1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Châu Á Học, Tư Tưởng Ishida Baigian, Thời Kỳ Edo, Phong Trào Sekimon Shingaku, Nho Giáo.pdf

294 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Ishida Baigan Và Phong Trào Sekimon Shingaku Từ Trung Kì Edo Đến Nay
Tác giả Kiều Hồng Hạnh
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Thu Giang
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 294
Dung lượng 20,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KIỀU HỒNG HẠNH TƢ TƢỞNG ISHIDA BAIGAN (1685 1744) VÀ PHONG TRÀO SEKIMON SHINGAKU TỪ TRUNG KÌ EDO ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngàn[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KIỀU HỒNG HẠNH

TƯ TƯỞNG ISHIDA BAIGAN (1685-1744)

VÀ PHONG TRÀO SEKIMON SHINGAKU

TỪ TRUNG KÌ EDO ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KIỀU HỒNG HẠNH

TƯ TƯỞNG ISHIDA BAIGAN (1685-1744)

VÀ PHONG TRÀO SEKIMON SHINGAKU

TỪ TRUNG KÌ EDO ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học

Mã số: 60 31 06 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Giang

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Tư tưởng Ishida Baigan (1685-1744) và phong trào Sekimon Shingaku từ trung kì Edo đến nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Thu Giang

Mọi trích dẫn trong Luận văn này đều được ghi rõ nguồn đầy đủ và cụ thể Nội dung Luận văn này không trùng lặp với bất cứ nội dung luận văn nào

đã công bố

Tác giả

Kiều Hồng Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn là TS Phạm Thị Thu Giang đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Bộ môn Nhật Bản học và Chuyên ngành Châu Á học, Khoa Đông Phương học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt những năm học tập vừa qua

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo và bạn học tại trường Đại học Senshu Nhật Bản, đặc biệt là giáo sư Nishizaka Yasushi và giáo sư Arai Katsuhiro thuộc ngành Lịch sử, Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Em cũng không thể quên nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của phu nhân cố giáo sư Ishikawa Ken tại thư viện Kendo Bunko (Tokyo), sự hợp tác tích cực của ông Goto Issei; các thành viên thuộc giảng xá Tâm học Shuseisha (Kyoto) và lớp “Thực hành Sekimon Shingaku” (Tokyo)

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đặc biệt là người mẹ đã luôn động viên em trên bước đường học tập và nghiên cứu

Do trình độ có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 25/10/2015

Kiều Hồng Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1.Tính cấp thiết của đề tài 4

2.Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 10

6.Những đóng góp mới của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1: ISHIDA BAIGAN – CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI 13

1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Nhật Bản thế kỉ XVII-XVIII 13

1.1.1 Bối cảnh kinh tế 13

1.1.2 Bối cảnh xã hội 14

1.2 Sự giải phóng của tri thức và bung nở của các trào lưu tư tưởng có nguồn gốc từ Nho giáo 16

1.2.1 Sự phát triển của tri thức và học thuật thời Edo 16

1.2.2 Sự bung nở của các luồng tư tưởng, học phái có nguồn gốc Nho giáo 18

1.3 Những chuyển biến trong nhận thức của giới thị dân 20

1.3.1 Nhận thức về vai trò của thị dân 20

1.3.2 Nhận thức về tầm quan trọng của gia nghiệp 21

1.3.3 Nhận thức về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và thuật xử thế 22

1.4 Thân thế và sự nghiệp của Ishida Baigan 23

1.4.1 Thân thế của Ishida Baigan 23

1.4.2 Sự nghiệp giảng dạy 26

1.4.3.Những tác phẩm chính 30

TIỂU KẾT 36

Trang 6

CHƯƠNG 2: CHẤT LIỆU VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ISHIDA BAIGAN

36

2.1.Chất liệu tư tưởng của Ishida Baigan 36

2.2 Nội dung tư tưởng của Ishida Baigan 42

2.2.1 Quan hệ giữa Đạo và Tâm 42

2.2.2 Sự phát triển từ Tâm đến học vấn 46

2.2.3 Sự thực hành trong học vấn tri Tâm 48

2.2.4 Tư tưởng thương nhân đạo 50

2.2.5 Sự kết hợp của các đạo đức thông tục với tư tưởng tri Tâm 53

TIỂU KẾT 57

CHƯƠNG 3:SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO SEKIMON SHINGAKU TỪ SAU THỜI KÌ CỦA BAI GAN CHO ĐẾN NAY 57

3.1 Sự triển khai phong trào Sekimon Shingaku nửa sau thời Edo (1745-1867) 58

3.1.1 Bối cảnh thời đại 58

3.1.2 Những biến đổi về nội dung, cơ cấu tổ chức, và phương thức giáo hóa 59

3.2 Sekimon Shingaku sau Chiến tranh thế giới thứ 2 69

3.2.1 Bối cảnh thời đại 69

3.2.2 Sự thành lập và hoạt động của Sekimon Shingakkai những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1949-1952) 71

3.2.3 Hoạt động của Sekimon Shingakkai và các tổ chức thành viên (1953-2000) 74 3.3 Sekimon Shingaku trong đời sống Nhật Bản hiện đại 79

3.3.1 Những thay đổi về hình thức hoạt động của Meiseisha 79

3.3.2 Sự thành lập của “Sekimon Shingaku Jissen Koza” 81

TIỂU KẾT 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tình hình xuất bản trong những năm Kanbun – Genroku (1661-1704) 18

Bảng 2.1: Thống kê trích dẫn trong tác phẩm “Đô bi vấn đáp” 38

Bảng 2.2: Thống kê trích dẫn trong tác phẩm “Kiệm ước tề gia luận” 40

Bảng 3.1: Một số tác phẩm tiêu biểu trong tạp chí “Tâm học” 74

Bảng 3.2:Cơ cấu thành viên của Sekimon Shingakkai 75

Bảng 3.3: Bảng thống kê số lượng và nội dung bài viết trong tạp chí “Tâm” 77

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Đã từ lâu, thành công trong công cuộc cận đại hóa hay sự phát triển thần kì của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ 2 là mối quan tâm và câu hỏi lớn trong giới nghiên cứu xã hội nhân văn của các nước châu Á nói riêng và thế giới nói chung Có thể nói, một trong những yếu tố được xem là nền tảng, cội nguồn cho thành công đó là sự hình thành và phát triển của tư tưởng, học thuật thời kì Edo

Vào thời Edo (1603-1867), Nho giáo được dung nạp như một trụ cột về tư tưởng cho tầng lớp võ sĩ thống trị và trí thức Nhưng sau đó, một cách tự nhiên, Nho giáo trong sự kết hợp với các tôn giáo tín ngưỡng khác như Phật giáo, Thần đạo…dần trở thành chất liệu tư duy và biểu đạt tư tưởng của cả tầng lớp thường dân – tầng lớp bị trị trong xã hội Ở Nhật Bản, từng có thời kì những tư tưởng bắt nguồn

từ tầng lớp thường dân hình thành bằng những “chất liệu” trên bị đánh giá là “lạc hậu”, “phong kiến”, nhưng sau đó đã xuất hiện khuynh hướng nghiên cứu chỉ ra rằng, “những tư tưởng đó đã lay động quần chúng bình dân, khơi dậy những khả năng vô hạn bên trong họ Đó là sự hình thành của một thứ triết học mang tính năng động, chủ thể, trái với Túc mệnh luận của Nho giáo và Phật giáo trong thời kì cận thế” [55, tr.21]

Đây có thể xem là một điểm đặc sắc trong sự phát triển của tư tưởng học thuật ở Nhật Bản so với các nước Đông Á khác, nơi mà học thuật tư tưởng thường gắn liền với khoa cử và vai trò chủ đạo nằm ở tầng lớp thống trị Cũng chính nhờ quá trình sáng tạo và hấp thu này mà nhiều tư tưởng học thuật thời kì Edo đã vượt qua những thăng trầm của lịch sử, vẫn đang được đón nhận và bảo tồn đến tận ngày nay Những tư tưởng học thuật thời kì Edo với sức sống lâu bền như vậy có sự góp mặt của các nhà tư tưởng trưởng thành từ tầng lớp thị dân, trong đó có Ishida Baigan (石田梅岩, 1685-1744) và phong trào tư tưởng Tâm học mang tên ông –

Trang 9

Sekimon Shingaku (石門心学, Thạch môn Tâm học)

Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đang tích cực hợp tác, học hỏi những bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, việc nghiên cứu tư tưởng của Ishida Baigan và lịch sử phong trào Sekimon Shingaku có thể xem là một cách tiếp cận để nhận thức quá trình hình thành, tồn tại cũng như sức mạnh của tinh thần

đã tạo nên những khác biệt và thành công của Nhật Bản

2.Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Nhật Bản

Trong những nghiên cứu về tư tưởng của Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku ở Nhật Bản, có lẽ hiếm có công trình nghiên cứu nào có thể vượt

qua được “Nghiên cứu lịch sử Sekimon Shingaku” (NXB Iwanami Shoten, 1938)

của giáo sư Ishikawa Ken (石川謙) – nhà nghiên cứu hàng đầu về lịch sử giáo dục Nhật Bản thời kì cận thế Bằng phương pháp thống kê, miêu tả rất tỉ mỉ và chi tiết, luận án tiến sỹ với gần 1400 trang này đã phác họa nên quá trình hình thành, phát triển, suy yếu của Sekimon Shingaku với tư cách một nền giáo dục đạo đức bình dân bên cạnh các cơ sở giáo dục khác trong thời kì cận thế

Từ những năm 1940 đến năm 1970, tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku được nghiên cứu chủ yếu trên phương diện lịch sử tư tưởng Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kì này, tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku có lúc không nhận được những đánh giá tích cực Trong nghiên

cứu“Tư tưởng luân lý Nhật Bản” (NXB Iwanami Shoten, 1952), Watsuji Tetsuro

cho rằng, tư tưởng đạo đức thị dân của Baigan chịu sự quy định của võ sĩ đạo, không thể đóng vai trò là tư tưởng dẫn dắt thời đại thay thế cho võ sĩ đạo Xét trong quá trình cận đại hóa Nhật Bản (quá trình đả phá chế độ Mạc phủ), Sekimon

Trang 10

Shingaku cũng không thể nắm giữ vai trò tiên phong chủ đạo giống như các tư tưởng của thị dân ở các nước Châu Âu trong cuộc cách mạng tư sản [54, tr.609-624]

Tiếp nối lập trường này, Maruyama Masao với công trình“Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Nhật Bản” (NXB Đại học Tokyo, 1952) còn khắt khe hơn khi cho

rằng, Sekimon Shingaku không hề có giá trị lý luận của một học thuật, và chưa thoát ra khỏi địa hạt của những đạo đức bình dân thông tục [37, tr.146-147] Tuy nhiên, những đánh giá dựa trên quan điểm lấy phương Tây làm qui chuẩn như vậy dần lu mờ Thay vào đó, những nghiên cứu nhìn nhận lại nội dung cũng như giá trị của tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku đã xuất hiện Năm

1971, Shibata Minoru đã xuất bản công trình“Sekimon Shingaku– hệ thống tư tưởng Nhật Bản 42” (NXB Iwanami Shoten, 1971) tổng kết các tác phẩm tiêu biểu của

các học giả Sekimon Shingaku thời kì cận thế Tác giả đã chỉ ra một cách khách quan những đặc điểm cũng như cả những hạn chế về mặt nội dung của Sekimon Shingaku ở mỗi học giả qua từng thời kì lịch sử Vài năm sau đó, với công

trình“Công cuộc cận đại hóa ở Nhật Bản và các tư tưởng đại chúng” (NXB

Heibonsha, 1969), Yasumaru Yoshio đã có những phân tích hết sức sâu sắc về cấu trúc của các tư tưởng quần chúng trong đó có tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku Đặc biệt, ông ghi nhận những ý nghĩa của các phong trào tư tưởng này, coi đó là một hình thái tư tưởng mang tính lịch sử, một hình thái cụ thể chất chứa những nỗ lực của quần chúng bình dân trong việc xây dựng con người với

tư cách là một cá thể độc lập, cải biến bản thân ở một giai đoạn nhất định của lịch

sử [55,tr.18] Sự tự giác về đạo đức sống của con người thời kì cận thế cũng được xem như một trong những tiền đề của công cuộc cận đại hóa sau đó Cũng trong

khuynh hướng này, Sagara Toru với bài nghiên cứu “Tư tưởng của Ishida Baigan”

(NXB Perikan, 1979) đã chỉ ra cả những ưu việt trong triết học thị dân của Baigan

Trang 11

so với tư tưởng Võ sĩ đạo đương thời, khẳng định những quan niệm sống mới trong con người Nhật Bản do nền triết học đó mang lại

Từ những năm 1990 cho đến nay, bên cạnh những nghiên cứu trên phương diện lịch sử tư tưởng là những nghiên cứu trên phương diện lịch sử kinh tế Tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku được xác lập vị trí trong lịch

sử giáo dục thương nghiệp, và được xem là một trong những khởi nguồn của triết lí kinh doanh kiểu Nhật Bản Những nghiên cứu tiêu biểu cho khuynh hướng này là:

Komiyama Takayuki, “Những khảo sát về sự chuyển biến trong giáo dục thương nghiệp và đạo đức thương nghiệp ở Nhật Bản”, Tuyển tập luận văn Đại học

Aichi Gakuin, Nghiên cứu thương học 47(1/2), 39-63, 2006-12-20

Morita Kenji, “Tư tưởng luân lý kinh tế trong tác phẩm “Đô bi vấn đáp” của Ishida Baigan – những khả năng và giới hạn trong thực tại”, Tuyển tập luận văn

kinh tế Đại học Osaka Gakuin, 23(1), 55-78, 2009-06

Yoshida Kenichi, “So sánh tư tưởng Ishida Baigan và Inamori Kazuo – những ý nghĩa mang tính hiện đại trong tư tưởng của Ishida Baigan”, Kỉ yếu

nghiên cứu Đại học Kagoshima (2), 2010

Watanabe Toru, “Sekimon Shingaku trong doanh nghiệp hiện đại: trường hợp của công ty cổ phần Hanbefu”, Tuyển tập luận văn thương nghiệp Học viện

Kumamoto, 18(2), 59-81, 2014-03

Tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku không chỉ nhận được sự chú ý của các nhà nghiên cứu Nhật Bản mà còn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây, và gần đây là các nước Đông Á trong

đó có Trung Quốc và Hàn Quốc Nhà nghiên cứu ở các nước này đề cao tư tưởng Ishida Baigan ở tinh thần cộng đồng, hòa hợp lợi ích song phương và đa phương khi giảng giải về việc mưu cầu lợi nhuận của thương nhân trong thời kì phong kiến Tiêu biểu cho khuynh hướng này, phải kể đến công trình tập hợp các bài viết của

các nhà nghiên cứu Trung – Nhật – Hàn trong cuốn “Con người của cộng đồng tập

Trang 12

II, Ishida Baigan – nhà giáo dục thị dân và tư tưởng thực hành chí hướng thương nghiệp cộng đồng” (NXB Đại học Tokyo, 2011)

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon

Shingaku còn là một vấn đề mới Trong cuốn “Mấy vấn đề lịch sử Châu Á và Việt Nam” (NXB Văn hóa dân tộc, 2001), giáo sư Nguyễn Văn Hồng từng đưa ra “một

lời giải ảo về sự thành công của Nhật Bản Duy Tân từ học thuyết thị dân của Ishida Baigan” Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở mặt ý tưởng mà chưa có những phân tích cụ thể về nội dung của tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku

Ngoài ra, Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku cũng chỉ được đề cập mang tính chất giới thiệu trong các tác phẩm giới thiệu về lịch sử Nhật Bản hay

lịch sử tôn giáo tư tưởng Nhật Bản như cuốn “Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kì Tokugawa –Nguyên nhân và hệ quả” (NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, 2000) của giáo sư Nguyễn Văn Kim, bản dịch cuốn “Lịch sử tôn giáo Nhật Bản” (NXB Thế

giới, 2011) của giáo sư Sueki Fumihiko

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Từ lịch sử nghiên cứu có thể thấy, những khảo sát về tư tưởng của Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku đã được tiến hành không chỉ ở Nhật Bản

mà còn ở nhiều nước trên thế giới Về nội dung, những công trình nghiên cứu này được triển khai trên ba bình diện chính là lịch sử giáo dục, lịch sử tư tưởng và lịch

sử kinh tế Tuy nhiên, dù ở bình diện nội dung nào, phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu của các công trình trên thường chỉ dừng lại ở thời kì Edo Không thể phủ nhận rằng, tư tưởng Ishida Baigan và sau đó là phong trào Sekimon Shingaku

có những hạn chế mang tính thời đại, và từng bước suy yếu dần vào cuối thời kì

Trang 13

Edo Song, việc đề cao tư tưởng Ishida Baigan và quá trình phục hồi của phong trào Sekimon Shingaku sau Chiến tranh thế giới thứ 2 cho đến nay là một hiện tượng đáng lưu tâm Chính vì thế, mục đích nghiên cứu của luận văn này là thông qua việc phân tích sự hình thành và phát triển của tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku từ trung kì Edo đến nay để chứng minh sức mạnh của những nền tảng phi vật chất đóng góp vào thành công của Nhật Bản Với mục đích trên, luận văn sẽ triển khai ba nhiệm vụ chính Thứ nhất, luận văn sẽ làm rõ thân thế và sự nghiệp của Ishida Baigan, phân tích để làm nổi bật những đặc trưng tư tưởng của ông Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đánh giá vị trí, vai trò của Ishida Baigan trong sự phát triển tư tưởng thời Edo nói riêng và Nhật Bản nói chung Mặt khác, luận văn cũng sẽ cố gắng khái quát, lý giải nguyên do, cách thức tồn tại của tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku trong mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại theo một dòng chảy lịch sử gần như liên tục suốt từ trung kì Edo đến nay

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Với mục đích nghiên cứu như trên, so với các công trình nghiên cứu đi trước, phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của luận văn sẽ được mở rộng từ trung kì Edo cho đến thời kì hiện đại, tức là khoảng những năm 1700 cho đến những năm 2000

Do những hạn chế về mặt tư liệu, trong phần khảo sát lịch sử Sekimon Shingaku từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, phạm vi nghiên cứu về mặt không gian của luận văn được giới hạn ở trường hợp của tổ chức Sekimon Shingakkai (石門心学会, Thạch môn Tâm học hội) hoạt động từ thập niên 50 đến khoảng cuối thập niên 90 và trường hợp của tổ chức Sekimon Shingaku Jissen Koza (石門心学実践講座, Lớp thực hành Thạch môn Tâm học) bắt đầu hoạt động từ năm 2014 đều có trụ sở chính tại Tokyo

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ một luận văn về lịch sử tư tưởng, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp chính của khoa học lịch sử bao gồm phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu thực chứng dựa trên sử liệu đương thời, các phương pháp lịch sử và logic, lịch đại - đồng đại nhằm miêu tả, phân tích, lý giải sự hình thành và phát triển của một tư tưởng, phong trào giáo hóa

xã hội Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê miêu tả cũng được vận dụng giúp cho việc phân tích nội dung trở nên dễ hiểu và thuyết phục hơn

Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn là mảng lịch sử Sekimon Shingaku trong những năm 2000 Chính vì vậy, ngoài các phương pháp nghiên cứu thường dùng trong khoa học lịch sử, tác giả còn vận dụng phương pháp phỏng vấn sâu của Xã hội học để thu thập những thông tin cập nhật và khách quan góp phần miêu tả chính xác diện mạo của việc tiếp nhận Sekimon Shingaku trong thời kì hiện đại

6 Những đóng góp mới của luận văn

Đối với việc nghiên cứu tôn giáo và tư tưởng ở Việt Nam, luận văn góp phần giới thiệu một cách cơ bản nhất tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku từ trung kì Edo đến nay Đối với việc nghiên cứu Sekimon Shingaku nói chung, luận văn cố gắng miêu tả một cách chi tiết hơn khuynh hướng

đề cao tư tưởng Ishida Baigan và sự phục hồi của Sekimon Shingaku sau Chiến tranh thế giới thứ 2 bằng nguồn tài liệu của Sekimon Shingakkai (石門心学会, Thạch môn Tâm học hội) gần như chưa từng được khai thác nghiên cứu từ trước đến nay ở Việt Nam Ngoài ra, bằng những phân tích dựa trên các tài liệu phỏng vấn sâu, luận văn có đóng góp trong việc miêu tả diện mạo của sự tiếp nhận cũng như những giá trị của Sekimon Shingaku trong thời kì hiện đại Trên cơ sở đó, đóng góp

Trang 15

mới của luận văn là nêu bật cái nhìn xuyên suốt về tư tưởng Tâm học từ Baigan cho đến hiện nay, đi sâu vào lý giải sức sống của tư tưởng này trong đời sống xã hội Nhật Bản, tạo ra một cái nhìn mới trong cách giải thích sự chuyển đổi của các giá trị

tư tưởng từ truyền thống đến hiện đại

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1: Ishida Baigan – Con người và thời đại

Ở chương này người viết sẽ phân tích bối cảnh thời đại và thân thế sự nghiệp của Ishida Baigan như những thành tố có ảnh hưởng đến sự hình thành nội dung cũng như những đặc trưng trong tư tưởng của Ishida Baigan

Chương 2: Chất liệu và nội dung tư tưởng Ishida Baigan

Ở chương này, người viết thống kê số lượng trích dẫn trong các trước tác để thấy được chất liệu và sự biến đổi trong việc sử dụng chất liệu để biểu đạt tư tưởng của Ishida Baigan Tiếp theo, người viết cố gắng phân tích những nội dung cơ bản nhất trong tư tưởng của Ishida Baigan từ thế giới quan về Đạo và Tâm đến nhân sinh quan với các quan điểm về học vấn, thực hành chức nghiệp trong đời sống với trung tâm là Đạo của thương nhân, và sự thực hành các đạo đức thông tục

Chương 3: Sự phát triển của phong trào Sekimon Shingaku từ sau thời

kì của Baigan cho đến nay

Ở chương này, người viết khái quát sự hình thành và phát triển của phong trào Sekimon Shingaku từ tư tưởng của Ishida Baigan trong thời kì Edo Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu mới, người viết cố gắng phác họa quá trình phục hồi của Sekimon Shingaku sau Chiến tranh thế giới thứ 2 và những chuyển biến mới trong thời kì hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG 1: ISHIDA BAIGAN – CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI

1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Nhật Bản thế kỉ XVII-XVIII

1.1.1 Bối cảnh kinh tế

Năm Keicho thứ 8 (1603), tướng quân Tokugawa Ieyasu thiết lập Mạc phủ tại Edo Sự kiện này đã đánh dấu chấm hết cho một thời kì chiến loạn liên miên trước đó, đồng thời mở ra một thời kì hòa bình lâu dài hiếm có trong lịch sử Nhật Bản và thế giới

Dưới nền hòa bình, chính trị ổn định với vai trò đứng đầu của Mạc phủ Tokugawa, kinh tế Nhật Bản thời kỳ này đã có những bước phát triển lớn Có thể nói, thế kỉ XVII là thế kỉ của những cuộc đại khai khẩn “Diện tích đất canh tác mở rộng gấp đôi từ 1.640.000 ha năm 1600 lên 2.970.000 ha năm 1720 Nhờ những cải tiến trong nông nghiệp, các giống lúa, giống cây lương thực, cây công nghiệp được chọn lọc, tăng năng suất nhằm đảm bảo cho đời sống của người dân và cung cấp cho các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp” [4, tr.207]

Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có đầy đủ những điều kiện thuận lợi để phát triển hơn so với những giai đoạn trước đó Yếu tố đầu tiên phải kể đến là sự gia tăng số lượng các jokamachi1 và sự tập trung một lực lượng đông đảo võ sĩ tại đây theo chính sách “Binh nông phân ly” Họ chính là tầng lớp tiêu dùng – phi sản xuất [50, tr.102] Ngoài cuộc sống tại jokamachi, lãnh chúa

và gia thần các phiên cũng cần đến các khoản tiền để trang trải cuộc sống tại Edo theo chính sách luân phiên trình diện Các lãnh chúa buộc phải bán hoặc thế chấp lúa gạo và các sản vật để quy đổi lấy tiền thông qua các thương nhân chủ yếu tại các

đô thị lớn như Edo, Osaka Điều này giúp thúc đẩy hình thành một mạng lưới giao

1 Jokamachi (城下町): là khu vực bao bọc xung quanh thành lũy của các lãnh chúa phong kiến Khu vực này được các lãnh chúa tập trung phát triển từ cuối thời trung thế theo chính sách “Phú quốc cường binh” Sang thời kì Cận thế, để đảm bảo an ninh, kiểm soát và huấn luyện, lực lượng võ sĩ dưới quyền lãnh chúa được

Trang 18

thông để chuyên chở vật phẩm, cũng như hệ thống kho bãi để bảo quản, các chợ để tiêu thụ và phân phối vật phẩm trên phạm vi toàn quốc

Như vậy, dưới thể chế Mạc phiên không chỉ tồn tại nền kinh tế nông nghiệp

bó hẹp trong các lãnh địa mà chính thể chế đó đã tạo ra và dần dần cũng chịu tác động của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ trên quy mô toàn quốc

Tuy nhiên, sự thay đổi của nền kinh tế nhanh chóng đưa tới những biến đổi trong xã hội, diễn ra trong từng đẳng cấp Do những khó khăn về kinh tế, võ sĩ ngày một phải nhún mình trước thị dân Dazai Shundai (太宰春台, 1680-1747), một Nho gia đương thời từng miêu tả cảnh chư hầu từ lớn đến nhỏ vì muốn trang trải cuộc sống qua ngày nên đã nhún mình, xin vay thị dân, nhờ vả sự giúp đỡ của những hào thương ở Kyoto, Osaka, Edo [22, tr 27]

Tương phản với sự bần cùng của võ sĩ là sự vươn lên của thị dân cả về kinh

tế và địa vị xã hội Điều này được phản ánh rõ nét qua lời miêu tả của Nishikawa Joken (西川如見, 1648-1724) – một thị dân ở Nagasaki như sau:

“Trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương), công và thương còn được gọi là thị

Trang 19

dân (町人) Từ xa xưa, thị dân vốn “ngồi dưới” nông dân Nhưng không biết từ bao giờ, thiên hạ này chuyển sang dùng vàng bạc, và thị dân trở thành chủ nhân của vàng bạc, tài sản trong thiên hạ, được diện kiến trước quý nhân, nên có thể nói là tư cách như đã ở trên cả nông dân vậy Sau một trăm năm nhờ sống trong cảnh thái bình thịnh trị, từ giới thị dân đã xuất hiện nhiều nhà Nho, thầy thuốc, những người

am hiểu thơ ca, trà đạo…”[50, tr 115]

Kinh tế hàng hóa tiền tệ không chỉ phát triển ở vùng đô thị, mà còn xâm nhập vào các vùng nông thôn ven các đô thị lớn Theo đó, sự hưng thịnh và suy vong của các dòng tộc nơi đây không thể tránh khỏi những tác động của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ đó Điều này được phản ánh rõ nét trong tác phẩm “Ghi chép của Kawachiya Kasho (『河内屋家正旧記』) do Kasho – một địa chủ có nghề nấu rượu sống tại xứ Kawachi (nay thuộc vùng Osaka) viết trong những năm Genroku – Hoei (1690-1710) Kasho đã thuật lại những điều mắt thấy tai nghe và những trải nghiệm thực tế của riêng mình, nên thông qua những ghi chép của ông, người đọc có thể hiểu được về đời sống sinh hoạt, văn hóa đương thời Trong cuốn truyện ký, Kasho

đã kể về nhiều trường hợp gia đình trước nay hưng thịnh, nhưng đột nhiên phá sản Những nhà ở Kyoto, Osaka cách đây ba bốn mươi năm còn là những đại thương gia giàu có, thì nay cứ “mười nhà thì bảy, tám nhà” phá sản [22, tr 27] Có những nhà phá sản trắng tay, con cháu phải đổ ra các đô thị lớn như Osaka, Sakai sinh sống, hình thành nên tầng lớp dân nghèo tại đó Đối với con người thời kì Edo, khi việc duy trì gia nghiệp là nhiệm vụ sống còn thì hiện tượng phá sản trên không khỏi mang tới những nỗi hoang mang, lo sợ Nỗi lo sợ đó thể hiện trong tâm trạng của

Kasho trong lời nhắn nhủ lại con cháu: “Nhà dù giàu có đến đâu cũng không quá

ba đời”, “không có gì mong manh, bất định như đời người”[55, tr.26]

Trước những biến động kinh tế – xã hội như trên, tướng quân đời thứ 10

Trang 20

Tokugawa Yoshimune đã tiến hành cuộc cải cách Kyoho (từ năm 1717) để giải quyết những khó khăn về tài chính và ổn định trật tự xã hội Với những chính sách cắt giảm chi tiêu, giảm thời hạn nghĩa vụ luân phiên trình diện của các lãnh chúa thay bằng niên cống, cuộc cải cách về căn bản đã giải quyết được khó khăn cho võ

sĩ Tuy nhiên, ngược lại, những chính sách này lại làm gia tăng gánh nặng sưu thuế lên tầng lớp nông dân và đưa tới một thời kì đình trệ, đầy thử thách cho thương nhân [47, tr.457]

Trước những biến động kinh tế – xã hội, khi những chính sách của Mạc phủ chỉ giúp bảo vệ lợi ích của giai cấp họ, thì những người dân bình thường bị đẩy đến bước đường phải tự mình tìm kiếm những phương cách, những điểm tựa tinh thần

để có thể vượt qua thời kì khó khăn, thử thách

1.2 Sự giải phóng của tri thức và bung nở của các trào lưu tư tưởng có nguồn gốc từ Nho giáo

1.2.1 Sự phát triển của tri thức và học thuật thời Edo

Trong thời kì trung thế của Nhật Bản, với những cuộc chiến tranh loạn lạc, con người luôn bị ám ảnh, sợ hãi bởi những sức mạnh ma quái, những linh lực vô hình, không tên vượt qua nhận thức của con người Con người gửi gắm vào văn học

và mỹ thuật không gì khác là những sợ hãi, trấn an, những ước nguyện nơi thần phật

để sống sót qua thời kì đen tối Tuy nhiên, bước sang thời kì cận thế, khi loạn lạc chấm dứt, con người có thể hiện thực hóa việc “an cư lạc nghiệp” thì điều họ quan tâm hơn hết là những vấn đề của đời sống hiện thế, cụ thể như việc trau dồi nghề nghiệp để mưu sinh, những phương cách để duy trì và phát triển gia nghiệp hay đơn giản là để tiêu khiển lúc nhàn rỗi Từ đó, họ nhận ra một điều rằng, tri thức là thứ hữu dụng, cần thiết với con người chứ không phải là tôn giáo Đó có thể xem là một nguyên nhân lí giải cho việc con người thời kì này khát khao tầm cứu tri thức ngay

cả khi chúng không thể giúp họ thay đổi thân phận, thăng tiến bằng khoa cử như ở

Trang 21

Trung Quốc và Triều Tiên [48, tr.14] Dưới tiền đề là sự phổ cập của chữ viết, sự phát triển của kĩ thuật in ấn, và trên hết là nhu cầu của con người, kho tàng tri thức trước nay chỉ giới hạn trong tầng lớp võ sĩ, quý tộc, sư tăng thông qua xuất bản được “giải phóng” và trở nên gần gũi với đời sống thường nhật Chỉ trong vòng hai mươi năm cuối thế kỉ XVII, theo thống kê từ năm Kanbun thứ 10 (1670) đến năm Genroku thứ 5 (1692), số bộ sách được xuất bản đã tăng gấp đôi từ 3826 bộ lên

7132 bộ [52, tr.235]

Không chỉ nhiều về số lượng, sách vở trong thời kì này cũng đa dạng, phong phú về chủng loại Lời tựa mở đầu cuốn “Quảng Ích thư tịch mục lục đại toàn” (広益目録大全』) – một cuốn danh mục sách xuất bản năm 1692 có đoạn miêu tả:

“Trong cảnh thái bình, Thánh đức soi rọi tứ hải, tứ dân được lấy việc đọc sách làm niềm vui Cũng vì thế mà rất nhiều sách được xuất bản hàng năm Sách chữ Nho thì có thần thư, gia thư, nghệ thư, sách bằng chữ kana thì có ca thư, Thần đạo, Thần Phật, quân thư, âm khúc (âm nhạc bình dân)” [52, tr.235]

Năm Thể loại

1670 1685 1692

Sách về Phật giáo Số bộ phát hành 1677 2493 2799

Tỉ lệ (%) 44.3 42.0 38.9 Sách học thuật, sách giáo dưỡng Số bộ phát hành 877 1228 1472

Tỉ lệ (%) 22.8 20.7 20.5 Sách Y học Số bộ phát hành 247 401 405

Tỉ lệ (%) 6.4 6.8 6.3 Sách viết bằng chữ kana Số bộ phát hành 1025 1812 2456

Tỉ lệ (%) 26.5 30.5 34.3

Trang 22

Bảng 1.1: Tình hình xuất bản trong những năm Kanbun – Genroku

(1661-1704) Nguồn: [52, tr.235]

Từ đó có thể thấy, mối quan tâm của người Nhật đương thời đối với tri thức trải rộng từ tôn giáo, giáo dục – tu dưỡng, đến nghệ thuật, giải trí

1.2.2 Sự bung nở của các luồng tư tưởng, học phái có nguồn gốc Nho giáo

Cùng với sự giải phóng của tri thức, các tư tưởng học thuật vốn chỉ được mật truyền trong tầng lớp quý tộc, sư tăng am hiểu Hán học cũng được phổ biến trong

xã hội Một trong số đó phải kể tới Nho giáo

Đầu thời kì Edo, Nho giáo – cụ thể là Chu Tử học phái được Mạc phủ nồng

nhiệt đón nhận như một hệ tư tưởng biện luận cho tính chính đáng trong nền thống trị của dòng họ Tokugawa và trật tự xã hội đương thời Mạc phủ duy nhất thừa nhận tính chính thống của Chu Tử học do dòng họ Hayashi (hay còn gọi là Rinke, tức Lâm gia) nghiên cứu và giảng dạy Tuy nhiên, trên thực tế Mạc phủ không tuyệt đối

hóa Nho giáo của Lâm gia học phái như một tiêu chuẩn để tuyển chọn người tài và

cũng không ban hành bất kì chính sách thống nhất học thuật tư tưởng nào Chính vì thế, Nho giáo dưới thời kì Edo được tự do phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng

Sự phát triển về chiều sâu của Nho giáo đầu thời kì Edo thể hiện ở sự phát

triển đa dạng của các học phái Bên cạnh Lâm gia học phái, có thể kể đến sự phát triển của Dương Minh học phái với tên tuổi của Nakae Tojyu ( 中江藤樹 ,

1608-1648), Kumazawa Banzan (熊沢蕃山, 1619-1691) Tuy nhiên, từ thực tế hoàn cảnh xã hội Nhật Bản, nhiều học giả Nho học như Ito Jinsai (伊藤仁斎, 1627-1705), Yamaga Soko (山鹿素行, 1622-1685) đã nhìn ra tính sơ cứng, trừu tượng của Chu

Tử học và Dương Minh học Họ cho rằng những tư tưởng này chịu ảnh hưởng của

Trang 23

Phật giáo, nên muốn hiểu chân ý trong lời dạy của Thánh nhân thì nên đọc trực tiếp

từ Tứ thư, Ngũ kinh Khuynh hướng phục cổ đó đã tạo nên Cổ học phái với những

tác phẩm phê phán Chu Tử học xuất hiện đầu tiên ở Đông Á trước cả ở Trung Quốc

và Triều Tiên2 Kế thừa tinh thần của Cổ học phái chính là sự ra đời của Chiết chung học phái do Ogyu Sorai (荻生徂徠, 1666-1728) đề xướng Tương tự như Cổ học

phái, Chiết chung học phái cũng mang tinh thần phê phán Chu Tử học và đề cao

việc nghiên cứu cổ văn Song, học phái này không thừa nhận quyền uy tuyệt đối của bất kì một kinh sách hay tư tưởng của học giả nào, thay vào đó là nhìn nhận tất cả theo một dòng chảy lịch sử với cả những ưu điểm và hạn chế Sorai từng nhìn nhận:

“Học vấn chính là lịch sử”3 Khuynh hướng chiết chung thay vì tranh luận đối lập của Sorai đã tạo nên một phong thái linh động, cởi mở trong tiếp thu tri thức, có ảnh hưởng đến rất nhiều các học giả Nho giáo khác sau đó như Miura Baien (三浦梅園, 1723-1789) Ninomiya Sontoku (二宮尊徳, 1787-1856), Sato Issai (佐藤一斉, 1772-1859)

Bên cạnh sự phát triển theo chiều sâu, Nho giáo thời kì Edo còn phát triển mạnh theo chiều rộng, lan tỏa trong các cấp bậc và tầng lớp xã hội khác nhau từ võ

sĩ đến các tầng lớp dân thường

Để hiện thực hóa nền “nhân chính”, “đức trị”, bắt đầu từ thời kì của tướng quân thứ 4 Tsunayoshi (徳川綱吉, 1646-1709), và đặc biệt là thời kì của tướng quân thứ 5 Yoshimune (徳川吉宗, 1684-1751), Nho giáo được khuyến khích học tập và phổ biến sâu rộng cho mọi tầng lớp trong xã hội Từ năm 1717, Yoshimune

2 [48, tr.77]

3Ogyu Sorai (1973), Ogyu Sorai tuyển tập quyển 1 – Tồ Lai tiên sinh vấn đáp thư, NXB Misuzu Shobo, Nhật

Trang 24

cho phép dân thường được nghe giảng kinh thư tại các cơ sở vốn trước nay là cơ sở học tập của võ sĩ như Yushima Seido (湯島聖堂), Takakura Yashiki (高倉屋敷) ở Edo [53, tr.42] Nhận thấy sự phổ biến của cơ sở giáo dục bình dân terakoya4, Yoshimune đã có ý tưởng thực thi nền giáo dục đạo đức Nho giáo trong dân chúng bằng cách can thiệp vào hoạt động giảng dạy tại đây Nổi bật nhất là sự kiện ông ra lệnh dịch và đơn giản hóa nội dung “Lục dụ diễn nghĩa”5 của Trung Hoa Tác phẩm này sau đó được in và cung cấp như tài liệu tập đọc viết cho các terakoya Ngoài ra, Mạc phủ cũng công nhận và tạo điều kiện để các cơ sở nghiên cứu học thuật của thị dân như Fukagawa Kyojyusho (深川教授所, 1723), Kaitokudou (懐徳堂, 1726) được phép hoạt động [51, tr.255-256] Bằng những việc làm trên, Nho giáo từng bước thâm nhập và thẩm thấu vào đời sống của tầng lớp dân thường

Rõ ràng, mục đích cuối cùng trong sự phổ cập Nho giáo của giới thống trị trong tầng lớp dân thường là xây dựng ý thức phục tùng thể chế và ổn định trật tự

xã hội Song, điều đó đã ngẫu nhiên trở thành chất xúc tác tạo nên sự phát triển của dòng Nho học nơi thị tứ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, ý thức đạo đức của giới thị dân

1.3 Những chuyển biến trong nhận thức của giới thị dân

1.3.1 Nhận thức về vai trò của thị dân

Sự bung nở của tri thức và sự phát triển của học thuật tư tưởng không thể có được nếu thiếu đi sự đón nhận, ủng hộ, đóng góp không nhỏ từ tầng lớp thị dân trong xã hội

Tầng lớp này được ví như “chủ nhân” tiền bạc, tài sản của xã hội trong một

4

Terakoya ( 寺子屋): là những cơ sở giáo dục của thường dân trong thời kì Edo Giáo viên ở đây thường là các sư tăng, võ sĩ, thầy thuốc Nội dung giảng dạy tập trung vào các kĩ năng như đọc, viết, làm tính.

Trang 25

thời đại mà tiền bạc có uy lực chi phối đời sống và dường như trở thành tiêu chuẩn

để đánh giá con người vượt lên cả xuất thân hay đẳng cấp Từ thực tế này, Ihara Saikaku – một nhà tiểu thuyết thị dân nổi tiếng đương thời từng viết:

“Thị dân bình thường nên biết việc làm giàu mà vang danh thiên hạ Vàng bạc giống như gia phả của thị dân Điều cốt yếu của một thị dân là trở thành hào phú” [56, tr.250]

Từ sự tự ý thức về địa vị kinh tế đang ngày một nâng cao, thị dân cũng bắt đầu tỏ ra xem thường những giá trị đạo đức của võ sĩ, và mang ý thức tự tôn về tầng lớp mình Điều này được thể hiện dưới ngòi bút của Nishikawa Joken – một thị dân sống ở Nagasaki qua tác phẩm “Cẩm nang của thị dân” (『町人嚢』)

“Sinh ra làm thân võ sĩ quả là phiền não Cả đời phải khép nép phụng sự quân chủ, chẳng có lúc nào tâm được thư thái, đặt danh lợi lên làm đầu rồi dọa nạt người khác, sống cuộc đời của một thị dân còn vui sướng hơn niềm vui sống cuộc đời lúc nào cũng phải tỏ ra nghiêm trang, đạo mạo như võ sĩ”[49, tr.295]

Ngỡ tưởng rằng sự vươn lên về mặt kinh tế sẽ giúp thị dân xác lập được vai trò chủ đạo về mặt đạo đức tư tưởng Song, dù giàu có đến đâu, thương nhân cũng không thể thay đổi thực tế rằng, họ vẫn phải sống dưới sự thống trị hà khắc, nghiêm ngặt của tầng lớp võ sĩ Nhiều trường hợp thương nhân, trong đó nổi tiếng nhất có phú thương Ishikawa Rokubei (石川六兵衛) năm Tenwa (1681) và phú thương Yodoya Tatsugoro (淀屋辰五郎) năm Hoei (1705) vì sống xa hoa không đúng danh phận mà bị Mạc phủ tịch thu gia sản, bắt đi lưu đày [22, tr 28-29]

1.3.2 Nhận thức về tầm quan trọng của gia nghiệp

Để duy trì gia nghiệp trong một xã hội khi võ sĩ vừa là tầng lớp thống trị, vừa

là tầng lớp tiêu dùng chính, xã hội thị dân đã hình thành nhiều thuật xử thế và chuẩn

Trang 26

mực đạo đức như một phương cách phòng vệ Những điều này được ghi lại và truyền tụng trong gia huấn, gia pháp của nhiều thương gia Điều được nhấn mạnh

trước tiên là việc “hiểu và tuân theo pháp độ của bề trên” [56, tr.240], “thực hiện vạn sự đường hoàng đúng đắn, giữ gìn chính pháp, quốc pháp” [56, tr.244]

Bên cạnh ý thức phục tùng giới thống trị là ý thức về việc xây dựng, gìn giữ và

dốc sức vì gia nghiệp Gia huấn của nhà Konoike từng viết: “không làm trái nhân nghĩa và đạo ngũ thường Đó là tôn kính quân chủ, hiếu hành với cha mẹ, vợ chồng hòa mục, khiêm tốn, không xa xỉ, lấy việc dốc sức vì gia chức làm đầu” [56, tr.240]

1.3.3 Nhận thức về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và thuật xử thế

Những năm cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, xã hội thị dân lại phải trải qua một thời kì khó khăn đình trệ do những chính sách trong cuộc cải cách Kyoho (từ năm 1717) Ngay tại thời điểm này, một số tác phẩm viết về thuật xử thế đã ra đời, trong đó không thể không kể đến tác phẩm “Những ghi chép về thị dân” (『町人考見録』) của đại thương gia Mitsui do Mitsui Takafusa (三井高房,1684-1748) biên soạn Đương thời, tác phẩm này vốn chỉ được lưu truyền trong gia đình Mitsui và không được phép công khai ra bên ngoài Trong đó, Takafusa đã tổng kết, phân tích

ba mươi trường hợp phá sản của các đại thương gia đương thời Trên cơ sở đó, ông

đã đúc kết những phẩm chất của thương nhân để hiện thực hóa việc duy trì gia nghiệp bền vững gồm: kiệm ước, chuyên tâm vì gia nghiệp, biết tính toán, giữ chừng mực khoảng cách trong mối quan hệ với võ sĩ…[49, tr.281-292] Takafusa một mặt khẳng định thương nhân làm ăn không thể thiếu đạo lý con người, nhưng

mặt khác ông cũng viết: “không biết bản thân, chỉ biết vì thiên hạ, vì người khác thì cũng sẽ phá sản”, “một ngày rời xa nhân nghĩa thì không thành nhân đạo, nhưng nếu không biết tính toán mà từ bi quá mức thì thật ngu ngốc” [57, tr.265-266]

Đi ngược lại với quá trình vươn lên giữ vai trò chủ thể trong kinh tế và văn

Trang 27

hóa, tư tưởng, thị dân đã xây dựng một xã hội với thuật xử thế và chuẩn mực đạo đức

vì mục tiêu cao nhất là duy trì gia nghiệp của chính họ thay vì cố gắng thoát ra khỏi vòng cương tỏa của chế độ phong kiến do tầng lớp võ sĩ thống trị Vì thế, ý thức của

họ hầu như không có nhiều khác biệt so với đạo đức Nho giáo mà giai cấp thống trị

cố gắng truyền bá để ổn định trật tự xã hội Trong giai đoạn tìm kiếm những phương cách sống để vượt qua thời kì khó khăn thử thách, ý thức của thị dân cũng tồn tại những mâu thuẫn giữa vấn đề nhân nghĩa – đạo đức truyền thống của Nho giáo và vấn đề lợi ích để bảo toàn gia nghiệp Vấn đề của thời đại đặt ra trong xã hội thị dân

đã thu hút sự quan tâm, trăn trở của nhiều nhà tư tưởng Một trong số đó phải kể đến Ishida Baigan

1.4.Thân thế và sự nghiệp của Ishida Baigan:

1.4.1 Thân thế của Ishida Baigan

Ishida Baigan sinh vào ngày 15 tháng 9 năm Jokyo thứ 2 (1685) trong một gia đình trung nông tại làng Toge (東掛), quận Kuwata (桑田), xứ Tanba (丹波) (nay thuộc thành phố Kameoka, Kyoto) Đó là một vùng bồn địa, tiếp giáp hai đô thị lớn là Osaka và Kyoto

Trang 28

Làng Toge (khu vực đường vòng tròn) – nơi sinh ra và lớn lên

của Ishida Baigan trong những năm niên thiếu

Baigan đã sống tại vùng quê đó cùng với cha mẹ và hai người anh chị em khác cho đến nay 10 tuổi Cuốn “Sự tích về tiên sinh Ishida”6, (『石田先生事績』)

đã ghi chép một câu chuyện diễn ra khi Baigan lên 10 tuổi như sau: “Một hôm, Baigan vào rừng nhặt hạt dẻ mang về nhà khoe với cha thì cha ông suy đoán đó là hạt dẻ từ cành của nhà bên rụng xuống, nên đã kiên quyết bắt ông mang trả lại chỗ

cũ ngay giữa bữa cơm trưa” [46, tr.621] Cách giáo dục nghiêm khắc về sự trung

thực của người cha đã có ảnh hưởng đến tính cách cũng như tư tưởng của Baigan trong những năm sau đó7

7 Trong cuốn “Những ghi chép lời nói của tiên sinh Ishida” (『石田先生語録』) tập hợp các di cảo của Baigan,

Trang 29

Nhà Ishida Baigan (ảnh chụp năm 1962)

Nguồn:[45, tr.7]

Vì là con trai thứ, không được kế thừa tài sản, nên vào năm 11 tuổi, Baigan được gửi lên Kyoto để bắt đầu cuộc sống của người học việc trong một hiệu buôn Thời kì này tương ứng với những năm Genroku (1688-1704) Đây là thời kì kinh tế phát đạt và thuận lợi đối với thị dân nói chung, nhưng Baigan đi làm công đến năm thứ 5 thì gia đình chủ dần dần sa sút Cuối cùng, Baigan bị gọi trở về quê và lưu lại

đó trong vòng 8 năm [46, tr.621- 622]

Năm 23 tuổi, Baigan lại một lần nữa rời quê, lên Kyoto làm công cho một cửa hiệu buôn quần áo có tên Kuroyanagi8 Mặc dù rất chuyên tâm vào công việc trong gia đình chủ, nhưng Baigan cũng tranh thủ những lúc rảnh rỗi hay thời gian nghỉ ngơi để tự đọc sách

“Khi có việc phải đi đến khu Shimogyo (下京), thầy (ý chỉ Baigan) cũng

nhét sách vào trong áo, học những khi có một chút thời gian rảnh rỗi Buổi sáng, thầy thức dậy sớm hơn những người làm khác, lên cửa sổ tầng hai đọc sách, buổi tối thì đợi cho mọi người đã ngủ yên mới mở sách ra đọc Hơn thế, thầy không bao

đoạn vấn đáp số 137 có đề cập đến câu chuyện trên Baigan còn tự thuật rằng, ông đã thấy vô cùng tủi hờn, bực tức với cha mình khi bị cha bắt đi trả hạt dẻ Nhưng “giờ mới hiểu đó là sự từ bi của cha” khi trách mắng

để con cái không làm việc bất nghĩa [47, tr.93,94]

8 Cuốn “Sự tích về tiên sinh Ishida” có đoạn viết rằng những năm đầu khi làm việc ở hiệu buôn Kuroyanagi, Baigan quan tâm đến Thần đạo Ông thậm chí còn muốn đi giảng về Đạo đến mức “cho dù không có ai nghe, cũng quyết rung chuông đi giữa phố, để khuyên con người phải sống với Đạo nên có của một con người”

Trang 30

giờ chểnh mảng công việc của gia đình chủ” [46, tr.621]

Nếu đa phần người làm công trong thời ḱì cận thế ước mong đến một ngày nào đó có thể đứng ra làm ăn độc lập dưới sự giúp sức của gia đình chủ, hoặc giống

như một người cùng làm công với Baigan ước mong “học nhiều hiểu rộng để trở thành bác học trong thế gian”, thì Baigan lại muốn “có học vấn, quan sát hành động của các bậc thánh nhân và học theo để trở thành tấm gương cho người khác”

[46, tr.17] Điều đó cho thấy, Baigan coi trọng việc thực hành trong học vấn hơn là coi học vấn như một thứ trang sức để khẳng định bản thân trước thiên hạ

Cuộc sống vừa làm vừa tự học của Baigan cứ thế kéo dài từ những năm 20 tuổi đến những năm 35 tuổi Năm 35 tuổi, khi Baigan tưởng như đã hiểu hết về nhân tính, đạo ngũ thường ngũ luân thì đột nhiên trong ông nảy sinh những hoài nghi với những điều tưởng như bản thân đã lĩnh hội được Lúc này, ông đi khắp Kyoto nghe giảng bài mà không thầy nào có thể cho ông câu trả lời thỏa đáng Mọi hoài nghi trong Baigan trở nên sáng tỏ khi ông gặp thiền sư có tên Koguri Ryoun Nhờ vào những chỉ dẫn của thiền sư này, Baigan đã có những trải nghiệm giúp ông giác ngộ ra bản chất thực sự của Đạo [46, tr.622-623]

1.4.2 Sự nghiệp giảng dạy

Năm Kyoho thứ 14 (1729), lúc Baigan 45 tuổi, ông thôi chức quản gia tại hiệu buôn đã gắn bó nhiều năm và bắt đầu mở lớp dạy học cho người bình dân ở phường Kurumaya, Kyoto Đó là một lớp học hoàn toàn miễn phí, tiếp nhận mọi môn sinh không phân biệt nam nữ, hay quan hệ thân sơ [46, tr.624] Về mục đích dạy học của mình, ông từng viết:

“Ta bắt đầu học muộn nên trí nhớ kém, hành xử và đối đãi với người khác cũng chưa đạt bằng những người kiệt xuất Thế nhưng ta vẫn không ngừng mong muốn được giảng dạy cho người người điều gì đó Ta thực sự có chí hướng dạy học sau khi lĩnh hội được Tâm của con người Cái Tâm ấy có điểm giống với Tâm của các bậc Thánh hiền Khi lĩnh hội được Tâm này thì không phải lưu tâm đến

Trang 31

sống chết, dễ dàng xa rời dục lợi danh vọng Đây chính là mục đích muốn dạy học của ta Ta vốn không giỏi văn chương (hiểu là năng lực Hán thi, Hán văn) nên người đến nghe giảng ít Nhưng nếu không có ai đến nghe giảng, thì dù ta phải đứng nơi đầu đường góc chợ ta cũng quyết nói lên nguyện vọng của mình” [47,

tr.11]

Giấy dán trên đèn lồng từng được treo trước cửa nhà

Baigan (hiện được lưu giữ tại Meiseisha, Osaka) 9 với

nội dung: “Các vị có nguyện vọng nghe giảng xin cứ tự

nhiên vào trong Các vị nữ giới xin đi vào góc bên

trong”

Tranh vẽ một cảnh trong lớp học của Baigan (hiện được lưu giữ tại Meirinsha, Kyoto) 10

Vì Baigan không được đào tạo bài bản, và những bài giảng của ông lại không dựa vào bất kì một môn phái hay học thuyết duy nhất nào của Nho giáo, Thần đạo, hay Phật giáo, nên đương nhiên số người học lúc ban đầu vô cùng khiêm tốn “Sự tích về tiên sinh Ishida” có kể về lớp học buổi tối của Baigan chỉ có duy nhất một người đến nghe giảng Tuy nhiên, Baigan vẫn nhiệt tình giảng bài và trò chuyện với người này như khi lớp học đông người [46, tr.625] Các sách giáo khoa được Baigan sử dụng để giảng bài gồm: “Tứ thư”, “Hiếu kinh”, “Tiểu học”, “Kinh Dịch”,

“Thi kinh”, “Thái cực đồ thuyết”, “Cận tư lục”, “Tính lý tự nghĩa”, “Lão Tử”, “Trang Tử”, “Hòa luận ngữ”, “Tùng nhiên thảo” [46, tr.625] Bên cạnh các giờ giảng sử

9 http://www.baigan-kensyokai.com/gallery/

御 望 之 方 ハ 無 遠 慮

御 通

、 御 聞 可 被 成 候

女 方 ハ お く へ

御 通 可 被 成 候

Trang 32

dụng các kinh sách của Nho giáo, Phật giáo và thư tịch Nhật Bản như trên, Baigan còn tổ chức các buổi đàm đạo có tên “Tsukinami no e” (月次の会) vào mỗi tháng với những chủ đề khác nhau, và yêu cầu các môn đệ chuẩn bị trước câu trả lời để cùng thảo luận [46, tr.625]

Vốn không xuất thân từ một học phái chính thống lúc bấy giờ nên việc Baigan mở lớp dạy học, đặc biệt lại ở trung tâm học thuật như Kyoto không tránh khỏi sự mỉa mai, cười chê, bình phẩm của học giả đương thời Cuốn “Kiệm ước tề gia luận” - tác phẩm do Baigan chấp bút, có thuật lại chi tiết điều này

“Có người nghe xong nhận xét, bài giảng của ta không khác gì của người mới học Luận ngữ, có người ác khẩu thì phỉ báng rằng không thể nhịn cười khi thấy

kẻ học hành như ta lại đi giảng bài” [47, tr.12]

Tuy nhiên, sự nhẫn nại và ý chí quyết tâm giảng đạo của Baigan chắc chắn khiến nhiều người cảm mến, khâm phục cho nên dần dần sau 15 năm dạy học ông cũng có nhiều môn đệ thân tín, và những ngày được mời đi giảng bài ở một số địa điểm tại Kyoto, Osaka, Yamato, Kawachi [47, tr 12-13]

Baigan đã đột ngột qua đời vào ngày 23 tháng 9 năm 1744 tại nhà riêng ở tuổi 60 Ông được mai táng ở núi Toribe, phía Đông Nam Kyoto Di sản Baigan để lại trong căn nhà của mình chỉ có những bản thảo ghi chép câu trả lời cho những thắc mắc của môn đệ, giá kê sách, nghiên mực, một vài bộ quần áo và vật dụng thường ngày [46, tr.625]

Cho đến những năm cuối đời, tư tưởng của Baigan mới chỉ được biết đến ở Kyoto, Osaka và các vùng lân cận với số lượng môn đệ khiêm tốn Tuy nhiên, tư tưởng và chí hướng của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc đến họ, trở thành động lực để

họ quyết tâm tiếp nối những di sản tinh thần mà ông đã để lại

Sau bảy ngày để tang, các môn đệ đã cùng nhau nêu lên chí nguyện của bản

Trang 33

thân và đề lại lời điếu trước vong linh Baigan Saito Zenmon ( 斎 藤 全門,1700-1761) – một thị dân Kyoto, học trò lớn tuổi nhất của Baigan đã viết:

“Khi thầy còn sống, con thường được nghe thầy giảng về đạo của thánh nhân; hiền nhân, nhưng bản thân con yếu kém nên vẫn chưa thể lĩnh hội được hết Bây giờ dù thầy không còn nữa, nhưng con xin nguyện dốc sức thực hiện những điều mà một con người phải thực hiện” [26, tr.55]

Một học trò khác của Baigan là Komori Baifu (小森売布, 1697-1760) và cũng là một thị dân Kyoto viết:

“Con biết khó có thể dùng giấy bút, ngôn từ để diễn tả hết ơn nghĩa quảng đại con đã được nhận từ thầy Lúc này, con vô cùng hối hận vì khi thầy còn sống nhiều khi con chểnh mảng, nhiều việc còn thiếu sót Giờ đây, con chỉ có thể nói rằng, sẽ quyết tâm rèn luyện bản thân, truyền đạt Đạo của thầy đến những người chưa bằng mình”[26, tr.55,56]

Bên cạnh những môn đệ tuổi đã cao, có những môn đệ dù còn trẻ tuổi cũng bày tỏ chí nguyện tiếp tục kế thừa và phát triển Đạo của Baigan Một trong số đó là Tejima Toan (手島堵庵,1718-1786) Khi Baigan mất, Toan mới 27 tuổi Trong lời

từ biệt Baigan, ông đã thể hiện quyết tâm:

“Dù chưa đến lượt mình, con cũng xin nguyện truyền lại Đạo này đến người người”[26, tr.57]

Sinh thời, Baigan mở lớp học với quan điểm không phân biệt môn sinh là nam hay nữ Jionni Kenka (慈音尼蒹葭, 1716-1779) là một trong những môn đệ nữ của Baigan Khi Baigan mất, Jionni mới 29 tuổi Mặc dù là nữ nhi, nhưng sau khi thầy mất, bà đã quyết tâm đến Edo để tiếp tục truyền Đạo của thầy Bà viết:

“Thầy đã mất rồi Đau lòng mà không thể làm gì được Ta đã xuống Azuma

Trang 34

(tức Edo) là vì mong muốn có thể truyền được chí của thầy cho người trong khắp thiên hạ sao để thế gian xuất hiện những người cảm được Đức, thực hiện trọn Đạo trung hiếu của thầy” [26, tr.58]

Cống hiến trong sự nghiệp của Baigan không chỉ dừng lại ở việc hiện thực hóa việc phổ cập Đạo thánh nhân đến gần hơn với quần chúng mà ông đã tạo ra hàng ngũ những đệ tử kế cận tiếp tục duy trì và phát triển tư tưởng của mình với tên gọi Sekimon Shingaku sâu rộng hơn trong xã hội cận thế

1.4.3.Những tác phẩm chính

Trong cuộc đời dạy học của mình, Baigan trực tiếp chấp bút, tham gia hiệu đính và xuất bản hai tác phẩm là “Đô bi vấn đáp” (『都鄙問答』, xuất bản năm 1739) và “Kiệm ước tề gia luận” (『倹約斉家論』, xuất bản năm 1744) Ngoài tác phẩm trên, bút tích của Baigan còn được lưu lại trong một tác phẩm nữa có tên

“Những ghi chép lời nói của tiên sinh Ishida” (『石田先生語録』, không rõ năm xuất bản) Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm do môn đệ của Baigan sưu tầm, tập hợp từ các ghi chép của Baigan và các môn đệ sau khi Baigan qua đời Ở phần này, người viết sẽ giới thiệu ý nghĩa nhan đề, bố cục sắp xếp và đặc điểm nội dung của các tác phẩm trên, trong đó tập trung nhiều vào hai tác phẩm được xuất bản trong thời gian

Baigan tại thế

“Đô bi vấn đáp” (1739)

“Đô bi vấn đáp” được xuất bản sau 10 năm Baigan mở lớp dạy học (1729) Tác phẩm chia làm 4 quyển, tổng cộng gồm 16 đoạn Cuốn “Những ghi chép lời nói của tiên sinh Ishida” có thuật lại đôi điều về chí hướng viết sách của Baigan như

sau: “Ta không muốn viết sách Nhưng có người mong ta viết sách, và đôi lúc ta cũng vì lo âu thế sự mà nghĩ nên viết sách” [32, tr.280] Việc biên soạn và xuất bản

Trang 35

“Đô bi vấn đáp” có thể xem là bắt nguồn từ sự kì vọng của người xung quanh và những ưu tư của Baigan với thời đại

“Đô bi vấn đáp” là nhan đề tác phẩm đầu tay của Baigan đồng thời cũng là tựa đề của đoạn vấn đáp đầu tiên trong 16 đoạn vấn đáp trong tác phẩm “Đô” là chốn đô hội, thành thị, “Bi” là chốn nhà quê “Đô bi vấn đáp” có thể hiểu là cuộc đối thoại giữa người ở thành thị với người ở chốn nhà quê Quả thực, đoạn đầu tiên trong tác phẩm mang nhan đề trên là cuộc đối thoại của Baigan và người cùng quê Tuy nhiên, không phải một sự tình cờ mà tên đoạn vấn đáp đầu tiên lại được chọn

để trở thành nhan đề tác phẩm của Baigan Không giống như các đoạn vấn đáp khác,

“Đô bi vấn đáp” là đoạn vấn đáp có nội dung đề cập đến chí hướng dạy học của Baigan Một cách cụ thể, ông thuật lại ý nghĩa của việc biết Tâm - Tính trong học vấn, cho người người biết về niềm vui của việc thực hành sau khi biết Tâm - Tính

đó Những câu vấn đáp xuất hiện trong đoạn này đều là những hỏi đáp nhằm làm rõ điểm then chốt trong chí hướng dạy học của Baigan Ví dụ như việc “biết Tính” có phải là điều bất khả thi với người bình thường không? Người nông dân cũng có thể thực hiện hay không? Biết Tâm - Tính mà không thực hành thì sẽ ra sao…Người không biết chữ có thể biết Tâm - Tính hay không? Đoạn vấn đáp này có thể thực sự

là vấn đáp giữa Baigan và người cùng quê, cũng có thể là Baigan dùng hình thức tự hỏi – đáp để diễn đạt chí hướng dạy học của mình Tuy nhiên, việc làm rõ điều đó không quan trọng bằng ý nghĩa của việc Baigan chọn hai đối tượng người ở thành thị - kẻ ở nông thôn để vấn đáp về học vấn Phải chăng ông muốn gửi gắm một thông điệp, học vấn không phải là thứ chỉ giới hạn trong tầng lớp tri thức sống nơi thành thị Học vấn lấy trung tâm là việc biết Tâm - Tính là thứ học vấn mà tất cả mọi tầng lớp ở mọi vùng miền, ngay đến những người nông dân ở chốn thôn quê nghe cũng có thể hiểu và thực hiện Những phân tích trên là một cách giải mã tựa đề

Trang 36

“Đô bi vấn đáp” dựa vào đoạn một trong tác phẩm.“Đô bi vấn đáp” gồm 4 quyển và

16 đoạn [Tham khảo bản dịch tác phẩm ở Phụ lục 4.2, tr.110]

Nếu nhìn qua tựa đề các đoạn vấn đáp, dễ nhận thấy rằng, “Đô bi vấn đáp”

là tác phẩm bàn luận nhiều vấn đề từ trừu tượng đến cụ thể, của nhiều tầng lớp người trong xã hội Nếu khảo sát kĩ nội dung của tác phẩm, người đọc có thể thấy rằng, những đoạn vấn đáp với những chủ đề tưởng như rời rạc này lại được sắp xếp một cách tương đối có hệ thống, có liên hệ với nhau để diễn đạt khái quát nội dung

tư tưởng của người viết

Quyển 1 gồm 5 đoạn, trong đó đoạn 1 “Đô bi vấn đáp” có thể xem là phần tổng quát học vấn luận Phần này đề cập chi tiết đến quan điểm, chí hướng, nội dung học vấn của Baigan với hai bước cơ bản là “tri Tâm” và “thực hành” Đoạn 2 luận về chữ Hiếu Đoạn 3 luận về Đạo võ sĩ Đoạn 4 về Đạo của thương nhân có thể xem là những phần diễn giải cụ thể về sự “thực hành” trên cơ sở học vấn “tri Tâm”

đó Đoạn 5 đề cập đến ý kiến của người đến từ vùng Banshu về sự tai hại của học vấn qua ví dụ về những người được ăn học mà ông chứng kiến Nội dung của đoạn giúp người đọc thấy rõ sự khác biệt giữa học vấn Baigan giảng giải và học vấn trong quan niệm đương thời

Quyển 2 gồm 4 đoạn Đoạn 6, 7, 8 là quan điểm của Baigan về thái độ nên có của con người đối với tôn giáo, tín ngưỡng, cách hành xử với cha mẹ Đây có thể xem là phần tiếp theo làm rõ hơn quan điểm về sự thực hành trên cơ sở học vấn “tri Tâm” đã được nhắc đến ở Quyển 1 Đoạn 9 thuộc Quyển 2 một lần nữa quay trở lại vấn đề học vấn, nhưng xoáy sâu vào việc bàn luận học vấn dành cho thương nhân – tầng lớp vốn bị xem là “dục tâm nặng nề” “hoàn toàn không có khả năng học hành sách vở thánh nhân” Việc chỉ ra tính tất yếu và cần thiết của học vấn đối với thương nhân một lần nữa cho thấy quan điểm học vấn dành cho tất cả con người không

Trang 37

phân biệt thân phận, vùng miền được đề cập ở Đoạn 1 Từ quan điểm học vấn, Baigan đồng thời cũng khái quát Đạo của riêng thương nhân

Quyển 3 là quyển đặc biệt trong “Đô bi vấn đáp” bởi quyển này chỉ gồm một đoạn với nhan đề Lý tính vấn đáp Đây cũng là đoạn có dung lượng dài nhất trong tác phẩm Sở dĩ đoạn này có vị trí độc lập so với các đoạn khác là do đoạn đề cập đến một vấn đề lý luận và trừu tượng hơn Đoạn giải thích ngọn nguồn cơ sở, nền tảng lý luận trong học vấn “tri Tâm” của Baigan

Quyển 4 quay trở lại các vấn đề cụ thể như Quyển 1 và Quyển 2 Đoạn 11 có thể xem là phần tiếp theo của Đoạn 5 với nội dung phê phán sự tai hại của học vấn đương thời Đồng thời một lần nữa chỉ rõ sự khác biệt giữa học vấn trong quan niệm đương thời và học vấn của Baigan Đoạn 12 là quan điểm của Baigan về tác dụng của Phật giáo đối với dân chúng trong việc “tri Tâm” rũ bỏ khổ não Đây có thể xem là ví dụ cụ thể về tác dụng của tôn giáo đối với “tri Tâm” được nêu ở Quyển 3 Đoạn 13 có thể xem là phần tiếp nối cho câu chuyện về thái độ đối với tôn giáo ở Quyển 2 Đoạn 14 là quan điểm về sự thực hành của người thầy thuốc, thuộc cùng một nhóm nội dung với Đoạn 3, 4 ở Quyển 1 Đoạn 15 nói về sự đúng sai trong hành trạng của chủ nhân là đoạn có độ dài thứ hai trong tác phẩm Đoạn vấn đáp này là sự phân tích một cách tỉ mỉ hành trạng của một thị dân trong đời sống dưới quan điểm đương thời và quan điểm của Baigan Từ đó vẽ nên hình tượng thị dân – thương nhân lý tưởng trong quan niệm của ông Đoạn 16 là đoạn kết của tác phẩm, bề ngoài là bàn luận một vấn đề trừu tượng về sự hình thành của trời đất, nhưng một lần nữa cho thấy quan niệm của Baigan về Lý – Tính, học vấn và đạo của thương nhân

Dựa vào dung lượng và nội dung của các đoạn, người đọc có thể thấy hai chủ

đề chính trong tác phẩm là học vấn tri Tâm, những điều tâm niệm trong sự thực

Trang 38

hành của con người nói chung, thương nhân nói riêng trên cơ sở học vấn tri Tâm đó

“Kiệm ƣớc tề gia luận”

“Kiệm ước tề gia luận” được xuất bản năm 1744 trước khi Baigan qua đời 1 tuần Tác phẩm gồm Quyển thượng và Quyển hạ Mục đích viết cuốn sách “Kiệm ước tề gia luận” của Baigan trước hết có thể khảo cứu qua bối cảnh thời đại được đề cập trong cuốn sách như sau:

“Nhìn khắp thế gian không có gì dễ lụi bại hơn nhà thị dân…Có nhà thị dân

ba bốn mươi năm trước còn là nhà vô cùng giàu có, nhưng vì xa xỉ mà nay bặt vô

âm tín, phải sống cảnh nghèo nàn cô độc Cứ 10 nhà thì có đến 7, 8 nhà như thế”

[47, tr.17]

Trong hoàn cảnh đó, người đọc có thể suy đoán rằng, “Kiệm ước tề gia luận”

ra đời nhằm đề xuất một phương cách giúp thương nhân duy trì gia nghiệp hưng vượng dài lâu

Dựa theo lời Baigan viết ở phần đầu tác phẩm, người đọc cũng có hiểu rõ hơn quá trình ra đời của tác phẩm Trong cuốn “Đô bi vấn đáp”, Đoạn 3 thuộc Quyển 4 viết về việc xem xét đúng sai trong hành trạng của chủ nhân và trong các buổi thảo luận hàng tháng, Baigan vốn đã giảng giải toàn bộ nội dung của kiệm ước Tuy nhiên, ông cho rằng, vì kiệm ước không được đặt thành một mục riêng, với tựa

đề riêng nên học trò của ông đã không chú ý Nhân việc một số học trò đã tự nhận

ra tầm quan trọng của kiệm ước và bản thân Baigan cũng nghĩ rằng kiệm ước là một phương cách tiện lợi để những người cùng chí hướng có thể “tề gia”, nên Baigan quyết định chấp bút cuốn “Kiệm ước tề gia luận” [47, tr.13,15,17]

Về tên gọi “Kiệm ước tề gia luận”, kiệm ước vốn là đức tính được Baigan đề cao khi giảng giải về những điều thị dân cần tâm niệm “Tề gia” vốn là dụng ngữ của Nho giáo, hay được nhắc đến trong câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên

Trang 39

hạ”(trích trong cuốn Đại học) “Kiệm ước tề gia luận” có thể được hiểu là những luận bàn về kiệm ước, xem đó là phương thức căn bản để “tề gia” – cai quản gia đình, không chỉ với thị dân, mà với con người nói chung

“Kiệm ước tề gia luận” gồm Quyển thượng và Quyển hạ Cũng giống như

“Đô bi vấn đáp” ở phần đầu Quyển thượng, Baigan hồi tưởng phản ứng và cái nhìn tiêu cực của thế gian trước học vấn của ông thuở bắt đầu dạy học Đồng thời, một lần nữa ông trình bày quan điểm, chí hướng, nội dung học vấn như một sự khẳng định niềm tin vào tính đúng đắn và sự cần thiết của học vấn “tri Tâm” trong thời đại

Nếu “Đô bi vấn đáp” là tập hợp của nhiều chủ đề vừa cụ thể vừa trừu tượng thì “Kiệm ước tề gia luận” chỉ tập trung vào một chủ đề duy nhất, đó là kiệm ước Nếu ở “Đô bi vấn đáp”, Baigan dày công sử dụng nhiều trích dẫn từ kinh điển, thư tịch Nho giáo, Thần đạo, Phật giáo làm tiền đề cho lập luận của mình thì ở “Kiệm ước tề gia luận”, số lượng trích dẫn đã giảm đi đáng kể, lời văn viết cũng dễ hiểu hơn Điều này có thể lý giải bằng nhiều nguyên nhân Một trong những nguyên nhân đó là mục đích viết Khi viết “Đô bi vấn đáp”, Baigan muốn chứng minh cho tính chính thống, không phải “dị đoan” trong học vấn mà ông tầm cứu, nên đã sử dụng rất nhiều trích dẫn Nho - Thần - Phật Nhưng khi chuyển sang “Kiệm ước tề gia luận”, ngoài mục đích trên, mục đích cao hơn là chỉ cho thị dân nói riêng, con

Trang 40

người nói chung một phương cách để tồn tại cũng như duy trì gia nghiệp trong thời đại mới, nên đòi hỏi cách viết ngắn gọn, dễ hiểu

TIỂU KẾT

Cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, xã hội Nhật Bản chứng kiến những bước chuyển mình trên lĩnh vực kinh tế, xã hội và tư tưởng Những biến động của nền kinh tế bắt nguồn sâu xa từ chính những mâu thuẫn trong xã hội phong kiến, nhưng không phải ai cũng có thể nhìn thấu được Điều mà đa số người dân cảm nhận được

là nỗi lo sợ của sự phá sản, và trăn trở trên con đường tìm kiếm phương cách sống giúp duy trì gia nghiệp ổn định Sống giữa một xã hội đang chuyển mình, và coi việc tìm kiếm đạo đức nhân sinh là mục tiêu sống, Ishida Baigan đã tiếp nối truyền thống của những Nho gia tên tuổi như Ito Jinsai, Ogyu Sorai…để đưa các tư tưởng Nho giáo trong sự kết hợp với các tri thức của Lão Trang, Thần, Phật trở nên hữu dụng và thiết thực hơn với con người Nhật Bản, đặc biệt là tầng lớp thương nhân

mở đường cho sự phát triển của Tâm học mang tên ông trong những năm sau đó Baigan đã sáng tạo nên tư tưởng của ông bằng cách nào? Nội dung tư tưởng khái quát và xuyên suốt trong các tác phẩm của ông là gì? Điều này sẽ được trình bày trong Chương 2 của luận văn

CHƯƠNG 2: CHẤT LIỆU VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ISHIDA BAIGAN

2.1.Chất liệu tư tưởng của Ishida Baigan

Như đã trình bày ở Chương 1, Ishida Baigan dường như đã đạt đến mức độ

Ngày đăng: 26/06/2023, 13:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w