ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN LÊ THY THƢƠNG PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ SAU 1947 Chuyên ngành Châu Á học Mã số 60 31 06 01 LUẬN[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN LÊ THY THƯƠNG
PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ SAU 1947
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN LÊ THY THƯƠNG
PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ SAU 1947
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Châu Á học
Mã số : 60 31 06 01
Hà Nội - 2014
Trang 3Xin gửi tới Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á lời cảm ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập tài liệu nghiên cứu và hỗ trợ về chuyên môn để hoàn thành đề tài này
Công trình này sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Đỗ Thu Hà Là một trong những chuyên gia về Ấn Độ học hàng đầu tại Việt Nam, PGS.TS Đỗ Thu Hà đã gợi mở cho em những hướng nghiên cứu quan trọng và tận tình chỉ bảo, nâng đỡ, cung cấp cho em những tài liệu có giá trị để hoàn thành luận văn Em xin gửi tới cô lời cảm ơn trân trọng nhất
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích em hoàn thành công trình này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thu Hà Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Lê Thy Thương
Trang 5CÁC THUẬT NGỮ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Giới: Là thuật ngữ đề cập đến các đặc điểm, vị trí, vai trò, mối quan hệ về
mặt xã hội giữa nam giới – phụ nữ (trẻ em trai – trẻ em gái)1
Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ ( trẻ em
trai – trẻ em gái)2
Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều
kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó3 Ngân hàng thế giới đưa ra
định nghĩa về bình đẳng giới như sau: “ bình đẳng giới là bình đẳng về luật pháp,
về cơ hội – bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói”
Bất bình đẳng giới: Dựa trên định nghĩa về bình đẳng giới trên, bất bình đẳng
giới có thể hiểu là sự bất bình đẳng trong so sánh tương quan về vai trò, vị trí và tiếng nói của nam và nữ giới Giá trị gắn cho vai trò của giới nam hoặc giới nữ được
xã hội thừa nhận chính là cơ sở quyết định khả năng tiếp cận tài sản và nguồn lực của gia đình và xã hội, cũng như tiếng nói khác nhau của nam và nữ
Nữ quyền và Nhà hoạt động nữ quyền: Thuật ngữ "nữ quyền" (feminism) hay
"nhà hoạt động nữ quyền" (feminist) xuất hiện lần đầu tại Pháp và Hà Lan vào năm
1872 (les féministes), tại Anh quốc vào thập niên 1890, và ở Mỹ vào năm 1910 Từ điển Oxford English Dictionary đưa từ "feminist"lần đầu vào năm 1894 và
"feminism" vào năm 1985 Tờ Daily News của Anh giới thiệu từ "feminist" bằng tiếng Anh trong một bài báo từ tiếng Pháp Trước đó, thuật ngữ này thường được sử dụng là Quyền của Phụ Nữ (Woman's Rights)
Có nhiều quan niệm, nhiều ý kiến về thuật ngữ “Nữ Quyền” Ở đây đề tài sử dụng thuật ngữ Nữ quyền theo định nghĩa của nhà hoạt động nữ quyền Kamla
1 Theo Luật Bình đẳng giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
2 Theo Luật Bình đẳng giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
3 Theo Luật Bình đẳng giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
Trang 6Bhasin, 2003: Nữ Quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự bóc lột và áp bức ở các cấp độ vật chất và tư tưởng đối với lao động, sự sinh sản và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung, là hành động có ý
thức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó Không giống như các lý
thuyết khác, nền tảng khái niệm lý thuyết của thuyết nữ quyền không bắt nguồn từ công thức lý thuyết đơn lẻ nào Do vậy không có định nghĩa lý thuyết cụ thể nào của thuyết nữ quyền phù hợp cho mọi phụ nữ ở mọi thời đại
Phong trào nữ quyền: Từ sự phân tích về thuật ngữ nữ quyền ở trên, có thể
hiểu phong trào nữ quyền là phong trào đấu tranh vì quyền lợi của phụ nữ và đem đến cho phụ nữ những quyền bình đẳng so với nam giới
Trang 7QUY ƢỚC TRÌNH BÀY TRONG LUẬN VĂN
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
AIWC: Hiệp hội Phụ nữ toàn Ấn Độ
BFA: Diễn đàn hành động Bắc Kinh
COVA: Liên minh các tổ chức tình nguyện
CSWI: Ủy ban về Vị trí của Phụ nữ Ấn Độ
CEDAW: Hiệp định Quốc tế về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ GP: Gram Panchayat
IWID: Ủy ban sang kiến vì sự phát triển của phụ nữ
NIAS: Học viện Quốc gia Nghiên cứu các vấn đề về giới
NAWO NAWO: Tổ chức Liên minh của Phụ nữ toàn Ấn Độ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Ấn Độ xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia trên thế giới
nguy hiểm nhất đối với phụ nữ Nguồn: Tập đoàn truyền thông đa quốc
gia Thomson Reuters
13
Bảng 2 Khoảng cách giữa số phần trăm tham gia bỏ phiếu giữa nam
và nữ tại Ấn Độ trong 5 kỳ bầu cử Quốc hội từ 1996 đến 2009 Nguồn:
Ủy ban bầu cử Quốc gia Ấn Độ
21
Bảng 3 Sô phụ nữ tử vong liên quan đến của hồi môn tại các bang
của Ấn Độ trong năm 2012 Nguổn: Văn phòng Điều tra Tội ác Quốc
gia Ấn Độ
30
Bảng 4 Bảng thống kê những vụ hiếp dâm tại thủ đô New Delhi, Ấn
Độ trong hai năm 2001-2006 Nguồn: Sở cảnh sát New Delhi, 3/2007
31
Bảng 5 Biểu đồ về những vụ hiếp dâm được báo cáo tại Ấn Độ trong
giai đoạn từ 2001-2012 Thông tin dựa trên National Crime Records
Bureau Source: Wikimedia Commons
32
Bảng 6 Thống kê về những vụ hiếp dâm tại Ấn Độ từ 2001- 2012 với
tổng số và tỷ lệ tính trên 100.000 người Nguồn: Chính phủ Ấn Độ,
2013
32
Bảng 7 Sự tham gia của phụ nữ trong các cuộc bầu cử quốc gia Nguồn:
PIB, Government of India, 1998
43
Bảng 8 Bảng thống kê con số phụ nữ tử vong do vấn đề của hồi môn
tại Ấn Độ trong giai đoạn 2005-2010 tại một số bang Nguồn: Hạ viện
Ấn Độ
53
Trang 9môn tại Ấn Độ từ năm 2009 đến 2013 Nguồn: Bộ Nội vụ Ấn Độ
Bảng 10 Thống kê các vụ việc liên quan đến vấn đề của hồi môn tại
Ấn Độ từ năm 2006 đến 2011 Nguồn: Bộ Nội vụ Ấn Độ
54
Bảng 11 Thống kê so sánh tỷ lệ số trẻ em gái/ 1.000 trẻ em trai tại một số bang
Ấn Độ năm 2001 và 2011 Nguồn: Ủy ban Thống kê Quốc gia Ấn Độ.
73
Bảng 12: Lượng cử tri nam và nữ đi bỏ phiếu trong các năm từ
1952-1993 (%), Nguồn: Issues, Towards Beijing, New Delhi: Coordination
Unit, 1995
81
Bảng 13: Sự tham gia của phụ nữ trong các cuộc bầu cử quốc gia
Nguồn: PIB, Government of India, 1998
81
Bảng 14: Thống kê sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ trong chính phủ
trên thế giới năm 2010, trong đó phụ nữ Ấn Độ chiếm khoảng từ
10-19% Nguồn: Lockwood, Bert B (ed.), Women's Rights: A "Human
Rights Quarterly" Reader (Johns Hopkins University Press,
2006), ISBN 978-0-8018-8374-3
83
Bảng 15: Thống kê sự thay đổi trong đóng góp thu nhập trong gia
đình của phụ nữ Ấn Độ trong giai đoạn từ 1970- 2011 Nguồn: The
Hamilton Project
84
Bảng 16: Thống kê phần đóng góp của phụ nữ Ấn Độ vào thu nhập
của hộ gia đình nhờ trình độ học vấn, lứa tuổi 30-44, giai đoạn
1920-2007 Nguồn: The Hamilton Project
85
Bảng 17: Tỷ lệ phụ nữ Ấn Độ tham gia quản lý trong lĩnh vực kinh
doanh trong giai đoạn 2004-2013 Nguồn: Grant Thornton
International’s business report 2013 - Women in business –
86
Bảng 18: Thống kê số lượng cử tri đi bỏ phiếu và sự tự quyết trong vấn
đề bỏ phiếu giữa hai giới tại Ấn Độ năm 1998 Nguồn: Ủy ban Bầu cử
90
Trang 10Quốc gia Ấn Độ
Bảng 19: Thống kê tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động trên
toàn thế giới trong giai đoạn 2009- 2013 Nguồn: Ngân hàng thế giới
91
Bảng 20: Thống kê tỷ lệ nữ lao động/ 100 nam trong lực lượng lao
động của một số bang tại Ấn Độ trong năm 2011 Nguồn: Ủy ban
Thống kê Quốc gia Ấn Độ năm 2011
92
Bảng 21: Thống kê dự đoán về sự gia tăng trong đóng góp của phụ nữ
tại một số nước vào tổng thu nhập quốc dân một số nước trên thế giới
tính đến năm 2020 Nguồn: Booz and Company
93
Bảng 22: Thống kê về tỷ lệ thất nghiệp qua trình độ học vấn và lao
động chính/ phụ Dữ liệu đề cập theo lứa tuổi lao động trong dân số
(15 tới 64 tuổi) Nguồn: NSSO, Điều tra về việc làm và nạn thất
nghiệp, phần số 55, 61, 66 và 68
94
Bảng 23 Tỉ lệ phần trăm nam và nữ tới trường trong năm học
2005-2006 tại Ấn Độ Nguồn: Thống kê Quốc gia của Ấn Độ về sức khỏe
gia đình (NFHS)
95
Bảng 24: Thống kê năm 2010 về quan điểm của dân chúng về cơ hội
học vấn bình đẳng giữa nam và nữ ở bậc đại học tại một số nước trong
đó Ấn Độ bộc lộ sự bất bình đẳng giới rõ nhất Nguồn: PEW
Research Center, India
97
Bảng 25 Tỉ lệ giới tính – số lượng nữ trên 1000 nam- trong trẻ em từ
0-6 tuổi ở Ấn Độ Nguồn: Thống kê Quốc gia của Ấn Độ về sức khỏe
gia đình (NFHS)
97
Bảng 26: Thống kê về thái độ phân biệt đối xử của nam giới đối với
phụ nữ trên thế giới năm 2012 Nguồn: UNICEF
99
Trang 11HÌNH ẢNH MINH HỌA
Hình ảnh 1: Cuộc biểu tình do Gang Gulabi tổ chức – Nguồn:
The Time of India
61
Hình ảnh 3: Cuộc biểu tình do AIDWA tổ chức để phản đối vấn
nạn hiếp dâm ở Ấn Độ ngày 27/10/2013 – Nguồn: The Time of
India
69
Hình ảnh 4: Lễ ra mắt Báo cáo về tình trạng bình đẳng của phụ
nữ tại Ấn Độ năm 2012 của Ủy ban Quốc gia về Phụ nữ toàn Ấn
Độ Nguồn: Website của tổ chức
94
Trang 12MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1947 ĐẾN NAY 10
1.1Sơ lược lịch sử phát triển của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ 11
1.2Các yếu tố tác động đến sự phát triển của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ từ năm 1947 19
1.2.1 Sự ra đời của nền chính trị dân chủ 19
1.1.2 Sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự 24
1.2.3 Tác động hai chiều của làn sóng toàn cầu hóa 26
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1947 ĐẾN NAY 36
2.1 Cơ cấu tổ chức và hệ tư tưởng của phong trào 37
2.2 Các lĩnh vực đấu tranh chủ yếu của phong trào 42
2.2.1 Lĩnh vực chính trị 42
2.2.2 Lĩnh vực kinh tế 49
2.2.3 Lĩnh vực hôn nhân – gia đình 53
2.2.4 Lĩnh vực đẳng cấp xã hội 62
2.2.5 Lĩnh vực tôn giáo 64
2.2.6 Các lĩnh vực khác 69
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1947 ĐẾN NAY 79
3.1 Thành tựu của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ sau 1947 79
3.2 Hạn chế của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ sau 1947 92
3.4 Một số giải pháp 105
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC
118
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bất bình đẳng về giới tính là một vấn nạn tồn tại dai dẳng trong xã hội Ấn Độ từ xưa cho đến nay làm cho vai trò và địa vị của nữ giới ở quốc gia này luôn luôn bị xem nhẹ Nếu như văn hóa Ấn Độ đề cao và tôn thờ tính nữ thiêng liêng thì trong hệ tư tưởng, các thiết chế xã hội và cấu trúc gia đình, giá trị và quyền lợi của người phụ nữ lại bị phủ nhận gần như tuyệt đối Những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của người phụ nữ: của hồi môn, cưỡng bức, bạo lực gia đình, phá thai chọn lọc diễn ra khá thường xuyên tại
Ấn Độ hiện nay… phản ánh sự tồn tại dai dẳng của của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vốn đã ngự trị trong xã hội Ấn Độ từ thời cổ đại Do sự cản trở nữ giới phát huy cao nhất khả năng, trình độ của mình, bất bình đẳng giới đã làm chậm một bước trình độ phát triển của Ấn Độ trên nhiều phương diện, trong
đó có cả phương diện kinh tế, chính trị và văn hóa, văn minh đồng thời khiến cho hình ảnh đất nước Ấn Độ thân thiện, khoan hòa, nhân ái ít nhiều bị méo
mó trong mắt người nước ngoài
Tất nhiên, cùng với nhận thức ngày càng cao của nhiều tầng lớp trong
xã hội Ấn Độ về quyền con người, làn sóng đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn
Độ đã dấy lên ở nhiều nơi và đạt được những thành tựu nhất định Nhưng dường như đó mới chỉ là điểm xuất phát cho một chặng đường dài phải đi, bởi đến tận ngày nay, nhắc đến Ấn Độ người ta vẫn nhắc đến nhiều hơn những tệ nạn liên quan đến việc đối xử bất bình đẳng với phụ nữ hơn là những hành động đấu tranh để bảo vệ họ Câu hỏi đặt ra là: phong trào đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn Độ đã diễn ra như thế nào, đạt được thành tựu gì và tại sao nó chưa đạt được thành công như mong đợi? Nói cách khác, tìm hiểu về Phong trào nữ quyền ở Ấn Độ chính là một phần của việc tìm hiểu thực trạng bức tranh bất bình đẳng giới ở Ấn Độ hiện nay để tìm ra những biện pháp thỏa đáng nhằm đấu tranh chống lại tình trạng đó
Trang 14Nhìn rộng ra, Ấn Độ không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới phải đối mặt với tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ Từ phương Tây đến phương Đông, chưa một quốc gia nào khẳng định có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam giới và nữ giới, đồng nghĩa với việc phong trào nữ quyền vẫn chưa bao giờ dừng lại ở bất kỳ một nơi nào đó Khác với những cuộc đấu tranh khác trong lịch sử nhân loại, có lẽ do những đặc điểm giới tính quy định, phong trào nữ quyền là những cuộc đấu tranh ít bạo lực và thương vong nhưng không vì thế mà kém phần quyết liệt Cuộc đấu tranh đó đang trở nên mạnh mẽ hơn khi những tiếng kêu cứu vọng tới từ Ấn Độ bởi những nạn nhân gần đây của các vụ cưỡng bức và bạo lực tập thể diễn ra liên tiếp trong năm
2013 Điều đó cũng có nghĩa là phong trào nữ quyền ở Ấn Độ đã và sẽ gắn bó mật thiết với phong trào đấu tranh giành nữ quyền trên thế giới, mỗi một bước phát triển của nó sẽ có sức ảnh hưởng không nhỏ đến những phong trào, tổ chức ra đời vì phụ nữ, nhất là các tổ chức phi chính phủ Đánh giá những thành công và thất bại của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ sẽ cho thấy được những thuận lợi và khó khăn mà phong trào nữ quyền trên thế giới sẽ gặp phải trong thời gian tới
Cuối cùng, là một quốc gia phương Đông còn mang nặng tính truyền thống với chế độ phụ quyền còn bám rễ sâu sắc vào tư tưởng nhận thức đại bộ phận dân cư, Việt Nam có những đặc điểm về bất bình đẳng giới tương đồng với Ấn Độ Và giống như Ấn Độ, phong trào nữ quyền ở Việt Nam tuy có những thành công bước đầu song vẫn chưa thể hoàn thành những mục tiêu và nhiệm vụ căn bản trong việc giải phóng phụ nữ Tìm hiểu về phong trào nữ quyền ở Ấn Độ, đánh giá những bài học kinh nghiệm của phong trào này không chỉ giúp hiểu rõ về một khía cạnh của bức tranh đời sống xã hội ở Ấn
Độ mà còn có thể đúc kết những bài học thực tiễn cho những phong trào vì sự tiến bộ phụ nữ ở Việt Nam
Trang 15Từ những lý do trên có thể thấy nghiên cứu về phong trào nữ quyền ở
Ấn Độ là công việc cần thiết và có tính thực tiễn cao Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài luận văn này, khó có thể phân tích một cách đầy đủ toàn vẹn phong trào nữ quyền Ấn Độ từ lúc mới hình thành, diễn biến và thành quả cũng như những ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của nó Trên cơ sở chia phong trào nữ quyền ở Ấn Độ thành ba giai đoạn4, tác giả đề tài chỉ xin được tìm hiểu về phong trào này ở giai đoạn hiện đại nhất – giai đoạn từ sau khi Ấn
Độ giành độc lập năm 1947 cho đến nay Đây là giai đoạn khi các tổ chức giành cho phụ nữ đã được thành lập và có một chỗ đứng nhất định trên diễn đàn chính trị lúc bấy giờ Ngoài những lý do ở trên, việc tìm hiểu về phong trào nữ quyền ở Ấn Độ trong giai đoạn này còn giúp làm rõ những ảnh hưởng của nó đến tình hình chính trị ở Ấn Độ hiện nay, cũng như giúp trả lời câu hỏi
sự tiến bộ trong nhận thức về vai trò, quyền lợi của người phụ nữ đã góp phần tạo nên những thay đổi gì trong xã hội Ấn Độ hiện đại
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy nhiều nghiên cứu về phong trào
nữ quyền ở Ấn Độ Thông tin về một số phong trào đòi nữ quyền ở Ấn Độ chủ yếu là thông tin báo chí Các nghiên cứu về địa vị xã hội của người phụ
nữ trong xã hội Ấn Độ cũng chủ yếu tập trung vào nhận định về họ trong hệ thống kinh sách Hindu giáo, không có những nghiên cứu dựa trên tình hình thực tế Tuy nhiên nó cũng cung cấp cho chúng tôi một số kiến thức mang tính lý luận về vấn đề này
4
Lịch sử của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu tiên, bắt đầu
từ giữa thế kỷ XIX, bắt đầu khi thực dân châu Âu ở Ấn Độ lên tiếng chống lại các tệ nạn xã hội liên quan tới việc phân biệt đối xử với phụ nữ ở Ấn Độ ; giai đoạn hai, từ năm 1915 đển năm 1947, khi Gandhi đưa phong trào phụ nữ trở thành một bộ phận của phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ và các tổ chức của phụ nữ bắt đầu xuất hiện; và cuối cùng, giai đoạn thứ ba, sau độc lập năm 1947 tập trung vào đòi sự công bằng cho phụ nữ trong chính trị và các hoạt động kinh tế
Trang 16Có hai bài viết chính liên quan đến đề tài của chúng tôi đều là bài của
Đỗ Thu Hà, một nhà nghiên cứu về Ấn Độ học
Bài thứ nhất là về Vai trò của phụ nữ trong các phong trào chính trị Ấn
Độ sau 1947 đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á số 6 (19) từ
trang 94-115 Trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích vai trò chính trị của phụ nữ Ấn Độ sau năm 1947, trong đó cố gắng lí giải nguyên nhân vì sao có một khoảng cách lớn giữa quyền chính trị phụ nữ trong luật pháp so với thực tế Các phần chính của bài viết bao gồm: 1 Các nhân tố thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ Ấn Độ từ sau năm 1947 (các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nữ quyền, các đảng phái chính trị và các phương tiện truyền thông); 2 Vai trò chính trị của phụ nữ Ấn Độ trong Luật pháp từ sau năm 1947 (Quyền bỏ phiếu, quyền tham gia ứng cử và hạn ngạch duy trì cho phụ nữ); 3 Vai trò chính trị của phụ nữ Ấn Độ trong thực tế từ sau năm 1947 (vai trò cử tri.vai trò ứng cử viên); 4 Một số nguyên nhân ngăn cản vai trò chính trị của phụ nữ Ấn Độ từ sau năm 1947 (Trình độ giáo dục và sự tiếp cận thông tin, vấn đề kinh tế, tôn giáo và phong tục xã hội, những lỗ hổng luật pháp) và một số giải pháp
Bài thứ hai có nội dung về Phụ nữ và các phong trào chính trị ở Ấn Độ
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á số 1, 8/2012, từ trang 29-41 Tác giả đã đề cập đến tình trạng phong trào phụ nữ Ấn Độ bị chia thành các tổ chức liên kết rất lỏng lẻo, một số tổ chức kết giao với các đảng phái chính trị,
số còn lại là các tổ chức “tự trị” từ chối các liên kết chính trị Bài viết miêu tả kết cấu tổng thể của phong trào phụ nữ Ấn Độ, phân tích khởi nguồn hệ tư tưởng thiết kế nên kết cấu này và tập trung sự chú ý vào mối quan hệ giữa phong trào này với các phong trào đương thời không liên kết và các đảng chính trị khác ở Ấn Độ Bài viết cũng chỉ ra một số sức mạnh tiềm năng của kết cấu phức tạp này nhưng ta cần lưu ý rằng các phong trào chính trị có thể mang các mục đích khác biệt so với hệ thống chính trị bầu cử và đảng phái,
Trang 17đặc biệt là việc thành lập các kênh chính trị xã hội mới và việc tiến hành trao quyền hợp pháp cho các cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung Các hoạt động này về lâu dài có thể tác động đến các chính sách và cách thức hoạt động của chính phủ Để đạt được các mục tiêu này, phong trào phụ nữ đã trở thành một phần không thể thiếu của khối các phong trào phi đảng phái nổi lên
ở Ấn Độ đầu những năm 1970 và nở rộ khi Indira Gandhi tuyên bố Tình trạng Khẩn cấp vào năm 1975 Qua đây, chúng ta cũng có thể thấy cách các phong trào phụ nữ này sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, việc gây sức ép với các đảng phái và Quốc hội; sử dụng nguồn trợ giúp từ các học giả, viện nghiên cứu cũng như nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế để đạt được những thành công đáng nể
Hai bài viết trên đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều khi triển khai các luận điểm của mình
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Một số công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến phong trào nữ quyền tại Ấn Độ mà tác giả được biết đến như:
Geetanjali Gangoli, Phong trào nữ quyền ở Ấn Độ: hệ thống pháp lý và
chủ nghĩa nữ quyền5
(2007) Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề sau: đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của những cải cách pháp luật dành riêng cho phụ nữ, đánh giá của tác giả về giá trị của các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi pháp lý và các chiến dịch nữ phản đối bạo lực đối với phụ nữ từ thập niên 70 Các chiến dịch khác nhau, từ chống bạo lực gia đình, chống nạn hiếp dâm, phá thai chọn lọc được đề cập và đặt trong một hệ phân tích rộng hơn về vị trí của phụ nữ trong xã hội Ấn Độ nói chung Tác giả cũng đặt câu hỏi liệu các chiến dịch đấu tranh pháp lý có thể dẫn đến những thay đổi tích cực trong cuộc sống của phụ nữ hay không và đưa ra dự đoán của mình
Maitrayee Chaudhuri, Những vấn đề của chủ nghĩa nữ quyền đương
5 Indian Feminisms: Law Patriarchies and Feminism in India",
Trang 18đại Ấn Độ6
(2005) : Công trình này cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử đan xen đầy phức tạp của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ Nó tập hợp các nghiên cứu của nhiều học giả Ấn Độ nổi tiếng và các nhà hoạt động nữ quyền
về nền tảng lý thuyết, bối cảnh văn hóa xã hội của phong trào này Tác phẩm
đã phân tích chi tiết về Sự kết hợp không thể tránh khỏi của phong trào nữ quyền Ấn Độ với chủ nghĩa nữ quyền phương Tây, tình trạng của phụ nữ nhà nước Ấn Độ từ thời kỳ thuộc địa đến thời kỳ độc lập, và các thách thức đối với phong trào nữ quyền Ấn Độ gây ra bởi toàn cầu hoá và Hindu giáo
A Kunjakkan, Chủ nghĩa nữ quyền và thực tế ở Ấn Độ7 (2002): Công trình nghiên cứu này có nhiều bình luận, phân tích khoa học, biện chứng và thấu đáo về những đặc điểm của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ và tác động của nó đến đời sống của phụ nữ Ấn Độ trong thế kỷ XX
Raka Ray, Những phong trào của phụ nữ ở Ấn Độ8 (2000): thống kê các phong trào của phụ nữ Ấn Độ từ thế kỷ XIX và đánh giá những tác động của các phong trào này đến vị thế của người phụ nữ Ấn Độ
Từ tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đề tài, cho thấy đề tài
Phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm 1947 đến nay là đề tài không trùng
lặp với các công trình nghiên cứu trước đó Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên là những nguồn tư liệu quan trọng cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc điểm, các lĩnh vực hoạt động chính của phong trào
nữ quyền ở Ấn Độ từ sau độc lập năm 1947, phân tích những thành công và hạn chế của phong trào này, phân tích những ảnh hưởng của phong trào đến địa vị xã hội của phụ nữ Ấn Độ và tình hình chính trị, xã hội của quốc gia này
6
Feminism in India (Issues in Contemporary Indian Feminism)
7
“Feminism and Indian Realities”
8 “Fields of Protest: Women's Movements in India”
Trang 194 Câu hỏi nghiên cứu
- Phong trào nữ quyền ở Ấn Độ sau 1947 hình thành và phát triển trong bối cảnh nào? Bối cảnh đó tác động như thế nào đến sự phát triển của phong trào?
- Phong trào nữ quyền tại Ấn Độ sau 1947 có cơ cấu tổ chức như thế nào? Các lĩnh vực mà phong trào hướng tới?
- Phong trào có những thành tựu và hạn chế gì? Phong trào có tác động như thế nào đến đời sống văn hóa xã hội ở Ấn Độ?
5 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phong trào đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn
Độ từ khi nước này giành được độc lập năm 1947 đến nay như một tập hợp các phong trào chính trị xã hội có tổ chức diễn ra trên toàn thể đất nước Ấn
Độ và có kết nối với các tổ chức chính trị xã hội quốc tế
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bối cảnh, diễn biến và kết quả của phong trào đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn Độ trong thời gian từ năm 1947 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm Đây là phương pháp
nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận Việc phân tích tổng hợp này được thực hiện dựa trên tập hợp các
nghiên cứu trên thế giới Phương pháp tổng hợp và phân tích được áp dụng
phổ biến trong các nội dung của đề tài, trong đó rõ nét nhất ở nội dung chương 2 và chương 3 Việc tổng hợp, phân tích này được thực hiện dựa trên tập hợp các nghiên cứu, các thống kê số liệu về thực trạng đời sống của phụ
nữ Ấn Độ và các phong trào phụ nữ Các kết quả nghiên cứu này sẽ được tổng hợp lại một cách có hệ thống, và được kết hợp so sánh với các kết quả nghiên cứu của các học giả khác
Trang 20Đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích so sánh Cùng với các
phương pháp khác, phương pháp này được sử dụng nổi bật ở chương 2 và 3 Một mục tiêu quan trọng của đề tài này là rút ra điểm tương đồng và khác biệt của phong trào phụ nữ ở Ấn Độ với phong trào phụ nữ ở phương Tây Phân tích so sánh cũng được sử dụng khi so sánh chất lượng sống của phụ nữ Ấn
Độ với phụ nữ một số nước khác
Phương pháp phân tích trường hợp (case studies) sẽ được sử dụng để phân tích một số cuộc đấu tranh điển hình trong phong trào nữ quyền ở Ấn
Độ Từ những phân tích trường hợp này, đề tài sẽ khái quát cho cả phong trào
và sẽ giúp đưa ra những nhận định, đánh giá chính xác hơn
8 Bố cục của luận văn
Luận văn được chia thành ba chương:
Chương I: Bối cảnh lịch sử của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm 1947 đến nay
Chương II: Những nội dung chính của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm
1947 đến nay
Chương III: Đánh giá thành tựu, hạn chế của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ
từ năm 1947 đến nay
Trang 21La Mã cổ đại sử dụng hình ảnh hai bàn tay siết chặt để nói về hôn nhân, hình tượng hóa hôn nhân như là sự đồng hành của hai người bạn đời – họ cùng nhau làm việc, sinh thành và nuôi dạy con cái, đảm đương công việc hàng ngày, sống cuộc đời gương mẫu, và tận hưởng tình yêu thương9
Tại một số nơi, nữ quyền được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác, chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch
sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai10
Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về nữ quyền bao gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công, làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân và làm phụ huynh11
9
Martha C Nussbaum, (2002), The Incomplete Feminism of Musonius Rufus, Platonist, Stoic, and Roman, in
The Sleep of Reason: Erotic Experience and Sexual Ethics in Ancient Greece and Rome, University of
Chicago Press, trang 300
10 Hosken, Fran P., Towards a Definition of Women's Rights, in Human Rights Quarterly, Vol 3, No 2
(May, 1981), trang 1–10
11
Lockwood, Bert B (2006), Women's Rights, A "Human Rights Quarterly" Reader, Johns Hopkins
University Press, ISBN 978-0-8018-8374-3
Trang 22Vì điều kiện thời gian và dung lượng của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi sẽ không đề cập tất cả những quyền trên mà sẽ chỉ đề cập đến một số vấn
đề nhất định và cũng chỉ đề cập đến những vấn đề nảy sinh tại Ấn Độ trong sự
so sánh với nữ quyền trên thế giới nói chung ở một mức độ khiêm tốn
Trong chương này chúng tôi sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về lịch
sử hình thành và phát triển của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ, những yếu tố gây nên sự biến đổi của phong trào này từ giai đoạn 1947 đến nay, từ đó làm
rõ bối cảnh lịch sử của phong trào, giải thích được xuất phát điểm, động lực
và xu hướng phát triển mới của nó Trước hết, cần phải thấy rằng sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ Ấn Độ năm 1947 là thời điểm bước ngoặt đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới của Ấn Độ, mở ra một chặng đường phát triển mới của Ấn Độ trong nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế cho đến những nền tảng văn hóa xã hội lâu đời khác Cùng với những biến động to lớn này, phong trào nữ quyền ở Ấn Độ cũng có những động lực mới để phát triển Do
đó nội dung chính của chương sẽ là phân tích những yếu tố tác động đến phong trào nữ quyền nảy sinh từ sau mốc thời gian quan trọng này Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu ban đầu là đánh giá một cách toàn diện sự phát triển của phong trào nữ quyền từ năm 1947 đến nay, những nghiên cứu về tác động của bối cảnh lịch sử cũng không dừng lại ở thời điểm năm 1947 mà xuyên suốt cả một quá trình từ đầu thế kỷ XIX cho đến nay
1.1 Sơ lƣợc lịch sử phát triển của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ
Phong trào nữ quyền ở Ấn Độ hình thành và phát triển trong bối cảnh phụ nữ ở nước này chịu nhiều bất công bởi quan niệm bất bình đẳng giới vốn tồn tại dai dẳng, sâu sắc và không dễ gì xóa bỏ Bất bình đẳng giới là hiện tượng đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử hình thành và phát triển của Ấn Độ xuất phát từ một trong những nguyên nhân chính là niềm tin tôn giáo
Sau khi ra đời chữ viết, chế độ phụ hệ bắt đầu được nêu trong Luật
Manu Luật Manu được giới thiệu vào thế kỷ đầu tiên trước Công Nguyên
Trang 23Cuốn sách hệ thống lại những quy tắc và thực tế của đạo Bà La Môn cổ đại sau khi bị suy thoái kể từ thời kỳ Veda Theo truyền thống đạo Bà La Môn, phụ nữ bị đặt ở vị trí thấp nhất trong xã hội Vì thế người Bà La Môn sử dụng tôn giáo để xây dựng toàn bộ hệ thống tư tưởng của họ Thông qua tôn giáo,
họ đã cố gắng điều khiển phụ nữ Bị đặt trong tình huống này, người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và đau khổ Họ không được đối xử tử tế
và người Bà La Môn xếp họ vào tầng lớp thấp nhất trong xã hội.Truyền thống
Bà La Môn phổ biến với xã hội những quan niệm kỳ thị phụ nữ bằng cách chỉ
trích họ Trong Kinh Veda (10-95-10) nói rằng: tình bạn của người nữ không bền lâu Bản chất của họ giống như con linh cẩu Luật Manu miêu tả phụ nữ
như là đồ trang sức, họ có những mong muốn dơ bẩn, nhiều sân hận, không tử
tế, hiểm độc và đạo đức tồi Trong Puranas nói rằng: “… giống như người đồ
tể không thỏa mãn với việc sát hại không biết bao nhiêu động vật, cũng giống vậy phụ nữ có thể có nhiều người nam.” Các tư liệu Bà La Môn giáo ghi rằng
họ thật sự căm ghét người nữ, gọi họ là kẻ cắp, thổ phỉ, hải tặc… Có tám phẩm chất của người phụ nữ, đó là: nói láo trắng trợn, cẩu thả, lừa dối, ngu xuẩn, tham lam, dơ bẩn, tinh quái và hấp tấp12
Trong Atharva Veda có đoạn kinh nói rằng: “thượng đế trao người vợ cho người chồng để họ phục vụ
chồng và sinh con Hơn nữa cô ấy được quy là kẻ lệ thuộc và nô lệ”13 Họ không có quyền theo dõi hay tham gia vào các hoạt động tôn giáo, không có quyền được đi học Chức năng duy nhất của họ là sinh con và chăm sóc chồng
con Họ luôn phải sống theo các mệnh lệnh của đàn ông “Khi còn nhỏ, một
bé gái phải nghe lời cha, trưởng thành phải tuân lệnh chồng, khi chồng mất,
họ phải theo ý con trai, phụ nữ chẳng bao giờ độc lập.”14
Theo Luật Manu, cách duy nhất để được lên trời là vâng lời chồng “Phụ nữ không được phép
Trang 24tế lễ, thệ nguyện, hay ăn chay (nếu người chồng không muốn): Chỉ cần người
ấy vâng lệnh chồng, họ sẽ xứng đáng được lên thiên đàng”15
Sau khi giành được độc lập năm 1947 phụ nữ Ấn Độ giành được một
số quyền nhất định nhưng địa vị của họ vẫn thấp hơn rất nhiều so với nam giới Bản thân chính quyền vẫn lực bất tòng tâm trong việc thay đổi quan niệm và đặc biệt các hủ tục thâm căn cố đế bởi ảnh hưởng không gì sánh nổi của tôn giáo về vấn đề nữ quyền Theo kết quả điều tra của tập đoàn truyền thông đa quốc gia Thomson Reuters, Ấn Độ xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia trên thế giới nguy hiểm nhất đối với phụ nữ16 Ấn Độ cũng là quốc gia bị xếp hạng cuối trong khảo sát về điều kiện sống của phụ nữ tại 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới, với những tình trạng như: tảo hôn phổ biến, giết người vì không đáp ứng đủ của hồi môn, nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, phụ nữ bị bóc lột sức lao động
Trang 25Bảng 1 Ấn Độ xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia trên thế giới
nguy hiểm nhất đối với phụ nữ Nguồn: Tập đoàn truyền thông đa quốc gia
Thomson Reuters, năm 2014
Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ thể hiện trên nhiều phương diện trong đó có kinh tế, chính trị, y tế, giáo dục và địa vị trong gia đình Về kinh tế, phụ nữ Ấn
Độ có thu nhập thấp và đóng góp vào kinh tế ít hơn nhiều so với đàn ông Về địa
vị trong gia đình, phụ nữ Ấn Độ vẫn là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình, hỏa thiêu góa phụ và đòi của hồi môn Những tập tục lạc hậu được nuôi dưỡng bới quan niệm coi thường phụ nữ, và ngược lại, sự phổ biến những tập tục này càng khiến cho địa vị của người phụ nữ trong gia đình Ấn Độ bị hạ thấp Về chính trị, việc đấu tranh cho bình đẳng giới gặp khó khăn ngay từ cơ quan quyền lực nhất, khi mà số ghế của phụ nữ trong quốc hội ít hơn nhiều so với nam giới Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ còn thể hiện trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là ở vùng nông thôn – nơi mà nữ giới luôn luôn ít học hơn so với nam giới Giống như giáo dục, chất lượng y tế đối với nam giới cũng cao hơn so với nữ giới Cuối cùng, một trong những hậu quả nặng nề nhất của bất bình đẳng giới ở Ấn Độ chính là nạn hiếp dâm – vấn nạn đang bị dấy lên hồi chuông báo động tại quốc gia này Do giới hạn của chương này, những số liệu và phân tích cụ thể về từng phương diện bất bình đẳng giới sẽ được trình bày cụ thể và lồng ghép với nội dung các cuộc đấu tranh ở chương sau Tuy nhiên có thể khẳng định, bất chấp những nỗ lực của chính phủ, các tổ chức quốc tế và các nhà hoạt động nữ quyền, bất bình đẳng giới vẫn là một trong những vấn đề nan giải và để lại nhiều hệ lụy trong xã hội Ấn
Độ Đây là nguyên nhân khiến những cuộc đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn Độ bùng nổ một cách mạnh mẽ
Cũng giống như phong trào nữ quyền thế giới, phong trào nữ quyền ở Ấn
Độ là một tập hợp của các phong trào đấu tranh nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo vệ cơ hội cũng như quyền lợi về chính trị, kinh tế và xã hội bình đẳng cho phụ nữ Ấn Độ
Trang 26Lịch sử phong trào nữ quyền ở Ấn Độ có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu tiên, bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX khi một số trí thức châu Âu đến
Ấn Độ lên tiếng chống lại hủ tục hỏa thiêu góa phụ, giai đoạn thứ hai, từ năm
1915 đến khi Ấn Độ giành được độc lập năm 1947, khi Gandhi đưa phong trào
nữ quyền trở thành một bộ phận của phong trào giải phóng dân tộc, và cuối cùng, giai đoạn thứ ba – giai đoạn sau 1947, tập trung vào đòi hỏi sự cân bằng về vai trò chính trị cũng như địa vị của phụ nữ Ấn Độ trong gia đình17
1.1.1 Giai đoạn 1850-1915
Giai đoạn đầu của cuộc xâm lược thuộc địa tại Ấn Độ, các liên minh của người châu Âu đến Ấn Độ đã không chỉ mang theo máy móc công nghiệp
và mô hình quản lý nhà nước phương Tây mà còn đem đến cho xã hội Ấn Độ những khái niệm mới mẻ về dân chủ, bình đẳng và nhân quyền Những khái niệm này thổi một luồng gió mới vào hệ tư tưởng xưa cũ ở Ấn Độ và là cơ sở
lý luận của những phong trào cải cách xã hội đầu tiên liên quan đến địa vị xã hội và quan hệ giới tính Khác với phong trào phụ nữ thế giới, phong trào nữ quyền ở Ấn Độ được khởi xướng bởi những người đàn ông – những người được đi học và tiếp xúc với tư tưởng hiện đại từ sớm hơn, sau đó mới dần lôi kéo được sự tham gia của phụ nữ Những manh nha đầu tiên của chủ nghĩa nữ quyền đã được nhen nhóm khi nhà nước đưa ra một báo cáo về thực trạng cuộc sống của phụ nữ trước một nhóm các nhà nghiên cứu và nhà hoạt động
nữ quyền Bản báo cáo này thừa nhận một thực tế là phụ nữ Ấn Độ bị đàn áp bởi một hệ thống thứ bậc đầy bất công
Trong giai đoạn này, phong trào nữ quyền chủ yếu tập trung vào mục tiêu xóa bỏ những hủ tục lạc hậu như hỏa thiêu góa phụ và đấu tranh đòi quyền được tái hôn cho họ, chống nạn tảo hôn, giảm tỷ lệ mù chữ trong trẻ
em gái và đặc biệt là điều chỉnh tuổi thành niên Tuy nhiên đến những năm
17 Kumar, Radha, The History of Doing, Kali for Women, New Delhi, 1998
Trang 27cuối thế kỷ XIX, cùng với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, những nỗ lực để cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ đã phần nào bị cản trở bởi những phong trào chống sự can thiệp của thực dân xâm lược trên mọi phương diện của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề giới tính Đến cuối thế
kỷ XIX, phong trào này phát triển thành một trào lưu toàn quốc nhằm chống lại mọi nỗ lực của thực dân Anh nhằm hiện đại hóa gia đình người Hindu, dẫn đến những tranh cãi quyết liệt sau khi chính phủ nâng tuổi thành niên của phụ
nữ Ấn Độ lên cao hơn
Kamini Roy (nhà thơ và người đấu tranh cho quyền bầu cử tại Ấn Độ) là phụ nữ đầu tiên đoạt giải Honors Graduate tại Ấn Độ năm 1886 Nguồn: Banglapedia
1.1.2.Giai đoạn 1915-1947
Nếu như trong giai đoạn trước, chủ nghĩa dân tộc là yếu tố cản trở sự phát triển của phong trào nữ quyền thì trong giai đoạn này, nó lại trở thành một trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự phát triển của phong trào này Dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi, phong trào nữ quyền được hợp thức hóa và trở thành một bộ phận của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Các hoạt động cộng đồng của phụ nữ Ấn Độ trong thời gian này được gắn
Trang 28liền với phong trào bất bạo động do Mahatma Gandhi khởi xướng Những năm 1920 một loạt những tổ chức của phụ nữ Ấn Độ ở cấp địa phương được thành lập Các tổ chức này đề cao quyền lợi của phụ nữ trong giáo dục và việc làm Đây cũng là thời kỳ xuất hiện các tổ chức chính trị đầu tiên dành cho phụ
nữ như Hội phụ nữ Ấn Độ (AIWC) và Liên đoàn Phụ nữ Quốc gia Ấn Độ (NFIW) AIWC có mối liên hệ mật thiết với Đảng Quốc đại và tham gia mạnh
mẽ vào phong trào chống thực dân và phong trào dân tộc đang bùng nổ ở Ấn
Độ thời gian này, trở thành một động lực quan trọng góp phần làm nên sự thành công của phong trào18 Tuy nhiên phụ nữ Ấn Độ vẫn bị hạn chế về chính trị do vấp phải những cản trở khi công nhận quyền bầu cử và quyền tham gia chính trị của phụ nữ Ấn Độ Mặt khác, phong trào cải cách tôn giáo
xã hội của Ấn Độ giai đoạn này cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào nữ quyền ở Ấn Độ
Sự tham gia của phụ nữ Ấn Độ trong phong trào giải phóng dân tộc đã đánh dấu bước phát triển tiếp theo trong nhận thức về vai trò và quyền lợi của phụ nữ trong chính trị Điều này góp phần to lớn đưa đến sự khẳng định chắc chắn về những quyền cơ bản của phụ nữ Ấn Độ trong hiến pháp của nước Ấn
Độ độc lập sau này, trong đó có quy định phụ nữ được trả công công bằng trong lao động và được chăm sóc đầy đủ hơn về y tế Tuy nhiên, nền văn minh Ấn Độ với “sức ỳ” lớn đã chưa thực sự theo kịp những làn sóng của thời đại mới Cấu trúc xã hội và văn hóa cũng như ý thức hệ của Ấn Độ vẫn chưa thực sự tiếp nhận các quan niệm về tự do dân chủ và nhân quyền của các nước phương Tây Vấn đề quyền bình đẳng được công nhận ở quốc gia này vẫn mang tính khiên cưỡng Mặt khác, đến thời kỳ này,vấn đề quyền công dân vẫn chủ yếu gắn được áp dụng những phụ nữ Ấn Độ ở đẳng cấp cao chứ chưa đến được với phần đông phụ nữ ở các đẳng cấp thấp hơn
18 Kumar, Radha, The History of Doing, Kali for Women, New Delhi, 1998
Trang 29Trong hai giai đoạn đầu, phong trào nữ quyền ở Ấn Độ chịu ảnh hưởng
từ các cuộc tranh luận đang diễn ra gay gắt ở phương Tây về vấn đề phân biệt đối xử với phụ nữ Tuy nhiên, do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và xã hội những cuộc tranh luận về nữ quyền ở Ấn Độ nảy sinh khá nhiều điểm mới mẻ đồng thời một số luận điểm của các nhà phương Tây lại không được nêu ra
Ví dụ, Hindu giáo với một phả hệ thần linh đồ sộ trong đó có nhiều nữ thần và hóa thân nữ giới của các thần đã biến Ấn Độ thành quốc gia thờ nhiều nữ thần nhất trên thế giới, cho nên ý tưởng về sức mạnh của phụ nữ Ấn Độ được thừa nhận nhờ vào tín ngưỡng thần linh trong tôn giáo chứ không phải từ quan điểm về nhân quyền và bình đẳng của phương Tây Hơn nữa, nếu phương Tây nhấn mạnh đến chủ nghĩa cá nhân thì Ấn Độ nói riêng và châu Á nói chung lại coi trọng cộng đồng Ở xã hội phương Đông truyền thống, cuộc sống của con người trong đó có người phụ nữ chỉ có ý nghĩa khi họ tự phủ nhận cái tôi
cá nhân và hòa hợp, cống hiến cho cộng đồng, cho nên họ khó có thể “bứt phá” bằng cách đưa ra những đòi hỏi quyết liệt và cấp thiết về quyền lợi19
Chỉ đến giai đoạn từ sau năm 1947, cùng với quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất, hội nhập và toàn cầu hóa, phong trào nữ quyền mới có những thay đổi quan trọng cả về lượng và chất để tiến đến đấu tranh cho những quyền lợi thiết thực hơn Tuy nhiên, những thành tựu đạt được trong giai đoạn trước năm 1947 chính là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của phong trào
nữ quyền giai đoạn sau Sự kiện ngày 15/8/1947 – nước Cộng hòa Ấn Độ độc lập ra đời được coi là dấu mốc quan trọng trong lịch sử phong trào nữ quyền ở
Ấn Độ, kết thúc thời kỳ phong trào phụ nữ gắn liền với phong trào độc lập dân tộc và mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phong trào: giai đoạn nêu cao nữ quyền trên diễn đàn chính trị của nước Ấn Độ độc lập và đòi hỏi các quyền bình đẳng về y tế, giáo dục, việc làm…
19 Geetanjali Gangoli (2007) Indian Feminisms:Law, Patriarchies and Violence in India, trang 16
Trang 30Luận văn của chúng tôi nhằm đề cập đến giai đoạn thứ ba của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ - giai đoạn từ sau năm 1947 đến nay
1.2 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của phong trào nữ
quyền ở Ấn Độ từ năm 1947
1.2.1 Sự ra đời của nền chính trị dân chủ
Nền chính trị dân chủ được phát triển từ năm 1947 chính là một trong những yếu tố thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào lĩnh vực chính trị ở Ấn Độ từ
đó gián tiếp mở đường cho sự phát triển của phong trào nữ quyền “Dân chủ” là
mục tiêu mà mỗi quốc gia đều muốn hướng tới Một câu hỏi được đặt ra là Tại sao vấn đề giới tính cần được gắn với nền dân chủ? Với định nghĩa rộng “chính trị” bao gồm những quan tâm của tất cả mọi người Từ quan điểm đó, quyền chính trị của phụ nữ là một phần không thể tách rời của quyền con người và ngược lại cũng là nhân tố cơ bản của bộ khung dân chủ Trong khi đưa ra bất kì một chiến lược nào trong nền dân chủ sẽ là cần thiết để xem xét quan điểm của
cả nam và nữ Một nửa dân số trên thế giới ngày nay là phụ nữ bởi vậy sẽ không hợp lí nếu coi phụ nữ như nhóm thiểu số Ấn Độ là một quốc gia theo thể chế liên bang dân chủ, đó chính là lí do đầu tiên mở đường cho phụ nữ bước chân vào lĩnh vực chính trị20
Ấn Độ được Anh trao trả độc lập vào ngày 15/8/1947 và tuyên bố thành lập nước Cộng hòa vào ngày 26/1/1950 Nhà nước Ấn Độ độc lập được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủ đại nghị Chính quyền Trung ương Ấn Độ tổ chức theo hệ thống Tam quyền phân lập Theo thuyết
"tam quyền phân lập", quyền lực Nhà nước được chia làm 3 và giao cho mỗi
hệ thống cơ quan khác nhau đảm trách: quyền lập pháp giao cho Nghị viện (hoặc Quốc hội), quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao
20
Đỗ Thu Hà (2014), Vai trò chính trị của phụ nữ Ấn Độ từ sau năm 1947, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và
Châu Á
Trang 31cho Tòa án21 Học thuyết tam quyền phân lập là nền tảng lý luận cho tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước tư sản Nó mang lại sự bảo vệ quan trọng
để chống lại khả năng lạm dụng quyền lực của chính phủ - một vấn đề mà mọi nền dân chủ phải đối mặt Tuy nhiên mỗi quốc gia khi áp dụng học thuyết này vào hệ thống chính trị đều có những biến tấu khác nhau Cụ thể, trong hệ thống chính trị Ấn Độ, tổng thống là người đứng đầu nhà nước liên bang và đứng đầu cơ quan hành pháp, tổng chưởng lý lãnh đạo tòa án tối cao (cơ quan
tư pháp) Tuy nhiên quyền lực thực sự của quốc gia lại nằm trong tay Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng Bộ trưởng Theo Điều 74 (1) của Hiến pháp Ấn
Độ, Hội đồng Bộ trưởng dưới sự lãnh đạo củaThủ tướng Chính phủ có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống trong việc thực hiện các quyền hạn và nghĩa vụ Có thể nhìn nhận hệ thống chính trị ở Ấn Độ là điển hình cho nền chính trị dân chủ ở một nước đang phát triển Từ xuất phát điểm là một hệ thống chính trị
đa nguyên đa đảng theo mô hình tam quyền phân lập có nhiều nét kế thừa từ thực dân Anh, hệ thống chính trị Ấn Độ vẫn giữ nguyên những giá trị cốt lõi của tinh thần dân chủ nhưng có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn của một quốc gia đang phát triển
Nền chính trị dân chủ ở Ấn Độ đã thừa nhận chỗ đứng của phụ nữ trong
bộ máy nhà nước Dự luật dành 33% số ghế trong Lok Sabha (hạ viện) cho phụ nữ được đề xuất từ năm 1996, trải qua 14 năm, sau nhiều lần liên tiếp bỏ phiếu, đến ngày 9/3/2010 dự luật này mới được thông qua với 186 phiếu thuận và 1 phiếu chống Trong lần bỏ phiếu cuối cùng năm 2010, vẫn có một
số nghị sĩ không tham gia bỏ phiếu và 7 thượng nghị sĩ bị truất quyền do cố tình gây rối làm trì hoãn tiến trình bỏ phiếu Do tranh cãi và bất đồng, việc bỏ phiếu đã phải lùi lại một ngày so với kế hoạch Tuy đã đạt được sự đồng thuận ở cấp quốc gia nhưng rõ ràng phụ nữ Ấn Độ vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình đấu tranh đòi hỏi quyền lợi trong lĩnh vực chính trị
21 Subrata K Mitra (2011), Politics in India: Structure, Process and Policy, tr22
Trang 32Tổng tuyển cử ở Ấn Độ dựa trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu dành cho mọi công dân trên 18 tuổi không bị kết án hình sự Quyền bầu cử này không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo hay giới tính Điều này đảm bảo cho mọi phụ nữ Ấn Độ đều được tham gia bẩu cử nếu như họ nhận thức
rõ về quyền cử tri của mình Mặt khác, trong một hệ thống đa đảng, các đảng phái chính trị là một trong những nhân tố thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào chính trị, bởi trong thực tế ở Ấn Độ, các cuộc bầu cử ở cấp độ địa phương được thực hiện trên nền tảng tại đảng phái – có nghĩa là các đảng chính trị giữ một vai trò quan trọng từ việc lựa chọn các ứng viên tới việc bầu cử Nếu chúng ta quan sát sự thành lập của các đảng chính trị tại Ấn Độ sẽ nhận ra sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo chính trị nữ trong mỗi đảng phái Ví dụ như: Sonia Gandhi – Chủ tịch cầm quyền của Đảng Quốc Đại, Kumari Jayalatitha – Thống đốc bang Tamil Nadu, Mayawati – Cựu Thống đốc bang Uttar Pradesh…Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng phụ nữ chiếm gần một nửa dân số Ấn Độ, họ đóng góp một ngân hàng phiếu rất lớn trong mỗi cuộc bầu cử, chính bởi vậy các đảng phái luôn có những chiến lược ủng
hộ sự tham gia của phụ nữ để có thể thu hút được lượng lớn phiếu bầu mỗi năm để giành được ảnh hưởng trong Chính quyền Trung Ương Đó chính là một bài toán cả hai bên cùng có lợi
Trang 33Bảng 2 Khoảng cách giữa số phần trăm tham gia bỏ phiếu giữa nam và
nữ tại Ấn Độ trong 5 kỳ bầu cử Quốc hội từ 1996 đến 2009 Nguồn: Ủy ban
bầu cử Quốc gia Ấn Độ, năm 2012
Về phương diện lập pháp, cần nhận thấy rằng hệ thống pháp luật của
thực dân Anh được truyền bá sang các nước thuộc địa khi nước này bành
trướng thế lực vào thế kỷ 19 và nó hình thành nên cơ sở khoa học pháp lý của
hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng, trong đó có Ấn Độ Sau khi được trao
trả độc lập, luật pháp và hiến pháp Ấn Độ được thực thi rộng rãi vẫn trên cơ
sở kế thừa những tinh hoa của hệ thống pháp luật Anh quốc, trong đó có cả
tinh thần bình đẳng giới Hiến pháp Ấn Độ bảo đảm quyền bình đẳng cho tất
cả phụ nữ Ấn Độ (Điều 14) trong đó có bình đẳng về địa vị xã hội (Điều 15),
bình đẳng về cơ hội (Điều 16), bình đẳng về trả công lao động (Điều 39)22
22
Kalyani Menon-Sen, AK Shiva Kumar (2001) "Women in India: How Free? How Equal?", Liên Hợp
Quốc Archived from the original on 11 September 2006 Retrieved 24 December 2006
Trang 34Tuy nhiên, theo một số quan điểm dựa vào dựa vào những yếu tố căn bản ảnh hưởng tới pháp luật như: tôn giáo, luân lý và công lý, hệ thống pháp luật của
Ấn Độ vẫn chịu ảnh hưởng bởi tôn giáo23, đặc biệt là Hindu giáo Có thể nhận thấy một phần của sự kỳ thị giới tính ảnh hưởng từ Hindu giáo vẫn thể hiện qua hệ thống hiến pháp và pháp luật của nước này Hiến pháp Ấn Độ nhấn mạnh rằng phụ nữ là một “bộ phân yếu hơn” trong dân số Ấn Độ, do đó cần nhận được sự hỗ trợ để hoạt động bình đẳng24 Như thế, về thực chất, hiến pháp Ấn Độ vẫn chưa thừa nhận sự ngang bằng về năng lực, trình độ của phụ
nữ so với nam giới Tất nhiên không có những điều luật cụ thể nào đưa ra những quy định kỳ thị giới tính, nhưng đến năm 1947 luật pháp Ấn Độ vẫn chưa có bất kỳ điều luật nào nhằm ngăn chặn những vấn nạn vốn tồn tại tràn lan và dai dẳng ở Ấn Độ như vấn nạn “của hồi môn” và “hỏa thiêu góa phụ” Nhưng điều đáng mừng là hệ thống pháp luật Ấn Độ không hề bất biến mà luôn được sửa đổi để phù hợp với bối cảnh của đất nước Điển hình là năm
1983, sau những cuộc biểu tình chống lại nạn hỏa thiêu góa phụ, luật pháp Ấn
Độ đã bổ sung thêm điều khoản chính thức cấm mọi hình thức hỏa thiêu góa phụ trên toàn quốc
Có thể thấy, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật của nước Ấn Độ độc lập đã đem đến cho phụ nữ Ấn Độ nhiều cơ hội và quyền lợi hơn để được đối xử công bằng, bình đẳng Tuy rằng hệ thống luật pháp chưa
xử lý được triệt để những hủ tục xuất phát từ sự kỳ thị giới tính, nhưng tính linh hoạt của nó chính là động lực thôi thúc phụ nữ Ấn Độ không ngừng đấu tranh để đòi hỏi quyền bình đẳng giới được quy định rõ ràng về pháp lý
23
Theo Wikipedia, dựa vào những yếu tố căn bản ảnh hưởng tới pháp luật như: tôn giáo, luân lý và công lý,
có quan niệm phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thành ba loại: Hệ thống Pháp luật Hồi giáo và Ấn
Độ (bị ảnh hưởng của tôn giáo); Hệ thống Pháp luật Trung Hoa (bị ảnh hưởng của luân lý); Hệ thống Pháp luật Pháp-La tinh, Hệ thống Pháp luật Anh–Mỹ, cũng như Hệ thống Pháp luật Xã hội Chủ nghĩa (bị ảnh hưởng của pháp lý)
24
Chaudhuri, Maitrayee, Feminism in India (Issues in Contemporary Indian Feminism), New York: Zed,
2005
Trang 35Mặt khác, trên tinh thần dân chủ, chính phủ Ấn Độ không kiềm chế các hoạt động đấu tranh chính đáng của nhân dân quốc gia này bằng việc ban hành các điều luật ngăn chặn, ví dụ luật biểu tình, bởi vậy từ khi nước Ấn Độ độc lập cho đến nay, biểu tình đã trở thành truyền thống của người dân nước này trước những vấn đề gây bức xúc trong xã hội Đây là điều kiện thuận lợi
để các hoạt động đấu tranh cho nữ quyền, trong đó có hoạt động biểu tình được lan truyền rộng rãi
1.1.2 Sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự
Về các tổ chức chính trị, nhiều tổ chức chính trị được thành lập trong cuộc đấu tranh giành độc lập giai đoạn trước năm 1947 vẫn tiếp tục duy trì hoạt động,
Ấn Độ là quốc gia có hệ thống xã hội dân sự rất lâu đời Các tổ chức tình nguyện, hay nói cách khác là các tổ chức hoạt động trên tinh thần tự nguyện và không có mục đích lợi nhuận trong các lĩnh vực như xúc tiến văn hóa, giáo dục, y tế và cứu trợ thiên tai đã xuất hiện ở Ấn Độ từ thời kỳ Trung
cổ Các tổ chức này phát triển mạnh trong giai đoạn Ấn Độ bị Vương quốc Anh cai trị, hoạt động chủ yếu nhằm cải thiện phúc lợi xã hội, dạy chữ và thực hiện các chiến dịch cứu trợ
Trong nửa sau thế kỷ 19, ý thức dân tộc lan truyền trên khắp Ấn Độ và
tự cứu mình đã trở thành trọng tâm chính của các phong trào chính trị xã hội Nhiều tổ chức đã được thành lập trong thời gian này, như Hội người cùng khổ (1858), Prathana Samaj (1864), Satya Shodhan Samaj (1873), Arya Samaj (1875), Hội đồng Quốc gia vì Phụ nữ ở Ấn Độ (1875) và Hội nghị quốc gia
Ấn Độ (1887)
Sau khi giành được độc lập, Chính phủ Ấn Độ tăng cường các nỗ lực trong hoạt động phúc lợi xã hội và phát triển nhưng cũng thừa nhận tiềm năng của xã hội dân sự trong việc hỗ trợ và bổ sung cho những nỗ lực của mình
Trang 36Quỹ quản trị phúc lợi xã hội Trung ương được thành lập năm 1953 để thúc đẩy các hoạt động phúc lợi xã hội và hỗ trợ sự tham gia của người dân thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong những năm 1970, Chính phủ Ấn Độ thực hiện chương trình “nhu cầu tối thiểu”, tập trung vào những hạn chế cơ bản nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo ở khu vực nông thôn, chẳng hạn như giáo dục, năng lượng điện, và chăm sóc sức khỏe Nhiều cơ quan phát triển của chính phủ đã được thành lập trong khoảng thời gian này, như Hành động của nhân dân vì sự phát triển của Ấn Độ Một lượng lớn người Ấn Độ được đào tạo ở nước ngoài đã tham gia vào xã hội dân sự và góp phần chuyên nghiệp hóa lĩnh vực này
Ấn Độ cũng đã chứng kiến một sự gia tăng nhanh chóng và đa dạng hóa của các tổ chức phi chính phủ như một biện pháp nhằm đối phó với tình trạng đói nghèo và phân biệt đối xử Cả các tổ chức phúc lợi và các tổ chức hướng quyền đều nổi lên trong giai đoạn này, và tập trung vào sự phát triển,
tự do dân sự, giáo dục, môi trường, sức khỏe và đời sống Mục tiêu của nhà nước và các tổ chức NGO đã tương đối thành công, đặc biệt là trong các lĩnh vực nâng cao vị thế cộng đồng, khuyến khích sự tham gia, tăng cường các tổ chức dân chủ và cải thiện khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như y tế
và giáo dục.Nằm trong kế hoạch thực hiện những mục tiêu trên, các tổ chức phi chính phủ này cũng hoạt động năng động trong việc đào tạo hơn nửa triệu thành viên nữ trong Panchayat25( phần đông trong số họ là những người nghèo, không được tiếp cận giáo dục và không có khả năng hoạt động nếu không có sự giúp đỡ), giúp phụ nữ trở nên tự tin hơn, hiểu biết về vai trò, khả năng của họ thông qua các khóa đào tạo kĩ năng Một ví dụ thành công là Liên
25
Các raj panchayati là một hệ thống chính trị Nam Á , chủ yếu ở Ấn
Độ , Pakistan , Bangladesh và Nepal Đây là hệ thống lâu đời nhất của chính quyền địa phương trong tiểu lục địa Ấn Độ Từ "panchayat" có nghĩa là "lắp ráp" (ayat) năm (Panch) người lớn tuổi khôn ngoan, được tôn trọng, lựa chọn và chấp nhận bởi cộng đồng địa phương Theo truyền thống, các hội đồng giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân và các làng Chính phủ Ấn Độ hiện đại đã phân cấp một số chức năng hành chính cấp địa phương, nâng cao vị thế của panchayats
Trang 37minh các tổ chức tình nguyện (COVA) – một mạng lưới gồm 750 tổ chức ở Hyderabad Liên minh này bắt đầu can thiệp với mục tiêu là củng cố tính hợp pháp của những đại biểu chính trị nữ Tất cả những hoạt động của NGOs đều nằm xây dựng sự nhận thức về vai trò và trách nhiệm của phụ nữ trong các quá trình chính trị Bên cạnh đó các tổ chức này cũng góp phần tạo ra áp lực lên chính quyền để tạo ra những thay đổi về chính sách hướng tới phụ nữ
Trong số các tổ chức xã hội dân sự, cùng với NGOs, các tổ chức nữ quyền cũng đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh giành tự do bình đẳng cho phụ nữ rộng khắp cả Ấn Độ Các tổ chức nữ quyền tiêu biểu ở Ấn
Độ có thể kể đến như Hội nghị Phụ nữ toàn Ấn Độ (AIWC), Liên đoàn Phụ
nữ Quốc gia Ấn Độ (NFIW), Hội phụ nữ tự vệ26
(MARS), Ủy ban về Vị trí của Phụ nữ Ấn Độ (CSWI) Tuy nhiên chỉ từ năm 1970 trở lại đây, các phong trào phụ nữ mới bắt đầu đưa những vấn đề về nữ quyền thành mục tiêu căn bản Ủy ban về Vị trí của Phụ nữ Ấn Độ (CSWI) – một tổ chức được thành lập để nghiên cứu về vị trí của phụ nữ - trong thông báo CSWI năm 1974 đã đưa ra thực trạng của phụ nữ và đề nghị thể chế hóa sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan địa phương thông qua những hạn ngạch đặc biệt Bên cạnh
đó, Tổ chức cũng đề xuất thành lập các Panchayat dành riêng cho phụ nữ
1.2.3 Tác động hai chiều của làn sóng toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là sự gia tăng các liên kết thể hiện qua các dòng chảy mở rộng thông tin, công nghệ kĩ thuật, vốn, hàng hóa, dịch vụ và con người trên khắp thế giới- đó là một xu hướng to lớn có ảnh hưởng bao quát toàn bộ các lĩnh vực kinh tế xã hội, và là một lực lượng tỏa rộng khắp và có sức mạnh tạo nên những khuynh hướng mới trên thế giới trong những năm 2020 T
Friedman, tác giả cuốn Thế giới phẳng cho rằng “Toàn cầu hóa bao hàm sự
hòa nhập không thể đảo ngược giữa những thị trường, quốc gia và công
26
Mahila Atma Raksha Samiti (tiếng Anh: 'Women's Self-Defense Association) – một tổ chức thành lập năm
1942 hoạt động ở vùng Bengal dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Ấn Độ
Trang 38nghệ, tới mức chưa từng có - theo phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ty và nhà nước vươn xa đến nhiều nơi trên thế giới nhanh hơn, sâu hơn với chi phí thấp hơn bao giờ hết ”27
Như vậy quá trình toàn cầu hóa được nhìn nhận là sự rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, tăng cường phụ thuộc giữa các quốc gia và cá nhân thông qua phát triển công nghệ Nhưng tương lai của toàn cầu hóa không phải được mặc định, các quốc gia và những thành phần hoạt động phi nhà nước - bao gồm các công ty tư nhân và các tổ chức phi chính phủ - sẽ đấu tranh để định hình nên những diễn biến của mình
Xét ở khía cạnh tích cực, toàn cầu hóa là cơ hội truyền tải tư tưởng bình đẳng giới đến các dân tộc trên toàn thế giới Toàn cầu hóa phá bỏ nhiều rào cản về văn hóa, truyền tải nhiều hình ảnh, ý tưởng tiến bộ nhờ truyền thông và Internet Ở một khía cạnh nào đó, nó phản bác lại những quan điểm xã hội cổ
hủ cho rằng có sự bất bình đẳng rõ ràng trong phân chia giới tính để giúp nhìn nhận và đánh giá cao hơn vai trò của người phụ nữ
Trong vấn đề việc làm, toàn cầu hóa góp phần phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động Những tổ chức viện trợ tài chính hàng đầu thế giới hiện nay như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đang có những điều chỉnh đáng kể về chính sách, trong đó quan tâm đặc biệt đến phụ nữ nhiều hơn, nhất là tại những quốc gia đang phát triển Điển hình như WB đang chuyển hướng “đầu tư” mạnh mẽ hơn vào phụ
nữ nhằm “thúc đẩy sự phát triển kinh tế” trên thế giới Chỉ riêng trong giai
đoạn 2007 đến 2010, WB đã đưa ra một chiến lược hành động gọi là “Kế
27
Thomas Friedman, Chiếc Lexus và Cây ô liu, trang 48
Trang 39hoạch hành động giới”, trong đó phương châm chính được tờ Economist mô
tả như sau: “Sự tăng trưởng kinh tế là do phụ nữ quyết định” Phụ nữ có xu
hướng ít mạo hiểm hơn trong quản lý tiền bạc do đó họ thường là những nhà đầu tư thận trọng hơn Sự cẩn trọng đặc trưng của phái yếu giờ đây đang trở thành một phẩm chất rất giá trị trong thời kỳ bất ổn của khủng hoảng kinh tế
Xu hướng chung hiện nay cho thấy, trên toàn thế giới đang xuất hiện ngày càng nhiều những gương mặt phụ nữ đầy quyền lực
Tuy vậy, toàn cầu hóa vẫn có những mặt trái ngược, tùy thuộc vào từng khu vực với các yếu tố như mức độ thịnh vượng, trình độ giáo dục và sự phát triển… Khi các nước đang phát triển bước chân vào thị trường thế giới, toàn cầu hóa lại có tác động loại trừ những nền kinh tế lạc hậu, cũng như những cơ chế chủ yếu theo kiểu tự sản - tự tiêu tại các vùng nông thôn hẻo lánh, là nơi phụ nữ thường chiếm đa số Nó đẩy những phụ nữ này vào tình cảnh mất việc, hay công việc không đủ nuôi sống họ Tình cảnh này càng đặc biệt trầm trọng khi thị trường chung toàn cầu cũng đang trong giai đoạn bất ổn Sự biến đổi nhanh chóng của các xã hội và nền kinh tế quốc dân (để hòa nhập với xu thế chung của thế giới) đã khiến nhiều nghề nghiệp truyền thống bị mất đi hoặc không đủ sống, buộc người lao động phải xoay xở cách khác Họ luôn phải cố gắng đáp ứng cho được đòi hỏi ngày càng gay gắt của thị trường lao động mới Ở những nước gặp khó khăn về kinh tế, quá trình này tất yếu đưa đến hậu quả là tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm mức lương Trong tình hình đó, các nhóm tội phạm buôn người càng có cơ hội lợi dụng số người đang bị đẩy
ra khỏi nền kinh tế và khao khát được làm việc Trong năm 2000, khoảng 1.000 phụ nữ Tajikistan đã trở thành nạn nhân của bọn buôn người và họ, cũng như vô số phụ nữ ở các nước cộng hòa vùng Trung Á khác, đều trở thành gái mại dâm hặc người giúp việc lương thấp sống khổ sở trên xứ người
Trang 40(chủ yếu là tại các quốc gia vùng Vịnh và Nga)28 Còn theo thống kê của các chuyên gia độc lập, năm 1999, toàn thế giới có hơn 700.000 phụ nữ và trẻ em
là nạn nhân của hoạt động buôn người
Một hệ quả khác của toàn cầu hóa là việc khai thác cơ thể phụ nữ dưới góc độ thương mại hóa bằng dịch vụ đẻ thuê Dịch vụ đẻ thuê đang bùng nổ ở
Ấn Độ và được tổ chức hết sức chuyên nghiệp Ấn Độ trở thành trung tâm đẻ thuê của thế giới do công nghệ y tế tiên tiến, chi phí thấp và vấn đề pháp lý không phức tạp Với 250 triệu người nghèo, Ấn Độ được coi là thị trường
“không giới hạn” cung cấp phụ nữ đẻ thuê tiềm năng mà những người này lại không có bất cứ quyền hay trách nhiệm nào đối với đứa trẻ
Sau khi giành được độc lập năm 1947, Ấn Độ xây dựng nền kinh tế tự lực, tự cường trên cơ sở kế hoạch hóa Nền kinh tế Ấn Độ là một nền kinh tế hỗn hợp giữa thành phần kinh tế Nhà nước với thành phần kinh tế tư bản tư nhân, nhưng từ sau 1955 thành phần tư bản tư nhân cũng bị hạn chế Do kinh
tế tư nhân chưa được tạo điều kiện để phát triển, việc áp dụng chính sách “xin giấy phép”, chính sách “thay thế nhập khẩu” đã khiến cho nền kinh tế Ấn Độ
bị trì trệ trong một thời gian dài
Cuối những năm 1980, Ấn Độ lâm vào khủng hoảng kinh tế Từ năm
1991, Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế toàn diện theo hướng tự do hóa và mở cửa, tích cực hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Ấn Độ đã mở cửa thị trường của mình thông qua các cuộc cải cách kinh tế theo hướng giảm kiểm soát của chính phủ đối với thương mại và đầu tư, tăng cường kinh tế công để thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng xuất khẩu Bên cạnh những lợi ích to lớn về kinh tế, hội nhập chính là chiếc cầu nối về văn hóa giúp cho những tư tưởng về nữ quyền của các nước phương Tây dễ dàng được truyền bá tại Ấn
Độ và được tiếp nhận bởi đông đảo phụ nữ, trong đó chủ yếu là phụ nữ thuộc đẳng cấp cao nhất Quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ vào giai đoạn cuối
28 Theo Báo cáo khảo sát về tệ nạn buôn người của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) ngày 24/8/2001