1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Công Nghiệp Hóa, Thời Kỳ 2001-2010, Hưng Yên.pdf

105 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãnh Đạo Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp Từ Năm 2001 Đến Năm 2010
Tác giả Đinh Văn Luân
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Hồng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

§¹I HäC QUèC GIA Hµ NéI TR¦êNG §¹I HäC KHOA HäC X HéI Vµ NH¢N V¡N §INH V¡N LU¢N §¶NG Bé HUYÖN V¡N GIANG (H¦NG Y£N) L NH §¹O C¤NG NGHIÖP HãA, HIÖN §¹I HãA N¤NG NGHIÖP Tõ N¡M 2001 §ÕN N¡M 2010 LUËN V¡N[.]

Trang 1

§¹I HäC QUèC GIA Hµ NéI TR¦êNG §¹I HäC KHOA HäC X· HéI Vµ NH¢N V¡N

Trang 2

§¹I HäC QUèC GIA Hµ NéI TR¦êNG §¹I HäC KHOA HäC X· HéI Vµ NH¢N V¡N

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Hoàng Hồng Các số liệu trong luận

văn là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Đinh Văn Luân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ, chỉ đạo tận tình nghiêm khắc của PGS.TS Hoàng Hồng, cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Em xin trân trọng cảm ơn thầy cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử đã dạy em trong những năm qua

Em cũng xin trân trọng cảm ơn các bác, các cô, các chú, các anh chị bên Phòng Nông nghiệp huyện Văn Giang, phòng Văn thư lưu trữ huyện Văn Giang, phòng Văn thư lưu trữ tỉnh Hưng Yên, Huyện ủy Văn Giang đã tạo mọi điều kiện để em tìm hiểu thực tế địa phương, cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành Luận văn

Trong quá trình thực hiện Luận văn, do trình độ còn hạn chế, khả năng thu thập, phân tích tài liệu chưa sâu sắc nên Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng các bạn học viên

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 9

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng nền kinh tế nông nghiệp huyện Văn Giang trước năm 2001 9

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Văn Giang 9

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 10

1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Văn Giang trước năm 2001 13

1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công nghiệp nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của Đảng bộ huyện Văn Giang giai đoạn 2001 – 2005 16

1.2.1 Đường lối của Đảng và chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Giang về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2005 16

1.2.1.1 Đường lối của Đảng 17

1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Giang 20

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 25

1.2.2.1 Chỉ đạo phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 25

1.2.2.2 Chỉ đạo áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp 29

1.2.2.3 Chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp 32

Tiểu kết chương 1 34

Trang 6

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN GIANG LÃNH ĐẠO ĐẨY

MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP 35

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 35

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của Đảng bộ huyện Văn Giang 35

2.1.1 Yêu cầu mới 35

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Giang 39

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 43

2.2.1 Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 43

2.2.2 Chỉ đạo phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế nông nghiệp 49

2.2.3 Tăng cường cơ giới hóa, thủy lợi hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp 53

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 60

3.1 Một số nhận xét 60

3.1.1 Ưu điểm 60

3.1.2 Hạn chế 66

3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu 68

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa KHKT : Khoa học kỹ thuật

HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nxb : Nhà xuất bản

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng Việt Nam cũng như phần lớn các nước trên thế giới phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo ra lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển Ngay từ khi mới ra đời cũng như trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng luôn quan tâm coi trọng giai cấp nông dân, khẳng định vai trò nền tảng của nông nghiệp và mối quan

hệ giữa phát triển nông nghiệp với tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, Đảng ta xác định “vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch…” [30, tr 90] Thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay ở nước ta cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết như: tình trạng chán ruộng của người nông dân vì thu nhập quá thấp; đất nông nghiệp manh mún; thị trường nông sản bấp bênh; giá đầu vào cao; những vấn đề

về an toàn vệ sinh thực phẩm…đòi hỏi hệ thống chính sách phải tiếp tục được xây dựng đảm bảo mang lại quyền lợi thật sự cho người nông dân

Huyện Văn Giang nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hưng Yên, bên bờ tả ngạn sộng Hồng và tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với tiềm năng về đất đai, con người cần cù, đoàn kết, năng động, nhiều năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, kinh tế Văn Giang nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, bước đầu hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh cây lương thực, cây ăn quả gắn với công nghiệp chế biến, thị trường trong nước và

Trang 9

xuất khẩu Năng suất, sản lượng các loại cây trồng chủ lực đều tăng Chăn nuôi tiếp tục phát triển ổn định theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp và chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: tốc độ tăng trưởng nông nghiệp, thủy sản đạt cao nhưng tính bền vững chưa cao; quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực của ngành nông nghiệp còn nhiều bất cập; diện tích vùng sản xuất tập trung, chuyên canh chưa phát triển đúng với tiềm năng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều khó khăn,

cơ sở hạ tầng còn chưa đáp ứng với thế mạnh của huyện; tổ chức bộ máy về nông nghiệp ở cơ sở còn thiếu và yếu

Do vậy, nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Giang về chỉ đạo CNH, HĐH nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 là việc làm thiết thực và cấp bách Nó không chỉ cung cấp một cái nhìn tổng thể về sự trưởng thành, lớn mạnh của huyện trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà còn rút ra những kinh nghiệm quý báu để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trước những yêu cầu mới

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề nghiên cứu:

“Đảng bộ huyện Văn Giang (Hưng Yên) lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại

hóa nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong tiến trình cách mạng XHCN cũng như trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta Chính vì vậy, đường lối, chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những vấn đề được nhiều nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu

Trang 10

+ Sách chuyên khảo: Cuốn Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân

nước ta của Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội 1990, đây là công trình

nghiên cứu đã mô tả những chuyển biến kinh tế - xã hội ở nông thôn sau thực hiện Nghị quyết 10

Trong cuốn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn: Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn của Hồng Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

Đây là tác phẩm tập hợp các bài viết, tham luận của các nhà nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn qua các vấn đề

lý luận, thực tiễn, giải pháp

Cuốn Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt

Nam của Đào Duy Quát, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002 Cuốn sách đã nêu quan điểm

của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh nghiệm của một số nước, vùng lãnh thổ, đề cập đến những phương hướng, giải pháp cũng như bài học kinh nghiệm trong khi tiến hành, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa

Cuốn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam:

con đường và bước đi của Nguyễn Kế Tuấn, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006 Cuốn sách

đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

và nông thôn theo yêu cầu rút ngắn, thực trạng thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

CuốN Văn kiện Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa do tập thể tác giả:

Nguyễn Duy Hùng, Lê Minh Nghĩa Cuốn sách là tập hợp các bản Báo cáo chính trị, các Nghị quyết TW được ban hành qua các kỳ Đại hội Đảng kể từ năm 1960 đến nay có đề cập đến vấn đề công nghiệp hóa, hiên đại hóa

Cuốn Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam – 20 năm đổi mới và phát triển của

Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hà, Nxb Thống Kê, năm 2006 Cuốn sách đã nêu bật được thành tựu của đất nước ta đạt được trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn sau

20 năm đổi mới 1986 – 2006

Trang 11

Cuốn Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong

thời kỳ mới của TS Lê Quang Phi, Nxn Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2007

Trong cuốn Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản

Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới (1986 - 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

năm 2011 của TS Nguyễn Ngọc Hà đã khái quát đặc điểm, tình hình chủ trương của Đảng và quá trình thực hiện đường lối về nông dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và thách thức trong mô hình tăng trưởng kinh tế được phân tích trong cuốn sách:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới trong giai đoạn 2011 – 2020 của TS Nguyễn Thị Tố Uyên chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2012

Ngoài ra phải kể đến cuốn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông

thôn Việt Nam của Nguyễn Văn Nam chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia xuất bản

năm 2002; Nguyễn Đình Hương, Đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1997; Trần Ngọc Bút, Chính sách nông nghiệp nông

thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Văn Bích, Nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi

mới quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Nguyễn Thiện

Luân (chủ biên), Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển

nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001-2020, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,

2001, V.v…

Những công trình trên đã nêu lên được những quan điểm chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, một vấn đề rất quan trọng mà luận văn đã kế thừa và phát huy khi nghiên cứu đề tài

Trang 12

+ Các bài báo, công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa học,

đáng chú ý là: Trần Văn Phòng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông

nghiệp”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 11, tr.3 – 6, 2005; Đặng Kim Oanh, “Quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử

Đảng, số 8, tr.26 – 30, 2009; Nguyễn Sinh Cúc, “Tổng quan nông nghiệp, nông

thôn Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 197, Tr.26 – 28,

V.V…

+ Những luận án, luận văn đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ một số tỉnh về xây dựng, phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương như: Đặng

Kim Oanh, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm

1997-2003, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2005; Lê

Đình Sơn, Tỉnh uỷ Hà Tĩnh lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay,

Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2008; Trần Việt

Dũng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến

năm 2009, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2010;

Nguyễn Tuấn Thành, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp,

nông thôn trong những năm 1997 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2009…

Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về phát triển kinh

tế nông nghiệp của đất nước, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu và trình bày một cách đầy đủ, đi sâu có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Giang đối với CNH, HĐH nông nghiệp của huyện từ năm 2001- 2010 Chính vì vậy, đây vẫn còn là một mảng trống, là đề tài mở để tiếp tục đi sâu tìm hiểu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn sẽ nghiên cứu và giải quyết những vấn đề sau:

Trang 13

- Nghiên cứu làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Văn Giang lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp trên địa bàn huyện từ năm 2001 đến năm 2010

- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của Đảng bộ huyện Văn Giang

- Đúc kết những kinh nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện

để tiếp tục vận dụng có hiệu quả trong thời kỳ mới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Làm rõ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh

hưởng đến kinh tế nông nghiệp của huyện

+ Trình bày khái quát quan điểm của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Văn Giang về CNH, HĐH nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

+ Các hoạt động triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: quan điểm, chủ trương của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, các vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Giang trong CNH, HĐH nông nghiệp gồm: Chủ trương của Đảng bộ, sự chỉ đạo của Đảng bộ trong các lĩnh vực: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng cơ sở

hạ tầng cho nông nghiệp

Trang 14

+ Về thời gian: từ năm 2001 đến năm 2010

+ Không gian: địa bàn huyện Văn Giang

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Các tài liệu chủ yếu thực hiện đề tài gồm:

+ Các văn kiện, nghị quyết của Đảng và của Đảng bộ huyện Văn Giang liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

+ Các chỉ thị, kế hoạch, các báo cáo tổng kết về nông nghiệp ở huyện Văn Giang

+ Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu;

đồng thời kết hợp với các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng

hợp, phương pháp thống kê, so sánh, v.v

6 Đóng góp của luận văn

- Thông qua việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo CNH, HĐH nông nghiệp của Đảng bộ huyện Văn Giang, luận văn rút ra những kinh nghiệm thành công cũng như hạn chế, thách thức đặt ra ở địa phương giai đoạn 2001 – 2010, làm căn cứ khoa học để Đảng bộ huyện Văn Giang tham khảo, trên cơ sở đó tiếp tục lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo

- Luận văn là tài liệu góp phần giáo dục truyền thống của địa phương và công tác giảng dạy lịch sử địa phương trên địa bàn huyện Văn Giang

- Luận văn được hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Giang nói riêng và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nói chung trên phương điện lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH

7 Kết cấu của luận văn

Trang 15

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Đảng bộ huyện Văn Giang lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp từ

năm 2001 đến năm 2005 Chương 2: Đảng bộ huyện Văn Giang lãnh đạo đẩy mạnh CNH, HĐH

nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu

Trang 16

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng nền kinh

tế nông nghiệp huyện Văn Giang trước năm 2001

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Văn Giang

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Văn Giang là huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Hưng Yên, phía

bắc và tây bắc giáp thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Khoái Châu, huyện Văn Lâm, phía đông giáp huyện Yên Mỹ, phía tây giáp tỉnh Hà Tây cũ, có 11 đơn

vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 71,79 km2.Từ vị trí địa lý thuân lợi này cho thấy Văn Giang là nơi trao đổi kinh tế thương mại dịch vụ giữa thủ đô Hà Nội với các huyện và các tỉnh tiếp giáp

Đặc điểm địa hình: Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, huyện có địa hình

tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp do được phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm Do nằm ở ven sông Hồng, chịu ảnh hưởng của 18 năm liền vỡ đê thời Tự Đức nên độ cao đất đai trong huyện không đồng đều và hình thành các dải cao thấp khác nhau theo dạng hình sóng Đất có địa hình cao thuộc các xã Xuân Quan, Mễ Sở, Liên Nghĩa, Thắng Lợi, Cửu Cao và thị trấn Văn Giang Đất có địa hình thấp thuộc các xã Phụng Công, Long Hưng, Tân Tiến, Nghĩa Trụ và Vĩnh Khúc Với địa hình trên, Văn Giang có lợi thế trong việc phát triển đa dạng các sản phẩm nông nghiệp cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện, đồng thời còn có tiềm năng phát triển đô thị

Khí hậu: Văn Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt Tuy

nhiên nền nhiệt giữa các mùa không chênh lệch nhiều (trung bình hàng tháng là

230C) Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động hàng tháng

Trang 17

từ 250

-280 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ dao động từ 150

-210 Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.450 giờ, lượng mưa trung bình 1.575 mm, độ bốc hơi bình quân 886 mm Độ ẩm không khí từ 80-90% Có thể nói điều kiện khí hậu rất thuận tiện cho Văn Giang phát triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi

Thuỷ văn: Trên địa bàn huyện có sông Hồng, sông Bắc Hưng Hải và các

sông nhỏ như: sông Ngưu Giang, sông Đồng Quê, sông Tam Bá Hiển chảy qua rất thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân toàn huyện

Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 71,79 km2

trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 50,32 km2

(chiếm 70% diện tích đất tự nhiên); đất chuyên dùng: 12,31km2 (chiếm 17,1%); đất ở: 6,12 km2 (chiếm 8,7%), đất chưa sử dụng: 3,04 km2 (chiếm 4,2%)

Tóm lại, điều kiện tự nhiên huyện Văn Giang có nhiều mặt thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng cũng có không ít khó khăn, khắc nghiệt, tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện

1.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số và lao động

Huyện Văn Giang gồm 10 xã và 1 thị trấn Năm 2009, toàn huyện có khoảng 104.397 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình 1454 người/km2, tốc độ tăng trưởng dân số tương đối ổn định ở mức 1,0%/năm và đang có chiều hướng giảm dần Chương trình phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng dân số

Số người trong độ tuổi lao động ổn định và tăng dần qua các năm Năm 2010

là 62.638 người (chiếm khoảng 60% dân số ) [5] UBND huyện rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho lao động, nhất là lao động nông thôn Năm 2010, tỷ

lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng là 60,7%; lao động làm việc trong ngành nông

Trang 18

nghiệp chiếm đa số (43.220 người, chiếm 69%) Còn lại là lao động trong ngành phi nông nghiệp, với các ngành nghề chủ yếu như: May công nghiệp, điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, gò hàn,

Do lao động nông nghiệp mang tính chất thời vụ nên số lượng người dư thừa nhàn rỗi thường xuyên sau mùa vụ tương đối nhiều Do vậy, thời gian nông nhàn người nông dân về các thành phố, thị xã làm thuê Đây cũng là bài toán đối với Đảng bộ huyện để giải quyết số lao động dư thừa bằng cách phát triển các ngành nghề, dịch vụ tại địa phương

Văn hóa-xã hội

Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được đẩy mạnh Nếu như năm 1999 toàn huyện mới có 22 làng văn hóa và 11.050 gia đình văn hóa thì đến năm 2010 đã có 57/79 làng văn hóa, 44/45 cơ quan, đơn vị văn hóa và 20.150 gia đình văn hóa [5, tr 5] Các chế độ chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng, đối tượng hưu trí, mất sức được chi trả kịp thời, đầy đủ Quy mô giáo dục đào tạo trong huyện được

mở rộng, đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS Đến năm 2010, toàn huyện đã có

18 trường đạt chuẩn quốc gia (chiếm 51,4% tổng số trường) [5, tr 4] Mạng lưới y

tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển 10/11 trạm xá xã có bác sĩ Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được coi trọng Trung tâm y tế huyện được cải tạo nâng cấp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và thực hiện các chương trình y tế Bảo hiểm y tế được mở rộng…

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Hệ thống cơ vật chất kĩ thuật, hạ tầng cơ sở của huyện đã và đang được xây dựng ngày một hiện đại Mạng lưới giao thông được cải thiện tốt hơn Hầu hết các tuyến đường giao thông trong huyện đã được trải nhựa, bê tông, đá cấp phối

và xây lát gạch nghiêng Từ khi tái thiết lập huyện, đã đầu tư xây dựng thực hiện các dự án nâng cấp, tái tạo các tuyến đường giao thông như: 205A, 207B, 205B,

Trang 19

các dốc đê…đầu tư 3,4 tỷ đồng làm đường giao thông nông thôn, trong đó ngân sách ngân sách huyện 15%, ngân sách xã 53% và nhân dân đóng góp 32% Triển khai dự án nâng cấp cải tạo đường 207A, 207B và mặt đê sông Hồng Được tính dầu tư hơn 7 tỷ đồng rải nhựa 7 km đường 205A Dự án “403” Trung ương đầu tư

27 tỷ đồng cải tạo, sửa chữa trạm bơm Văn Giang và kiên cố 10km kênh dẫn chính.Tập trung điều tra, khảo sát, xây dựng quy hoạch thủy lợi vùng bãi Hoàn thành kế hoạch đắp đê, kè, trồng tre chắn sóng Các xã đã huy động vốn xây dựng 8,1 km kênh mương kiên cố và sửa chữa, nâng cấp 3 trạm bơm Xây dựng và tu sửa các nghĩa trang liệt sĩ Xây mới khoa nội nhi, sửa chữa, cải tạo nhà các khoa và

bổ sung trang thiết bị cho trung tâm y tế huyện Các trạm y tế xã được nâng cấp, đầu tư thiết bị y tế cho phòng sản.Bưu điện huyện và nhiều xã đã xây dựng trạm bưu điện – văn hóa, toàn huyện có 3 tổng đài với 1.017 máy điện thoại Lắp đặt mới thiết bị cho đài truyền thanh huyện.Chuẩn bị xây dựng mới trụ sở làm việc cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

Tình hình kinh tế

Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,9% Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp-công nghiệp, xây dựng-thương mại, dịch vụ: 24%-34%-42% Giá trị thu trên 1ha đất canh tác: 163,8 triệu đồng Thu nhập bình quân đầu người: 38,6 triệu đồng [6, tr 1]

Kinh tế nông nghiệp có nhiều biến chuyển tích cực Tốc độ tăng trưởng đạt 3,4%/năm Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản, giảm ngành trồng trọt Diện tích hoa, cây cảnh, cây ăn quả

có giá trị kinh tế cao tăng từ 1.525,9 ha (năm 2010) lên 1.625 ha (năm 2015) [ 6, tr 2]; Quất cảnh Văn Giang được đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường sản phẩm cây cảnh; đã hình thành vùng sản xuất hoa chất lượng cao, mô hình trồng hoa ứng dụng công nghệ cao được đầu tư đồng bộ trong nhà lưới, nhà kính Chăn nuôi phát triển mạnh Giá trị chăn nuôi chiếm 65% toàn ngành

Trang 20

sản xuất nông nghiệp Mô hình chăn nuôi theo quy mô trang trại ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao Hiện nay, toàn huyện có 232 trang trại đạt tiêu chí theo quy định [6, tr 2] Các ngành nghề chế biến, dịch vụ nông nghiệp tiếp tục phát triển Công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi, khuyến nông được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tốt Công tác phòng, chống lụt, bão, úng, bảo vệ các công trình thuỷ lợi hàng năm được đặc biệt quan tâm; thường xuyên nạo vét, giải tỏa vật cản, khơi thông dòng chảy trước mùa mưa bão; công tác phát hiện và

xử lý vi phạm pháp lệnh đê điều, vi phạm công trình thủy lợi được thực hiện nghiêm túc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, được đông đảo người dân hưởng ứng tích cực

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đang trên đà phát triển Tốc độ tăng trưởng công nghiệp-xây dựng bình quân đạt 16,8% Toàn huyện khoảng 5.200 lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp [6, tr 2]

Giá trị ngành thương mại - dịch vụ tăng bình quân 18,5%/năm Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng, góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân Hiện nay, trên địa bàn huyện có 7 chợ chính và hàng chục chợ

nhỏ lẻ, có 3.655 hộ kinh doanh cá thể [6, tr 3]

Hạ tầng kỹ thuật viễn thông tiếp tục được đầu tư nâng cấp Dịch vụ bưu chính, viễn thông được mở rộng, chất lượng phục vụ được nâng lên đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân Dịch vụ Internet, MyTV phát triển nhanh với tổng số 6.790 thuê bao Doanh thu dịch vụ bưu chính tăng bình quân 13,65%/năm [6, tr 3]

1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp ở huyện Văn Giang trước năm 2001

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát

Trang 21

triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết là việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Sau 5 năm (1995 - 2000) thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nền kinh tế của huyện Văn Giang bước đầu đạt mức tăng trưởng khá, nhất là sản xuất lương thực, thực phẩm Các thành phần kinh tế bắt đầu hình thành và phát triển Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành, bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới đã góp phần xây dựng, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào đường lối của Đảng

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện, nền kinh tế nông nghiệp huyện Văn Giang trong những năm 1995 – 2000 có nhiều khởi sắc Tốc độ tăng trưởng đạt 6,5%/năm Cơ cấu nông nghiệp chuyển đổi mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa đạt kết quả tốt; tỷ trọng trồng trọt 75% - chăn nuôi 23% - dịch vụ -2% (năm 1996 là 70-29-1%) Năng suất lúa năm 1999 đạt 11,7 tấn/ha (tăng 17% so với năm 1996) và năm 2000 vụ chiêm xuân đạt 59,37 tạ/ha Năng suất các cây trồng khác đều tăng khá Tổng sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt trên

34 ngàn tấn Nông dân nhiều xã trong huyện chuyển đổi mạnh cây trồng như lúa đặc sản, cây có giá trị kinh tế cao; vườn tạp được cải tạo trồng cây ăn quả, cây cảnh mỗi năm 100-200 ha được chuyển dịch cơ cấu cây trồng đem lại giá trị thu nhập cao, bình quân lương thực đầu người ổn định ở mức 350 kg/năm, giá trị thu nhập trên 1ha đất canh tác năm 1999 là 32,4 triệu đồng ( tăng 10% so với năm 1996), một số xã đạt bình quân trên 45 triệu đồng trên 1ha đất canh tác Nhiều năm liên tiếp được mùa, sản xuất nói chung phát triển, đời sống nhân dân khá ổn định

và ngày càng được cải thiện Các tiến bộ kỹ thuật đưa vào sản xuất đã được kiểm nghiệm, từ đó góp phần hết sức quan trọng vào việc tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây trồng vật nuôi.Việc tập huấn chuyển giao KHKT được quan tâm thường xuyên Sự phối hợp hoạt động giữa các ngành, chuyên môn liên quan luôn nhịp nhàng, thống nhất

Trang 22

Phương pháp chăn nuôi công nghiệp được mở rộng, có quy mô vừa và nhỏ

đã đưa sản lượng chăn nuôi, nhất là sản lượng gia cầm và cá tăng Dự án “ Nạc hóa” đàn lợn và “Sind hóa” đàn bò được mở rộng Tới năm 2000 toàn huyện có 8/11 xã, thị trấn đã nuôi tổng số 250 con nái hậu bị, tập trung phát triển mạnh ở các

xã Mễ Sở, Vĩnh Khúc, Thắng Lợi Công tác tiêm phòng chống dịch lở mồm long móng cho đàn gia súc đạt kết quả khá.Việc nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh Toàn bộ diện tích ao, hồ, diện tích trũng được chuyển sang cải tạo để nuôi cá Nhiều hộ đã đưa cá giống mới “chim trắng nước ngọt” vào nuôi thử và cho kết quả rất khả quan

Công tác phòng chống lụt bão úng, tu bổ đê điều và các công trình thuỷ lợi hàng năm được đặc biệt quan tâm Ban chỉ huy phòng chống lụt bão úng các cấp

đã tích cực hoạt động đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê, kè, cống trong mùa mưa lũ Các sự cố và các vi phạm pháp lệnh bảo vệ đê điều được xử lý ngay

từ lúc phát sinh [7, tr.167-170]

Công tác thủy lợi, thủy nông được tiến hành thường xuyên Huyện ủy,

UBND huyện đã phát động và trực tiếp chỉ đạo chiến dịch thủy lợi nội đồng, nạo vét kênh mương Ban chỉ đạo, Ban giám sát và Ban chỉ huy các công trường được thành lập để đôn đốc và chỉ đạo việc nạo vét, khơi thông kênh mương thủy lợi Kết quả năm 2000 đạt 110% so với kế hoạch đề ra Chính việc thực hiện tốt công tác thủy lợi nội đồng đã hạn chế được ảnh hưởng xấu của thời tiết: hạn hán, úng lụt

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp được củng cố Sau khi luật HTX có hiệu lực thi hành, đến năm 2000, toàn huyện đã chuyển đổi và thành lập mới được 11 HTX, trong đó có 9 HTX dịch vụ phục vụ tổng hợp, 1 HTX chuyên khâu về điện (Thắng Lợi), 1 HTX chuyên khâu về thủy nông (Liên Nghĩa) Nhìn chung, các HTX dịch

vụ mới ra đời đã cơ bản đảm bảo được những nguyên tắc chủ yếu về HTX được nêu trong luật Xã viên HTX thực sự tự nguyện tham gia Tổng số xã viên của các HTX là 750 xã Ban quản trị các HTX dịch vụ được tổ chức gọn nhẹ, cơ cấu hợp

Trang 23

lý, được bầu cử dân chủ thông qua Đại hội xã viên bằng phương pháp bỏ phiếu kín, đảm bảo đúng luật Đến năm 2000 đã có hai HTX tổ chức Đại hội Quá trình hoạt động kinh doanh của các HTX nói chung đều phục vụ tốt, có lãi và cân bằng thu chi

Có thể nói, kết quả sản xuất nông nghiệp trước năm 2001 đã góp phần thúc đẩy quá trình phân công lại lao động trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp Bên cạnh các nghề truyền thống được khôi phục còn xuất hiện một số nghề mới như: sấy táo, sơ chế dược liệu, chế biến thực phẩm (làm ruốc), trồng nấm…đã tác dụng tạo công ăn việc làm cho nguời lao động, tăng thêm giá trị hàng hóa nông sản, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở Văn Giang trước năm 2001 vẫn còn một số điểm yếu cần phải được khắc phục:

Sản xuất nông nghiệp tuy có bước phát triển, song chất lượng sản phẩm nông nghiệp chưa được nâng lên Việc đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất còn chậm, diện tích lúa lai chưa được mở rộng; năm 2000 mới được đưa vào gieo trồng chiếm 7,7% diện tích trồng lúa cả năm Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày tăng chậm Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông, nghiệp còn chậm, quy mô nhỏ, chưa mang tính sản xuất hàng hóa lớn Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người sản xuất chưa mạnh Chăn nuôi trong nhân dân có bước phát triển, song chủ yếu tự phát do nền kinh tế thị trường điều tiết, chưa có sản phẩm chất lượng cao trong chăn nuôi Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc trên địa bàn huyện chưa được quan tâm đúng mức

1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp của Đảng bộ huyện Văn Giang giai đoạn 2001 – 2005

1.2.1 Đường lối của Đảng và chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Giang

về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2005

Trang 24

1.2.1.1 Đường lối của Đảng về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới biến động rất phức tạp Sau sự kiện ngày 11-9-2001 ở Mỹ, các hoạt động “khủng bố” và “chống khủng bố” trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng toàn cầu Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi Thế lực hiếu chiến, cực đoan tăng cường chính sách áp đặt, can thiệt và xâm lược vũ trang Các nước lớn vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa cạnh tranh quyết liệt, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước chống chiến tranh, chống bất bình đẳng về kinh tế, chống áp đặt và can thiệp vì hòa bình và độc lập dân tộc có bước phát triển mới nhưng vẫn thiếu sự liên kết, chưa đủ sức ngăn chặn các thế lực hiếu chiến Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng vẫn tiếp tục phát triển năng động về kinh tế nhưng đang tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định Trong bối cảnh sự tranh giành ảnh hưởng về kinh tế, chính trị giữa các nước lớn

ở khu vực có xu hướng tăng lên, các nước ASEAN đang có những cố gắng nỗ lực khắc phục những hậu quả của cơn bão khủng hoảng tài chính, tiền tệ năm

1997

Sau 15 năm kiên định đường lối đổi mới do Đảng đề xướng, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định, phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, thế và lực của đất nước được tăng cường, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới, làm tăng thêm sự nhất trí trong Đảng và

sự đồng thuận trong xã hội

Tiếp tục phát triển đường lối các đại hội Đảng toàn quốc và Hội nghị Trung ương trước đây vào điều kiện những năm đầu thế kỷ XXI, khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra ngày càng cấp bách, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: Để phát triển hợp lý cơ cấu ngành kinh tế ở nước

Trang 25

ta phải đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu Đại hội đưa ra định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn:

Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trường thế giới [28, tr.168-

169]

Để tiếp tục phát triển ngành nông, lâm, thuỷ sản lên trình độ mới, Đại hội yêu cầu phải tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn

vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề thị trường; điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng Bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa lúa và ngô làm thức ăn chăn nuôi; tận dụng điều kiện thích hợp của các địa bàn khác để sản xuất lương thực có hiệu quả Có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; mở rộng phương pháp nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩm; tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp Phát huy lợi thế

về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu

Trang 26

vực Phát triển mạnh nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống được bằng nghề rừng Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp, có chính sách hỗ trợ để định canh, định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt, phá rừng Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ

và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu; nâng cao giá trị sản phẩm rừng Hạn chế việc sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp Xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao Tăng cường đội ngũ, nâng cao năng lực và phát huy tác dụng của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp được đề

ra tại Đại hội IX, tháng 3-2002, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương

Đảng (khoá IX) ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và

nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” và Nghị quyết số 15-NQ/TW về “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010”

Nghị quyết 13NQ/TƯ khẳng định: kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX trong nông nghiệp đã đáp ứng được nhu cầu của người lao động và đóng góp một phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước Đến năm 2010, kinh tế tập thể trong nông nghiệp phải được đổi mới mạnh mẽ trên cơ sở khuyến khích phát triển và tôn trọng tính tự chủ của kinh tế hộ, trang trại

Về CNH, HĐH nông nghiệp, Nghị quyết 15- NQ/TW xác định:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các

Trang 27

thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường [29, tr 93]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới Khẳng định đây là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Giang

Quán triệt đường lối của Đảng, căn cứ vào thực trạng nền kinh tế nông nghiệp của địa phương, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, nhiệm kỳ 2001 – 2005 (12/2000) đã đề ra mục tiêu đến năm 2005 là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10%/năm, trong dó nông nghiệp tăng 4 – 4,5%/năm

và chiếm tỷ trọng 34% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; giá trị sản xuất bình quân trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 37 triệu đồng; bình quân lương thực đầu người là 500kg/người/năm [8; 23]

Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội đã đề ra chủ trương và một số nhiệm vụ cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trước yêu cầu mới:

Một là, Tiếp tục phát triển mạnh nông nghiệp toàn diện lên một trình độ

mới, xây dựng vùng sản xuất chuyên canh, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đưa những cây con có năng suất và giá trị kinh tế cao vào sản xuất, tăng giá trị thu được trên một 1 ha canh tác

Hai là, Tận dụng diện tích ao hồ, chuyển một bộ phận đất trũng trồng lúa

năng suất thấp sang thâm canh nuôi cá, trồng cây ăn quả Mở rộng diện tích nhãn, vải trên 1 vạn ha với giống đã được chọn lọc Có biện pháp tích cực để nâng cao

Trang 28

hiệu quả đất bãi để trồng cây công nghiệp, dược liệu, cung cấp rau có giá trị kinh tế cao cho thị trường Hà Nội

Ba là, Tăng nhanh tốc độ và hiệu quả chăn nuôi theo hướng phát triển chăn

nuôi công nghiệp Đẩy mạnh thực hiện Chương trình: "Nạc hoá đàn lợn", "sind hoá đàn bò" để nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi

Bốn là, Đầu tư tập trung cho Trung tâm giống lúa cùng các cơ sở vệ tinh

đảm bảo năm 2005 cung cấp 70% giống lúa tiến bộ cho nông dân trong tỉnh, Trung tâm truyền tinh, Trung tâm thuỷ sản vừa đảm bảo tạo giống tốt vừa phải chuyển giao kỹ thuật đến các hộ chăn nuôi Đẩy mạnh công tác khuyến nông, thường xuyên tập huấn kỹ thuật giúp các hộ nông dân áp dụng thành thục các biện pháp thâm canh tiến bộ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Cấp uỷ và chính quyền các cấp cần khuyến khích, hướng dẫn cho hộ nông dân thực hiện tích cực hơn, nhân rộng mô hình chuyển đổi, dồn thửa ruộng đất

Năm là, tiếp tục làm chuyển biến về nhận thức, đồng thời nâng cao hiệu quả

kinh tế đối với sản xuất vụ đông bằng các công thức luân canh, thâm canh thích hợp, phát triển có quy hoạch, đảm bảo nước tưới, tích cực tổ chức thực hiện để vụ đông thực sự là vụ sản xuất chính làm giầu cho kinh tế hộ, phấn đấu đưa diện tích cây vụ đông từ 22% tên 45% vào năm 2005

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Đại hội Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXI đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trước yêu cầu mới Nghị quyết khẳng định:

Tập trung huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trọng tâm là phát triển nông nghiệp, nông thôn, hướng ưu tiên chuyển

Trang 29

dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất hàng hóa tập trung Khuyến khích tạo điều kiện để công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề mới phát triển trong nông thôn Đẩy mạnh hoạt động thương mại dịch vụ, coi trọng phát triển các trung tâm thị trấn, thị tứ theo đúng quy hoạch, tăng cường lưu thông hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn, hỗ trợ sản xuất, kinh

tế phát triển Quan tâm chỉ đạo ứng dụng, chuyển giao các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất đời sống Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,

ưu tiên cho cứng hóa kênh mương, kiên cố đường giao thông… [3, tr 11]

Đại hội đề ra những mục tiêu chủ yếu đến năm 2005 đối với lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp là: GDP tăng bình quân hàng năm 8,7%, trong đó giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 5,4%/năm và chiếm tỷ trọng 51% trong cơ cấu kinh tế của huyện; giá trị sản xuất bình quân trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 45 triệu đồng; bình quân lương thực đầu người là 360kg/người/năm [3, tr 12]

Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI đã đề

ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể:

Một là, Tập trung đẩy mạnh phát triển nông, nghiệp theo hướng công nghiệp

hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn Phấn đấu đảm bảo đủ lương thực tiêu dùng và có một phần lương thực hàng hóa cho xuất khẩu Trước mắt cần quan tâm xây dựng qui hoạch vùng sản xuất chuyên canh, thâm canh, như vùng lúa cao sản, đặc sản, vùng trồng rau, quả; trong đó có các vùng sản xuất rau sạch, vùng trồng cây cảnh, cây ăn quả, cây tinh dầu và cây công nghiệp, thực phẩm Trên cơ sở phân vùng sản xuất để có kế hoạch đầu tư và thâm canh cho phù hợp, hiệu quả Đặc biệt quan tâm coi trọng việc chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản

Trang 30

xuất, chọn các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và có giá trị cao, tạo ra sản phẩm hàng hoá giá thành hạ, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu chế biến, tiêu dùng, xuất khẩu

Hai là, triển khai chương trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp

nông thôn, hình thành cơ cấu lương thực 30%; rau quả, cây công nghiệp, cây cảnh 40%; chăn nuôi 30% Hàng năm năng suất lúa đạt trên 12 tấn/ha, tổng sản lượng lương thực trên 34.000 tấn Tiếp tục cải tạo vườn tạp, khu đất trũng, phát triển các

mô hình theo kiểu trang trại Tăng nhanh tốc độ chăn nuôi theo qui mô tập trung và phương pháp công nghiệp Thực hiện có hiệu quả chương trình "nạc hoá" đàn lợn,

"sind hoá" đàn bò, chăn nuôi gà công nghiệp, bò sữa, nuôi trồng thuỷ sản Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp; đẩy mạnh khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y; đổi mới các biện pháp thâm canh, tăng vụ, mạnh dạn đầu tư kỹ thuật, vốn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Ba là, tăng tích luỹ, tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp

nông thôn Khuyến khích đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến vừa và nhỏ theo công nghệ tiên tiến, nhất là công nghiệp chế biến nông sản, hoa quả, bao tiêu sản phẩm, chế biến thức ăn gia súc, sản xuất phân vi sinh, Xây dựng nhanh kết cấu hạ tầng sản xuất, nâng cao chất lượng phục vụ điện, tưới, tiêu, thông tin liên lạc để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất và đời sống Đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp, phấn đấu đạt tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất trên 80%, vận chuyển trên 80%, xay xát 100%, phòng trừ sâu bệnh 100% và các khâu nặng nhọc trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp Khuyến khích sản xuất chế biến nhỏ tại gia đình Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào chế biến nông sản

Bốn là, tiếp tục đổi mới cơ cấu đầu tư, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng cơ

sở, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tập trung nâng cấp, cứng hóa các tuyến đường giao thông trong huyện, với phương châm “Nhà nước và nhân

Trang 31

dân cùng làm” Quy hoạch, cải tạo hệ thống thuỷ lợi, đổi mới thiết bị các trạm bơm

và từng bước kiên cố hoá kênh mương nội đồng Quy hoạch thuỷ lợi vùng bãi, các trạm tưới và tu bổ kênh mương Tăng cường các biện pháp bảo vệ các công trình thuỷ lợi, tích cực trồng tre chắn sóng Thực hiện tết nhiệm vụ phòng chống lụt bão hàng năm Tu bổ và bảo vệ an toàn đê, kè, bối, cống Cải tạo toàn bộ các dốc đê bằng vật liệu cứng Thường xuyên tổ chức giải toả các vi phạm công trình thuỷ lợi, nhất là các vi phạm đê kè và dòng tiêu úng

Năm là, mở rộng hợp tác đầu tư phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi thu

hút các dự án, đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn huyện, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, bên ngoài và các thành phần kinh tế trong huyện, từng bước hình thành các khu kinh tế tập trung vừa và nhỏ Tăng cương hợp tác với các trung tâm khoa học của Trung ương, của tỉnh để tiếp thu nhanh các tiến bộ KHKT ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiếp thu công nghệ mới có chọn lọc, ưu tiên công nghệ sạch,

bảo vệ tài nguyên, môi trường Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp,

nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, tăng cường các biện pháp khuyến khích xuất khẩu và đầu tư, nhất là đầu tư đổi mới công nghệ

Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XXI đã thể hiện quan điểm nhất quán của đảng bộ về vấn đề phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung khai thác mọi nguồn lực để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, gắn phát triển sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân

Ngày 08/6/2001, Đảng bộ huyện Văn Giang ban hành Nghị quyết số

13-NQ/HU về đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên đất nông nghiệp

với mục tiêu cụ thể:

Trang 32

+ Vùng bãi ven sông Hồng: với tổng diện tích đất canh tác là 746,9 ha gồm

các xã: Xuân Quan , Phụng Công, thị trấn Văn Giang, Liên Nghĩa, Mễ Sở và Thắng Lợi xây dựng thành vùng chuyên sản xuất cây dược liệu, rau sạch, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và giành một phần cho chế biến xuất khẩu

+ Vùng chuyên canh cây cảnh, cây rau màu và cây ăn quả có giá trị kinh tế

cao và có thị trường tiêu thụ ổn định : với tổng diện tích là 754,04 ha chủ yếu ở các

xã Phụng Công, Mễ Sở, Liên Nghĩa, Thắng Lợi và thị trấn Văn Giang quy hoạch

thành vùng chuyên canh từng loại cây, nhóm cây, cây ăn quả

+ Vùng chuyên lúa: Với tổng diện tích là 2324 ha, trong đó: đối với vùng

trũng, xây dựng dự án chuyển đổi sang mô hình 1 vụ lúa kết hợp với thả cá truyền thống có chọn lọc hoặc các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp vơi điều kiện, môi trường sinh thái; đối với vùng lúa chân vàn, vàn cao, từng bước chuyển sang gieo trồng lúa đặc sản, lúa lai, nếp v v có chất lượng và hiệu quả cao

+ Đối với diện tích mặt nước nuôi thả thủy sản: Xây dựng quy hoạch nuôi

trồng thủy sản từ năm 2001 - 2010 cải tạo lại ao hồ đầm hiện có, từng bước chuyển dần sang nuôi thả các loại thuỷ sản có năng suất chất lượng cao

Có thể nói, trong giai đoạn 2001 - 2005, Đảng bộ huyện Văn Giang đã đề ra nhiều chủ trương có tính đột phá, tạo đà cho nền kinh tế nông nghiệp phát triển

theo đúng định hướng và đạt hiệu quả tối ưu

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện

1.2.2.1 Chỉ đạo phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

Về trồng trọt: Để tập trung cho phát triển nông nghiệp, trước mắt là cây

lượng thực, Huyện ủy đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp hướng dẫn các địa phương chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu giống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa Theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, các xã đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng tích cực, mở rộng diện tích lúa xuân muộn và trà lúa mùa sớm, giảm dần diện tích lúa xuân sớm và lúa chiêm Năm 2005, vụ chiêm xuân trà lúa xuân

Trang 33

muộn chiếm 63.8% tăng 13.8% so với định hướng cơ cấu của huyện Trà lúa mùa sớm chiếm 76.6% tăng 1.9% so với định hướng cơ cấu của huyện năm 2005 [57,

tr 2] Đồng thời với việc mở rộng các trà lúa xuân muộn, mùa sớm, Huyện ủy cũng chỉ đạo ngành nông nghiệp làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật

và xây dựng các mô hình giống lúa có tiềm năng, năng suất cao như các giống lúa

lai, lúa thuần: NĐ-3, ST-3; BM-9855, Bắc ưu 903, HT – 1, BM-9603….đã được

đưa vào sản xuất mở rộng Đến năm 2005 tỷ lệ lúa lai, lúa thuần đã chiếm 91% tổng diện tích gieo cấy (chủ yếu là lúa thuần) tăng 21% so với mục tiêu đã đề ra Tổng diện tích lúa năm 2005 là 3.701,56 ha (tăng 0,6% so với năm 2000), tổng sản lượng lúa năm 2005 là 22.306 tấn (tăng 21,1% so với năm 2000) [57, tr 2]

Đối với cây ngô, theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, các địa phương tích cực đưa các giống ngô có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất để phục vụ cho phát triển chăn nuôi Năm 2000 diện tích cây ngô là 811 ha Đến năm 2005, thực hiện chủ trương của Huyện ủy, một phần diện tích ngô đã được chuyển đổi sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao Do đó diện tích ngô đã giảm xuống còn 559,26 ha Nhiều giống mới đã được đưa vào gieo trồng như DK 999, Biosed, Pacipic, HQ

2000, NK4300 và một số diện tích chân cao đã đưa vào trồng ngô ở vụ xuân đem lại hiệu quả cao Nhờ đó, sản lượng ngô năm 2005 đạt 2.368,9 tấn [57, tr 2]

Ngoài ra, huyện còn chỉ đạo các địa phương tập trung phát triển một số loại cây công nghiệp ngắn ngày, trong đó chủ yếu là cây lạc và cây đậu tương Đây là những cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng cây công nghiệp hàng năm là 840 ha, trong đó diện tích trồng cây

đỗ tương là 722 ha (= 86%), diện tích lạc là 35 ha [18, tr 23]

Ngoài cây lạc, diện tích cây rau màu thực phẩm ngày càng được mở rộng Huyện đã chỉ đạo các địa phương đưa nhanh vào sản xuất các loại cây rau màu có thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh tế cao như: cà chua, đậu cô ve, dưa chuột

Trang 34

các loại, hành, su hào, bắp cải, khoai tây Nếu năm 2000, diện tích rau màu là 1.042

ha thì đến năm 2005 đã tăng lên 1.302 ha [57, tr 3]

Đối với cây ăn quả, Huyện đã chỉ đạo các địa phương mở rộng diện tích, tăng cường trồng các giống cây cho hiệu quả kinh tế cao như: cam, chanh, quất, quýt, bưởi, ổi… Năm 2004, diện tích trồng cây ăn quả đạt 906,16 ha Năm 2005, Huyện chỉ đạo chuyển đổi một phần diện tích trồng chuối, táo, nhãn, vải, ổi sang trồng cây cảnh Do đó diện tích trồng cây ăn quả giảm xuống còn 838,04 ha [57, tr 4]

Ngoài việc chuyển đổi cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng cũng được chuyển đổi mạnh mẽ Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/HU, ngày 08/6/2001 của BCH Đảng bộ

huyện về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên đất nông nghiệp, Huyện đã chỉ

đạo các địa phương thực hiện việc cải tạo vườn tạp, đưa vào trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao Chủ trương của Huyện ủy được nhân dân đồng tình hưởng ứng Theo đó năm 2005, toàn huyện đã chuyển đổi được 1.490 ha từ trồng lúa và cây màu

có giá trị kinh tế thấp sang trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Nhờ đó giá trị thu trên 1 ha canh tác tăng nhanh, nhiều hộ gia đình thu trên 100 triệu đồng/ha [7, tr 177]

Như vậy, theo chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện, ngành trồng trọt đã có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ và cơ cấu giống một cách hợp

lý Nhờ đó, năng suất, chất lượng hàng hóa, thu nhập trên một đơn vị diện tích tăng đều qua các năm, đời sống của nông dân ngày một nâng lên Việc quy hoạch từng vùng sản xuất chuyên canh đã phát huy lợi thế của từng vùng với phương châm “đất nào cây nấy” Nhờ quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền

và nhân dân, kinh tế nông nghiệp huyện Văn Giang tăng trưởng nhanh Tổng sản lượng lương thực có hạt toàn huyện năm 2005 đạt 24.678, 85 tấn [57, tr 2] Tổng giá trị ngành trồng trọt năm 2005 đạt 254.900 triệu đồng [18, tr 22] Đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao

Trang 35

Đối với chăn nuôi, thủy sản: Nằm trong chương trình kinh tế trọng điểm

của huyện, ngành chăn nuôi tiếp tục được phát triển mạnh theo hướng tăng số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế Huyện đã chỉ đạo các địa phương phát triển chăn nuôi cả bề rộng và bề sâu, không chỉ mở rộng số lượng mà còn tập trung đầu tư thâm canh để nâng cao chất lượng của các loại vật nuôi Đối với đàn lợn, Huyện đã chỉ đạo các địa phương tập trung phát triển chăn nuôi lợn theo hướng tăng tỷ trọng đàn lợn siêu nạc Năm 2000, tổng đàn lợn của toàn huyện đạt 34.679 con, đến năm 2005 tăng lên 58 178 con [18, tr 40] Ngoài ra, đảng bộ huyện Văn Giang tập trung thực hiện chương trình ZêBu hóa đàn bò; đồng thời đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền nhân dân trồng cỏ, nuôi bò theo phương thức thâm canh; tăng cường các giống bò đực, thay thế bò nái nội bằng bò nái ngoại… Theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, Phòng Nông nghiệp đã phối hợp với UBND các xã, thị trấn thực hiện tốt các chính sách ưu đãi để khuyến khích mô hình chăn nuôi bò vỗ béo … Năm 2005, tổng đàn trâu, bò của huyện có 2.808 con [18, tr 40]

Chăn nuôi gia cầm được chú trọng Các địa phương tăng cường đưa các giống gia cầm có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất; thực hiện tốt công tác phòng chống dịch cúm gia cầm; tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác tiêm phòng theo định kỳ… nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu Năm 2005, tổng số đàn gia cầm của huyện đạt 193.300 con (trong đó gà là 119.800 con), giảm 49% so với năm 2000 [18, tr 40]

Trong lĩnh vực thủy sản, thực hiện chủ trương của Đảng bộ Huyện, UBND Huyện đã tập trung chỉ đạo các địa phương thực hiện chuyển dịch vùng trũng sang nuôi trồng thủy sản Năm 2005 diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của toàn huyện là 599 ha, tăng 16 ha so với năm 2004 Sản lượng cá thịt năm 2005 ước đạt 3.115 tấn, tăng 350 tấn so với năm 2004, đạt 82, 4% so với kế hoạch [57, tr 4]

Trang 36

Với chủ trương đúng đắn và sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ huyện Văn Giang, trong những năm 2001 - 2005, ngành chăn nuôi của huyện đã có bước phát triển mới, tăng cả số lượng, chất lượng và giá trị sản xuất, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Năm 2005, tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi là 135.238 triệu đồng, tăng 155% so với năm 2000 [18, tr 19] Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi liên tục tăng nhanh so với nghành trồng trọt và chiếm tỉ trọng càng lớn trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

1.2.2.2 Chỉ đạo áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp

Với chủ trương tập trung cho sản xuất, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Đảng bộ huyện Văn Giang đã chỉ đạo các địa phương tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo Phòng NN&PTNT phối hợp chặt chẽ với Trạm Bảo vệ thực vật, Đoàn Thanh niên, Hội nông dân tích cực đẩy mạnh công tác chuyển giao KHKT, phổ biến quy trình kỹ thuật sản xuất giống mới, hướng dẫn sử dụng các loại vật tư nông nghiệp mới đưa vào sử dụng Hàng năm, huyện đã chỉ đạo mở nhiều lớp tập huấn, chuyển giao KHKT và đã thu hút hàng trăm hội viên nông dân tham gia

Để nâng cao năng suất cây trồng, hàng năm huyện đã chỉ đạo chính quyền các địa phương nắm chắc lịch thời vụ để chỉ đạo nhân dân gieo trồng đúng cơ cấu giống và lịch gieo trồng, đồng thời tăng cường các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, chuột hại… Với mục tiêu tạo ra giống cây trồng tại chỗ, Huyện ủy Văn Giang đã chỉ đạo sát sao việc thực hiện Dự án sản xuất giống lúa tại chỗ Theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, năm 2002, UBND huyện đã chỉ đạo toàn huyện sản xuất 25

ha lúa giống, cung cấp trên địa bàn được 129 tấn thóc giống[54, tr 3] Phòng NN&PTNT chỉ đạo các xã, thị trấn sản xuất khảo nghiệm 13 ha các giống lúa mới,

Trang 37

như: NĐ-3, ST-3; BM-9855, Bắc ưu 903, HT – 1, BM-9603….Ngoài ra cây lúa, huyện cũng đã chỉ đạo Phòng NN&PTNN phối hợp với Huyện đoàn thực hiện sản xuất trình diễn 10 ha ngô lai LVN4 ở các xã Xuân Quan, Thắng Lợi

Nhằm nắm bắt tình hình sản xuất của nhân dân, huyện đã chỉ đạo Phòng NN&PTNT phối hợp với Thanh tra huyện thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chỉ đạo sản xuất ở cơ sở Các đội bảo vệ thực vật, thủy nông, khuyến nông liên tục được củng cố kiện toàn Đặc biệt, để từng bước giải phóng sức lao động cho người nông dân mà vẫn tạo ra hiệu quả kinh tế cao, Huyện ủy đã chỉ đạo các địa phương tăng cường đầu tư thực hiện cơ giời hóa trong nông nghiệp Theo đó, các địa phương đã đẩy mạnh thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp từ khâu làm đất đến thu hoạch và chế biến sản phẩm Nhờ đó mà giá trị sản xuất trong nghành trồng trọt hàng năm không ngừng tăng lên

Có thể nói việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gieo trông đã làm cho năng suất cũng sản lượng cây trồng tăng đều hàng năm, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Đối với cây lúa mặc dù diện tích có xu hướng giảm dần (từ 4749 ha năm 2000 giảm xuống còn 3701,56 ha năm 2005) nhưng năng suất và sản lượng lúa tăng đều: năng suất lúa năm 2000 là 57,4 ta/ha tăng lên 59,4 tạ năm 2004 và năm 2005 đạt 60,3 tạ/ha[18,

tr 25]; sản lượng lượng thực năm 2000 đạt 20.683 tấn đên năm 2005 lên 24.678,85

tấn [57, tr2] Giá trị thu nhập trên 1 ha đất canh tác năm 2003 là 43,5 triệu đồng,

tăng 2,3 triệu đồng so với năm 2002 Năm 2005, nâng giá trị thu nhập trên 1 ha đất canh tác lên 57.0 triệu đồng, đạt 104 % kế hoạch, tăng 6,3 triệu đồng so với năm 2004[57, tr.2]

Trong chăn nuôi, thủy sản, Đảng bộ huyện Văn Giang chỉ đạo Phòng NN& PTNT phối hợp chặt chẽ với Trạm thú y, Trạm khuyến nông đẩy mạnh công tác chuyển giao KHKT, thực hiện tốt Pháp lệnh thú y, đẩy mạnh chương trình “nạc hóa” đàn lợn, “sind hóa” đàn bò trên địa bàn huyện Theo kết quả điều tra, tại thời

Trang 38

điểm 01/10/2003 toàn huyện có 129 con trâu, 1.632 con bò (trong đó có 1.289 con

bò lai Sind, chiếm 79% tổng đàn bò) Đến thời điểm 01/08/2005, toàn huyện có 82 con trâu, 2.726 con bò So với cùng thời điểm năm 2004, đàn bò tăng 31,4% Công tác tiêm phòng cho đàn trâu, bò được thực hiện thường xuyên 2 đến 3 lần/năm Đối với đàn lợn, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo chính quyền các địa phương làm tốt công tác tuyên truyền vận động, có cơ chế khuyến khích đầu tư cho những mô hình trọng điểm, thực hiện tốt công tác phòng trừ dịch bệnh và tăng cường công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật Thực hiện theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, hàng năm Phòng nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông huyện phối hợp với UBND các xã, thị trấn tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về nuôi lợn Công tác tiêm phòng theo định kỳ cũng được thực hiện một cách triệt để Năm 2003, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 5.344 tấn, năm 2005 tăng lên 8.386,2 tấn

Huyện cũng chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh chăn nuôi theo quy mô trang trại Đến năm 2005 trên địa bàn huyện có 213 mô hình trang trại (chủ yếu là mô hình tổng hợp VAC), tăng 61 mô hình so với năm 2004 Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển tốt Nhiều hộ nuôi cá theo hướng thâm canh, đưa các giống cá mới vào nuôi nên năng suất tăng lên rõ rệt Ước tính sản lượng cá năm 2005 đạt 3.115 tấn,

tăng 350 tấn so với năm 2004 [57, tr 4]

Việc áp dụng tiến bộ KHKT chăn nuôi đã đem lại hiệu quả thực sự với sản lượng đều tăng qua các năm làm cho người nông dân vô cùng phấn khởi Nhờ những tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong quá trình chăn nuôi vừa giảm chi phí vừa tăng được lợi nhuận cũng như giúp giảm ô nhiễm môi trường thông qua mô hình tổng hợp VAC Công tác chuyển giao kỹ thuật giúp nâng cao trình độ và kỹ năng sản xuất chăn nuôi nói chung cho người nông dân, góp phần đưa ngành chăn nuôi

vượt qua khó khăn để phát triển bền vững

Trang 39

1.2.2.3 Chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp

Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Giang, cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đã có thay đồi căn bản, tạo điều kiện cho sự gắn kết giữa phát triển nông nghiệp với công nghiệp, phát huy sự sáng tạo trong lao động của nhân dân vào công cuộc xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong lĩnh vực giao thông và xây dựng giai đoạn 2001 - 2005, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo cấp

ủy đảng, chính quyền địa phương bằng nhiều biện pháp để huy động các nguồn lực của địa phương và nhân dân, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư của cấp trên, đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn, góp phần thúc đẩy nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Hàng năm Huyện ủy đã chỉ đạo chi cho xây dựng giao thông 2 tỷ đồng Theo đó,

Hệ thống giao thông được cải tạo và nâng cấp, nhất là giao thông nông thôn Năm

2003, huyện đã chỉ đạo hoàn thành và đưa vào sử dụng 2,8 km đường 207A, đường nội thị phân kỳ I Đến năm 2004, các tuyến đường liên huyện, liên xã tiếp tục được cải tạo nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đã hoàn thành thi công nâng cấp 4,15 km đường 199B, 2,76 km đường 205B; 4,7 km đường 179; 1,2 km đường liên xã Liên Nghĩa – Long Hưng và đường giao thông nông thôn ở các xã Xuân Quan, Phụng Công, Nghĩa Trụ và Vĩnh Khúc với tổng chiều dài 9 km [78, tr 4] Đến năm 2005, hầu hết các tuyến đường liên xã, liên thôn trong huyện đã được rải nhựa, bê tông hóa Huyện đã chỉ đạo các địa phương vận động nhân dân tham gia đóng góp cải tạo được 29,57 km đường xã, liên xã và 60,2 km đường thôn xóm [18, tr 178] Công tác duy tu bảo dưỡng các tuyến đường được thực hiện thường xuyên

Trang 40

Thuỷ lợi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Đảng bộ huyện thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc đầu tư, nâng cấp hệ thống các công trình thuỷ lợi Thực hiện chủ trương của Chính phủ và Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về Chương trình kiên cố hoá kênh mương, Huyện ủy Văn Giang đã chỉ đạo đầu tư trên 10 tỷ đồng để hỗ trợ cho các địa phương làm thuỷ lợi Đến năm 2005, theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, dự án cải tạo nâng cấp hệ thống trạm bơm Văn Giang đã hoàn thành Bên cạnh đó, theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo các địa phương nạo vét được 366.770 m³ kênh mương, đắp 131.388m³ cơ đê để trồng tre chắn song [18, tr 177] Huyện đã chỉ đạo Ban chỉ huy phòng chống lụt bão cac cấp tích cực hoạt động bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê, kè, cống trong mùa mưa lũ Chương trình

bê tông hóa kênh cấp 3 đã được triển khai có hiệu quả tại các xã Mễ Sở, Liên Nghĩa, Cửu Cao, Long Hưng, Nghĩa Trụ và Vĩnh Khúc

Hệ thống lưới điện tiếp tục được đầu tư, nâng cấp, quản lý sử dụng có hiệu quả Huyện đã chỉ đạo đầu tư nâng cấp 35 km đường dây 35KV, 43 trạm biến áp, xây dựng mới 40km đường dây 35 KV và 25 trạm biến áp đảm bảo cung cấp điện

an toàn, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân

Dự án mở rộng phát triển mạng lưới, dịch vụ bưu chính viễn thông được triển khai có hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan đơn vị và của nhân dân Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, toàn huyện đã có 3 tổng đài, 300 km cáp, 7800 thuê bao điện thoại, đạt tỷ lệ 8 máy /100 dân; 11/11 xã,

thị trấn đều có điểm bưu điện văn hóa xã [18, tr 179]

Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện và sự nỗ lực của nhân dân, hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn có bước phát triển căn bản, làm thay đổi không chỉ

về số lượng mà còn nâng cấp cả chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư

về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm cho nhân dân, xóa đói giảm nghèo,

Ngày đăng: 26/06/2023, 13:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2003), Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. Ban bí thư (1983), Chỉ thị 100 – CP/TW – cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 100 – CP/TW – cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp
Tác giả: Ban bí thư
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1983
3. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang (2000), Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXI (nhiệm kỳ 2001 – 2005), Lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy Văn Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXI (nhiệm kỳ 2001 – 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang
Năm: 2000
4. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang (2005), Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2005 – 2010), Lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy Văn Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2005 – 2010)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang
Năm: 2005
5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang (2010), Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), Lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy Văn Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang
Năm: 2010
6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang (2015), Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXIV (nhiệm kỳ 2015 – 2020), Lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy Văn Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Giang lần thứ XXIV (nhiệm kỳ 2015 – 2020)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang
Năm: 2015
7. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang (2009), Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Giang, Lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Giang
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Giang
Năm: 2009
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên" lần "thứ XV
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Năm: 2000
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên"lần "thứ XVI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Năm: 2005
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên l ần thứ XVII, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên" lần "thứ XVII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Năm: 2010
11. Ban chỉ đạo tổng kết lý luận (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận –thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006)
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết lý luận
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
12. Ban thường vụ Hội nông dân tỉnh Hưng Yên (2000), Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên 1930 – 2000 , Lưu trữ tại Văn phòng Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên 1930 – 2000
Tác giả: Ban thường vụ Hội nông dân tỉnh Hưng Yên
Năm: 2000
13. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hưng Yên (2009), Lịch sử tỉnh Hưng Yên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hưng Yên
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
14. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
17. Trần Ngọc Bút (2002), Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối th ế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010
Tác giả: Trần Ngọc Bút
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Chi cục Thống kê huyện Văn Giang (2009), Niên giám thống kê huyện Văn Giang 2008 , Lưu trữ tại Văn phòng UBND huyện Văn Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Văn Giang 2008
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Văn Giang
Năm: 2009
19. Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân (2002), Kinh tế Việt Nam đổi mới: những phân tích đánh giá quan trọng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam đổi mới: những phân tích đánh giá quan trọng
Tác giả: Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
20. Phan Đại Doãn (2008), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w