1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Công Tác Xã Hội, Học Sinh Tiểu Học, Giáo Dục Hòa Nhập, Dịch Vụ Xã Hội.pdf

128 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Hòa Nhập Cho học Sinh Tiểu Học Sống Tại Làng Trẻ SOS Hà Nội
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THẾ TÌNH GI¸O DôC HOµ NHËP CHO HäC SINH TIÓU HäC SèNG T¹I LµNG TRÎ SOS Hµ NéI LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THẾ TÌNH

GI¸O DôC HOµ NHËP CHO HäC SINH TIÓU HäC

SèNG T¹I LµNG TRÎ SOS Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THẾ TÌNH

GI¸O DôC HOµ NHËP CHO HäC SINH TIÓU HäC

SèNG T¹I LµNG TRÎ SOS Hµ NéI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Với tinh thần, thái độ làm việc, nghiên cứu khoa học nghiêm túc tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đƣợc nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì đƣợc công

bố trong luận văn của mình

Hà Nội, 12/2014

Lê Thế Tình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết khoa học 9

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Phạm vi nghiên cứu 11

10 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC SỐNG TẠI LÀNG TRẺ SOS HÀ NỘI 12

1.1 Một số vấn đề cơ bản của đề tài 12

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 12

1.1.2 Chương trình GDHN cho HSTH 14

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội và các TTBTXH 20

1.1.4 Vai trò của NVCTXH trong GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội và các TTBTXH 26

Trang 5

1.1.5 Tiêu chí đánh giá GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà

Nội dưới góc độ CTXH 31

1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 34

1.2.1 Lý thuyết hệ thống môi trường sinh thái 35

1.2.2 Thuyết nhu cầu của A.Maslow 37

1.2.3 Thuyết nhận thức - hành vi 41

1.3 Một số văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 43

1.3.1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em 43

1.3.2 Văn bản pháp lí Việt Nam về quyền trẻ em 44

1.4 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 46

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 49

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC HÕA NHẬP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC SỐNG Ở LÀNG TRẺ SOS HÀ NỘI DƯỚI GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI 50

2.1 Thực trạng giáo dục hòa nhập cho học sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội 50

2.1.1 Về nội dung giáo dục 50

2.1.2 Về phương pháp giáo dục 69

2.1.3 Về hình thức tổ chức giáo dục 81

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội 87

2.2.1 Gia đình – cộng đồng làng trẻ 87

2.2.2 Trường Hermann Germeiner 88

2.2.3 Cộng đồng và các tổ chức xã hội 89

2.2.4 Bản thân trẻ sống ở làng SOS Hà Nội 90

2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội dưới góc độ CTXH 91

Trang 6

2.3.1 Giải pháp của CTXH đối với HSTH và gia đình của trẻ 91

2.3.2 Giải pháp của CTXH trong việc trợ giúp giáo viên thực hiện các nhiệm vụ GDHN tại trường tiểu học 96

2.3.3 Giải pháp của CTXH trong việc trợ giúp cán bộ quản lý làng trẻ và cán bộ quản lý trường học 100

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 114

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc trong làng trẻ SOS Hà Nội 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là một lĩnh vực mà mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm, ở Việt Nam giáo dục luôn luôn được Đảng ta coi là quốc sách hàng đầu Hiện nay, giáo dục của Việt Nam đang có những đổi mới mạnh mẽ theo hướng tích cực Những kết quả đó có được là do sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI định hướng đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục là xây dựng 4 mục tiêu của quá trình giáo dục - đào tạo:

“Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống” Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt nam giai đoạn 2009-2020 nêu rõ:

“Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thoả mãn nhu cầu cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập” Như vậy,

giáo dục của Việt Nam đang phát triển theo hướng đào tạo ra những con người có tri thức toàn diện trong công việc, trong cuộc sống và giáo dục không phải chỉ là sự nghiệp của một cá nhân mà là sự nghiệp của toàn xã hội

Những mục tiêu trên cũng được đề cập trong Luật Giáo dục của Việt

Nam: “Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập, mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập” (Điều 11) “Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định, chăm lo

sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện môi trường giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” (Điều 12) Trong đó

Luật giáo dục đặc biệt quan tâm đến nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (bao gồm trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật, tàn tật…)

Điều luật về chăm sóc và giáo dục trẻ em lưu ý rõ: “Phải tạo điều kiện cho trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được học tập hoà nhập hoặc được học ở

cơ sở giáo dục chuyên biệt”

Trang 10

- Học sinh tiểu học là lứa tuổi thiếu nhi có độ tuổi từ 6 - 11 tuổi, đây

là lứa tuổi có những thay đổi đáng kể về mặt sinh học và xã hội đầu đời con người Các em luôn tìm sự gần gũi yêu thương, chiều chuộng của người lớn khác giới, bé gái thường gần gũi với cha, bé trai thường gần gũi với mẹ Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng quan tâm sẽ gây ra ở các em những

ấn tượng lệch lạc về mặt nhân cách và ứng xử Các em bắt đầu thích làm quen với nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác Nếu nhận được sự che chở, cảm thông của người lớn các em sẽ dần dần thân thiết và tin cậy đến mức tuyệt đối Đặc trưng tâm lý độ tuổi này là các em rất nhạy cảm, dễ xúc động

vì vậy bất cứ hành động thô bạo nào đối với các em đều gây tổn thương và

để lại trong tâm trí của các em những ám ảnh khó phai nhạt Vì thế đối với hoc sinh tiểu học nói chung, học sinh tiểu học sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội

và các TTBTXH nói riêng rất cần sự quan tâm đặc biệt của mọi người khi các em đến trường

- Học sinh tiểu học đang sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội (TTBTXH) là đối tượng không được sống cùng người thân ruột thịt, không

có gia đình mà dựa hoàn toàn vào các tổ chức Bảo trợ xã hội Thực tế cho thấy học sinh tiểu học đang sống tại các TTBTXH thường có tâm lý bất ổn khi đến trường học vì khi đó cảm giác không có cha mẹ và không có một gia đình bình thường như những học sinh khác thể hiện rất rõ nét Các em thường sống khép mình, ít tiếp xúc với mọi người và ít tham gia các hoạt động tập thể Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập, rèn luyện

và phát triển nhân cách Hơn nữa, các em thường thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sự hoà nhập với môi trường xã hội Vì vậy, các em rất cần những người thương yêu, có trách nhiệm như người cha người mẹ và cần sự quan tâm nhiều hơn nữa từ phía nhà trường

cũng như toàn xã hội

Trang 11

Khi học sinh tiểu học không được hoà nhập trong các hệ thống trường học, xã hội thì thường tìm cách để hoà nhập vào những hệ thống không được

xã hội chấp nhận, chẳng hạn như vào băng đảng trên đường phố, internet – thế giới ảo với các trò chơi không lành mạnh Thế nhưng, giáo dục hoà nhập (GDHN) cho hoc sinh tiểu học có hoàn cảnh khó khăn nói chung, giáo dục hoà nhập cho học sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội và các TTBTXH nói riêng hiện còn tồn tại rất nhiều những vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết như: môi trường giáo dục hiện nay ở các trường tiểu học chưa được quan tâm đúng mức, các TTBTXH hiện đang vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc giáo dục hoà nhập cho các em khi đến trường, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa TTBTXH với trường tiểu học trong việc giáo dục hoà nhập cho các em, nội dung giáo dục chưa phù hợp, phương pháp giáo dục hòa nhập chưa được áp dụng tích cực và phổ biến, hình thức giáo dục chưa linh hoạt đa dạng Vì vậy, các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoà nhập ở trường tiểu học

Mặt khác, trong thực tế chưa có công trình chuyên ngành CTXH nào nghiên cứu nào về GDHN cho học sinh tiểu học ở làng trẻ SOS Hà Nội để từ

đó làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp cũng như cách thức trợ giúp

từ góc độ của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) chuyên nghiệp cho các

em Nên việc GDHN cho học sinh tiểu học ở Làng trẻ SOS Hà Nội vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục hoà

nhập cho học sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội” làm đề tài luận

văn thạc sỹ của mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Giáo dục hoà nhập đã và đang là một vấn đề cấp thiết được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Hiện nay, trên thế giới cũng có nhiều quan điểm về

Trang 12

GDHN, chẳng hạn: quan điểm “GDHN là phương thức nhằm thực hiện Giáo dục cho mọi người” đại diện cho quan điểm này là ở Lào, Ấn Độ, các nước

châu Phi, Ý, Tây Ban Nha, UNESCO, UNICEF, Liên minh các tổ chức cứu

trợ trẻ em và một số các tổ chức quốc tế khác hay quan điểm: “GDHN là một

bộ phận trong giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt của trẻ”, đây là cách nhìn nhận tương đối phổ biến về GDHN ở Mỹ và một số

nước ở châu Âu như Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Ở châu Á như Hồng Kông, Thái Lan, Philippine [33, 7-9]

Ngoài ra, cũng đã có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học bàn về vấn đề giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có việc đề cập đến vấn đề giáo dục hòa nhập cho học sinh tiểu học, chẳng hạn: tài liệu được xuất bản ở Anh do hai tác giả Tony Booth và Mel Ainscow soạn thảo đã được UNESCO công nhận giá trị và hiện đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế

giới đó là cuốn “Hướng dẫn thực hiện giáo dục hoà nhập” Đóng góp lớn nhất

của tài liệu là quan điểm không coi giáo dục hoà nhập là dành riêng cho học sinh khuyết tật hay học sinh có nhu cầu đặc biệt mà GDHN là giáo dục cho tất

cả mọi trẻ em và thanh thiếu niên

2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề GDHN cho học sinh tiểu học cũng đã được các cơ quan tổ chức, các nhà nghiên cứu, khoa học quan tâm, đề cập trong các công

trình nghiên cứu của mình Trong cuốn “Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xuất bản

năm 2000 [5], là một cẩm nang cho cán bộ các cấp cũng như ở các trung tâm bảo trợ xã hội (TTBTXH) làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Đây cũng là một tài liệu tham khảo có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình hành động quốc gia bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, tài liêu mới chỉ dừng ở việc khái quát về khái niệm,

Trang 13

thực trạng và một số giải pháp bảo vệ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mà chưa đề cập đến việc giáo dục hòa nhập cho các em Cũng đề cập về vấn đề

quyền trẻ em có tài liệu tập huấn Công ước về Quyền trẻ em “Tăng cường Quyền trẻ em” của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000 [10] Đây là tài

liệu tham khảo cho các cán bộ và những người quan tâm về nhóm Quyền trẻ

em Tài liệu tập trung giới thiệu các nhóm quyền cơ bản của trẻ em, đồng thời cung cấp một số phương pháp, nhận thức, kỹ năng thực hành cơ bản đối với các trường hợp nghiên cứu điển hình qua đó cung cấp cho những người làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em những kiến thức và kinh nghiệm để áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của cơ sở và bối cảnh của Việt Nam

Trong tài liệu “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học” – của Bộ

Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2006 [29] trong dự án phát triển giáo viên tiểu học chủ yếu nhằm hướng bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học cho giáo viên tiểu học Đóng góp của tài liệu đó

là về mặt thiết kế, trình bày được viết theo mô đun nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học; chú trọng sử dụng nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau (tài liệu, băng hình/băng tiếng ,) giúp cho người học dễ học, dễ hiểu và gây được hứng thú học tập Tài liệu này chỉ tập trung vào việc hướng dẫn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ trong vấn đề can thiệp, trợ giúp chủ yếu dành cho đối tượng trẻ khuyết tật ở tiểu học Trong kỷ yếu hội thảo Bệnh tự kỉ ở trẻ em có báo cáo của PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến với

tiêu đề: “Bước đầu thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ có rối loạn tự kỉ ở

Hà Nội” trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm hoạt động của lớp Tương

Lai đặt trong trường mầm non Bình Minh đề cập đến mô hình can thiệp sớm

Trang 14

và GDHN cho trẻ có rối loạn tự kỉ đầu tiên ở nước ta và đã được áp dụng thực hiện từ năm 2002 Tuy nhiên, báo cáo cũng mới chỉ đề cập đến mô hình GDHN trợ giúp cho đối tượng là trẻ tự kỉ và mô hình này cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn ở nước ta hiện nay

Trong cuốn “Quản lí giáo dục hòa nhập” của Bộ giáo dục và Đào tạo,

xuất bản năm 2010 [13] đây là tài liệu dành cho cán bộ quản lí các cơ sở giáo dục các cấp học, bậc học đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên các trường cao đẳng, đại học đào tạo về chuyên ngành quản lí giáo dục, CTXH, giáo dục đặc biệt Tài liệu tập trung làm rõ các khái niệm GDHN, người khuyết tật; nội dung, cách thức quản lí GDHN người khuyết tật; nội dung, cách thức quản lí GDHN trong các cơ sở giáo dục từ cấp mầm non đến cao đẳng, đại học và các trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN Tài liệu vừa mang tính phổ quát rộng về các cấp lại vừa mang tính cụ thể chi tiết trong việc áp dụng từng cấp quản lí GDHN nhằm hỗ trợ về mặt xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục hòa nhập để can thiệp trợ giúp

cho người khuyết tật ở Việt Nam nói chung Trong luận án: “Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hoà nhập môn Tự nhiên - Xã hội có trẻ khuyết tật trí tuệ” [33], TS.Nguyễn Thị Thân Thuỷ đã nghiên cứu về các phương pháp

dạy học trực quan qua môn học Tự nhiên - Xã hội cho trẻ chậm phát triển trí tuệ hoà nhập Tuy vậy, đề tài mới chỉ giải quyết được giáo dục hoà nhập trong một phạm vi rất nhỏ đó là một môn học cụ thể và đối tượng là trẻ chậm phát

triển trí tuệ Trong giáo trình: “Giáo dục hoà nhập cấp tiểu học cho Trẻ em

khuyết tật” của nhóm tác giả: Huỳng Thị Thu Hằng - Lê Thị Hằng - Trần Thu

Hoà của ĐH Đà Nẵng đã đưa ra được lý thuyết về giáo dục hoà nhập cấp tiểu học nhưng cũng chỉ dành cho đối tượng là trẻ em khuyết tật Ở lĩnh vực giáo dục đặc biệt, các tác giả như Đỗ Văn Ba, Lê Nguyên Huân, Lê Văn Tạc, Nguyễn Văn Hường, Trịnh Thiên Tự, Trần Văn Bích, Phạm Thị Phú có viết về

Trang 15

đồ dùng dạy học trong lớp học hoà nhập đối với các dạng trẻ khác nhau như khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ, ngôn ngữ, vận động, đối tượng ở đây mới chủ yếu tập trung vào nhóm trẻ khuyết tật

Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về mặt chuyên môn cho các bậc làm cha mẹ, cho cán bộ chăm sóc, giáo dục, giáo viên và những người quan tâm có điều kiện học hỏi, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, ở nước ta hiện nay đã ra đời một số website dành cho trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng như: www.webtretho.com, www.lamchame.com, www.tretuky.com Tuy nhiên, thông tin từ các trang mạng này còn quá ít,

sự tham gia hỗ trợ về kiến thức, chuyên môn của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, những người có kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu dừng ở mức độ bài viết, những sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến vấn đề GDHN cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở một trường học, địa phương nhưng thông tin còn mang tính nội bộ

Nhìn chung, ở nước ta hiện nay, vấn đề GDHN cho trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng đang được các cấp, các ngành

và cả cộng đồng quan tâm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, hầu hết các công trình, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, lí luận

và mới chỉ tập trung cho nhóm trẻ khuyết tật là chủ yếu Bên cạnh đó, hiện nay vẫn chưa có tài liệu, công trình nghiên cứu nào về GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội Do đó, để hướng đến đáp ứng nhu cầu GDHN tốt hơn cho học sinh tiểu học sống ở các TTBTXH nói chung và ở làng trẻ SOS nói riêng vẫn cần thiết có những công trình nghiên cứu khoa học vừa mang tính chiều sâu vừa mang tính phổ quát vừa có tính cụ thể để áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả trong việc trợ giúp cho các em nâng cao khả năng hòa nhập với môi trường trường học, cộng đồng xã hội trong tương lai Xuất phát từ lí do trên chúng tôi nhận thấy tính cấp thiết của đề tài có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn

Trang 16

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Về mặt lí luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận, phương pháp GDHN cũng như vai trò và phương pháp hỗ trợ của CTXH trong GDHN cho HSTH sống ở các TTBTXH Trên cơ sở đó để làm căn cứ lí luận bổ sung, hoàn thiện cho công tác GDHN cho HSTH ở làng trẻ SOS Hà Nội

3.2 Về thực tiễn

- Luận văn góp phần làm rõ thêm về cơ sở thực tiễn trong việc xây dựng những biện pháp cụ thể giúp cho cán bộ quản lí, cán bộ giáo dục, các bà mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các em có được những định hướng tốt hơn trong công tác GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội

- Luận văn cũng góp phần bổ sung nguồn học liệu, làm tài liệu tham khảo cho những nhà quản lí giáo dục, giáo viên giảng dạy, NVCTXH, sinh viên ngành CTXH về những vấn đề có liên quan đến GDHN cho HSTH có hoàn cảnh khó khăn sống ở các TTBTXH nói chung và HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng GDHN cho HSTH sống ở Làng trẻ SOS Hà Nội từ

đó đề xuất các biện pháp trợ giúp dưới góc độ CTXH nhằm nâng cao khả năng hòa nhập và tự hòa nhập cho các em

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về GDHN và phương pháp hỗ trợ của CTXH cho HSTH sống tại các TTBTXH và làng trẻ SOS Hà Nội

- Khảo sát thực trạng GDHN cho HSTH sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội

- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và nhu cầu của HSTH ở làng trẻ SOS Hà Nội khi học hòa nhập tại trường học

- Đề xuất một số biện pháp hỗ trợ của CTXH cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả GDHN đối với nhóm học sinh này

Trang 17

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

- Học sinh tiểu học sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội

- Cán bộ quản lí, cán bộ giáo dục và các bà mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho HSTH ở làng trẻ SOS Hà Nội

- Cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên tiểu học trường Hermann Germeiner

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục hoà nhập cho học sinh tiểu học ở Làng trẻ SOS Hà Nội

và cách tiếp cận hỗ trợ của CTXH

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Làng trẻ SOS Hà Nội đã có nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục như thế nào để giúp HSTH ở đây hòa nhập với trường học và xã hội?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội?

- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN cho HSTH ở đây?

Các em cần sự trợ giúp của những ai?

7 Giả thuyết khoa học

- Học sinh tiểu học sống ở Làng trẻ SOS Hà Nội luôn gặp phải những vấn đề khó khăn về tâm lý, các kỹ năng sống, phương pháp học tập và khả năng hòa nhập so với HSTH trong trường học nói chung

- Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của các em trong việc hòa nhập là do sự thiếu hụt trong phương pháp, cách thức giáo dục, chính sách hỗ trợ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhận thức của cộng đồng, công tác tuyên truyền giáo dục chưa phát huy tính hiệu quả

- Nghiên cứu và áp dụng các biện pháp GDHN trên cơ sở một nền tảng

Trang 18

lý thuyết vững chắc sẽ giúp các em hoà nhập được như những học sinh bình thường, đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục tiểu học, CTXH có vai trò tích cực trong việc trợ giúp HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội hòa nhập trong quá trình học tập tại trường học và xã hội

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

8.1 Phương pháp phỏng vấn sâu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với:

- Cán bộ quản lí, cán bộ giáo dục đang công tác tại làng trẻ SOS Hà Nội gồm 7 người trong đó: cán bộ quản lí (3 nam), 4 cán bộ giáo dục (2 nam và 2 nữ)

- Các bà mẹ, dì trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các em gồm: 16

bà mẹ và 7 dì

- Cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên trường Hermann Germeiner bao gồm:

2 cán bộ quản lí giáo dục (1 nam và 1 nữ); 5 giáo viên tiểu học (Nữ)

8.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung với:

- Các bà mẹ, dì trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các em, gồm: 2 nhóm (mỗi nhóm 5 người) mỗi nhóm tiến hành thảo luận 1 lần

- Các em HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội, gồm 4 nhóm (mỗi nhóm 10 học sinh), mỗi nhóm tiến hành thảo luận 1 lần

- Quan sát điều kiện vật chất của làng trẻ, hoàn cảnh sống của các em tại làng

Trang 19

8.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu, tham khảo các tài liệu về GDHN và vai trò của CTXH học đường cũng như các báo cáo của làng trẻ SOS Hà Nội để làm cơ sở lí luận, thực tiễn cho luận văn

- Nghiên cứu một số văn bản, chính sách liên quan đến đối tượng nghiên cứu từ đó đưa ra cách thức kết nối, hỗ trợ các dịch vụ CTXH cho các em

8.5 Phương pháp phân tích số liệu điều tra

Sử dụng phương pháp này trong việc việc phân tích, xử lí số liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát thực trạng GDHN của học sinh tiểu học ở Làng trẻ SOS Hà Nội để biết được những khó khăn và nhu cầu của các em khi theo học tại trường tiểu học, từ đó đề xuất các biện pháp hỗ trợ từ phía ngành CTXH nhằm nâng cao khả năng hòa nhập và tự hòa nhập trong môi trường trường học và môi trường xã hội cho các em

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 2 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục hòa nhập cho học

sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giáo

dục hoà nhập cho học sinh tiểu học ở Làng trẻ SOS Hà Nội dưới góc độ hỗ trợ của Công tác xã hội

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC SỐNG TẠI LÀNG TRẺ SOS HÀ NỘI

1.1 Một số vấn đề cơ bản của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

* Khái niệm giáo dục hoà nhập

Trước khi tìm hiểu khái niệm GDHN, chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm khái niệm và bản chất của hoạt động giáo dục

- Giáo dục

Giáo dục là một khái niệm đa nghĩa, khi phân tích giáo dục với tư cách

là một hiện tượng xã hội, ta thấy: giáo dục là dấu hiệu đánh giá trình độ văn minh của xã hội loài người, về bản chất đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm theo dòng lịch sử xã hội loài người

Giáo dục có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

+ Với nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động giữa nhà giáo dục với các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, kỹ năng sống, lao động ) Quá trình tương tác này được cụ thể hóa trong nhà trường chính là quá trình sư phạm tổng thể bao gồm hai quá trình bộ phận, đó là quá trình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp)

+ Với nghĩa hẹp: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội

Tóm lại, hoạt động giáo dục là quá trình được thực hiện bởi nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục bằng các phương pháp, cách thức cụ thể nhằm giúp đối tượng giáo dục hình thành nhân cách, hành vi, thói quen, lý tưởng, động cơ, tình cảm, năng lực phù hợp với chuẩn mực xã hội

Trang 21

- Giáo dục hòa nhập

Hoà nhập là một thuật ngữ để chỉ nhu cầu của tất cả mọi cá nhân được cảm thấy là một phần của cộng đồng xã hội Hoà nhập cũng có thể đề cập đến nhu cầu của một người cần cảm thấy mình là một phần của gia đình, của nhóm bạn cùng trang lứa hay của xóm làng, khu dân cư, của cộng đồng hay của xã hội Trong đó, nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc hoà nhập xã hội

GDHN là một thuật ngữ ngày càng được phổ biến hiện nay và có nhiều người quan tâm nghiên cứu bản chất của nó Thuật ngữ này được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hòa nhập, quy thuộc vào trường hòa nhập GDHN là phương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó có trẻ

em có hoàn cảnh khó khăn, trong lớp học bình thường của trường phổ thông

Hòa nhập không có nghĩa là "xếp chỗ” cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ

trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù….Trường hòa nhập là "Tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ” [13, tr.94]

Ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của bản thân thì hầu hết các tài liệu khi trình bày về GDHN thường gắn với các hoạt động cho Người khuyết tật, trong

đó nhấn mạnh đến việc đưa HS khuyết tật vào học cùng trường với HS bình thường, để các em được học chung một chương trình, được giao tiếp, hòa đồng với các bạn đồng trang lứa nhằm giảm sự mặc cảm cho HS khuyết tật, giảm sự

Trang 22

kỳ thị từ phía HS không khuyết tật và cộng đồng nhằm đem lại sự bình đẳng cho mọi thành viên trong xã hội Và đây là cơ hội tốt giúp các em khuyết tật hòa nhập tốt hơn với cộng đồng, xã hội Tuy nhiên, trong khái niệm về trẻ em

có hoàn cảnh khó khăn không chỉ có nhóm trẻ khuyết tật mà nó còn bao gồm nhóm trẻ em mồ côi, trẻ lang thang, trẻ em lao động sớm Do đó, khái niệm GDHN cần được hiểu một cách rộng hơn, bao quát hơn

Khái niệm GDHN cũng đã được đề cập, phản ánh trong nhiều văn bản hành chính, trong đó, theo thông tư 39/2009-TT-BGDĐT ban hành quy định về GDHN cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (trong đó có trẻ em mồ côi) giải thích

khái niệm GDHN như sau: Là phương thức giáo dục đáp ứng nhu cầu giáo dục

cá nhân cho mọi trẻ em trong giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, điều kiện kinh tế, thành phần xã hội, hoàn cảnh sống và điều kiện học tập

Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi xin phép được đưa ra khái niệm

GDHN: “GDHN là một bộ phận trong giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục cho mọi người”

- Bản chất của GDHN

GDHN dựa trên quan điểm tích cực, giáo dục cho mọi đối tượng học sinh Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố dầu tiên thể hiện bản chất của GDHN Trong GDHN không có sự tách biệt HS với nhau Mỗi trẻ đều có những năng lực nhất định, do đó trong quá trình giáo dục các em phải được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong các hoạt động giáo dục của nhà trường và cộng đồng với tư tưởng

“trường học cho mọi trẻ em trong một xã hội, cho mọi người” [19, 31-45]

1.1.2 Chương trình GDHN cho HSTH

Chương trình GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội được thể hiện ở mục tiêu GDHN đặt ra cho các em, nội dung cần GDHN, phương pháp giáo dục được sử dụng và hình thức tổ chức GDHN

- Mục tiêu GDHN

Trang 23

Mục tiêu của tổ chức SOS quốc tế nói chung và làng trẻ SOS Hà Nội nói riêng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho trẻ em đó là hướng đến sự phát triển toàn diện về các mặt: Đức – Trí – Thể - Mỹ Vì vậy, trong mục tiêu giáo dục hoà nhập cho các em trong làng trẻ là hình thành và phát triển nhân cách toàn diện, giúp trẻ tăng tính tự lập, tự tin, tăng khả năng học tập, đồng thời chuẩn bị tốt các kỹ năng giao tiếp, ứng xử xã hội, làm tiền đề cho trẻ em tự khẳng định, hoà nhập cộng đồng xã hội [27]

Bên cạnh đó, mục tiêu của giáo dục hoà nhập còn là tạo ra một môi trường giáo dục trong đó tất cả học sinh (bao gồm học sinh trong làng trẻ và học sinh bên ngoài) đều được tham gia cùng nhau trong hệ thống giáo dục nói chung Được vui chơi, học tập, được đáp ứng các nhu cầu giáo dục cơ bản và nâng cao mà không có bất kỳ sự phân biệt, rào cản nào

Mục tiêu GDHN cho HSTH được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc: + Mọi trẻ em đều có quyền nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ phía gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội

+ Mọi trẻ em đều được học tập bình đẳng trong các cơ sở giáo dục của

hệ thống giáo dục quốc dân, được giáo dục toàn diện về các mặt: kĩ năng sống, học văn hoá, hướng nghiệp, học nghề để hoà nhập cộng đồng

+ Mọi trẻ em được nhận một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh sống, nhu cầu và khả năng học tập trong từng giai đoạn phát triển của trẻ

- Nội dung GDHN cho HSTH:

Nội dung dạy học là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học Nội dung cùng với phương pháp dạy học có vai trò quyết định, hướng hoạt động của giáo viên và học sinh đạt được mục tiêu của giáo dục

Theo Luật giáo dục Việt Nam, nội dung dạy học được xây dựng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh ở từng độ tuổi, từng cấp học Dạy học ở tiểu học là sự kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến thức về khoa học

Trang 24

tự nhiên, kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn, hiểu biết ban đầu về nghệ thuật với rèn kỹ năng và hành vi cho học sinh Do đó, nội dung dạy học tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kỹ năng nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật

Học sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội có những thiệt thòi, hạn chế nhất định xuất phát từ hoàn cảnh, nguồn gốc xuất thân Vì vậy, trong nội dung giáo dục cho nhóm đối tượng học sinh này ngoài việc thực hiện các nội dung giáo dục theo quy chuẩn của Luật giáo dục áp dụng chung cho tất cả học sinh nói chung thì những người làm công tác giáo dục phải chú ý thực hiện

nguyên tắc giáo dục “Tôn trọng sự khác biệt của trẻ” chính điều này sẽ giúp

cho các em hòa nhập tốt hơn với môi trường giáo dục nhà trường, cộng đồng

xã hội Vì vậy, trong nội dung GDHN cho HSTH ở làng trẻ SOS Hà Nội chúng ta cần chú ý thêm về:

+ Giáo dục tư tưởng, tâm lý, tình cảm, đạo đức, giao tiếp, ứng xử trong gia đình, trường học và cộng đồng xã hội

+ Nội dung dạy học hướng đến nâng cao khả năng học tập, lĩnh hội tri thức, văn hóa

+ Nội dung dạy học nhằm nâng cao sự tự tin trong các hoạt động tập thể + Nội dung dạy học nhằm hình thành các giá trị sống và kỹ năng sống cho các em

- Phương pháp giáo dục hoà nhập cho HSTH:

Để đạt được mục tiêu và nội dung giáo dục hòa nhập nêu trên thì đòi hỏi các lực lượng giáo dục phải áp dụng một cách đa dạng, linh hoạt các phương pháp giáo dục đối với các em và đảm bảo được các yếu tố:

+ Việc dạy học cho HSTH ở làng trẻ SOS Hà nội phải đảm bảo hình thành cho học sinh hệ thống những biểu tượng trực quan- cảm tính về các hiện tượng của cuộc sống xung quanh, bảo đảm những khái quát hóa sơ đẳng,

Trang 25

thiết lập những mối liên hệ đơn giản và trên cơ sở đó đảm bảo sự phát triển nhận thức chung

+ Phương pháp dạy học cần hướng đến nâng cao hoạt động nhận thức, phát triển trí tuệ, kích thích sự hoạt động tích cực và hình thành hứng thú nhận thức cho học sinh (Luật Giáo dục 2004, điều 24)

+ Việc dạy học phải được kết hợp chặt chẽ với việc giáo dục Giáo viên cần tăng cường sử dụng các biện pháp động viên, khuyến khích của giáo viên trong việc phát huy các thế mạnh của trẻ, trong các hoạt động tập thể, xã hội

+ Phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, từng học sinh, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

+ Giáo viên cần tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học thông qua làm việc nhóm, vận dụng kiến thức cá môn học tổ chức trò chơi tạo điều kiện cho các em lĩnh hội tri thức, giao tiếp, ứng xử, hòa nhập một cách tự nhiên

+ Ngoài những phương pháp dạy học chính khóa trên lớp, giáo viên cần tích cực sử dụng nhiều các phương pháp dạy học ngoại khóa ngoài giờ học Đây chính là điều kiện để các em được giao lưu, học hỏi một cách sâu, rộng

và là cơ hội tốt để hòa nhập với bạn bè, cộng đồng xã hội

- Hình thức tổ chức GDHN cho HSTH:

Hình thức tổ chức giáo dục là hình thức tổ chức quá trình hoạt động dạy học của thầy và hoạt động học tập của trò theo một trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học

Căn cứ vào các yếu tố khác nhau ta có các hình thức tổ chức giáo dục như sau:

+ Xét theo số người tham gia vào quá trình học tập ta có: hình thức học

cá nhân, học nhóm, học tập thể

Trang 26

+ Xét theo thời gian học tập, chúng ta có: học chính khóa, học ngoại khóa + Xét theo không gian tiến hành học tập chúng ta có: học trên lớp, học ngoài lớp

+ Xét theo tính chất của hoạt động học tập: có hình thức học bài mới,

ôn tập, luyện tập, kiểm tra

+ Xét theo cách tổ chức việc học tập, chúng ta có hình thức học ngoại trú, học nội trú

Đối với học sinh tiểu học sống ở làng trẻ SOS Hà Nội, ngoài những hình thức giáo dục chung, lực lượng giáo dục cần chú ý lựa chọn các hình thức giáo dục phù hợp với mục tiêu, nội dung hòa nhập đặt ra để mang lại kết quả như mong muốn Do đó, trong GDHN cho các em cần tăng cường các hình thức giáo dục: học nhóm, học tập thể, học ngoại khóa, học ngoài lớp

…Bởi đây là những hình thức giáo dục gây được nhiều hứng thú, phát huy được các thế mạnh, sở trường của các em và đó cũng là điều kiện thuận lợi giúp cho các em hòa nhập một cách tự nhiên và bền vững [27]

* Khái niệm học sinh tiểu học

Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì HSTH là những học sinh có độ tuổi từ 06 đến 11 tuổi; được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi

Tuy nhiên, một số trẻ em sống ở làng trẻ SOS Hà Nội có độ tuổi học tiểu học cao hơn so với tuổi được quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo do

các em có những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt

- Khái niệm trẻ em:

Việc đưa ra khái niệm trẻ em là rất cần thiết nhằm áp dụng các văn bản pháp luật quy định về trẻ em, các quyền về trẻ em Quan điểm về trẻ em có sự khác nhau giữa các nước trên thế giới, chẳng hạn ở Australia: quan niệm rằng, trẻ em là người dưới 18 tuổi, ở Singapore: thì quan niệm trẻ em là người dưới

Trang 27

14 tuổi Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do có sự khác biệt trong quan điểm của lãnh đạo các nước, khác nhau về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội

và khả năng đảm bảo các quyền của công dân, quyền con người ở từng nước nói riêng

Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 xác định: Trẻ em là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, công ước cũng thừa nhận có sự khác biệt giữa

điều kiện các nước trên thế giới nên cũng thừa nhận sự khác nhau của pháp luật mỗi nước về quy định độ tuổi trẻ em

Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ

em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 quy

định “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm về trẻ

em được quy định trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Trẻ mồ côi:

Được quy định trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm

2004: Là trẻ em dưới 16 tuổi không còn cả cha lẫn mẹ hoặc không còn cha hoặc

mẹ

- Trẻ mồ côi không nơi nương tựa:

Cũng theo điều luật trên thì trẻ em không nơi nương tựa: Là trẻ em dưới 16 tuổi không còn cả cha lẫn mẹ hoặc không còn cha hay mẹ, người còn lại do hoàn cảnh quá nghèo không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, trẻ không người thân thích chăm nom, nuôi dưỡng, hoặc trẻ em bị bỏ rơi

Trẻ mồ côi có thể chia thành các nhóm sau:

- Nhóm trẻ em mồ côi sống với cha hoặc mẹ khi cha hoặc mẹ mất

- Nhóm trẻ em mồ côi sống với người thân khi cha mẹ đã mất

- Nhóm trẻ em mồ côi làm con nuôi trong gia đình nhận nuôi

Trang 28

- Nhóm trẻ em mồ côi lang thang không nơi nương tựa

- Nhóm trẻ em mồ côi sống tại các nơi nuôi dưỡng chưa được cấp phép

- Nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được đưa vào sống tại các TTBTXH

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội

và các TTBTXH

Sự phát triển của con người diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ lúc ấu thơ (từ 0 đến 03 tuổi), rồi đến tuổi mầm non (từ 03 đến 05 tuổi), đến tuổi học tiểu học (từ 06 đến 11 tuổi) và các giai đoạn phát triển tiếp sau đó Ở mỗi giai đoạn phát triển đó có các đặc trưng về sự phát triểm tâm sinh lí Ngoài những đặc điểm chung về tâm sinh lí của lứa tuổi, HSTH sống ở các TTBTXH nói chung và ở làng trẻ SOS Hà Nội nói riêng có những đặc điểm

về tâm sinh lý như sau:

- Sự phát triển về mặt sinh lý

Ở giai đoạn này, cơ thể của các em đang trong thời kỳ phát triển chưa hoàn thiện cả về hệ xương, hệ cơ và hệ thần kinh Vì thế, trong quá trình giáo dục chúng ta cần phải chú ý lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm lứa tuổi các em Theo quan sát, khảo sát nhìn chung HSTH sống làng trẻ SOS Hà Nội có chiều cao, cân nặng thấp hơn so với các em HSTH khác cùng lứa tuổi Một số em có thể trạng ốm yếu và có dấu hiệu của hiện tượng suy dinh dưỡng Những khó khăn, thiệt thòi này ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập và sinh sống Do đó, rất cần những biện pháp và sự hỗ trợ để giúp nâng cao hơn nữa sức khẻo thể chất cho các

em tạo điều kiện để các em hòa nhập tốt hơn trong các hoạt động học tập, vui chơi với các bạn trong trường học

- Đặc điểm tâm lý

Theo nghiên cứu và tìm hiểu HSTH sống ở làng trẻ SOS nói riêng và

Trang 29

HSTH có hoàn cảnh khó khăn sống ở các TTBTXH nói chung có các đặc điểm tâm lí như sau:

Do đặc điểm hoàn cảnh môi trường sống và hoạt động nên ở các em thường có một số niềm tin đưa các em tới chỗ cư xử hoặc suy nghĩ, theo những hướng tiêu cực có hại cho các em như:

Về niềm tin, với đặc điểm môi trường sống tập trung có sự quản lí của các bà mẹ, của cán bộ nên các em phải tuân thủ các nội quy của gia đình, của làng Do đó, hình thành nên trong suy nghĩ của các em là phải làm những điều người khác muốn chứ không phải để đạt các nhu cầu của bản thân Điều

đó đưa đến trong ý thức của các em không có lựa chọn nào khác là phải tuân thủ thực hiện vì vậy không tránh khỏi hiện tượng một số em cảm thấy thất vọng chán nản, lầm lì, ít giao tiếp hoặc cáu giận dễ nổi nóng Bên cạnh đó, trong việc chăm sóc, giáo dục nhiều cán bộ, nhân viên vẫn còn nặng về cách giáo dục truyền thống nên khi làm việc với trẻ còn mang tính áp đặt, ra lệnh nên khiến trẻ cảm thấy khó chịu, thực hiện các yêu cầu của cán bộ mang tính chất đối phó, miễn cưỡng Chính từ hoàn cảnh môi trường sống và cách chăm sóc, giáo dục đó đã đưa đến các hiện tượng trẻ không nói thật, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào người lớn Bởi trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn thường có đủ

lý do để ngờ vực

Về tâm trạng, có thể nói trẻ em có hoàn cảnh khó khăn sống trong các TTBTXH nói chung và ở làng trẻ SOS nói riêng có biểu hiện đa dạng về mặt tâm trạng như: Mặc cảm, tự ty, buồn bã lo lắng, rụt rè sống khép mình thậm chí một số em có dấu hiệu của sang chấn tâm lí, trầm cảm Bên cạnh đó lại có nhiều

em khó kiểm soát cảm xúc, hành vi nên rất dễ nổi cáu, giận dữ, hung hăng và phá phách vì không thể diễn tả tâm trạng bằng lời nói, cảm xúc bị dồn nén trẻ có thể đánh đập người khác khi chúng cảm thấy căng thẳng, tức giận hoặc sợ hãi hoặc có thể trẻ bắt chước những hành vi của người lớn mà các em đã nhiều lần chứng kiến hoặc là nạn nhân

Trang 30

Do đó, trong việc chăm sóc, giáo dục nếu hiểu biết những đặc điểm tâm

lý của trẻ có hoàn cảnh khó khăn và các nguyên nhân đưa đến hoàn cảnh đó

sẽ giúp chúng ta trong việc hỗ trợ và đáp ứng các nhu cầu cơ bản của trẻ, giúp trẻ thay đổi tích cực để dễ dàng hội nhập và phát triển một cách bình thường trong cuộc sống bình thường

- Sự phát triển về mặt xã hội

Song song với hoạt động học tập HSTH sống ở Làng trẻ SOS Hà Nội còn được tham gia các hoạt động khác như hoạt động vui chơi (hầu hết trẻ là các em tự chơi với nhau, hoặc chơi cùng các anh chị trong Làng) Bên cạnh

đó, các em cũng bắt đầu tham gia các hoạt động như tự phục vụ bản thân và gia đình như vệ sinh cá nhân tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, các em còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa Ngoài ra các em đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động như: các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong, tham gia các buổi giao lưu, tham quan dã ngoại do trường và làng tổ chức

Trong gia đình: gia đình của các em chính là các TTBTXH nên các

em thiếu hẳn tình thương yêu và tấm gương của người cha mẹ Các em thiếu thốn cả về vật chất, tinh thần Các em tham gia các công việc trong gia đình vừa mang tính tự giác vừa theo sự phân công của mẹ hoặc của các anh chị trong gia đình

Ở trường học: hoạt động chủ đạo của các em là hoạt động học tập và vui chơi Tuy nhiên, theo quan sát thì sự hồn nhiên của các em không được như các bạn cùng trang lứa và vẫn có một khoảng cách nhất định khi tham gia các hoạt động tập thể Nhiều em còn mặc cảm, tự ty, nhút nhát, rụt rè do không có cha

mẹ, gia đình đúng nghĩa và đặc biệt vào mỗi buổi sáng đến lớp và khi chiều tan trường các em chứng kiến các bạn cùng trang lứa được bố, mẹ đưa đi đón về, quan tâm, chiều chuộng mua quà, đưa đi chơi ánh mắt và thái độ của các em

có phần ghen tỵ, có sự mong muốn được đầy đủ như các bạn của mình

Trang 31

Ngoài xã hội: các em sống tập trung trong một xã hội thu nhỏ là TTBTXH – làng trẻ SOS Hà Nội Ngoài thời gian học ở trường thì các em không được tự do đi ra khỏi làng Các em chịu sự quản lí của người mẹ chung

và của ban quản lí làng Hàng năm các em cũng có một vài dịp được tham gia các hoạt động xã hội ngoài làng, của trường như tham quan, dã ngoại Do đó, khi được tham gia hoạt động các em rất háo hức và hiếu động

Tuy nhiên, theo đánh giá của cán bộ, nhân viên, các mẹ ở làng trẻ SOS Hà Nội và giáo viên ở trường thì chính hoàn cảnh của các em lại tạo nên sức chịu đựng và khả năng tự lập của các em cao hơn các bạn cùng trang lứa Các em rất háo hức, nhiệt tình đón nhận và tham gia các phong trào, hoạt động của làng, của trường và cũng từ đây nhiều em đã thể hiện được những năng khiếu, sáng tạo của mình Do đó, trong quá trình giáo dục, cần nghiên cứu nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục linh hoạt đa dạng để phát huy những thế mạnh của các

em Điều này sẽ nâng cao khả năng hòa nhập một cách tự nhiên cho các em

- Sự phát triển của quá trình nhận thức, tình cảm, nhân cách

Cũng như các bạn cùng trang lứa, HSTH sống ở Làng SOS Hà Nội có những đặc điểm giống học sinh tiểu học nói chung về quá trình phát triển nhận thức đó là nhận thức cảm tính (sự phát triển của các cơ quan cảm giác, tri giác), nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, sự chú ý, trí nhớ, ý chí ) Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy học sinh tiểu học sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội có một số đặc điểm:

- Theo đánh giá của cán bộ và giáo viên trực tiếp giảng dạy thì khả năng tư duy lô-gic, tư duy sáng tạo có phần hạn chế hơn so với các học sinh tiểu học khác Điều này được thể hiện trong việc ghi nhớ, học thuộc, làm toán và các năng khiếu (làm thơ, làm văn, vẽ tranh …) thì học sinh tiểu học sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội thường có kết quả học lực về môn toán kém hơn so với các bạn trong lớp và hầu như các em không có điều kiện để phát triển các năng khiếu của mình

Trang 32

- Theo quan sát, khả năng chú ý của HSTH sống tại làng trẻ SOS Hà Nội thường không bền vững, chưa tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập bởi chính tính tự do, hiếu động vốn có của các em trong môi trường sống của Làng Thậm chí có nhiều em còn bị tính tăng động giảm trí nhớ khó kiểm soát, điều khiển hành vi nên hay gây gỗ, phá bĩnh trong các giờ học, các hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể

- Về khả năng ngôn ngữ, nhìn chung học sinh tiểu học sống ở Làng trẻ SOS đều có ngôn ngữ nói và viết thành thạo Tuy nhiên, qua việc khảo sát thực trạng GDHN, chúng tôi thấy các em còn một số hạn chế, khó khăn về

mặt ngôn ngữ như: “nói ngọng, nói lắp, nói nhanh, giọng địa phương (do các

em từ nhiều địa phương, vùng miền tập hợp về), nhiều em đọc, viết chậm, đánh vần sai điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tuy duy học tập của các em”(PVS số 3, nam, 39 tuổi, cán bộ cán bộ quản lí làng trẻ)

Qua tìm hiểu và tiếp xúc với các em, chúng tôi nhận thấy HSTH ở Làng trẻ SOS Hà Nội khá mạnh dạn, dễ gần gũi, thân thiện, hồn nhiên, trong sáng Trẻ dễ xúc động biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư… Trong quá trình tiếp xúc, có những em rất dễ gần gũi, thân thiện, nhưng cũng có em lại thờ ơ, né tránh, nghi ngờ, thăm dò Điều này, cho chúng ta thấy sự đa dạng, phức tạp trong đời sống tình cảm của các em Do

đó, trong quá trình giáo dục rất cần tình yêu thương, quan tâm giúp đỡ hơn nữa từ phía cộng đồng, xã hội để bù đắp sự thiệt thòi cho các em

HSTH sống ở Làng trẻ SOS Hà Nội nói riêng và HSTH nói chung ở độ tuổi của các em tính cách đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn khá mới lạ, các em có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của HSTH mang những đặc

Trang 33

điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển Đặc biệt, nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

Tuy nhiên, do đặc điểm về điều kiện, hoàn cảnh và môi trường sống của học sinh tiểu học sống tại Làng trẻ SOS Hà Nội ít có điều kiện được hoà nhập trong các hệ thống xã hội, các em nhận được ít sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương hơn so với các bạn cùng trang lứa Sự định hướng trong phát triển nhân cách cũng như tương lai của các em cũng bị hạn chế Do vậy, nếu không

có các phương pháp giáo dục nhân cách đúng đắn, hiệu quả để hướng các em hòa nhập tốt trong các môi trường xã hội thì có thể dẫn đến sự phát triển lệch lạc trong nhân cách của các em Thay vì hòa nhập vào các môi trường có sự định hướng tốt của gia đình, nhà trường, xã hội các em lại tìm cách hoà nhập vào những hệ thống không được xã hội chấp nhận, chẳng hạn như vào các nhóm trẻ em lang thang, phạm pháp, các băng đảng trên đường phố …

Do đó, trong vấn đề giáo dục nhân cách cho các em, các nhà giáo dục cần hiểu, thấm nhuần các đặc điểm trên của trẻ và tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải sử dụng những phương pháp giáo dục chuyên ngành một cách linh hoạt, đa dạng để hướng các em đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính các nhà giáo dục là những hình mẫu nhân cách ấy Và đặc biệt để thực hiện được mục tiêu giáo

Trang 34

dục nhân cách cũng như giáo dục hòa nhập cho các em có hiệu quả và bền vững rất cần sự phối hợp chặt chẽ của gia đình, nhà trường và xã hội một cách toàn diện dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tế Bởi vì, đây chính là những yếu tố quyết định đến hiệu quả và thành công của

Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH ở trên thế giới Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn đưa ra định nghĩa về CTXH dựa trên sự học hỏi của thế giới và điều kiện thực tiễn ở nước ta Có thể

đưa ra định nghĩa khái quát: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn

đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững” [14]

Từ định nghĩa trên ta có thể khái quát mục tiêu của CTXH là:

+ Giải quyết các vấn đề, hoặc loại bỏ những trở ngại ngăn cản con người sống một cuộc sống như mong muốn

Trang 35

+ Hỗ trợ con người với vai trò cá nhân, nhóm người, cộng đồng để đạt được hoặc nâng cao các khả năng giải quyết vấn đề và sự linh hoạt, mềm dẻo trong khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống tương lai

+ Đối tượng của CTXH là con người nói chung với những vấn đề xã hội đặc biệt là những đối tượng yếu thế không đủ khả năng để vượt qua khó khăn hoặc không thực hiện được một hay một số chức năng xã hội nào

đó của mình

- Khái niệm CTXH học đường

Với mục tiêu và vai trò của mình, hiện nay CTXH đã được đưa vào ứng dụng trên rất nhiều lĩnh vực như: chăm sóc hỗ trợ những đối tượng thiệt thòi, yếu thế (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ), trong bệnh viện, tòa án và đặc biệt

Từ định nghĩa trên ta thấy nổi bật lên đặc điểm và vai trò của NVCTXH

- Khái niệm NVCTXH và vai trò của NVCTXH + Nhân viên CTXH:

Tại Hội nghị quốc tế Montreal, Canada, Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã

hội Quốc tế (IFSW) đã đưa ra khái niệm NVCTXH như sau: NVCTXH (hay được gọi là nhân viên xã hội) là những tác nhân đổi mới trong xã hội, trong đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà họ phục vụ

Trang 36

Theo tác giả Bùi Thế Cường: “NVXH là một nhà chuyên môn bên cạnh các nhà chuyên môn khác NVXH hay tác viên phát triển, một dạng NVXH, còn được gọi là “tác nhân đổi mới” (change agent) là một nhà phân tích, tổ chức, xúc tác, vận động giáo dục quần chúng” [14]

Theo khoa Xã hội học và CTXH trường Đại học Đà Lạt: “NVXH (Social Workers) là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH mà hành động của họ nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng” [14]

Như vậy, trong nghiên cứu này thì khái niệm NVCTXH được hiểu: là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp và sử dụng những kiến thức và

kỹ năng của mình để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các thân chủ (những người này có thể là cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng), NVCTXH sẽ giúp những thân chủ tăng cường khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề của mình cũng như giúp họ trong việc tiếp cận các nguồn lực, thiết lập những mối quan hệ thuận lợi giữa họ và môi trường của họ, đồng thời giúp cho xã hội thấy rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển chung của xã hội, qua đó có những ảnh hưởng đến sự phát triển của chính sách xã hội

sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm

Trang 37

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi xác định vai trò của NVCTXH trong việc trợ giúp cho các em HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội đang gặp những vấn đề khó khăn về khả năng học tập, đời sống tâm lí tình cảm, kỹ năng sống; hỗ trợ cho cán bộ giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng về vấn đề chuyên môn nhằm bổ sung và hoàn thiện về các biện pháp, hình thức chăm sóc, giáo dục cho các em nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác GDHN

2) Vai trò là người biện hộ: NVCTXH đóng vai trò là người biện hộ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt là trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch

từ đó tranh thủ được sự chia sẻ, ủng hộ và giúp đỡ từ phía cộng đồng xã hội

để tạo điều kiện cho thân chủ có khả năng sống hòa nhập với cộng đồng xã hội tốt hơn

Biểu hiện về vai trò của NVCTXH trong hai vai trò trên đó là người trung gian, kết nối giữa thân chủ (HSTH sống ở các làng trẻ SOS Hà Nội) với các tổ chức, tập thể, các đơn vị và cộng đồng nhằm tạo cho các em có cơ hội được giúp đỡ về cả tinh thần, vật chất và các hoạt động xã hội để giúp các em

có nhiều cơ hội hòa nhập với cộng đồng, xã hội

4) Vai trò là người giáo dục: NVCTXH được đào tạo chuyên nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ khi làm việc với thân chủ có vai trò là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới các vấn đề của họ để giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tuyên truyền, tập huấn, hội họp, giáo dục để họ hiểu biết, tự tin va tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề, phân tích, tìm kiếm nguồn lực đề giải quyết vấn đề của mình

Trang 38

NVCTXH thể hiện vai trò trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn của HSTH ở làng trẻ về khả năng học tập, tâm lí tình cảm, kỹ năng sống thông qua các biện pháp và hình thức tổ chức các nội dung GDHN

5) Vai trò là người tạo sự thay đổi: NVCTXH được xem như người tạo

ra sự thay đổi cho cá nhân, nhóm, cộng đồng giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng đến những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn

Với vai trò này khi áp dụng vào đề tài của luận văn, NVCTXH ở đây đóng vai trò chia sẻ về kiến thức chuyên môn, các biện pháp và hình thức giáo dục đối với cán bộ chăm sóc, giáo dục HSTH ở làng trẻ SOS Hà Nội để giúp

họ có thêm kiến thức, phương pháp cách thức giáo dục mới kết hợp với kinh nghiệm của họ để có được một phương pháp giáo dục mới có hiệu quả hơn trong cách giao tiếp, làm việc, can thiệp với trẻ

6) Vai trò là người tư vấn, tham vấn: NVCTXH có vai trò là người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có thông tin như thông tin về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, các biện pháp, hình thức, nội dung giáo dục cho trẻ Vai trò tham vấn cho thân chủ tự mình xem xét vấn

đề của mình và tìm cách giải quyết để tự thay đổi

Vận dụng vai trò này vào đề tài của luận văn, NVCTXH có vai trò tư vấn cho cán bộ giáo dục, các bà mẹ, bà đì trong làng trẻ SOS Hà Nội các thông tin, kiến thức trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các

em Đồng thời sẽ hỗ trợ các cán bộ, các bà mẹ trong việc tham vấn làm việc với những em học sinh cá biệt có nhiều khó khăn về tâm lí tình cảm,

về kỹ năng sống và học tập dựa trên cơ sở chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo chuyên nghiệp

7) Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cá nhân, nhóm: trên cơ sở xác định nhu cầu của cá nhân, nhóm và tìm hiểu những tiềm năng của họ NVCTXH giúp cá nhân, nhóm xây dựng bảng kế hoạch can thiệp phù hợp với đặc điểm về hoàn cảnh, môi trường sống

Trang 39

8) Vai trò là người quản lí hành chính: khi thực hiện vai trò này, NVCTXH làm các công việc quản lí các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch, các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình

và cộng đồng

Trong đề tài nghiên cứu này, NVCTXH thể hiện 2 vai trò trên trong việc trợ giúp, tư vấn cho cán bộ giáo dục, giáo viên hoặc trực tiếp xây dựng

và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân, nhóm cho các em Đồng thời luôn có

sự kiểm tra đánh giá hiệu quả của công tác giáo dục để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn

9) Vai trò là người thu thập, xử lí thông tin, dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH có trách nhiệm nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập thông tin, dữ liệu và phân tích thông tin liên quan đến các vấn đề của thân chủ trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn

Trong khuôn khổ luận văn này, NVCTXH thể hiện vai trò này trong việc nghiên cứu các tài liệu về lí luận cũng như thu thập, tìm hiểu thực tiễn các mô hình GDHN có hiệu quả Từ đó, hỗ trợ cho cán bộ giáo dục, giáo viên

và trực tiếp can thiệp, trợ giúp cho các em về các vấn đề GDHN như: nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp mang lại hiệu quả hòa nhập tốt hơn cho các em

1.1.5 Tiêu chí đánh giá GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội dưới góc độ CTXH

CTXH là một ngành khoa học, một nghề, một loại dịch vụ xã hội có chức năng, nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung vượt qua những khó khăn, rào cản trong cuộc sống, phát huy các thế mạnh, sở trường để tự đứng vững trên đôi chân của mình sống hòa nhập hoặc tái hòa nhập với xã hội cộng đồng Do đó, khả năng hòa nhập và tái hòa nhập của các

Trang 40

đối tượng yếu thế với cộng đồng xã hội được coi là tiêu chí để đánh giá mức

độ hiệu quả của các biện pháp trợ giúp của CTXH

Xuất phát từ cơ sở trên, luận văn đưa ra các tiêu chí đánh giá GDHN cho HSTH sống ở làng trẻ SOS Hà Nội ở các mức độ sau:

- Mức độ hòa nhập của trẻ ở gia đình thay thế

Gia đình thay thế trong làng trẻ SOS Hà Nội là một môi trường sống mới đối với các em khi phải xa tổ ấm ban đầu của mình Do đó, trong GDHN cho HSTH trong làng vấn đề hòa nhập trong gia đình với các thành viên mới được đánh giá ở mức độ quan trọng đầu tiên Nó tạo tiền đề cơ bản để các em

có thể hòa nhập trong các môi trường khác nhau qua từng giai đoạn phát triển trưởng thành Qua tìm hiểu thực tế thì vấn đề hòa nhập trong gia đình của các

em được đánh giá ở các điểm sau:

+ Trẻ phải hòa nhập được với môi trường sống mới – gia đình mới, cùng chung sống với các thành viên trong gia đình bao gồm bà mẹ, các anh, chị, em – những con người hoàn toàn xa lạ, không có quan hệ họ hàng thân thích từ nhỏ đến lớn với những biểu hiện tính cách sống khác nhau Do đó, trẻ phải biết chấp nhận, thích nghi với những thay đổi về môi trường sống mới này Vì vậy, hiệu quả của GDHN ở đây được đánh giá ở mức độ đứa trẻ ý thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong ngôi nhà chung Biết cách giao tiếp, ứng xử với các thành viên trong gia đình theo sự quản lí, tổ chức của người mẹ chung Biết sống đoàn kết, hòa thuận, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt, học tập, vui chơi, lao động

+ Tiêu chí đánh giá thứ hai trong GDHN trong gia đình đối với các em

đó là khả năng thay đổi về phong tục tập quán, thói quen, ngôn ngữ, văn hóa vùng miền, địa phương nhanh chóng thích ghi với những quy định nề nếp, nội quy, quy tắc, kỷ luật của gia đình mới sinh hoạt ăn uống, giờ giấc ngủ nghỉ, vui chơi, lao động, học tập

Ngày đăng: 26/06/2023, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. ĐCS Việt Nam: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020
Tác giả: ĐCS Việt Nam
4. Nước CHXHCN Việt Nam: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) 5. Bộ Lao động -TB&XH (2000): Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước CHXHCN Việt Nam: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2004
6. Bộ Lao động -TB&XH (2009): Bộ tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ về bảo vệ trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ về bảo vệ trẻ em
Tác giả: Bộ Lao động -TB&XH
Năm: 2009
7. Bộ Lao động -TB&XH (2009): Thuật ngữ bảo vệ trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ bảo vệ trẻ em
Tác giả: Bộ Lao động -TB&XH
Năm: 2009
8. Bộ Giáo dục và đào tạo: Thông tư 39/2009-TT-BGDĐT ban hành quy định giáo dục hoà nhập cho Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn do BGD và ĐT ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 39/2009-TT-BGDĐT ban hành quy định giáo dục hoà nhập cho Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: BGD và ĐT
Năm: 2009
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo viên (2003), Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật (tài liệu bồi dưỡng cán bộ giảng viên các trường sư phạm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật (tài liệu bồi dưỡng cán bộ giảng viên các trường sư phạm)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo viên
Năm: 2003
10. Tài liệu tập huấn công ƣớc về quyền trẻ em (2000): Tăng cường quyền trẻ em, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quyền trẻ em
Tác giả: Tài liệu tập huấn công ƣớc về quyền trẻ em
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Lê Chí An (2006): Công tác xã hội cá nhân, NXB Đại học Mở - BC, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Nhà XB: NXB Đại học Mở - BC
Năm: 2006
12. Trần Khánh Đức (2011): Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu KHGD, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu KHGD
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
13. Trần Ngọc Giao, Lê Văn Tạc (Đồng chủ biên, 2010): Quản lí giáo dục hòa nhập, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục hòa nhập
Tác giả: Trần Ngọc Giao, Lê Văn Tạc
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2010
14. Bùi Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2010
15. Grace Mathew (Lê Chí An dịch - 1999): Công tác xã hội cá nhân, NXB Đại học Mở - BC, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Grace Mathew, Lê Chí An
Nhà XB: NXB Đại học Mở - BC
Năm: 1999
16. Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc (2006): Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
17. Phạm Minh Mục, Vương Hồng Tâm, Nguyễn Thị Kim Thoa (2012): Cẩm nang xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt
Tác giả: Phạm Minh Mục, Vương Hồng Tâm, Nguyễn Thị Kim Thoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
19. Nguyễn Xuân Hải (2009): Giáo dục trẻ khuyết tật, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
20. Phạm Văn Hảo (2008): Công tác xã hội nhóm với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Trường Cao đẳng sư mẫu giáo Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Nhà XB: Trường Cao đẳng sư mẫu giáo Trung ương
Năm: 2008
21. Vũ Đức Hoạt , Phó Đức Hoà (2004): Giáo dục học tiểu học, NXB ĐHSPHà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tiểu học
Tác giả: Vũ Đức Hoạt, Phó Đức Hoà
Nhà XB: NXB ĐHSPHà Nội
Năm: 2004
22. Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ (1986): Giáo dục học-Tập 1,Tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học-Tập 1,Tập 2
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
23. Phan Thị Mai Hương (2007): Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
24. Đặng Cảnh Khanh (2003): Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w