TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶNG THỊ VIỆT HƯƠNG THIẾT CHẾ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH LIÊN MINH NGHIÊN CỨU TOÀN CẦU TẠI VIỆT N[.]
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu được công bố ở trong nước có liên quan đến chủ đề của Luận văn có thể kể đến một số đề tài, luận văn nhƣ sau:
Đề tài “Nghiên cứu phát triển hoạt động tư vấn, Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam” do TS Hoàng Xuân Long (2009) chủ trì nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho chính sách phát triển tổ chức tư vấn, môi giới công nghệ Đề tài đề xuất các giải pháp định hướng như nâng cao nhận thức về hoạt động tư vấn, tăng cường hệ thống thông tin cơ bản cho tư vấn, quy hoạch đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, và hoàn thiện quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động này Ngoài ra, cần có chính sách thúc đẩy hình thành mạng lưới tổ chức tư vấn, bao gồm cả liên kết trong nước và quốc tế.
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm thu hút chuyển giao và nhập khẩu công nghệ từ các nước phát triển” do ThS Nguyễn Hoàng Hải, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ KH&CN làm chủ nhiệm, nhằm xác định cơ sở lý luận về các mô hình phát triển dựa vào công nghệ từ Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc Nghiên cứu phân tích tác động của chính sách chuyển giao và nhập khẩu công nghệ tại các quốc gia này trong quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa Cuối cùng, đề tài sẽ đề xuất định hướng thúc đẩy chuyển giao và nhập khẩu công nghệ từ các nước phát triển vào Việt Nam trong giai đoạn tới.
Năm 2020, đề tài đã trình bày một cái nhìn tổng quát về các mô hình phát triển công nghệ của các quốc gia, đồng thời cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển công nghệ trong tương lai.
- Tổng luận “Kinh nghiệm quốc tế trong việc thúc đẩy quá trình tiếp nhận và Chuyển giao công nghệ” do Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia,
Bộ KH&CN đã biên soạn và xuất bản tài liệu về công nghệ và chuyển giao công nghệ (CGCN), tập trung vào các vấn đề chung, kinh nghiệm quốc tế và các biện pháp thúc đẩy CGCN Tài liệu nêu rõ một số quy tắc quan trọng nhằm tăng cường lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong các thỏa thuận CGCN Nó cũng điểm qua các dòng CGCN quốc tế, bao gồm CGCN giữa các nước phát triển và giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, đồng thời chỉ ra những thách thức mà các nước đang phát triển phải đối mặt Ngoài ra, tài liệu còn chia sẻ kinh nghiệm CGCN từ Trung Quốc và ngành chế tạo của Thái Lan.
Đề tài “Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ ở một số ngành kinh tế” do TS Nguyễn Quang Tuấn, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN làm chủ nhiệm, đã phân tích thực trạng mua bán và chuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam, cũng như CGCN từ nước ngoài Bài viết trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ, đồng thời đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước trong phát triển thị trường công nghệ nước ta trong thời gian qua Cuối cùng, đề tài đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ.
Đề tài “Nghiên cứu phương pháp xác định giá công nghệ và đề xuất quy trình xác định giá công nghệ trong điều kiện Việt Nam” của Hoàng Văn Tuyên, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN, đã chỉ ra rằng nguồn cung cấp công nghệ tại Việt Nam còn hạn chế Các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nước đóng góp rất ít vào nguồn cung công nghệ, trong khi số lượng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vẫn chưa đáng kể Phần lớn công nghệ được chuyển giao chủ yếu là bí quyết kỹ thuật được tích hợp trong trang bị và máy móc.
Đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam” của Nguyễn Vân Anh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nghiên cứu các mô hình tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN) nhằm phát triển thị trường công nghệ tại Việt Nam Bài viết cũng đề xuất các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các tổ chức xúc tiến CGCN hình thành và phát triển.
Đề tài “Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Mạnh Hùng (2012) đã hệ thống hoá lý luận về thị trường KH&CN, tiêu chí đánh giá và yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường này trong bối cảnh hội nhập Bài viết nêu rõ kinh nghiệm xây dựng và phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia, đồng thời phân tích quá trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam theo các tiêu chí đã đề xuất Ngoài ra, tác giả cũng đánh giá bối cảnh mới và đưa ra quan điểm phát triển thị trường KH&CN, kèm theo các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sắp tới.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan về hoạt động CGCN nhƣ:
Bài viết "Vai trò của tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp" của tác giả Hoàng Xuân Long, đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 3/2008, đã chỉ ra sự phức tạp trong hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải đối mặt với việc lựa chọn phương thức CGCN và đánh giá công nghệ để chọn ra giải pháp tối ưu nhất cho các thông số đã được xác định Do đó, sự hỗ trợ từ các tổ chức tư vấn và môi giới CGCN là rất cần thiết và mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp trong quá trình này.
Bài viết "Mô hình tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ quốc tế và bài học cho Việt Nam" của Nguyễn Vân Anh, Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, Bộ KH&CN, số 621, tháng 2/2011, giới thiệu mô hình tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN) của Hàn Quốc và Trung Quốc Từ đó, bài viết rút ra những kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam trong việc cải thiện và phát triển hoạt động xúc tiến CGCN.
Bài viết "Chuyển giao công nghệ chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng" của tác giả Thanh Tâm, đăng trên Báo Công thương ngày 05/11/2014, nêu rõ quan điểm của ông Bùi Văn Hùng từ Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định Công nghệ về những thách thức trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam Ông Hùng nhấn mạnh rằng hiệu quả của quá trình này chưa đạt được như mong đợi, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình.
Bộ KH&CN và các chuyên gia nhận định rằng công nghệ cao (CGCN) tại Việt Nam chưa đạt hiệu quả như mong đợi, không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, với giá trị gia tăng thấp và lợi nhuận hạn chế Sản phẩm Việt Nam còn yếu thế trên thị trường quốc tế do công nghệ chuyển giao chủ yếu là những công nghệ đã phổ biến Nguyên nhân chính là chính sách và môi trường thu hút FDI chưa được thiết kế để khuyến khích CGCN Do đó, cần có chính sách từ Chính phủ nhằm thúc đẩy CGCN giữa các doanh nghiệp, với sự định hướng từ cấp quốc gia đến địa phương và giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực.
Các nghiên cứu được công bố ở nước ngoài có liên quan đến chủ đề của Luận văn có thể kể đến một số nghiên cứunhƣ sau:
Bài báo "Tính cạnh tranh ngành tại Australia" của Học viện Khoa học Công nghệ và Kỹ thuật Australia (ATSE) nhấn mạnh rằng năng suất và tính cạnh tranh của Australia phụ thuộc vào khả năng đổi mới trong các lĩnh vực nghiên cứu và công nghệ Sự cạnh tranh của ngành không chỉ dựa vào việc đầu tư vào khoa học và nghiên cứu mà còn vào khả năng chuyển đổi những đầu tư này thành lợi nhuận kinh tế Việc nâng cao hiệu suất thông qua việc áp dụng công nghệ mới và tiếp thu đổi mới từ bên ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường tính cạnh tranh của Australia.
Bài viết "Những nhân tố thành công quan trọng của các công viên công nghệ tại Australia" của tác giả Radwan Kharabsheh, đăng trên Tạp chí Quốc tế về Kinh tế và Tài Chính, nhấn mạnh tầm quan trọng của các công viên công nghệ trong việc thúc đẩy phát triển bền vững Sự phức tạp trong quy mô đầu tư và sự quan tâm từ Chính phủ đã tạo ra nhu cầu cấp thiết về việc hiểu rõ các yếu tố thành công của những công viên này Mặc dù mục đích và các yếu tố dẫn đến đổi mới thành công vẫn còn là điều bí ẩn, việc phân tích các trường hợp nổi bật sẽ giúp giải thích sự thành công của họ.
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng thành công của các công viên công nghệ phụ thuộc vào nhiều nhân tố quan trọng Những yếu tố này bao gồm: văn hóa chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, quản lý khu tự trị hiệu quả, môi trường thuận lợi cho phát triển, sự đông đảo của các công ty, sự hiện diện của các công ty sáng tạo quốc tế, và tầm nhìn chung của các cổ đông trong công viên công nghệ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng các thiết chế nhằm thúc đẩy sự tham gia của GRA sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, dựa trên việc nghiên cứu kinh nghiệm của Australia.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về thiết chế, chính sách, GRA, CGCN, sự tác động của GRA đến CGCN;
Khảo sát thực trạng các thiết chế hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức KH&CN Việt Nam vào GRA, với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
- Tìm hiểu kinh nghiệm của Australia trong việc hình thành thiết chế thúc đẩy tham gia GRA nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CGCN;
Đề xuất giải pháp xây dựng các thiết chế nhằm thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức KH&CN Việt Nam vào GRA, với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Để thúc đẩy các tổ chức KH&CN Việt Nam tham gia GRA, cần hình thành các thiết chế phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Giả thuyết nghiên cứu
Để nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, cần thiết phải hình thành các thiết chế phù hợp cho các tổ chức KH&CN Việt Nam tham gia GRA.
- Thiết chế giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước - khu vực nghiên cứu
- Thiết chế vềtổ chức và hoạt động của thị trường công nghệ.
Mẫu khảo sát
Luận văn khảo sát các mẫu nhƣ sau:
Đại diện từ các tổ chức nghiên cứu như Trung tâm Điện tử Viễn thông, Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học và Tự động hóa, Bộ Công Thương, Viện Công nghiệp giấy và xenluylo, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, cùng với Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp thuộc Bộ Công Thương đã tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Đại diện cho các doanh nghiệp, bao gồm Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Rượu - Bia - Nước Giải Khát Hà Nội, và Công ty TNHH Thương mại và Kỹ thuật Thịnh Khôi.
Đại diện cho các nhà quản lý KH&CN, bao gồm lãnh đạo Vụ, trưởng và phó phòng, cùng với chuyên viên của Vụ Hợp tác quốc tế, lãnh đạo Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, cũng như lãnh đạo Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Chọn mẫu theo tiêu chí có đại diện doanh nghiệp lớn (tổng công ty), doanh nghiệp nhỏ và vừa (công ty TNHH);
- Đối với các viện nghiên cứu chọn mẫu theo tiêu chí có sáng tạo công nghệ, có chuyển giao công nghệ;
Các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KH&CN) cần lựa chọn mẫu dựa trên tiêu chí có quản lý hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, đồng thời chú trọng đến việc quản lý ứng dụng, phát triển và doanh nghiệp KH&CN.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng số liệu có liên quan đến GRA, GRA tại Australia, CGCN, CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam
Phương pháp quan sát được áp dụng để đánh giá khách quan nhu cầu về các thiết chế thúc đẩy sự tham gia GRA tại Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Phương pháp điều tra và khảo sát được áp dụng để đánh giá nhu cầu về thiết chế thúc đẩy sự tham gia GRA tại Việt Nam, với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Tác giả Luận văn đã thực hiện phỏng vấn với 05 đại diện doanh nghiệp, 05 đại diện tổ chức nghiên cứu và 07 nhà quản lý hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Trước khi phỏng vấn, tác giả đã liên hệ với các đối tượng và gửi câu hỏi liên quan đến việc xây dựng thiết chế nhằm thúc đẩy hình thành GRA tại Việt Nam, với mục tiêu nâng cao hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về thiết chế, sự tác động của Liên minh nghiên cứu toàn cầu đến chuyển giao công nghệ
- Chương 2 Thực trạng các thiết chế tác động đến hiệu quả chuyển giao công nghệ tạiViệt Nam
- Chương 3 Hình thành thiết chế tham gia Liên minh nghiên cứu toàn cầu tại Việt Nam - Từ kinh nghiệm của Australia
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ, SỰ TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN MINH NGHIÊN CỨU TOÀN CẦU ĐẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Thiết chế
Thiết chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khác nhau:
Theo Fichter (1958), thiết chế là sự phối hợp các khuôn mẫu tác phong được chấp nhận rộng rãi, nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cộng đồng Thiết chế bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành hệ thống quan hệ ổn định, phản ánh sự thống nhất mà xã hội công nhận để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu.
Theo Roger Friedland và A F Robertson (1992), thiết chế được định nghĩa là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động, tất cả đều xoay quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội.
Khái niệm thiết chế thường được xem như thể chế, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khung trật tự cho các mối quan hệ giữa con người Nó xác định cơ chế thực thi và giới hạn trong các tương tác giữa các bên Thiết chế phản ánh ý chí chung của cộng đồng xã hội, giúp thiết lập trật tự, quy tắc, ràng buộc, cũng như các chuẩn mực và giá trị chung mà mọi người cùng chia sẻ.
Theo Douglass Cecil North (1990) định nghĩa thể chế là những giới hạn được xác định trong khả năng và hiểu biết của con người, từ đó hình thành nên mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân.
1 Fichter, J H (1958) Parochial school: Asociological study Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press Gamoran, A (1987)
2 Roger Friedland and A F Robertson (1992), The Sociology of Economic Life, Boulder, CO: Westview
3 Douglass Cecil North (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990
Theo Stephen H Haber, Douglass Cecil North và Barry R Weingast (2008), thể chế được định nghĩa là những quy tắc của cuộc chơi trong xã hội, tức là các ràng buộc do con người thiết lập để điều chỉnh và định hình các tương tác giữa con người Thể chế bao gồm ba nội dung quan trọng: luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức.
Cách tiếp cận chính sách từ thiết chế (institution) xã hội, thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học
Theo Fichter, thiết chế là một phần của văn hóa, được hình thành trong nếp sống của một dân tộc Những khuôn mẫu tác phong, cả công khai lẫn tiềm ẩn, trở thành các vai trò xã hội mà con người đảm nhiệm, tạo nên nhiều loại tương quan giữa họ, trong đó diễn tiến xã hội là quan trọng nhất Ông nhấn mạnh rằng các tương quan và vai trò xã hội là những yếu tố chủ yếu cấu thành thiết chế Cuối cùng, Fichter khẳng định thiết chế là sự phối hợp của những khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận, nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Về các yếu tố cấu thành thiết chế, Gidden A 6 xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”.
Theo Nguyễn Trần Bạt (2011), thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội, phản ánh những thỏa thuận xã hội Nó không chỉ mang tính bản chất mà còn có tính sở hữu rõ ràng, thể hiện sâu sắc khuynh hướng chính trị của đảng cầm quyền.
4 Stephen H Haber, Douglass Cecil North, Barry R Weingast (2008), Political Institutions and Financial Development, Stanford University Press
5 Fichter J.H., Xã hội học (Bản dịch tiếng Việt của Trần Văn Đĩnh), Nxb Hiện đại, Sài Gòn, 1974 (In lần thứ hai)
6 Gidden A., Sociology, Polity Press, Cambridge, 1990, p.731
Quan niệm của tác giả Luận văn:
Luận văn đề cập đến khái niệm thiết chế, bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống quan hệ ổn định trong xã hội Các chuẩn mực này thể hiện sự thống nhất mà xã hội thừa nhận, nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Chuẩn mực là tập hợp mong đợi và quy tắc đối với hành vi của các thành viên, quy định những việc nên làm, không nên làm và cách ứng xử đúng trong từng tình huống xã hội.
Chính sách là thuật ngữ quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, với nhiều cách tiếp cận khác nhau như chính trị học, nhân học, tâm lý học, kinh tế học, đạo đức học, và khoa học pháp lý Nó bao gồm các chủ trương và hành động của Chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu phát triển toàn diện trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Chính sách được xây dựng dựa trên đường lối chính trị và tình hình thực tế, với mục đích cụ thể và kế hoạch hành động rõ ràng.
Có thể kể đến một số khái niệm chính sách nhƣ sau:
Chính sách, theo Theo Robinson, là những chỉ dẫn quan trọng cho việc ra quyết định và thể hiện các tình huống lặp lại có tính chu kỳ.
Chính sách, theo Theo James Anderson, là một quá trình hành động có mục đích mà cá nhân hoặc nhóm thực hiện một cách kiên định để giải quyết các vấn đề.
Chính sách, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, là những chuẩn tắc cụ thể nhằm thực hiện đường lối và nhiệm vụ, được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định và trên các lĩnh vực cụ thể.
Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa bởi các chủ thể quyền lực hoặc quản lý, nhằm tạo ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội Mục tiêu của các chính sách này là kích thích động cơ hoạt động của các nhóm đó để thực hiện các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội Hệ thống xã hội có thể được hiểu rộng rãi, bao gồm quốc gia, khu vực hành chính, doanh nghiệp, hoặc nhà trường.
Cũng theo Vũ Cao Đàm, từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách là nói đến những yếu tố sau đây:
Chính sách là tập hợp các biện pháp do chủ thể quyền lực hoặc quản lý đề ra, được thể chế hóa thành quy định pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục tiêu mà chủ thể quyền lực mong muốn.
Chính sách thường dẫn đến sự phân biệt đối xử từ các chủ thể quyền lực hoặc quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau, trong đó có sự ưu đãi dành cho một hoặc một số nhóm xã hội nhất định.
Chuyển giao công nghệ
Công nghệ, hay còn gọi là technologia trong tiếng Hy Lạp, là một thuật ngữ rộng chỉ các công cụ và phương pháp mà con người sử dụng để làm chủ các công cụ Từ "techne" có nghĩa là thủ công, trong khi "logia" có nghĩa là "châm ngôn".
Công nghệ đã xuất hiện từ lâu và trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực Theo quan niệm truyền thống, công nghệ được hiểu là tập hợp các phương pháp gia công và chế tạo nhằm thay đổi tính chất, hình dạng và trạng thái của nguyên vật liệu để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Tuy nhiên, quan niệm hiện đại mở rộng khái niệm này, coi công nghệ là hoạt động áp dụng kiến thức từ nghiên cứu khoa học ứng dụng, nhằm nâng cao hiệu quả trong các hoạt động của con người.
Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệcó thể đƣợc hiểu:
- Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
- Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;
- Các sản phẩm đƣợc tạo ra hàng loạt và giống nhau;
- Sản phẩm có chất lƣợng cao và giá thành hạ.
Công nghệ được định nghĩa bởi ESCAP là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm các kiến thức, thiết bị, phương pháp và hệ thống cần thiết cho việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
9 Wright, R.T (2008) Technology Goodheart-Wilcox Company, 5th edition, ISBN 1590707184 p.8
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết và công cụ nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Nó phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giải quyết vấn đề của con người Công nghệ tồn tại trước khoa học và kỹ nghệ, thể hiện kiến thức con người trong việc tạo ra dụng cụ và quy trình tiêu chuẩn Tiêu chuẩn hóa là đặc thù chủ yếu của công nghệ Kỹ thuật bao gồm toàn bộ phương tiện lao động và các phương pháp tạo ra cơ sở vật chất.
Các thành phần của công nghệ:
Mỗi công nghệ đều bao gồm bốnthành phần chính:
Kỹ thuật (T) bao gồm các máy móc và thiết bị, là thành phần cốt lõi của mọi công nghệ Nhờ vào những công cụ này, con người có thể nâng cao sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong quá trình sản xuất.
Con người (H) bao gồm kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy qua quá trình học hỏi và hoạt động Ngoài ra, nó còn phản ánh các tố chất như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp và đạo đức lao động.
Thông tin bao gồm dữ liệu kỹ thuật, con người và tổ chức, cùng với các thông số đặc tính thiết bị và số liệu vận hành Những dữ liệu này cần thiết để duy trì, bảo dưỡng và nâng cao hiệu suất thiết bị, cũng như thiết kế các bộ phận kỹ thuật Thành phần thông tin này thể hiện tri thức tích lũy trong công nghệ, giúp trả lời các câu hỏi về "làm cái gì" và "làm như thế nào".
- Tổ chức (O): bao gồm khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức, những quy định về quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cá nhân
Công nghệ, theo Trần Ngọc Ca (1987), bao gồm mọi hình thức kiến thức, thông tin, bí quyết và phương pháp (phần mềm) được lưu trữ dưới nhiều dạng khác nhau, như con người và ghi chép Đồng thời, công nghệ cũng bao gồm các thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (phần cứng) và các tiềm năng khác như tổ chức, pháp chế và dịch vụ, được áp dụng trong thực tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Công nghệ, theo Vũ Cao Đàm, được định nghĩa là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng và bí quyết, có thể đi kèm hoặc không với các công cụ và phương tiện, nhằm mục đích biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2000, công nghệ được định nghĩa là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện nhằm biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Luật Chuyển giao công nghệ 2006 và Luật Khoa học và Công nghệ 2013, công nghệ được định nghĩa là giải pháp, quy trình, và bí quyết kỹ thuật, có thể đi kèm hoặc không kèm theo công cụ và phương tiện, nhằm mục đích biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Quan niệm của tác giả Luận văn:
Công nghệ được định nghĩa là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng và bí quyết, có thể đi kèm hoặc không với công cụ và phương tiện, nhằm biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Có nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ (CGCN), và sự hiểu biết về CGCN phụ thuộc vào bản chất, mục đích và đối tượng của quá trình chuyển giao.
Trong tiếng gốc La Tinh, chữ “chuyển giao” là “transferre”, có nghĩa là
CGCN có nghĩa là chuyển giao kiến thức kỹ thuật vượt qua ranh giới, từ các công ty, trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm đến các doanh nghiệp khoa học ươm tạo công nghệ và những nơi có nhu cầu tiếp nhận công nghệ.
CGCN theo nghĩa hẹp là thỏa thuận giữa hai bên, bao gồm Bên giao và Bên nhận, trong đó hai bên phối hợp các hành vi pháp lý hoặc hoạt động thực tiễn nhằm mục đích giúp Bên nhận đạt được những năng lực công nghệ xác định.
Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
1.3.1 Tính độc lập tương đối giữa nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Nghiên cứu thuộc quá trình R&D, trong khi CGCN là bộ phận tiếp theo của R&D Cẩm nang về hoạt động KH&CN do UNESCO phát hành năm 1980 khẳng định rằng hoạt động KH&CN bao gồm nhiều khía cạnh quan trọng.
- Nghiên cứu và triển khai thực nghiệm (Research and Experimental Development), gọi tắt là R&D;
- Giáo dục và đào tạo KH&CN;
Cẩm nang Frascati do OECD phát hành năm 2002 định nghĩa hoạt động KH&CN tương tự, nhấn mạnh rằng hoạt động R&D không bao gồm chuyển giao công nghệ (CGCN), tức là CGCN chỉ diễn ra sau khi hoàn thiện R&D Ngoài ra, các hoạt động liên quan đến cấp bằng độc quyền sáng chế và cấp phép sử dụng sáng chế được UNESCO phân loại là dịch vụ KH&CN, độc lập với R&D.
Vũ Cao Đàm (2010) cho rằng CGCN là một phần của phát triển công nghệ, hoạt động diễn ra sau nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
15 UNESCO (1980), Manual for Statistics on Scientific and Technological Activities, Paris, pp.15
17 Xin tham khảo thêm mục 1.3.ix tại UNESCO (1980), Paris, Tài liệu đã dẫn, trang 30
Phát triển công nghệ theo chiều rộng, hay còn gọi là nhân rộng công nghệ, là quá trình phổ cập công nghệ sau khi chuyển giao, nhằm phát huy tác dụng trên diện rộng Trung Quốc đã thực hiện “Bốn CGCN” để chuyển giao công nghệ từ quốc phòng sang dân sự, từ công nghiệp sang nông nghiệp, từ thành phố về nông thôn, và trong nội bộ một ngành Biện pháp này không chỉ nâng cấp cho công nghiệp quốc phòng mà còn tận dụng công nghệ thải loại để cải thiện khu vực công nghiệp dân sự Tuy nhiên, nhiều thiết bị công nghệ dù được giữ gìn vẫn có thể mất giá trị sử dụng do sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ quốc phòng Đây là minh chứng cho quá trình “Mở rộng công nghệ” trong toàn bộ nền kinh tế và xã hội, phủ kín lãnh thổ quốc gia.
- Phát triển công nghệ theo chiều sâu (Intensive Development of Technology), còn gọi là “Nâng cấp công nghệ” (Upgrading of Technology)
Khái niệm "Nâng cấp đổi mới" (Upgrading of Innovation) là một bước quan trọng sau quá trình cải cách công nghệ (CGCN) Việc nâng cấp công nghệ không nhất thiết phải áp dụng cho toàn bộ dây chuyền, mà có thể chỉ tập trung vào một hoặc một số khâu quan trọng.
Các chủ hãng tư nhân thường không đợi đến khi toàn bộ dây chuyền công nghệ bị suy sụp mới tiến hành thay thế Việc nâng cấp công nghệ không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là một bài toán kinh tế quan trọng.
18 Xin tham kh ảo thêm: Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo
Một nhà kinh doanh thông minh luôn biết nhìn trước việc nâng cấp công nghệ để giành thế mạnh cạnh tranh trên thị trường 19
Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ (CGCN) là hai quá trình độc lập nhưng có mối quan hệ chặt chẽ Kết quả từ nghiên cứu tạo ra công nghệ, và công nghệ chính là "chất liệu" cho quá trình CGCN.
1.3.2 Thiết chế liên kết giữa nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chuyển giao công nghệ (CGCN) được củng cố thông qua các thiết chế trung gian, bao gồm các doanh nghiệp vệ tinh của các trường đại học, thường được gọi là doanh nghiệp spin-off, spin-in và spin-out.
Từ thập niên 1980, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã chứng kiến sự xuất hiện của các tổ chức tương tự như start-up enterprises.
Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, các khái niệm spin-off, spin-in, spin-out được dịch là “xí nghiệp vệ tinh”, trong khi start-up được dịch là “xí nghiệp ươm tạo” Các xí nghiệp ươm tạo bao gồm xí nghiệp ươm tạo công nghệ (technology start-up enterprise) và xí nghiệp ươm tạo doanh nghiệp (business start-up enterprise) Cụm từ “start-up” thường được viết gọn thành “startup”, nhưng ngữ nghĩa vẫn không thay đổi.
Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ là quá trình chuẩn bị để hình thành một doanh nghiệp, cụ thể là doanh nghiệp công nghệ Điều này nhấn mạnh rằng việc ươm tạo không chỉ tập trung vào công nghệ mà còn vào việc xây dựng một doanh nghiệp hoàn chỉnh.
Trong bài viết của Vũ Cao Đàm (2015), tác giả thảo luận về chính sách sau chuyển giao công nghệ trong khuôn khổ hội thảo khoa học diễn ra tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2015 Hội thảo tập trung vào việc tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm từ Australia và đưa ra các đề xuất cho Việt Nam.
Trong bài viết này, chúng tôi tham khảo thông tin từ nghiên cứu của Vũ Cao Đàm và Đào Thanh Trường (2015) về các yếu tố cần thiết cho lộ trình phát triển ươm tạo doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam Nghiên cứu được trình bày tại Hội thảo khoa học “Xây dựng chính sách hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp KH&CN” diễn ra tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 3 năm 2015.
Ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là quá trình chuẩn bị nhằm hình thành một doanh nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Điều này không chỉ đơn thuần là việc khởi nghiệp mà còn là sự phát triển bền vững của các ý tưởng đổi mới sáng tạo trong ngành KH&CN.
“Doanh nghiệp”, chứ không phải là ƣơm tạo “KH&CN”
Theo Vũ Cao Đàm và Đào Thanh Trường (2015) thì Việt Nam trước mắt cần cả hai, đó là:
Giai đoạn "ươm tạo công nghệ" đóng vai trò quan trọng giữa nghiên cứu và phát triển (R&D) và chuyển giao công nghệ (CGCN) Giai đoạn này giúp hoàn thiện công nghệ mới, từ các xưởng Pilot cho đến sản xuất thử ở Serie N0 0.