2 Đặc điểm của tâm linh Thứ nhất, tâm linh là một hình thái ý thức, tâm linh gắn liền với ý thức của con người Do vậy điều kiện để tồn tại tâm linh là sự có mặt của ý thức con người Điều đó đồng nghĩa với việc một người mất trí không còn khả năng suy nghĩ thì trong đầu người đó sẽ trống rỗng và không có tâm linh

Thứ hai, tâm linh là phần thiêng liêng trong ý thức của mỗi con người

Ý thức của con người thì rất đa dạng như ý thức về toán học, ý thức về văn học, ý thức về cộng đồng Trong đó, ý thức tâm linh là ý thức hướng về cái thiêng liêng cao cả Ý thức tâm linh được ngưng tụ theo hai cách:

Cách thứ nhất là ở ý niệm, con người phải hành động thì sự thiêng liêng mới được bộc lộ Ví dụ như người ta có ý niệm thiêng liêng âm dương giao hòa, đực cái phối hợp nên đã tiến hành nhiều nghi lễ trò diễn phồn thực Người ta quan niệm có thổ địa linh thiêng nên mỗi khi xây nhà phải làm lễ động thổ

Cách thứ hai là đọng lại ở các hình ảnh, biểu tượng Biểu tượng là tiếng nói chung để biểu thị ước lệ về một tín hiệu Trong đó, mọi biểu tượng thiêng liêng đều chứa đựng những giá trị cao cả, giá trị thẩm mỹ Vì vậy, mọi biểu tượng thiêng liêng là cơ sở bền vững cho nhiều mối quan hệ của con người Mọi người trong làng có mối quan hệ khăng khít với nhau vì họ cùng có chung biểu tượng thiêng liêng mái đình, cây đa, giếng nước mà đi đâu ai cũng nhớ Hay cả dân tộc Việt Nam đoàn kết trong mối quan hệ cùng một tổ tiên với biểu tượng núi Lĩnh và đền Hùng

Trang 17

Đặc điểm thứ ba là tâm linh có sức truyền cảm truyền lệnh, tập hợp ghê gớm Do con người có tâm lý tự nhiên là khi đời sống được yên bình mạnh khỏe, ăn nên làm gia, hoặc được cứu thoát khỏi cơn hoạn nạn, nguy hiểm, thì nảy sinh ý thức hướng, nhớ về cội nguồn, biết ơn những cái cao cả đã cho mình, cứu mình Ý thức biết ơn này có sức hút tự nguyện rất lớn, không gì có thể ngăn cản

Như vậy, tâm linh do các tác giả quan niệm đều thể hiện nó gắn với con người, ở trong con người Vì vậy, trong mọi mặt đời sống của con người đều tồn tại tâm linh và có thể nhóm thành hai loại là tâm linh trong cuộc sống đời thường và tâm linh trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo

1.1.2.3 Hình thức của tâm linh

- Tâm linh trong đời sống cá nhân Trong đời sống cá nhân của những người theo tôn giáo thì suốt đời họ chỉ mang niềm tin thiêng liêng vào Chúa và Phật Trong họ lúc nào cũng thường trực đời sống tâm linh Còn đối với mọi cá nhân đời thường thì tâm linh khá phong phú nhưng không phải lúc nào cũng thường trực đời sống tâm linh Đời sống tâm linh của người đó chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh thiêng, thời gian thiêng xuất hiện

- Tâm linh trong đời sống gia đình Mái ấm gia đình, nơi không gian thiêng liêng nhất, nơi con người sinh

ra, ở, con người phấn đấu lo toan và cũng là chỗ cuối cùng con người về Ngày nay xây dựng nếp sống văn hóa gia đình, hãy nâng niu giá trị tâm linh truyền thống Mỗi gia đình thực sự là một tổ ấm thiêng liêng, hạnh phúc nhất của con người

Trong gia đình, bàn thờ tổ tiên là biểu tượng máu thịt thiêng liêng nhất, lôi cuốn người ta quây quần đoàn tụ, nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị

Trang 18

thiêng liêng chuyển giao cho con cháu Những giá trị tâm linh là hết sức bền vững, là hằng số của văn hóa gia đình

- Tâm linh trong đời sống cộng đồng làng xã Cái cột chặt con người trong làng xã xưa kia không phải chỉ có quan hệ lãnh thổ, kinh tế mà còn có nhiều quan hệ khác đó là thế giới tâm linh Vậy tâm linh ở đây biểu hiện ra những gì? Đó là thần tượng thiêng liêng về các anh hùng có công dựng làng, giữ nước đang được tôn thờ trong những không gian thiêng liêng, những ngôi đình đền Ở những khong gian thiêng liêng ấy, hàng năm lễ thần và hội làng diễn ra, thì lại là những dịp niềm tin thiêng liêng được củng cố Thần thánh thiêng liêng nhắc nhở nhớ về cội nguồn, lễ hội thiêng liêng nhắc nhở xóa bỏ những gì khúc mắc bất hòa Đoàn tụ gần gũi nhau hơn lại đến với những trái tim con người làng xóm Đồng thời nếp sống cộng đồng hàng ngày, tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, bán anh

em xa mua láng giềng gần, đều là những sợi dây tình cảm vô cùng thiêng liêng cố kết xóm làng, củng cố khối cộng đồng Đó là những quan hệ thiêng liêng nhất trong đời sống cộng đồng làng xã Nó là cái nền vững chắc nhất trong mối quan hệ làng xã Nó biểu thị khía cạnh thiêng liêng nhất trong bản sắc văn hóa xóm làng, cũng là văn hóa dân tộc Những biểu tượng, những mối quan hệ cộng đồng thiêng liêng ấy, là cơ sở, là động lực, là niềm tin để dân ta trụ vững, phát triển cho đến ngày nay

- Tâm linh với Tổ quốc giang sơn đất nước Ngày nay mỗi cuộc lễ nghi, cuộc hội nghị ta kiến lập bàn thờ Tổ quốc Gần mới đay trong đánh Mỹ ta thường nói bằng cả sức mạnh bốn nghìn năm lịch sử, sức mạnh truyền thống Đó chẳng phải là vô hình trừu tượng mà là hình ảnh thiêng liêng từ Hữu Nghị quan đến mũi Cà Mau Là núi cao biển rộng sông dài Là cây đa bến nước, mái đình, những hình ảnh thiêng liêng về làng xóm Là những mảnh đất thiêng liêng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa,

Trang 19

oai hùng còn đó Là hình ảnh Bác Hồ gần gũi thân thương vĩ đại Là những tượng đài, nấm mộ trong nghĩa trang lịch sử nhắc nhở Là hình ảnh lá cờ thiêng liêng vẫy gọi Từ những hình ảnh biểu tượng thiêng liêng đó mà ngày xưa, ngày nay "chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi" Làm sao đừng để kinh

tế thị trường có đạo tặc bô hình gặm nhấm dần làm mất đi những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng đó trong ý thức con người hôm nay và các thế hệ tiếp theo

- Tâm linh trong văn học nghệ thuật Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm làm rung động những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn Mà muốn được như vậy, nhà sáng tạo nghệ thuật thực sự phải có đời sống tâm linh, cảm thụ đối tượng muốn sáng tạo ra trong tác phẩm đến độ thiêng liêng nhất

Sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng về chúa về thần Phật đã để lại biết bao giá trị kiến trúc nghệ thuật Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo ở

Hy Lạp, La Mã, nhà thờ Phát Diệm Ninh Bình, gác chuông chùa Keo khéo léo tuyệt vời ở Thái Bình, các pho tượng Phật ở chùa Tây Phương Hà Tây

- Tâm linh trong tín ngưỡng tôn giáo Tâm linh được thể hiện trong rất nhiều mặt của đời sống tinh thần, có

cả trong tín ngưỡng tôn giáo Tín ngưỡng tôn giáo là lĩnh vực đặc biệt trong đời sống tâm linh

1.1.2.4 Phân biệt tâm linh với mê tín dị đoan

Mê tín dị đoan là tin một cách mê muội, kì dị, là thường Tin không lý trí và đến mức không cần đến cả mạng sống của mình Vì vậy, Mê tín dị đoan chỉ tồn tại khi nó bám vào trình độ văn hóa khoa học thấp kém, con người không đủ trình độ để phân tích, lý giải đúng sai, nhảm nhí Hoặc lợi dụng tình trạng quẫn bách, mụ mẫm của con người không được kịp thời giúp đỡ giải

Trang 20

tỏa Hoặc trong những giây phút thăng hoa ngày hội, giây phút say sưa trào dâng thần thánh cũng dễ khiến con người mất tỉnh táo, mê tín vào sự phán bảo phi lý nhảm nhí

Trong khi đó, tâm linh là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt đời sống tinh thần Những người tin vào Phật và Chúa, đi tu, theo đạo suốt đời tâm niệm vào Phật, vào Chúa có thể giải thoát về cái chết cho mình Hoặc những người không theo tôn giáo nào, nhưng vẫn tin vào thần phật thiêng liêng, tự đến đình, chùa thắp hương khấn lễ, cầu mong sự phù hộ bình yên mạnh khỏe gặp nhiều may mắn Còn xuất phát từ một số người muốn kiếm lợi bằng việc dựa vào thần phật thương mại hóa niềm tin, đặt ra phán bảo nhiều điều kỳ diệu khác thường, cúng lễ cho người khác, khiến cho người khác tin theo mê muội, hành động theo sự tin ấy, gây tốn kém sức khỏe, tiền bạc vô ích, thậm chí nguy hại tính mệnh, ấy là mê tín dị đoan

Như vậy, tâm linh hay mê tín dị đoan tồn tại được đều phải có niềm tin

Nhưng niềm tin của mê tín dị đoan không có thị phi, mù quáng

1.1.3 Văn hóa tâm linh

1.1.3.1 Khái niệm Những khái niệm văn hóa ở trên chưa trực tiếp nhắc tới chữ tâm linh nhưng đã có những chữ tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, những chữ này đều gắn với niềm tin thiêng liêng Vì vậy, khi nói đến văn hoá tâm linh, nội dung quan trọng phải đề cập đến là niềm tin, là cái thiêng liêng cao cả Văn hoá tâm linh được hiểu là văn hoá biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.[8,tr29]

Cuộc sống đời thường ý muốn nói là cuộc sống của những người không theo tôn giáo để phân biệt với các tín đồ của các tôn giáo Tuy nhiên trong cuộc sống đời thường không ai là không có một niềm tin linh thiêng nào đó

Trang 21

Đối với các nơi linh thiêng như chùa, đền, đình, phủ dù chưa một lần được đến đó nhưng trong chúng ta đều có một ý niệm thiêng liêng liêng về chúng

Và ít ai trong chúng ta là không một lần đến chùa lễ Phật, đến đền lễ thần Không một gia đình nào là không dành một góc nhỏ để đặt ban thờ cúng giỗ

tổ tiên Đó là một sự cầu cúng, một niềm tin linh thiêng về cuộc sống của con người

Còn niềm tin trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo bao gồm hai loại Thứ nhất là niềm tin của những người không theo đạo Phật nhưng vẫn đến chùa cầu bình yên, mạnh khỏe, của những người không theo Kitô giáo nhưng ngày lễ Nôen vẫn đến nhà thờ xem lễ theo các tôn giáo, niềm tin của những tín đồ tôn giáo Thứ hai là của những tín đồ tôn giáo, họ suốt ngày, suốt đời mang theo niềm tin thiêng liêng về Chúa, về Phật Họ tôn thờ tất cả những gì thuộc về tôn giáo mà họ đi theo: người sáng lập, giáo lý, hệ thống thờ tự, nơi

cử hành các nghi lễ

1.1.3.2 Thành tố của văn hóa tâm linh Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình Văn hóa hữu hình như các không gian thiêng liêng (đình, chùa, phủ, nhà thờ ) hay các biểu tượng thiêng (tượng Phật, tượng Chúa ) Văn hóa tinh thần là những ý niệm thiêng liêng trong đầu con người Những ý niệm đó phải được thể hiện qua hành động của họ Vì vậy, văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hành động

Tương tự như văn hóa thể thao, văn hóa du lịch, khái niệm văn hóa tâm linh là chỉ về một mặt hoạt động văn hóa của xã hội con người, mang tính thiêng liêng, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, trong quá trình lịch sử, và còn tồn tại lâu dài cùng con người

Trang 22

1.2 Những vấn đề về du lịch văn hóa tâm linh

1.2.1 Quan niệm về du lịch và du lịch văn hóa

1.2.1.1 Du lịch

Du lịch vốn là một từ Hán Việt trong đó du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải Du lịch chính là sự trải nghiệm của con người sau mỗi chuyến đi

Hiện nay cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ xem xét Các khái niệm được đưa ra theo hai góc độ chính là cầu – người đi du lịch và cung – kinh tế

du lịch Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu theo hai khía cạnh:

Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở gốc độ cầu, góc độ người đi du lịch

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế

Như vậy, du lịch hiểu theo khía cạnh nào thì nó đều hướng tới giá trị về mặt tinh thần của người đi du lịch trên cơ sở đó mới nảy sinh hoạt động về kinh tế Nhà kinh tế Kalfiotis cũng có quan điểm như vậy Ông cho rằng: du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh

Trang 23

tế.[40,tr9] Thuật ngữ du lịch trong du lịch văn hóa tâm linh được hiểu theo nghĩa đó

1.2.1.2 Du lịch văn hóa Với sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật cùng với sự đa dạng

về nhu cầu, mục đích đi du lịch của con người, các hình thức du lịch đặc thù xuất hiện ngày càng nhiều và trở nên phổ biến Trong đó, du lịch văn hóa là một trong những loại hình đã và đang phát triển trên toàn thế giới Đây là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nâng cao hiểu biết của du khách về các di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề truyền thống, phong tục tập quán, các sự kiện văn hóa do cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với khách du lịch

Theo nghĩa hẹp, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Theo nghĩa rộng, du lịch văn hóa cần phải hiểu là khái niệm bao gồm tất cả những hình thức (loại hình) du lịch có khai thác, sử dụng các giá trị văn hóa dân tộc vào kinh doanh phục vụ du lịch trên cơ sở đặt ra các yêu cầu về tôn trọng và giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống ấy

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: "Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào các giá trị văn hóa của một cộng đồng hoặc một nhóm dân tộc, một quốc gia hoặc một khu vực có tác dụng giáo dục và nâng cao hiểu biết, nhận thức của khách du lịch."

Theo GS.TS Nguyễn Văn Đính: "Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch nhân văn và hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các công trình kiến trúc văn hóa

do cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với du khách."

Trang 24

Như vậy, điều kiện cần thiết để phát triển du lịch văn hóa là tài nguyên

du lịch nhân văn bao gồm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đại diện cho cộng đồng, dân tộc, quốc gia Loại hình này thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của du khách: tham quan, tìm hiểu về các giá trị văn hóa Quan trọng hơn là

nó có tác dụng giáo dục và nâng cao nhận thức của khách du lịch và hiện đang phát triển mạnh ở Việt Nam, đất nước tiềm năng du lịch văn hóa rất phong phú

Du lịch văn hóa được chia thành nhiều loại hình khác nhau Việc phân loại thành du lịch sinh thái hay du lịch văn hóa là dựa trên tiêu chí về tài nguyên du lịch Trong đó, du lịch văn hóa là loại hình du lịch hoạt động chủ yếu trong môi trường nhân văn Môi trường nhân văn ở đây chính là môi trường có chứa các tài nguyên du lịch văn hóa như di tích lịch sử, lễ hội, tôn giáo, ẩm thực, văn hóa nghệ thuật Dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch văn hóa, các loại hình du lịch văn hóa được hình thành

- Du lịch lễ hội

Lễ hội hiện đang là một trong những tài nguyên du lịch nhân văn có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Tham gia vào lễ hội du khách có thể hòa mình vào các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tinh thần đoàn kết của cộng đồng Du khách tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những khó chịu của cuộc sống đời thường Có lẽ vì thế nên du khách đi vì mục đích này ít quan tâm đến sự thiếu thốn, thiếu hụt trong dịch vụ hơn những du khách đi vì mục đích khác Với tầm quan trọng đó, việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan, đoàn thể quần chúng, xã hội mà còn là một hướng quan trọng của ngành

du lịch

Tuy nhiên, khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần phải lưu ý các đặc điểm về thời gian, quy mô của lễ hội, địa điểm tổ chức lễ hội

Trang 25

Về thời gian, các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn Các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân Có lễ hội được tiến hành trong khoảng 1 đến 2 tháng nhưng cũng có lễ hội diễn ra trong vài ngày

Về quy mô, các lễ hội diễn ra trên địa bàn rộng và có lễ hội chỉ bó gọn trong một địa phương nhỏ Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến hoạt động du lịch và nhất là khả năng thu hút du khách Các lễ hội thường tổ chức tại những di tích lịch sử - văn hóa Điều này cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội trong du lịch

- Du lịch tham quan di tích, danh thắng

Là một trong những tài nguyên quan trọng hàng đầu, các di tích văn hóa – lịch sử của Việt Nam rất phong phú và đa dạng Chúng được phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân với truyền thống văn hóa lâu đời và phong tục, tập quán riêng của từng dân tộc

Di tích, danh thắng là đối tượng tham quan phổ biến của du khách trong các chuyến du lịch Qua đó, du khách có thể mở rộng tầm mắt, nâng cao vốn hiểu biết về văn hóa, lịch sử của dân tộc hay địa phương

Trang 26

- Du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống Đối tượng du lịch của loại hình này rất phong phú về thể loại và có giá trị giải trí cao Các loại hình nghệ thuật truyền thống bao gồm: hội họa, điêu khắc, sân khấu, âm nhạc và múa, điệu nhảy, Các loại hình này khi được khai thác thành các sản phẩm du lịch sẽ có giá trị văn hóa lịch sử lớn, hấp dẫn

du khách Qua đó, họ sẽ khám phá được những nét văn hóa cổ truyền đặc sắc của mỗi dân tộc

- Du lịch làng nghề Làng nghề là nơi chuyên sản xuất một mặt hàng thủ công truyền thống đặc trưng cho các địa phương Làng nghề chứa đựng nhiều giá trị văn hóa bản địa như phương thức sản xuất, nghệ nhân, các di tích gắn với ông tổ nghề, Các làng nghề có sức hút lớn đối với du khách đặc biệt là lứa tuổi trung niên Đến làng nghề, ngoài việc tham quan, du khách có thể trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất sản phẩm

- Du lịch tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa Cùng với các di tích lịch sử - văn hóa, các bảo tàng cũng là đối tượng khách du lịch rất quan tâm Thông qua mạng lưới bảo tàng du khách có thể tìm hiểu lịch sử, những mặt nhất định của đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân

1.2.2 Du lịch văn hóa tâm linh

1.2.2.1 Quan niệm

Du lịch văn hóa tâm linh vốn là một thực thể đã có mặt hàng trăm năm nay trên khắp thế giới Xưa nay, mọi người vẫn quen dùng danh từ hành hương để nói về chuyến đi của mình Tuy nhiên, từ hành hương chưa thể nói hết được tính chất, ý nghĩa và mục đích của chuyến đi Hành hương mang nặng ý nghĩa tâm linh, nhưng trong mỗi chuyến đi không phải tất cả mọi người đều chỉ có duy nhất mục đích mang ý nghĩa tín ngưỡng, mà có một bộ

Trang 27

phận tuy tham gia chuyến hành hương nhưng thiên về du lịch nhiều hơn là tín ngưỡng Thậm chí, những người lấy tín ngưỡng tâm linh làm mục đích chính của chuyến đi, nhưng cũng không khỏi có những cảm xúc thú vị của một người đi du lịch được thưởng ngoạn cảnh đẹp kỳ thú của thiên nhiên, được tiếp cận với những phong tục tập quán của đời sống cư dân địa phương và được hưởng các tiện ích của dịch vụ du lịch Vì vậy, các chuyến đi như vậy cần sử dụng một khái niệm phù hợp hơn và nhất thiết phải bao gồm cả hai yếu

tố là du lịch và tâm linh

Du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh – tín ngưỡng Đây là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn Du lịch nhằm mở mang kiến thức về thiên nhiên và con người nơi đến, cũng như giúp xả stress rất hiệu quả Tâm linh ở đấy tức là nói đến tín ngưỡng Tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian làm thỏa mãn niềm tin đối với các biểu tượng thiêng liêng mà họ ngưỡng vọng Vì vậy, điểm đến của các chuyến đi thường là những địa điểm thiêng liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng như chùa chiền, đền miếu, thánh đường hoặc những thánh tích

Đến nơi ấy, họ không chỉ lĩnh hội được đầy đủ thông tin về cội nguồn tín ngưỡng tôn giáo của mình mà trong suốt quá trình hành hương đó họ còn được sống cùng nhau trong một môi trường tâm linh: chiêm bái, cầu nguyện, thực tập phép an tâm để tu dưỡng tinh thần, tạo sức mạnh cho niềm tin và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi thức truyền thống, Vì vậy, du lịch văn hóa tâm linh phải đáp ứng được mục đích của chuyến du lịch đặc thù dựa trên những cơ sở đó

Tóm lại, du lịch văn hóa tâm linh cũng là một loại hình du lịch văn hóa nhưng khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du

Trang 28

lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của du khách Du lịch văn hóa tâm linh cũng có thể dùng các khái niệm thay thế như du lịch tín ngưỡng tâm linh, du lịch tôn giáo

Loại hình du lịch này hoạt động phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần Trong quá trình phát triển phải không ngừng bảo tồn các di tích có ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, nhà thờ hay các nghi lễ truyền thống,

lễ hội, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực Vì đó là đối tượng chính tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách

1.2.2.2 Mục đích du lịch Trong bất cứ hoạt động nào của con người, họ đều có mục đích nhất định Mục đích có vai trò định hướng hoạt động để đạt được những mục tiêu

đã đề ra Cũng như vậy, khi thực hiện đi du lịch, con người cũng mang trong mình những mục đích khác nhau Mỗi người có những đặc điểm tâm lý, sở thích, tôn giáo, trình độ, nghề nghiệp riêng biệt nên mục đích đi du lịch của

họ cũng rất đa dạng phong phú Thông thường, người ta nhóm thành hai loại chính: mục đích du lịch thuần túy và mục đích du lịch kết hợp Đối với loại hình thứ nhất, du khách thường có mục đích cụ thể là tham quan, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, thể thao, giải trí Còn loại hình thứ hai, du khách có rất nhiều mục đích kết hợp trong các chuyến du lịch như mục đích tôn giáo, tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, công vụ, thể thao, thăm thân, hành hương Tương ứng với mục đích du lịch của du khách, các loại hình du lịch được hình thành: du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch tôn giáo, du lịch hành hương, Trong đó, loại hình du lịch văn hóa tâm linh cũng giúp cho du khách

có thể thực hiện mục đích kết hợp du lịch và tâm linh Các mục đích cụ thể là:

Trang 29

- Tham quan Tham quan là hành vi giúp du khách quan sát, chiêm nghiệm, tìm hiểu

về đối tượng Tham quan cũng là hoạt động quan trọng để du khách nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh hay các điểm đến cụ thể Trong loại hình du lịch văn hóa tâm linh, du khách có thể trực tiếp chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các

di vật tại các chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, thánh thát, thánh địa, Từ đó, họ

có thể hiểu hơn về những giá trị văn hóa đặc sắc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán,

Các đối tượng tham quan của du lịch văn hóa tâm linh không phụ thuộc vào thời gian mà có thể tổ chức quanh năm ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Du khách có tham gia vào chuyến hành trình vào bất cứ thời điểm nào

họ mong muốn

- Nghỉ dưỡng Với hoạt động nghỉ dưỡng, du khách có thể phục hồi sức khỏe sau những ngày lao động vất vả cũng như nâng cao khả năng lao động của mình Ngày nay, nhu cầu đi nghỉ của con người ngày càng tăng do sức ép của công việc căng thẳng, của môi trường ô nhiễm, của các quan hệ xã hội, Đặc biệt, nhu cầu tăng lên rõ rệt vào các ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ Điểm đến cho các chuyến nghỉ dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu

dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục, Ngoài ra, một số điểm đến có sự kết hợp giữa phong cảnh với các di tích hay công trình kiến trúc tạo ra một không gian thanh tịnh, hữu tình như Chùa Hương, Yên Tử, Tây Thiên, Sóc Sơn cũng

có thể là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng Trong thời gian nghỉ ngơi, du khách có thể kết hợp tham quan, tìm hiểu các đối tượng gắn với di tích tôn giáo làm cho chuyến du lịch của mình thêm phong phú

Trang 30

- Tham dự lễ hội Đến lễ hội, du khách được tham gia trực tiếp các hoạt động tôn giáo với không khí náo nhiệt và sống động Các hoạt động đó được tái tạo qua những hoạt động sống của sinh hoạt lễ hội chùa, đền, phủ, quán, nhà thờ, thánh thất Thông qua các thành tố của lễ hội bao gồm các nghi thức, nghi lễ, vũ điệu, trang phục, ẩm thực họ có thể cảm nhận giá trị văn hóa một cách sống động

Tham gia vào lễ hội, du khách hòa mình vào không khí sống động của

lễ hội tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng Hơn nữa, du khách còn tìm thấy ở

lễ hội bản thân mình, quên đi những áp lực của cuộc sống đời thường

Tuy nhiên, du lịch lễ hội có đặc trưng cố định về thời gian Vì các lễ hội tôn giáo đều được tổ chức theo lịch trình cụ thể mà mỗi tín ngưỡng tôn giáo đã đặt ra Do đó, du lịch lễ hội tôn giáo là có tính mùa vụ Du khách chỉ

có thể tham gia vào loại hình này tại những thời điểm đã được ấn định

- Tôn giáo, tín ngưỡng

Từ xưa, các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu

sĩ, thực hiện lễ nghi tôn giáo của tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo rất phổ biến Ngày nay, du khách hoặc các tin đồ cũng thực hiện các chuyến du lịch văn hóa tâm linh để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo Đi du lịch với mục đích này trở nên ngày càng phổ biến đối với du khách Không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, dân tộc, họ cùng có chung một nhu cầu tìm kiếm cảm giác bình yên,

sự tĩnh tâm từ những chuyến đi Điểm đến của du khách chính là các chùa chiền, đền phủ, nhà thờ, thánh thất, lễ hội, tôn giáo,

1.2.2.3 Hình thức du lịch

- Hình thức cá nhân

Du lịch cá nhân là loại hình mà trong đó những du khách riêng lẻ đến

ký hợp đồng mua sản phẩm của cơ quan cung ứng du lịch Trong trường hợp

Trang 31

này, du khách phải lệ thuộc hoàn toàn vào các điều kiện nhà cung ứng đưa ra như lịch trình, hành trình, các điều kiện khác, Giá dịch vụ sẽ cao hơn khoảng 10 – 25% so với hình thức hợp đồng tập thể

Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, du khách đi theo hình thức này thường là một hoặc vài cá nhân đơn lẻ không theo tour theo đoàn Vi vậy,

họ tự túc toàn bộ trong chuyến đi mà không cần phải thông qua các tổ chức du lịch Họ có thể tự do lựa chọn từ điểm đến, phương tiện, đến các dịch vụ khác Trong trường hợp này, họ thường chỉ sử dụng các dịch vụ tại các điểm đến: trông giữ xe, đồ đạc, thuê các vật dụng, ăn uống, nghỉ ngơi,

- Hình thức tập thể

Do du lịch là một trong các hoạt động của cá nhân nhằm hòa mình vào tập thể nên đại đa số các chuyến đi mang tính tập thể Sinh viên, học sinh đi theo lớp, cán bộ công nhân viên đi theo cơ quan, người dân đi theo hội đồng niên, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, Đi theo hình thức này, tập khách thường có người đại diện (trưởng đoàn) chị trách nhiệm về tất cả các dịch vụ, hoạt động của chuyến đi Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, người trưởng đoàn còn phải đại diện thực hiện các nghi lễ tại các điểm du lịch: dâng hương, hoa quả Các cá nhân trong đoàn đều ràng buộc mình vào tập thể Do vậy, đoàn khác có tính tổ chức rất cao Hình thức này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung ứng dịch vụ du lịch Bởi, tập khách này bao giờ cũng có những điểm tương đồng về trình độ, sở thích, tâm lý, nghề nghiệp, nên việc phục vụ cũng dễ dàng theo một mẫu chuẩn

1.2.2.4 Điểm đến của du lịch văn hóa tâm linh

Du lịch là hoạt động liên quan đến những chuyến đi của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác – một địa điểm cụ thể để thỏa mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi Địa điểm du khách tới có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia thậm chí

Trang 32

là một châu lục Trong khoa học du lịch, các địa điểm đó được gọi chung là điểm (nơi) đến du lịch (tourist destination) Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, điểm đến chủ yếu là các di tích gắn với tôn giáo và tín ngưỡng như chùa, đình, đền

 Di tích tôn giáo

- Văn Miếu Đây là công trình kiến trúc công cộng để thờ Khổng Tử và các bậc tiên nho, tiên triết; ngoài ra còn bao gồm hệ thống các trường học, trường thi

mà ở đó diễn ra quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân tài dưới các triều đại phong kiến Việt Nam

- Chùa Trong các kiến trúc tôn giáo ở Việt Nam, nơi thờ Phật được gọi là chùa phân biệt với đền, miếu hoặc nhà thờ, chỉ nơi thờ các vị thần thánh trong các tín ngưỡng tôn giáo khác Xuất phát ban đầu ở Ấn Độ, nơi đặt xá lỵ, tro than hỏa táng đức Phật Thích Ca gọi là Stupa Dần về sau những Stupa cũng biến thành nơi đặt tượng thờ Phật trong đó Khi Phật giáo du nhập vào nước ta, những kiến trúc được dựng lên để thờ Phật cũng gọi là Stupa Suốt thời Bắc thuộc cho đến thời Lý, nơi thờ Phật đều gọi là Stupa, dần Stupa được phiên

âm Việt hóa chu-a-chùa Như vậy, chùa là kiến trúc được dựng lên để thờ Phật Còn tháp cũng là Stupa, phiên âm ra tiếng Hán là đồ ba, tháp ba, dần chỉ gọi chữ tháp với nghĩa là mộ chí của các nhà tu hành đạo Phật

Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt cổ, còn có từ chiền Ngày nay, từ này chỉ còn trong từ chùa chiền, chỉ chung các kiến trúc Phật giáo Nhưng xưa kia, chiền có thể dùng độc lập, như "chiền vắng am thanh" trong bài phú "Cư Trần lạc đạo" của Trần Nhân Tông (1258 – 1308) hoặc "Cảnh ở tự chiền" trong "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi (1380 – 1442) Một số người cho

Trang 33

rằng từ chiền có thể có gốc từ từ Cetiya, Cetiyan (Pali) hay Caitya (Sanskrit), chỉ điện thờ Phật

Kiến trúc chùa rất đa dạng và mang đặc trưng riêng của mỗi thời đại Kiến trúc chùa là sự hòa quện giữa các tòa nhà, tòa tháp và cảnh quan Tùy theo cách bố trí những tòa nhà này mà người ta chia thanh những kiểu chùa khác nhau Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán

có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa: chữ Đinh, chữ Công, chữ Tam, chữ Quốc

Để tạo ra một thế giới quan gần thiên nhiên, tĩnh lặng nhưng tươi đẹp, chùa Việt Nam thường có vườn cây, vườn hoa được chăm chút cẩn thận Nhiều chùa có cả ao, hồ sen, giếng nước trong mát

Chùa là nơi tập trung của các sư, tăng, sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật Ở nơi này mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo Hiện nay, chùa trở thành điểm du lịch thu hút du khách

Chùa từ lâu đã trở thành sản phẩm du lịch văn hóa của ngành du lịch Tiềm ẩn nhiều gá trị, ngôi chùa mang trong mình tính đa dạng về cảnh quan, kiến trúc, trang trí, nội thất Sự đa diện trong sinh hoạt văn hóa thông qua các

lễ hội, sinh hoạt của tăng chúng – phật tử, văn hóa ẩm thực, phản ánh những ảnh hưởng của giáo lý nhà Phật Vì vậy, di sản văn hóa Phật giáo là một giá trị có khả năng tạo nên những lực hút thúc đẩy du lịch phát triển, nhất là du lịch văn hóa tâm linh

Du khách đi du lịch đến các di tích Phật giáo như chùa tháp để thực hiện những ý niệm thiêng liêng cũng như nâng cao hiểu biết về tôn giáo này thông qua các đối tượng cụ thể như kiến trúc, điêu khắc, tượng thờ, di vật

Trang 34

- Nhà thờ Kitô giáo Nhà thờ Kitô giáo thường được gọi là thánh đường Tùy theo tính chất, điều kiện và đặc thù của các địa phương mà nhà thờ có nhiều cấp độ khác nhau Nhà thờ Kitô giáo được chia thành 4 hạng: nhà thờ chính tòa, nhà thờ chính xứ, nhà thờ chính họ, nhà nguyện (chuyên đọc kinh trong đó, bao gồm nhà nguyện công, nhà nguyện tư, nhà nguyện dòng)

Khác với các công trình kiến trúc của các tôn giáo, tín ngưỡng phương Đông thường bài trí thờ ngang trong công trình, nhà thờ Kitô giáo thường kết cấu thờ dọc tạo sự hướng tâm Bình đồ của nhà thờ phải phục vụ cho các nghi

lễ và cả tín đồ tụng niệm Vì vậy, kiến trúc của nhà thờ dù lớn hay nhỏ đều chia thành ba khu chính: buồng áo; gian thánh; khu hội chúng

 Di tích tín ngưỡng

- Đình

Đình là kiến trúc công cộng của làng Kiến trúc được dựng lên làm nơi thờ thần của làng và là nơi diễn ra lễ hội làng, là nơi họp bàn công việc của làng Kiến trúc được gọi tên là đình, tên đó bắt nguồn từ tên gọi dịch đình, đình trạm Những kiến trúc được dựng lên ở mỗi cung độ đường, để nhà vua

đi tuần du và khách bộ hành có chỗ nghỉ ngơi Vào thời vua Trần Thái Tông (1225-1258), vua xuống chiếu hễ nơi nào có dịch đình, phải tô tượng Phật đặt thờ trong đó, để đáp ứng Phật giáo mở rộng lúc bấy giờ Sang thời Lê ruộng đất tư hữu phát triển, vai trò các làng được cố kết, mở rộng thêm nhu cầu về ngôi đình chung tăng lên Ở nơi nào thuận tiện cho việc đi lại chợ búa phát triển, ngôi đình trạm biến thành ngôi đình chợ, ngôi đình trạm nào gần làng thì biến thành ngôi đình làng, hoặc làng dựng những kiến trúc riêng của làng gọi là đình làng để làm nơi thờ thần và họp làng

Thờ thần trong các ngôi đình làng người Việt là thần sông, thần núi, thần là vị có công đánh giặc, là tổ nghề, là người lập ra làng, có sự tích cụ thể

Trang 35

Cũng từ thời Lê, nhà nước phong kiến bắt đầu phong sắc cho các thần ở các làng, gọi chung là thần thành hoàng Cái tên thần thành hoàng là từ bên trên dội xuống cho làng Cái tên là do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cổ Ở bên nước đó, nơi dân cư trú có thành và hào bao bọc Người ta thờ thần bảo

vệ làng gọi là thần thành hào Lâu ngày sang ta gọi là thần thành – hoàng để

tỏ ý tôn kính thần Cùng với chức năng trên đình còn gọi là trụ sở hành chính của làng

Đình làng bắt đầu có lẽ chỉ là một kiến trúc nhỏ gồm 3 gian và hai chái, sau đó số gian phát triển lên đến 5, 7 hoặc 9 gian (số lẻ) cộng thêm kiến trúc phía sau gọi là hậu cung, thêm phía trước gọi là tiền tế, thêm hai bên gọi là tả

vu và hữu vu

- Đền Đền là kiến trúc được dựng lên để thờ thần Đền là tiếng biến âm từ chữ điện trong tiếng Hán Đền tiếng Hán cũng gọi là từ Nhà thờ họ cũng gọi là từ đường Đền không phải là kiến trúc phổ biến của làng, nhiều làng không có đền, nhiều làng lấy đền thay đình Ví dụ như làng Thủ Lệ, làng Thụy Khuê,

Hà Nội chỉ có đền thờ thần Linh Lang Nhưng cũng có làng có đình lại có đền, ví như làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội

Đền được kiến trúc cũng giống như đình, cũng có nội điện (nhà hậu cung) và đại bái (thượng điện) nhưng với quy mô nhỏ Hai bên tả hữu thường hẹp, có đặt nhiều bàn thờ để người đến lễ bầy lễ vật dâng hương

- Miếu

Miếu thường có ba loại Miếu thờ thần tự nhiên: thần cây, thần đá, thần núi, thần sông, thần giếng Miếu thờ tổ ngành nghề, văn chỉ, văn miếu, thờ Khổng Tử người lập ra Nho giáo, thờ các thầy dạy nho học Võ miếu thờ quan võ Y miếu thờ ông tổ về y học Tôn miếu, miếu thờ tổ tiên nhà vua thái

Trang 36

miếu, thế miếu Thời phong kiến miếu còn là biểu tượng của về Tổ quốc, gọi tôn miếu

- Phủ

Phủ là nơi thờ mẫu Mẫu được tôn là các bà chúa, chúa sơn lâm, chúa Liễu Hạnh Chúa thì ở phủ, phủ chúa Trịnh, phủ chúa Nguyễn, còn đế vương thì ở cung điện Phủ xuất hiện muộn hơn, trước kia thờ mẫu cũng ở đền

1.2.2.5 Khách du lịch của du lịch văn hóa tâm linh Theo Luật du lịch: "Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi

du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến." Quan niệm này nhận định khách du lịch ở góc độ mục đích về chuyến đi của họ ở nơi đến nhưng chưa chỉ rõ thời gian và nơi đến của họ

Một quan niệm phổ biến về khách du lịch được nhiều quốc gia sử dụng: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24h trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm Đối với những du khách lưu lại ở nơi đến không quá 24h, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm được gọi là khách tham quan hay khách du lịch trong ngày

Tuy nhiên, để có thể hiểu một cách rõ ràng hơn về khách du lịch hay cần bắt đầu từ khái niệm khách Theo từ điển tiếng Việt 1994, ý nghĩa cơ bản của từ khách là người từ bên ngoài đến trong quan hệ với người đón tiếp, phục vụ Khách rõ ràng phải được định nghĩa từ phía đón tiếp chứ không phải

từ nơi đi như ở quan niệm nêu trên.[40,tr18]

Khách tham quan là một loại khách đến với mục đích nâng cao nhận thức tại chỗ có kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất hay

Trang 37

dịch vụ, song không lưu lại qua đêm tại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch.[40,tr19]

Khách du lịch đề cập trong luận văn này được tiếp cận theo góc độ là khách đến trong quan hệ với những cơ sở đón tiếp là các điểm du lịch văn hóa tâm linh Họ thường thực hiện chuyến đi trong ngày và không lưu lại qua đêm tại cơ sở lưu trú của ngành du lịch Do vậy, khách du lịch văn hóa tâm linh ở đây được hiểu là khách tham quan Vì vậy, khách du lịch được khảo sát trong luận văn bao gồm người Hà Nội trong đó có người dân quận Đống Đa đến các điểm du lịch văn hóa tâm linh của quận Đống Đa

1.2.2.6 Hiệu quả của du lịch văn hóa tâm linh

Về phương diện lịch sử, du lịch văn hóa tâm linh mang đến cho du khách cái nhìn bao quát về bối cảnh lịch sử ra đời và phát triển của các tín ngưỡng tôn giáo, bên cạnh các giá trị thẩm mỹ từ nghệ thuật, kiến trúc của di tích, công trình kiến trúc

Về phương diện niềm tin, du khách có cơ hội xác định niềm tin của mình đối với một tôn giáo tín ngưỡng cụ thể Niềm tin sẽ giúp cho du khách cảm nhận được các giá trị thiêng liêng gắn với các biểu tượng cụ thể của các

di tích danh thắng

Về phương diện tâm linh, sau chuyến du lịch nhiều du khách đã có những thay đổi về tư duy và hành xử cuộc sống hướng thiện, hiểu rõ về ý nghĩa n hân sinh và giá trị cuộc sống; nhờ đó, sống sâu sắc hơn cho chính mình, cho người thân và cho xã hội

Ngoài việc thúc đẩy kinh tế du lịch, phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch văn hóa tâm linh nếu được phát triển lành mạnh, đúng hướng, còn mang lại nhiều giá trị truyền thống, những giá trị tinh thần, những giá trị văn hóa lịch

sử Xã hội càng phát triển, cuộc sống càng xô bồ, con người càng hướng tới

Trang 38

đức tin Những đức tin lành mạnh sẽ giúp con người hướng thiện, loại dần cái

ác, đem đến sự an lành của hồn người trong xã hội đầy biến động

Tiểu kết chương 1

Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch dựa vào các loại tài nguyên nhân văn: các di tích, lễ hội, các sự kiện Dựa trên các nhu cầu của khách du lịch, loại hình này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như du lịch tôn giáo, du lịch tham quan, du lịch lễ hội, du ngoạn Dù ở hình thức nào thì du khách cũng được thỏa mãn nhu cầu tâm linh Họ được đến với các không gian thiêng (đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ, ), chiêm ngưỡng các đối tượng thiêng (hệ thống tượng, di vật, ), thực hiện ý niệm linh thiêng tồn tại trong mỗi người Không những vậy, loại hình du lịch văn hóa tâm linh giúp

du khách kết hợp cả mục đích du lịch (thăm thú, du ngoạn, nghỉ ngơi, ) với mục đích tôn giáo (cầu khấn, hành lễ, ) Cũng như các loại hình du lịch khác, sau mỗi chuyến đi, họ có thể mở mang vốn hiểu biết, nâng cao nhận thức về các điểm đến Với những đặc trưng như vậy, loại hình du lịch văn hóa tâm linh cần được nghiên cứu khảo sát ở các đối tượng cụ thể trong phạm vi nhất định để đưa ra những nhận định, đánh giá hợp lý, xây dựng thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn cho du khách

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI (QUA KHẢO SÁT Ở QUẬN ĐỐNG ĐA)

2.1 Khái quát về Hà Nội

2.1.1 Hà Nội

Hà Nội – một trái tim hồng, thủ đô thân yêu của cả nước Hà Nội vốn

có vị thế đặc biệt quan trọng, là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa của đất nước Hà Nội mảnh đất kinh kỳ, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu

Nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nội có vị trí tư 20o

53' đến 21o

23' vĩ độ Bắc và 105o44' đến 106o

02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hòa Bình và Phú Thọ ở phía Tây

Thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của triều Lý, quyết định chọn vùng đất này để xây dựng kinh đô mới với tên Thăng Long Trong suốt triểu đại

Lý, Trần, Lê, Mạc kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc Khi triều Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên

Hà Nội từ năm 1831, dưới đời vua Minh Mạng Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại Trải qua các cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc

Sau chiến tranh, Hà Nội vẫn tiếp tục giữ vai trò thủ đô của quốc gia Việt Nam thống nhất Ngày 21 tháng 12 năm 1978, quốc hội phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh Phú là Mê Linh, Sóc Sơn Năm 1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, trả lại 5 huyện và một thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm

Trang 40

1978 cho Hà Tây và Mê Linh được nhập vào Vĩnh Phú Hà Nội còn lại 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km2 Đến 1/2008, Hà Nội có 14 đơn vị hành chính gồm 9 quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai và 5 huyện Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì

Ngày 29 tháng 5 năm 2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội

đã thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực vào ngày 1 tháng 8 cùng năm Theo nghị quyết, toàn bộ tỉnh

Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình được nhập về Hà Nội Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích là 3.324,92km2 và dân số 6.232.940 người, nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới Hiện, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 quận 1 thị xã

và 18 huyện và 580 đơn vị hành chính cấp xã

Như vậy, Hà Nội đã trải qua 3 lần mở rộng địa giới hành chính Trong các lần mở rộng Hà Nội hoặc là sáp nhập hoặc trả lại một số vùng cho các tỉnh lân cận Một điều đáng chú ý là vùng Hà Nội trung tâm đặc biệt là 4 quận nội thành cũ: Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa mà xưa chính là đất kinh kỳ lại không chịu nhiều biến động trong các lần thay đổi đó Vì vậy, các quận này vẫn không thay đổi về chính trị văn hóa cũng như dân cư Do

đó, khi nghiên cứu về Hà Nội thì các quận này sẽ là gốc để xem xét về những vấn đề liên quan đến văn hóa của người Hà Nội

Do đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài, Hà Nội phải mang tính chất tiêu biểu, đại diện cho tất cả các yếu tố về văn hóa, chính trị xã hội, con người Vì vậy, về góc độ văn hóa du lịch, tác giả chọn Hà Nội cũ hay Hà Nội chưa mở rộng để giới hạn phạm vi cho luận văn

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Toan Ánh (1991), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1991
3. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội 4. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2004), Pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1990
5. Nguyễn Viết Chức (2010), Nếp sống người Hà Nội từ truyền thống của thủ đô Hà Nội, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp sống người Hà Nội từ truyền thống của thủ đô Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
6. Lý Khắc Cung (2009), Hà Nội văn hóa và phong tục, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội văn hóa và phong tục
Tác giả: Lý Khắc Cung
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
7. Nguyễn Trọng Đàn (2003), Thăng Long Hà Nội, Nxb Thống kê, Hà Nội 8. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàn
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
9. Nguyễn Đăng Duy (1997), Văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1997
10. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
11. Mai Thanh Hải (1998), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
12. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam với Đạo giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
13. Nguyễn Duy Hinh (2007), Tâm linh Việt Nam, Nxb Viện văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm linh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Viện văn hóa Hà Nội
Năm: 2007
14. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 2, tr.40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Tạp chí văn hóa nghệ thuật
Năm: 1999
15. Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
16. Karl Heinric Marx (2000), Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Karl Heinric Marx
Nhà XB: Nxb Chính trị Hà Nội
Năm: 2000
17. Hồ Văn Khánh (2006), Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh
Tác giả: Hồ Văn Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
18. Vũ Ngọc Khánh (2001), Đạo Thánh ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Thánh ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
21. Nguyễn Đức Lữ (2009), Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, Nxb Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: Nxb Học viện Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
22. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 23. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
24. Hữu Ngọc (1995), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Hữu Ngọc
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1995
25. Hoàng Minh Ngọc (2006), Nhu cầu đi lễ chùa của người Hà Nội qua nghiên cứu thực tế, Tâm lý học, số 2, tr26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đi lễ chùa của người Hà Nội qua nghiên cứu thực tế
Tác giả: Hoàng Minh Ngọc
Nhà XB: Tâm lý học
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w