GỢI Ý TRÌNH BÀY ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *** NGUYỄN TRỌNG BÀO CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN TRỌNG BÀO
CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN TRỌNG BÀO
CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Chiều
Hà Nội, 2015
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Câu hỏi nghiên cứu 11
6 Giả thuyết nghiên cứu 12
7 Phương pháp nghiên cứu 12
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12
9 Kết cấu luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 14
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách tạo việc làm 14
1.1.1 Lý luận về việc làm 14
1.1.2 Chính sách tạo việc làm cho nông dân 17
1.2 Sự cần thiết thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp 21
1.2.1 Đối với xã hội 21
1.2.2 Đối với người nông dân 24
1.3 Hệ thống chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam 25
Trang 41.3.1 Chính sách chung của Nhà nước về tạo việc làm 25
1.3.2 Chính sách đặc thù của thành phố Hà Nội về tạo việc làm đối với nông dân 34
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC 38
2.1 Khái quát đặc điểm huyện Hoài Đức 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.1.3 Đặc điểm lao động - việc làm 42
2.1.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và dự báo tình hình thu hồi đất và nhu cầu tạo việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở Hoài Đức trong thời gian tới 44
2.2 Kết quả chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 47
2.2.1 Kết quả triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 47
2.2.2 Kết quả tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 53
2.3 Tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 57
2.3.1 Những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 57
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại 59
Tiểu kết chương 2 61
Trang 5CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHỦ YẾU CHO NÔNG DÂN
SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC 63
3.1 Quan điểm và phương hướng tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 63
3.1.1 Quan điểm tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 63
3.1.2 Phương hướng tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 66
3.2 Một số giải pháp chủ yếu và khuyến nghị tạo việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức 68
3.2.1 Nhóm giải pháp tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế - xã hội 68
3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách đối với người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp 73
3.2.3 Nhóm giải pháp tạo việc làm thông qua giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 78
3.2.4 Nhóm giải pháp về tài chính 80
3.2.5 Nhóm giải pháp tăng cường tính tích cực của người lao động 82
3.2.6 Nhóm giải pháp về hạn chế tỷ lệ tăng dân số và nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn 84
3.2.7 Một số khuyến nghị 87
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
3 KT - XH Kinh tế - Xã hội
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện qua các năm 40
Bảng 2.2: Thu nhập bình quân đầu người 40
Bảng 2.3: Quy mô dân số và lực lượng lao động 42
Bảng 2.4: Tình hình thất nghiệp của lực lượng lao động trong huyện 43
Bảng 2.5: Số lượng và tỷ lệ thiếu việc làm trong dân số hoạt động kinh tế thường xuyên (HĐKTTX) của huyện 44
Bảng 2.6: Lực lượng lao động đang làm việc (theo ngành Kinh tế của huyện)48 Bảng 2.7: Kết quả giải quyết việc làm 3 năm 2012 - 2014 52
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cả nước nói chung và huyện Hoài Đức nói riêng đang trong quá trình CNH, HĐH Vì vậy, việc phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị là một đòi hỏi tất yếu
Hoài Đức là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, phía Bắc tiếp giáp với quận Bắc Từ Liêm, huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng; Phía Đông giáp quận Hà Động và quận Nam Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Quốc Oai và huyện Phúc Thọ; phía Nam giáp quận Hà Đông và huyện Quốc Oai Hoài Đức trở thành một cửa ngõ quan trọng của Thủ đô Hà Nội với nhiều huyết mạch giao thông quan trọng như Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32, các trục tỉnh lộ 420,
422, 423 và nhiều dự án như đường vành đai 4 và các khu đô thị
Trong quá trình mở rộng và phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị dẫn đến sự thay đổi về mục đích sử dụng đất đai, lao động, việc làm và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nông dân Về lâu dài, sự thay đổi này mang tính chất tích cực, tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế huyện Hoài Đức theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, sự phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị trên địa bàn huyện Hoài Đức cũng tạo ra rất nhiều khó khăn cho người nông dân (14.844 hộ nông dân với số lao động 29.688) sau khi thu hồi đất nông nghiệp, nhất là những nơi có tốc độ công nghiệp và đô thị hoá diễn ra nhanh Trong đó, vấn đề việc làm của người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp được coi là vấn đề cấp thiết nhất đối với cấp uỷ, chính quyền huyện Hoài Đức hiện nay
Giai đoạn vừa qua, mặc dù Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện Hoài Đức đã và đang thực hiện nhiều biện pháp, chính sách về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất Tuy nhiên, công tác tạo việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất ở huyện Hoài Đức vẫn một
Trang 9số tồn tại như: số lượng nông dân sau khi thu hồi đất thiếu việc làm, việc làm
bếp bênh, thu nhập giảm, thất nghiệp v.v Hậu quả lâu dài dẫn đến tình trạng tệ
nạn xã hội, sự chênh lệch trong xã hội ở Hoài Đức có xu hướng ngày càng cao
Từ góc nhìn của Khoa học quản lý, cần có những chính sách, biện pháp tổng thể, đồng bộ, toàn diện để mở rộng việc làm, ổn định thu nhập, giải quyết triệt để các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội cho nông dân sau khi thu hồi đất
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội”
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chính sách tạo việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất không phải là một vấn đề mới mẻ mà đã được nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu và có liên quan tới đề tài như:
Năm 1998, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã xuất bản cuốn sách
Thực trạng lao động-việc làm ở Việt Nam (Nxb thống kê) để đánh giá một cách
tương đối toàn diện về các vấn đề: Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam;
quan điểm, chính sách và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động một cách lâu dài và bền vững
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (1997) trong cuốn sách Về chính sách giải
quyết việc làm ở Việt Nam (Nxb Lý luận chính trị) đã trình bày, phân tích làm
rõ: Vị trí của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm Các khái niệm về lao động, thị trường lao động, việc làm Thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam và phương hướng giải quyết Khuyến nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm, mô hình tổng quát về chương trình quốc gia xúc tiến việc làm … Ngoài ra, Nguyễn Hữu Dũng (2004) trong cuốn Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Nxb Lý luận chính trị) cũng đã có những trình bày, phân
Trang 10tích làm rõ: Các khái niệm về việc làm, lao động, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, nông nghiệp, nông thôn Thực trạng vấn để lao động, việc làm và đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Cùng chung chủ đề với tác giả Nguyễn Hữu Dũng, tác giả Đinh Đăng
Định (2004) trong cuốn Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời sống người
lao động ở Việt Nam hiện nay (Nxb Lao động) đã có những trình bày, phân tích
làm rõ: Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam Cơ cấu lao động, khả
năng giải quyết việc làm, đời sống người lao động Những phương hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả Trần Đình Hoan (Nxb Sự thật, 1991) trong cuốn Sử dụng nguồn
lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam đã tập trung trình bày, phân tích
làm rõ các phương diện như: Vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát
triển kinh tế, xã hội, hiện trạng lao động và việc làm, phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam
Phân tích về vấn đề lao động nông thôn, tác giả Vũ Oanh (1998) trong
cuốn sách có tựa đề Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội) đã khái quát về việc làm và nhu cầu dạy nghề cho lao động ở khu vực cần
chuyển mục đích sử dụng đất Xây dựng mô hình dạy nghề cho lao động và vấn
đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích
sử dụng đất; tác giả Nguyễn Văn Phúc (2002) trong cuốn “Công nghiệp nông thôn - Thực trạng và giải pháp” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); cũng tiếp
tục nêu khái niệm công nghiệp, nông thôn, trạng trạng và những giải pháp để
công nghiệp nông thôn đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ CNH, HĐH; tác giả
Đặng Kim Sơn (2008) trong cuốn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt
Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) đã trình bày, phân tích làm rõ: Nêu nên
hệ thống khái niệm về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đưa ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả phát triên nông nghiệp, nông dân, nông
Trang 11thôn; Tác giả Lưu Văn Sùng (2004) Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội) cũng đã chỉ ra: thực trạng về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo
hướng CNH, HĐH, đưa ra một số kinh nghiệm, định hướng về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam Đặc biệt, Viện Nghiên
cứu Khoa học Dạy nghề (2011) trong cuốn sách Mô hình dạy nghề và giải
quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã
trình bày, phân tích làm rõ: Khái quát về việc làm và nhu cầu dạy nghề cho lao
động ở khu vực cần chuyển mục đích sử dụng đất Xây dựng mô hình dạy nghề cho lao động và vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Ngoài các sách chuyên khảo nghiên cứu về tình hình lao động, việc làm nói chung và ở nông thôn nói riêng, trong những năm gần đây còn có các công trình là luận án tiến sĩ về vấn đề này Tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) trong luận
án tiến sỹ kinh tế “Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao
động nông thôn tỉnh Thái Nguyên” đã trình bày, phân tích làm rõ: Thực trạng vấn đề lao động, việc làm tỉnh Thái Nguyên trong 5 năm gần đây (2005 - 2009)
và xu hướng cho 5 năm tiếp theo Đánh giá mức độ bền vững việc làm nông thôn Xây dựng định hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên; Tác giả Nguyễn Văn Nhường
(2011) trong luận án “Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi
thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (Nghiên cứu tại Bắc Ninh)” cũng
đã tiến hành “khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng đời sống người nông dân
bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh) Đề xuất các chính sách về an sinh xã hội với người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp; tác giả Trần Thị Lan (2012) trong
luận án “Quan hệ lợi ích trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu
công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội”đã trình bày cơ sở lý luận và thực thiễn về quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở nước ta, nghiên cứu thực trạng, quan
Trang 12điểm và giải pháp về giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn có các báo cáo chuyên đề của địa phương trong việc làm rõ hơn các khía cạnh về lao động, việc làm cho nông dân nói chung và nông dân thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở Thanh Trì nói riêng Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010) trong đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
ngoại thành Hà Nội” cũng phân tích làm rõ: Thực trạng giải quyết việc làm và kiến nghị giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội; Huyện ủy Hoài Đức (2015): “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoài Đức trình đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2015-2020; Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức (2010) có Đề án phát triển kinh tế huyện Hoài Đức đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Báo cáo Tình hình tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Báo cáo Tình hình tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp các năm 2010 – 2014; Báo cáo kết quả phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng các năm 2010-2014…
Mặc dù, có nhiều công trình đã đưa ra nhiều vấn đề có liên quan đến quá trình đô thị hóa nông thôn, đề cập đến chính sách việc làm cho nông dân, tuy nhiên, các tác phẩm trên nghiên cứu ở phạm vi rộng cấp tỉnh, thành phố lớn còn
cụ thể ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thì chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu Công trình tập trung làm rõ chính sách việc làm cho nông dân sau
khi thu hồi đất nông nghiệp Vì vậy, đề tài “Chính sách việc làm cho nông dân
sau khi thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” có tính mới và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tạo việc làm, luận văn phân tích thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông
Trang 13dân sau thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Trên cơ
sở đó, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân huyện Hoài Đức sau khi thu hồi đất nông nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận, lý thuyết về chính sách tạo việc làm;
- Chỉ ra thực trạng tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức;
- Đề xuất một số giải pháp tạo việc làm ổn định, lâu dài cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức làm đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để phát triển KT - XH ở huyện Hoài Đức
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến 2014
- Không gian: Huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Việc thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức để chuyển đổi mục đích sử dụng làm giảm việc làm, thu nhập của nông dân như thế nào?
- Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
ở huyện Hoài Đức được thực hiện ra sao?
- Thời gian tới cần thực hiện biện pháp gì để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức?
Trang 146 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức khiến nhiều nông dân mất việc làm, thiếu việc làm, giảm thu nhập
- Tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức chưa đạt hiệu quả cao
- Thực hiện một số biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội một cách chưa tổng thể, đồng bộ ở huyện Hoài Đức
7 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan như chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Thành phố Hà Nội, các công trình nghiên cứu và các báo cáo thông kê về giải quyết việc làm về phát triển kinh tế xã hội của huyện Hoài Đức trong quá trình tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
- Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh kết hợp với đánh giá quá trình tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu
Đề tài góp phần bổ sung, cung cấp thêm cơ sở lý luận về chính sách, việc làm, chính sách tạo việc làm để chính quyền huyện Hoài Đức phát triển kinh tế
đi đôi thực hiện công bằng xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu
Trang 15Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đưa ra những căn cứ và cơ sở khoa học cũng như những giải pháp cụ thể tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp; Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho cấp uỷ, chính quyền huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thực hiện hiệu quả hơn chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp;
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy, học tập và những ai quan tâm
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận về việc làm và chính sách tạo việc làm cho
nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp;
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân
sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách tạo việc làm chủ yếu cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
ở huyện Hoài Đức
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách tạo việc làm
1.1.1 Lý luận về việc làm
* Khái niệm việc làm
Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới việc làm luôn là một vấn đề quan trọng, là một trong những mối quan tâm hàng đầu Ngày nay hệ thống lý thuyết
về việc làm được đề cập trên nhiều tài liệu, sách báo trong nước và quốc tế và được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất, nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người
Trong Đại Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc do Viện nghiên cứu và phổ biến trị thức bách khoa Hà Nội biên dịch và xuất bản năm 1998 thì
việc làm được hiểu là “hành vi của nhân viên có năng lực lao động, thông qua
hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất để được thù lao hoặc thu nhập”
Việc làm, theo từ điển Tiếng Việt: “1 Là công việc, nghề nghiệp thường
ngày để sinh sống; 2 Là điều kiện để thực hiện cụ thể với lời nói” [44;1064]
Nói đến nguồn nhân lực xã hội là nói đến sự liên hệ mật thiết tới vấn đề việc làm
Việc làm và việc xác định số lượng người có việc làm là vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia Nó giúp cho việc quy hoạch lao động, quy hoạch phát triển kinh tế thị trường dễ dàng hơn
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những
hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”
Trang 17Theo Điều 9 chương II Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam (2012) xác định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18]
Theo Luật Việc làm (2013) thì "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra
thu nhập mà không bị pháp luật cấm" [19] Theo khái niệm này một hoạt động
được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
+ Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động Điều này chỉ rõ tính hữu ích của việc làm
+ Hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính pháp
lý của việc làm Khác với những hoạt động mà không được coi là việc làm như: mại dâm, ma túy… Tuy những hoạt động này cũng tốn sức lực tạo ra lợi nhuận, thu nhập nhưng bị pháp luật cấm nên không được coi là việc làm
Các khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản:
Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó
hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ
Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với
nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác thì không được coi là việc làm, ví dụ mại dâm ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở nhiều quốc gia phát triển như Nhật Bản lại được coi là một nghề; đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề, thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu
hút khá đông tầng lớp thượng lưu
Để làm rõ bản chất của việc làm người ta còn phân chia việc làm ra thành nhiều loại khác nhau Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau
Trang 18công việc chính Ngoài ra, theo thời gian làm việc còn chia việc làm thành: việc
làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm Việc làm toàn thời gian: Chỉ
một công việc làm 08 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 08 tiếng mỗi
ngày và 05 ngày trong tuần; Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm
không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nước 08 tiếng mỗi ngày và
05 ngày mỗi tuần Thời gian làm việc có thể dao động từ 0,5 đến 05 tiếng mỗi
ngày và không liên tục; Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức,
không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau:
“Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những
công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận”
* Khái niệm tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động
Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của
người lao động, Nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm
và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường
đúng lúc, đúng chỗ
- Về phía người lao động: Muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp
nhất định
- Về phía nhà nước: Tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính
sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu
thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động
Trang 19- Về phía người sử dụng lao động: Cần có thông tin về thị trường đầu
vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực lao động, việc làm Đồng thời đề ra các quy định phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và nâng
cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậy động lực lao động ở mỗi người
Ở khu vực nông thôn về cơ bản không có người thất nghiệp hoàn toàn nhưng vấn đề đáng quan tâm là tình trạng nhàn rỗi (thiếu việc làm) như đã trình bày ở phần trên Sở dĩ không có thất nghiệp hoàn toàn vì mỗi lao động đều có đất để làm tư liệu sản xuất của mình, song trong điều kiện đất nông nghiệp hạn hẹp lại đang có xu hướng thu hẹp dần do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thi hóa, trong khi đó lao động nông thôn bổ sung hàng năm là 1,1 - 1,2 triệu người, cộng với số lao động từ năm trước chuyển sang có nhu cầu giải quyết việc làm, do đó xảy ra tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn là điều không thể tránh khỏi
Tóm lại, từ những đặc điểm lao động việc làm khu vực nông thôn nước
ta cho thấy, thực trạng kinh tế nông nghiệp và lao động nông thôn chưa phát huy hiệu quả cao Chính vì vậy, để thực hiện thành công CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thì tạo việc làm sẽ là giải pháp cơ bản để tăng thời gian làm việc, giảm thời gian nhàn, giảm việc làm thuần nông khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, chủ động tạo ra việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân
1.1.2 Chính sách tạo việc làm cho nông dân
* Khái niệm chính sách
Có nhiều quan niệm, tiếp cận khái niệm chính sách:
Trang 20Theo James E Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec
1983): “chính sách là quá trình hàng động có mục tiêu mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”
Theo PGS.Vũ Cao Đàm: “chính sách là tập hợp biện pháp mà chủ thể
quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực [8; 6] ”
Nhìn chung chính sách là công cụ của chính trị Tuy nhiên không phải chính sách nào cũng bị chi phối bởi quyền lực chính trị và là công cụ phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chính trị Trong nhiều trường hợp chính sách mang tính độc lập với chính trị
Tóm lại, chính sách là tập hợp một hoặc một số biện pháp mà chủ thể
quản lý đưa ra nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội hay đạt mục tiêu nhất định mà chủ để quản lý đang hướng tới
* Khái niệm chính sách tạo việc làm
Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia Chính sách việc làm đúng đắn sẽ góp phần thúc đẩy thị trường lao động phát triển, là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội
Chính sách việc làm được coi là chính sách KT - XH cơ bản giúp bảo đảm sự phát triển bền vững cho nền kinh tế Giải quyết việc làm có thể hiểu là tổng thể các biện pháp, chính sách KT - XH từ vi mô đến vĩ mô tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện để người lao động có thể có việc làm
Chính sách việc làm có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách KT - XH khác Nếu chính sách việc làm được thực hiện tốt nó sẽ sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động nhờ đó thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp sẽ giảm đi Ngược lại, khi các chính sách này không được thực thi tốt, lại rơi vào đúng thời kỳ suy thoái kinh tế thì thất nghiệp sẽ gia tăng, kéo theo là gia tăng các tệ nạn xã hội,
Trang 21làm tăng gánh nặng lên các chính sách an ninh xã hội và như thế có thể kết luận, một chính sách lao động việc làm không có hiệu quả sẽ dẫn đến rối loạn
xã hội và chính trị
Chính sách việc làm cho nông dân nói chung và nông dân sau khi thu hồi đất là một bộ phận của chính sách KT - XH Nó có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách như: Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách việc làm, chính sách đất đai
Về mặt bản chất, có thể hiểu Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất là tổng thể các biện pháp KT - XH được nhà nước hoạch định và thực hiện nhằm hỗ trợ và tạo việc làm mới cho nông dân sau khi thu hồi đất
Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất khác với các chính sách nói chung ở đối tượng mà nó tác động - đó chính là nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp Cần đặt chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất trong hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước như chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách tam nông, chính sách việc làm, chính sách phát triển các khu công nghiệp, chính sách đất đai Do đó, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất không chỉ thực hiện thông qua các biện pháp kinh tế (tín dụng cho nông dân, khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng, trợ cấp, đền bù ) mà còn phải chú trọng đến các biện pháp mang tính xã hội (giáo dục đào tạo, tư vấn việc làm, vận động, khuyến khích chuyển đổi cơ cấu kinh tế ) sự kết hợp hài hòa của các biện pháp phù hợp với tình hình thực tiễn, nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý, tập quán của nông dân sẽ là nhân tố đảm bảo sự thành công của sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách
Đặc điểm của chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất
do các đặc điểm của đối tượng chính sách chi phối
Trước hết, các chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất mang tính hỗ trợ là chủ yếu
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm riêng của Nhà nước đối với nông dân sau khi thu hồi đất mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là
Trang 22cần chính sẽ nỗ lực tìm kiếm và chuyển đổi nghề nghiệp từ chính những người nông dân sau khi thu hồi đất
Thứ hai, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất có tính vùng, tính khu vực rõ rệt
Lực lượng lao động nông nghiệp trên phạm vi cả nước về chất lượng nguồn nhân lực, trình độ dân trí, phong tục tập quán canh tác của nông dân mỗi vùng miền rất khác nhau, sự phân bố dân cư và lao động giữa các vùng dân cư trong nước không đồng đều, số lượng nông dân sau khi thu hồi đất ở mỗi địa phương là khác nhau Tính không đồng đều còn thể hiện ở vị trí địa lý của từng vùng, có những khu vực giá trị của đất đai cao hơn những khu vực khác, có khu vực việc thu hút đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp mạnh mẽ hơn các khu vực khác Do vậy, cùng với chính sách đền bù và hỗ trợ cho nông dân sau khi thu hồi đất, có nhiều mức đền bù ở mỗi địa phương, đòi hỏi các chính sách việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất phải có những văn bản tương xứng Căn
cứ vào nguồn lực và điều kiện thực tế của địa phương, các địa phương xây dựng các phương án, chính sách riêng của mình để giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất
Thứ ba, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất là loại chính sách mang tính xã hội rõ nét
Đây là một trong những nội dung cơ bản của công bằng xã hội và phát triển cuộc sống con người Đối tượng của chính sách giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất liên quan đến một trong những mặt sống còn của cuộc sống con người Do vậy, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất mang đầy đủ những đặc trưng của một tính chất xã hội Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất là loại chính sách liên quan trực tiếp đến con người và mang tính xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc bởi vì mục tiêu cơ bản của nó là hiệu quả xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, đảm bảo cuộc sống của hàng triệu nông dân sau khi thu hồi đất và đảm bảo tính công bằng, bình đẳng Việc làm còn là cơ sở để giải quyết các vấn đề mang tính văn hóa, xã hội khác Người lao động không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến
Trang 23đời sống gia đình và đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến xã hội Tệ nạn xã hội sẽ tăng lên, tình hình chính trị, xã hội sẽ không ổn định và khó giải quyết được
Thứ tư, tổ chức triển khai văn bản chính sách phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý, tập quán của người nông dân của lao động nông thôn
Trong điều kiện dân cư nông thôn dân trí thấp hơn các khu vực khác, hoạt động nông nghiệp với sự tác động của điều kiện tự nhiên đã tạo ra những đặc điểm tâm lý rất khác nhau giữa nông dân các vùng miền trong cả nước Trong điều kiện như vậy, những chính sách tác động đến nông dân phải có những biện pháp tổ chức thích hợp mang lại hiệu quả cao
1.2 Sự cần thiết thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
Thực hiện chính sách việc làm có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển KT- XH Vì sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sự dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ trong đó việc sự dụng lao động có vai trò quan trọng và quyết định tới sự phát triển Chính sách tạo việc làm cho người lao động nói chung và nông dân sau khi thu hồi đất nói riêng có vai trò quan trọng không chỉ đối với xã hội mà còn bản thân người lao động, cụ thể:
1.2.1 Đối với xã hội
CNH là xu hướng tất yếu của các quốc gia muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao Trong quá trình đó dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động Hoạt động sản xuất cũ mất đi, thất nghiệp phát sinh Cho nên, tạo việc làm cho người lao động là cần thiết nhằm giảm thất nghiệp, hạn chế sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị, giảm gánh nặng cho các thành phố lớn trong vấn đề tạo việc làm Đồng thời, tạo việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế tiêu cực xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội Tạo việc làm cho người lao động là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia, nó cho phép giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
Trang 24Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, thực chất là nối liền kinh tế với xã hội Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất phù hợp
và có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, chính trị và xã hội
Thứ nhất, về mặt kinh tế
Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất sẽ khai thác và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Ở nước ta lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm hơn 70% lực lượng lao động cả nước Hàng năm, lực lượng lao động nông nghiệp đã đóng góp đáng kể cho GDP của đất nước Nếu không sử dụng hoặc sử dụng thiếu hiệu quả lực lượng lao động này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tài nguyên con người – nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước
Chính sách tạo việc làm hợp lý còn cho phép sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và vốn Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất sẽ góp phần tích cực trong việc phân bổ lao động một cách hợp lý
Thứ hai, về mặt chính trị
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ Bảy (khóa VII) của Đảng
đã xác định vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân (tam nông) là cơ sở
để ổn định chính trị đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, nhiều cơ chế chính sách đã ban hành không còn phù hợp, tính đồng bộ của chủ trương chính sách không cao Quá trình đô thị hóa khiến Nhà nước phải thu hổi đất nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng đất khiến nông dân bị mất tư liệu sản xuất, mất việc làm đang trở thành một vấn đề gây bức xúc trong xã hội Nếu không giải quyết được vấn đề không những gây ảnh hưởng đến KT - XH mà còn ảnh hưởng lớn đến chính trị Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, cả quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, để ổn định chính trị, các nhà lãnh đạo luôn phải quan tâm đến vấn đề việc làm và hạn chế thất nghiệp
Trang 25Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất sẽ củng cố và duy trì lòng tin của hàng chục triệu nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng và việc thực hiện tôn chỉ, mục tiêu của Đảng ta Vì vậy, nếu phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta thu hồi đất của nông dân để chuyển mục đích sử dụng bất chấp những hậu quả sẽ xảy ra đối với đời sống của những người bị thu hồi đất thì lòng tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ bị xói mòn Một chính sách không hợp lý sẽ không thu phục được lòng tin nhân dân, do vậy tất yếu sẽ gây ra khiếu kiện, khiếu nại làm tổn hại đến uy tín của Nhà nước và xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, ở Việt Nam có đến 70% - 80% số vụ việc khiếu kiện, thắc mắc, tranh chấp trong đời sống xã hội liên quan đến đất đai Đại đa số các vụ khiếu kiện đông người, phức tạp, khó giải quyết cũng liên quan đến đất đai Việc đền bù kéo dài trong nhiều năm, tình trạng tham nhũng của cán bộ liên quan đến đất đai đang dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện, biểu tình kéo dài trước các trụ sở các cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương
Thứ ba, về mặt xã hội
Chính sách tạo việc làm giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Không có việc làm đối với người lao động đặc biệt tầng lớp thanh niên là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút, v.v Khi con người có việc làm sẽ thỏa mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ổn định và nâng cao đời sống của người lao động
Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở nông thôn sẽ ngăn chặn việc di dân tự do, ồ ạt từ khu vực nông thôn ra khu vực đô thị để kiếm sống, Việc di dân tự do từ nông thôn ra thành thị là một vấn đề nóng bỏng, đặc biệt là các nước đang phát triển Điều đó dẫn đến mật độ dân số ở đô thị tăng đột biến, quá tải về cơ sở hạ tầng, gây ra sự lộn xộn và tạo sức ép lớn lên các khu đô thị như nhà ở chật chội, thiếu thốn, giá cả leo thang, nạn xây dựng, lán
Trang 26chiếm đất công bừa bãi, tệ nạn xã hội, bệnh tật, lối sống xô bồ, xuống cấp, ô nhiễm môi trường Đây là những vấn đề khó giải quyết cho các cơ quan quản
lý ở đô thị
Nông dân bị thu hồi đất và không có việc làm là một trong những vấn đề
mà các chuyên gia kinh tế đã cho là “có tính chất xã hội nan giải” Như vậy,
nếu không có chính sách hỗ trợ phù hợp, người nông dân mất đất sẽ bị đẩy trở lại tình trạng đói nghèo Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động
có ý nghĩa giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của
sự phát triển, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người
1.2.2 Đối với người nông dân
Tạo việc làm cho người lao động đáp ứng quyền lợi của người lao động, quyền có việc làm và nghĩa vụ phải làm việc của người trong độ tuổi lao động,
có khả năng lao động như Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận
Tạo việc làm có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mọi quốc gia; góp phần quan trọng với bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội
Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, từ đó nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và xã hội Nếu không có việc làm sẽ không có thu nhập
và không có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút, nảy sinh những hành động, suy nghĩ tiêu cực, gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước
Đối với người nông dân nói riêng: Đất đại là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của người nông dân Với nông dân, có đất coi như là đã sống vì ít nhất họ cũng đủ cơm ăn từ những thửa ruộng của mình Giờ đây, khi đất canh tác của người nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp, khu đô thị làm cho
Trang 27người nông dân rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi Ngoài việc cày cấy ra họ không biết làm gì Không nghề nghiệp, không trình độ Người bỏ đi làm xa, lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ còn phụ nữ, người già, trẻ nhỏ ở lại Trong khi họ là những người thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tư
duy “ăn chắc, mặc bền” sản xuất nhỏ lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm
kiếm việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn Tình cảnh nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu hơn đang là tác nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị
Do đó, tạo việc làm cho nông dân là cần thiết nhất là những nông dân bị mất đất canh tác Nông dân là cái nền của xã hội, xã hội sẽ không yên nếu cái nền không yên Mọi sự phát triển, mọi bước đi sẽ trở nên chông chênh Không thể đền bù với mức giá thấp như hiện nay rồi bỏ mặc nông dân trong vòng xoáy của thất nghiệp Điều này liên quan đến một loạt các chính sách về giáo dục, đào tạo, đặc biệt đối với thanh niên, bởi đây là lực lượng nòng cốt, là xương sống để phát triển kinh tế nông thôn, duy trì bản sắc dân tộc Nông thôn đang mất đi một lực lượng lao động quan trọng, khiến cho sự phát triển kinh tế khu vực này bị kìm hãm Nếu công nghiệp hóa và đô thi hóa không gắn liền với quyền lợi và việc làm của người nông dân, nông thôn thì sẽ tạo ra mất ổn định tại nông thôn và làm chậm tiến trình công nghiệp hóa Việc làm cho nông dân, hướng đi để phát triển nông thôn bền vững
1.3 Hệ thống chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.3.1 Chính sách chung của Nhà nước về tạo việc làm
Để tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay, thì vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn là vấn đề hết sức quan trọng Nghị quyết Đại hội X của Đảng khẳng định:
"Phát triển đồng bộ các loại thị trường và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa"
Trang 28Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tạo môi trường thông suốt để phát triển thị trường lao động, gắn kết cung - cầu lao động Đa dạng hóa các hình thức giao dịch việc làm, đảm bảo quyền của người lao động lựa chọn chỗ làm việc, thực hiện rộng rãi chế hộ hợp đồng lao động; đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp Tăng cường hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động này
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề cập đến cả 3 nội dung của vấn đề
"tam nông”, đó là nông nghiệp - nông dân - nông thôn: Nông nghiệp là cơ sở,
nông thôn là địa bàn, nông dân là lực lượng đông đảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định chính trị - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương, đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương bảy khóa X của Đảng Quán triệt sâu sắc và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển mới trong những năm tới đây
Cũng như nhiều chính sách xã hội khác, các chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất rất đa dạng, có thể phân loại như sau:
Các chính sách vĩ mô nhằm mở rộng và tạo việc làm cho lao động xã hội
nói chung, lao động là nông dân sau khi thu hồi đất nói riêng Các chính sách này bao gồm: chính sách tín dụng, vốn, đào tạo nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động nông thôn, tạo lập và mở rộng thị trường cho nông dân sau khi thu hồi đất tìm việc làm
Các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề và lĩnh vực có khả
năng tạo ra nhiều việc làm: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển các ngành kinh tế phụ trợ, chính sách di dân xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xuất khẩu lao động, chính sách phát triển công nghiệp nông
Trang 29thôn, chính sách khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống
Cụ thể là:
- Chính sách về đào tạo nghề cho nông dân sau khi thu hồi đất
Quyết định số: 971/QĐ-TTg ngày 01 tháng 07 năm 2015 về việc sửa đổi,
bổ sung quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Thay vì quy định chung chung đối tượng được ưu tiên đào tạo
nghề như trước đây (bao gồm lao động nông thôn là người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo ), Quyết định đã quy định chi tiết hơn độ tuổi của đối tượng được đào tạo nghề theo Đề án, cụ thể, chỉ đào tạo đối với lao động nông thôn từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (hoặc 55 tuổi đối với nữ), có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học, trong đó, người lao động phải có hộ khẩu thường trú tại
xã hoặc có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi Việc tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn (bao gồm cả nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp) chủ yếu là dạy thực hành và được thực hiện tại nơi sản xuất; thời gian đào tạo phải phù hợp với nghề đào tạo, đặc điểm của quy trình sản xuất, quy trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi ở từng vùng, từng địa phương và phù hợp với nhu cầu của người học Đồng thời, cần tổ chức lồng ghép, huy động các nguồn lực trong đào tạo nghề một cách linh hoạt, phù hợp giữa các đề án, chương trình, nhất là chương trình phổ biến, nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật cho cộng đồng Dự kiến, giai đoạn 2016 - 2020, sẽ đào tạo nghề được cho
06 triệu lao động nông thôn, trong đó khoảng 5,5 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề; 500.000 lượt cán bộ, công chức xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý KT - XH chuyên sâu
Để hoàn thành mục tiêu CNH, HĐH đất nước nói chung và cho sự phát triển của nông nghiệp – nông thôn nói riêng nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực
có chất lượng cao đóng vai trò then chốt Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan
Trang 30tâm đến công tác đào tạo nghề nhất là đạo tạo nghề cho lao động nông thôn và bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ Mặc dù vậy, thực tế lao động nông thôn vẫn còn hạn chế về trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, tác phong chưa đáp ứng các yêu cầu của CNH, HĐH
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vừa là khâu cơ bản, vừa là khâu đột phá làm dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từng bước nâng cao trình độ đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cao Chính vì vậy, công tác đào tạo nghề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển KT - XH
Việc thu hồi đất phục vụ cho công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh
mẽ khiến nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi và nhiều nông dân mất tư liệu sản xuất đồng nghĩa với một bộ phận ngày càng đông đảo những người nông dân bị buộc phải đột ngột từ bỏ tư liệu sản xuất và nghề nông truyền thống của họ, đặt họ trước những nhu cầu đào tạo nghề và áp lực nghề càng căng thẳng hơn trong bối cảnh đầy cạnh tranh và thiếu đảm bảo về xã hội Tình trạng này còn bị tô đậm thêm gắn với nhiều nguyên nhân, trong đó có việc bản thân người lao động không được tiếp cận đầy đủ thông tin, kế hoạch, quy hoạch
về sử dụng đất, khiến họ bị động Các cơ sở đào tạo nghề cho nông dân còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của nông dân cũng như nhu cầu của các nhà tuyển dụng Hơn nữa, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc định hướng cho nông dân học nghề, chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất sản xuất Số lượng lao động trình độ thấp, tuổi cao, khó đào tạo, nhận thức chưa đầy đủ về học nghề Do vậy, không nhiều lao động trong các hộ thuộc diện thu hồi đất được tuyển dụng vào các doanh nghiệp đóng trên địa bàn có đất bị thu hồi hoặc các vùng lân cận Điều đó đã đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách về nâng cao dân trí và đào tạo nghề cho nông dân sau khi thu hồi đất một bài toán khó cần sớm có lời giải
- Chính sách vốn tín dụng để tạo việc làm
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ
“về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” Theo
Trang 31Nghị định chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tổ chức tín dụng được xem xét cho cá nhân, hộ gia đình cư trú trên địa bàn nông thôn hoặc có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; chủ trang trại và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn (trừ doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, khai khoáng, cơ sở sản xuất thủy điện, nhiệt điện) vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên cơ
sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật Trong đó, mức cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa là 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn, có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn hoặc ngoài khu vực nông thôn, có tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp; tối
đa 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm; 300 triệu đồng với tổ hợp tác và hộ kinh doanh; 500 triệu đồng với hộ nuôi trồng thủy sản, hộ khai thác hải sản xa bờ có ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với tổ chức chế biến, xuất khẩu trực tiếp và tối đa 03 tỷ đồng đối với liên hiệp hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ phục vụ khai thác hải sản xa bờ Các đối tượng được vay không có tài sản bảo đảm nêu trên phải nộp cho tổ chức tín dụng cho vay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và đất không có tranh chấp do UBND cấp xã xác nhận Thời hạn cho vay được xác định dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi án của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng Hết thời hạn cho vay, khách hàng chưa trả được nợ do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, sẽ được xem xét
cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ; đồng thời, sẽ được xem xét cho vay mới khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất nếu dự án, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ khả thi
Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định
“về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm”
Trang 32Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động và Luật Việc làm về chính sách việc làm công, hỗ trợ đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên và
Quỹ quốc gia về việc làm, cụ thể: Cơ sở sản xuất, kinh doanh được vay 01 dự
án tối đa là 01 tỷ đồng và không quá 50 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm Đối với người lao động, mức vay tối đa là 50 triệu đồng; Thời hạn vay vốn không quá 60 tháng (thời hạn cụ thể do Ngân hàng chính sách xã hội và đối tượng vay vốn thỏa thuận); Lãi suất vay vốn bằng với lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định
Để giải quyết việc làm yếu tố cơ bản đầu tiên là vốn Chính sách vốn và tín dụng là một chính sách có vài trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất Chính sách này hướng tới hai đối tượng chính đó
là các doanh nghiệp và nông dân bị thu hồi đất Doanh nghiệp cần vốn để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp lớn mạnh sẽ là nơi thu hút lao động Sau khi thu hồi đất, người nông dân mất đi kế sinh nhai, buộc họ phải chuyển đổi sang làm những công việc khác ngoài nông nghiệp Để chuyển đổi nghề nghiệp, họ cần
có vốn để học nghề, để đầu tư kinh doanh, làm dịch vụ việc sang nghề mới không đơn giản, người lao động phải làm quen, học hỏi và thậm chí thất bại, phải trải qua nhiều nghề khác nhau hoặc để đi xuất khẩu lao động, những nông dân này cũng phải có tiền thế chấp, các khoản phí học nghề, phí dịch vụ môi giới cho các công ty xuất khẩu lao động
Như vậy, để giải quyết công ăn việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất, Nhà nước cần phải có chính sách về hỗ trợ vốn và tín dụng hợp lý mang tính nâng đỡ cho các doanh nghiệp (nơi tạo ra việc làm và tiếp nhận nông dân sau khi thu hồi đất) và đặc biệt là nông dân sau khi thu hồi đất để họ có thể tự tạo việc làm cho chính bản thân mình
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp
Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ
về “Một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp”
Trang 33Mục tiêu là xây dựng một nền nông nghiệp mạnh, phát triển bền vững, được áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới, từng bước được hiện đại hoá, vươn lên trở thành một nền nông nghiệp với những ngành sản xuất hàng hoá lớn, có sức cạnh tranh ngày càng cao trong quá trình hội nhập quốc tế, có năng suất và thu nhập cao trên một đơn vị diện tích, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần nâng cao đời sống nông dân, ổn định kinh tế và xã hội đất nước
Việc lựa chọn cơ cấu, qui mô và chủng loại sản phẩm các ngành hàng sản xuất nông nghiệp phải khai thác được lợi thế của cả nước và từng vùng, bám sát nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, phải có khả năng tiêu thụ được hàng hoá, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, sinh thái
Đây là một giải pháp đúng định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nói riêng Sản xuất ở nông thôn đã và đang chuyển dịch theo hướng từ thuần nông sang kết hợp chặt chẽ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ
Trong thực tế phát triển, muốn CNH, HĐH thì một phần lớn đất nông nghiệp được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, chủ yếu cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị Chính vị vậy, một bộ phận lớn nông dân bị mất đất sản xuất, phải chuyển đổi nghề nghiệp Ngược lại, việc thu hồi đất nông nghiệp cũng là một cơ hội để chúng ta thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong cả nước Do đó, việc hoàn thiện chính sách về chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm tại chỗ cho nông dân là một yêu cầu cấp bách hiện nay
Với phương châm tạo việc làm trong khu vực nông nghiệp, nông thôn “ly
nông bất ly hương” Nhà nước cần có chính sách tạo việc làm tại chỗ cho những
nông dân sau khi thu hồi đất để tránh gây những xáo trộn, biến động về dân số các vùng và hạn chế dòng người nhập cư vào các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm Chính sách tạo việc làm tại chỗ còn tạo điều kiện khai thác các tiềm năng kinh tế của các địa phương, tránh lãng phí các nguồn lực
Trang 34- Chính sách về đất đai và đền bù khi bị thu hồi đất
Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên,
Môi trường “về hướng dẫn quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất” ban hành theo Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15
tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Theo đó, Thông tư hướng dẫn một số nội dung quan trọng như:
Việc xác định diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống phải dựa trên từng quyết định thu hồi đất, không được cộng dồn diện tích đất bị thu hồi của các quyết định thu hồi trước đó; Phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau khi phần đất có nhà ở bị thu hồi có thể được chuyển mục đích sử dụng sang đất ở để tái định cư nếu đủ điều kiện để tách thửa Trường hợp không tách thửa được thì Nhà nước thu hồi hoặc người sử dụng tiếp tục sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch; Người không là cán bộ, công chức, viên chức trong hộ gia đình có người là cán bộ, công chức, viên chức đang sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi đất được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, thay đổi nghề nghiệp hoặc tìm việc làm mới
Đất đai là tư liệu sản xuất của người nông dân Mất tư liệu sản xuất đồng nghĩa với việc mất kế sinh nhai cũng như làm thay đổi cấu trúc của lực lượng lao động xã hội Những nông dân không còn ruộng đất chuyển sang các khu vực kinh tế khác nghĩa là họ đã rời khỏi lực lượng lao động nông nghiệp Các chính sách liên quan đến đất đai và đặc biệt là các chính sách về thu hồi đất là loại chính sách hết sức nhạy cảm vì nó tác động đến lực lượng sản xuất chính của nước ta, làm thay đổi quan hệ sản xuất Do vậy cần phải hết sức cẩn trọng khi hoạch định các chính sách liên quan đến đất đai nói chung và thu hồi đất nói riêng Trong phạm vi đề tài luận văn này không đề cập đến chính sách đất đai và đền bù đất nói chung mà chỉ đề cập đến chính sách đất đai và đền bù đất
có liên quan đến nội dung tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Trang 35Mục tiêu của chính sách đền bù khi thu hồi đất của nông dân là đảm bảo tính công bằng và hỗ trợ cho họ khi mất đi tư liệu sản xuất để có thể chuyển đổi nghề nghiệp sang các khu vực khác ngoài nông nghiệp Chính sách về đất đai nói chung và đền bù thu đất nói riêng có hiệu quả, khả thi sẽ là tiền đề tốt để thực hiện giải quyết việc làm Giá đền bù cao hay thấp, thỏa đáng hay không thỏa đáng, phương thức đền bù như thế nào, thủ tục đền bù đơn giản hay phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội nghề nghiệp của nông dân bị thu hồi đất Một chính sách về đất đai hợp lý như: khai hoang mở rộng diện tích đất mới, quy hoạch đất, cải tạo đất, thu hồi đất cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
- Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế - hải quan, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh
Doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng của kinh tế của đất nước và thu hút lực lượng lao động xã hội Doanh nghiệp được kỳ vọng là nơi thu hút và đào tạo lực lượng lao động là những nông dân
bị thu hồi đất Có thể nói hệ thống doanh nghiệp vừa là đồng minh của Nhà nước vừa là một công cụ hữu hiệu của nhà nước để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Doanh nghiệp là lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, là nền tảng cho việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất của Nhà nước Do đó, chính sách đối với doanh nghiệp trong việc tạo việc làm cho nông dân nói chung và nông dân bị thu hồi đất nói riêng là hết sức quan trọng Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp khỏe mạnh đồng nghĩa với việc nền kinh tế khỏe mạnh và có nhiều việc làm cho người lao động trong đó có đối tượng nông dân bị thu hồi đất Nhà nước cũng cần có những chính sách quy định
Trang 36trách nhiệm đào tạo sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ trong dó ưu tiên đối tượng nông dân bị thu hồi đất
1.3.2 Chính sách đặc thù của thành phố Hà Nội về tạo việc làm đối với nông dân
Hiện nay, đứng trước tình hình nhiều dự án mới của thành phố tiến hành giải phóng mặt bằng để thực hiện tiến độ, đẩy nhiều người lao động bị thu hồi đất mất nơi hoạt động sản xuất, kinh doanh, mất việc làm Điều đó góp phần tạo nên sự mất cân bằng giữa cung và cầu trong xã hội do người lao động không có thu nhập, sẽ hạn chế trao đổi giao lưu buôn bán Vấn đề này về lâu về dài sẽ là một yếu tố quan trọng, tạo nên sự kìm hãm cho sự phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời góp phần gây nên nhiều tiêu cực trong xã hội Tuy nhiên, quá trình tạo việc làm cho những người lao động bị thu hồi đất lại không
hề đơn giản, bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như họ chưa ổn định được đời sống tinh thần, vật chất, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, khó khăn trong việc tìm kiếm công việc làm mới cho bản thân Hiểu được điều này, Chính phủ đã ban hành các chính sách, nghị định, quyết định, công văn… để có thể tạo điều kiện thuận lợi và tốt nhất để người lao động bị thu hồi đất sớm có việc làm
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV đã xác định: Thực hiện có hiệu quả đề án phát triển thị trường lao động cần có giải pháp để nâng cao chất lượng công tác giải quyết việc làm, trong đó ưu tiên lao động thuộc diện chính sách, lao động ở những khu vực bị thu hồi đất canh tác; đẩy mạnh xuất khẩu lao động Phấn đấu bình quân hàng năm giải quyết việc làm
và tái tạo việc làm cho khoảng 140 - 145 nghìn lao động, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề, bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu lao động Củng cố
và quản lý tốt các trung tâm dịch vụ việc làm; duy trì và phát triển có hiệu quả mô hình các hội chợ việc làm trên địa bàn Thành phố [25; 35]
CNH, HĐH đất nước phải hỗ trợ mạnh mẽ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông
Trang 37thôn; nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then chốt…
Ngoài ra còn một số các chính sách, Nghị quyết được Nhà nước và chính quyền Thành phố đề ra để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nông dân bị thu hồi đất trong việc ổn định đời sống và giải quyết việc làm như:
Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 của Thành ủy Hà Nội về
“Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời
sống nông dân giai đoạn 2011-2015” với những mục tiêu cụ thể: 1) Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa tập trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái 2) Xây dựng nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái, cảnh quan sạch đẹp, gắn kết hợp lý giữa phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị 3) Từng bước nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nông dân Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến để phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc; chú trọng giải quyết việc làm, giảm dần khoảng cách thu nhập, hưởng thụ văn hoá giữa nông thôn và thành thị 4) Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội ở khu vực nông thôn
Kế hoạch số 150/KH-UBND ngày 26/12/2010 của UBND Thành phố
“về đào tạo nghề cho lao động nông thôn” theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg
ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2011-2015
Quyết định số 41/2013/QĐ-UBND ngày 25/9/2013 của UBND Thành
phố Hà Nội “về việc hỗ trợ học nghề, tạo việc lam và tín dụng cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội” theo Quyết
định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 38Hướng dẫn số 1977/HD-SLĐTBXH ngày 22/11/2010 của Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội “về hướng dẫn triển khai công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn năm 2020”
Huyện ủy Hoài Đức luôn quan tâm tới công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm đối với người lao động trên địa bàn huyện Ngày 10/4/2011, Huyện ủy Hoài Đức xây dựng chương trình số 02-CTr/ HU về nâng cao chất lượng giáo dục và phổ cập Trung học, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm Chương trình số 05-CTr/HU ngày 10/3/2011 về phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng người Hà Nội văn minh thanh lịch giai đoạn 2011 – 2015 với mục
tiêu “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội trên địa
bàn huyện, hàng năm đào tạo nghề cho 2000 lao động, giải quyết việc làm cho
6500 lao động”
Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Hoài Đức, UBND huyện đã triển khai xây dựng các kế hoạch thực hiện như ban hành kế hoạch số 08/KH – UBND ngày 22/8/2011 về Đào tạo nghề giải quyết việc làm giai đoạn 2011 – 2015; xây dựng Đề án Đào tạo nghề và giải quyết việc làm ngày 14/5/2012 với mục tiêu: Chú trọng công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng, đổi mới chương trình dạy nghề sát với thực tiễn, chú trọng công tác đào tạo nghề dài hạn, phát triển ngành nghề truyền thống, dịch vụ, đô thị, chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang dich vụ, thương mại, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; Tập trung giải quyết việc làm cho người lao động qua đào tạo và lao động phổ thông, phấn đấu mỗi xã có 01 sản phẩm nghề truyền thống phù hợp với đặc thù địa phương Xây dựng các chỉ tiêu cơ bản của Đề án như: Trung bình hàng năm đào tạo nghề cho 2000 lao động, giải quyết việc làm cho 6100 lao động; Nâng thời gian sử dụng của lao động nông thôn từ 85,5 lên 88% ; Giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 5,16% năm 2010 xuống còn 5% năm 2015 ; Giải quyết việc làm cho 80% lao động qua đào tạo; Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 52% năm 2010 lên 60% năm 2015
Trang 39Ngày 22/8/2011, UBND huyện Hoài Đức đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-UBND về việc kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 22/10/2011, UBND huyện ban hành Đề án số 15/ĐA – UBND về Đào tạo nghề với lao động nông thôn huyện Hoài Đức đến năm 2020 với mục tiêu: Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho 2000 lao động nông thôn; Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôn nghiệp, nông thôn; tỷ lệ lao đông nông thôn qua đào tạo nghề có việc làm tối thiểu đạt 80%
Tiểu kết chương 1
Chương 1 trình bày khái luận về việc làm và chính sách tạo việc làm cho nông dân; nêu lên sự cần thiết thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp; hệ thống chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp của Nhà nước, Thành phố Hà Nội Tiếp theo chương 1, Chương 2 trình bày thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức
Trang 40CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC
2.1 Khái quát đặc điểm huyện Hoài Đức
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hoài Đức là một huyện đồng bằng ngoại thành Hà Nội với 19 xã và 01 thị trấn Diện tích tự nhiên là 8.246,77 ha, trong đó đất nông nghiệp: 4.217,09
ha, đất phi nông nghiệp: 3.972,38 ha, đất chưa sử dụng: 57.30 ha Phía Bắc tiếp giáp với quận Bắc Từ Liêm, huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng; Phía Đông giáp quận Hà Đông và quận Nam Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Quốc Oai và huyện Phúc Thọ; phía Nam giáp quận Hà Đông và huyện Quốc Oai Địa bàn huyện có các Quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua như Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 32
và các đường tỉnh lộ 70, 420, 422, 423 Vì vậy, thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa, phát triển KT-XH [10; 3]
Hoài Đức chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, với 2 mùa chủ yếu là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 và thường kết thúc vào tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25o
C Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (nhiệt độ
từ 13,2oC - 17,oC), tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 7 (nhiệt độ từ 13,2oC - 38oC) Độ ẩm không khí Độ ẩm trung bình hàng năm là 85,59% Độ
ẩm trung bình tháng cao nhất: 91% (tháng 3), thấp nhất 82% (tháng 2) Lượng mưa phân bố không đồng đều, thường tập trung từ tháng 5 - tháng 10 có lượng mưa lớn và chiếm tới 60% - 70% tổng lượng mưa năm Lượng mưa trung bình năm là 1218 mm Lương mưa trung bình cao nhất 2099 mm, thấp nhất 1188mm Do vậy, thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt cây ăn quả, hoa, rau [10; 4]
Hoài Đức cũng phải đối mặt với những khó khăn thách thức như: Ô nhiễm nước thải từ 02 con sông: sông Đáy, sông Tích do ô nhiễm rác thải từ việc sản xuất kinh doanh của các công ty ở điểm, cụm công nghiệp và các làng