1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Thành Công Của Việc Chuyển Đổi.pdf

95 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Thành Công Của Việc Chuyển Đổi
Tác giả Nguyễn Thu Hợp
Người hướng dẫn PGS.TS Vũ Cao Đàm
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Khoa Học Và Công Nghệ
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 916,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do nghiên cứu (8)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu (9)
  • 3. Mục tiêu (17)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (18)
  • 5. Mẫu khảo sát (18)
  • 6. Câu hỏi nghiên cứu (18)
  • 7. Giả thuyết (18)
  • 8. Phương pháp nghiên cứu (19)
  • 9. Nội dung (19)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP (20)
    • 1.1. Lý thuyết về tự chủ, tự chịu trách nhiệm (21)
      • 1.1.1. Khái niệm về “tự trị” (21)
      • 1.1.2. Tự trị trong khoa học (22)
      • 1.1.3. Các hạn chế về quyền tự trị trong khoa học (25)
    • 1.2. Các tổ chức KH&CN công lập (25)
      • 1.2.1. Hoạt động Khoa học và Công nghệ (25)
      • 1.2.2. T ổ chức KH&CN công lập (27)
    • 1.3. Thị trường (32)
    • 1.4. Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với các tổ chức KH&CN công lập (33)
    • 1.5. Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với thị trường (35)
    • 1.6. Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với nhân lực (36)
    • 1.7. Mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Hàn Quốc (37)
  • CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP (20)
    • 2.2.1. Những khó khăn và nguyên nhân (46)
      • 2.2.1.2. Nguyên nhân của những khó khăn trên (50)
    • 2.2.2. Những thuận lợi và nguyên nhân (54)
  • CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG (62)
    • 3.1. Nhiệm vụ do Nhà nước giao theo điều 7.1 (62)
    • 3.2. Nhu cầu của thị trường (64)
    • 3.3. Một số điển hình về nguồn kinh phí (68)
    • 3.4. Tổ chức – biên chế (72)
    • 3.5. Một số đánh giá khác (75)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THU HỢP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔ CHỨC KHO[.]

Lý do nghiên cứu

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm đang trở thành xu hướng phát triển của các tổ chức khoa học và công nghệ trên toàn cầu, và xu hướng này sẽ nhanh chóng được áp dụng tại Việt Nam Nhà nước đã có định hướng rõ ràng trong việc khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm thông qua việc ban hành nhiều Nghị định liên quan.

Một bước tiến quan trọng trong việc trao quyền tự chủ cho các tổ chức KH&CN công lập là Nghị định 115/2005/NĐ-CP Nghị định này, cùng với Nghị định 43/2007/NĐ-CP, hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, tư tưởng của Nghị định 115 vẫn chưa được thực thi hiệu quả trong thực tiễn, mặc dù nhiều Nghị định hỗ trợ như Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN và Nghị định 96/2010/NĐ-CP đã được ban hành.

Trong nghiên cứu khoa học, nhiều tác giả đã khảo sát 115 rào cản và vướng mắc trong quá trình chuyển đổi, đồng thời đề xuất các giải pháp để tháo gỡ những nút thắt này Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại dường như chỉ tập trung vào một khía cạnh của vấn đề.

Mặc dù không nhiều, một số tổ chức KH&CN đã thành công trong việc chuyển đổi sang tự chủ và tự chịu trách nhiệm, như Viện dầu khí Việt Nam (VPI), Viện máy và dụng cụ công nghiệp (IMI), và Viện nghiên cứu Hạt nhân Những thành công này cung cấp bài học quý giá cho các tổ chức đang trong quá trình chuyển đổi học tập Việc xác định các yếu tố quyết định cho sự thành công là rất cần thiết.

Việc thực hiện 7 bước quan trọng để thành công trong quá trình chuyển đổi theo Nghị định là cần thiết nhằm hoàn thiện Nghị định 115 Điều này không chỉ giúp tổ chức của bạn cải thiện mà còn tạo cơ hội cho các tổ chức KH&CN công lập khác học hỏi và áp dụng cho quá trình chuyển đổi của họ.

Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN đã được thảo luận rộng rãi cả trong nước và quốc tế từ lâu Ở các nước có nền kinh tế thị trường, tổ chức KH&CN thường được phân loại thành ba loại: tổ chức thuộc Nhà nước, tổ chức thuộc doanh nghiệp và tổ chức phi chính phủ Chỉ những hướng KH&CN ưu tiên của Nhà nước mới được thành lập thành các Viện và nhận 100% kinh phí hoạt động đúng hạn Chính phủ cũng áp dụng các biện pháp khác để cấp kinh phí qua các quỹ theo từng giai đoạn ưu tiên Các tổ chức KH&CN khác, kể cả công, phải tham gia đấu thầu để nhận đề tài từ nguồn kinh phí Nhà nước, trong khi họ có thể tìm kiếm nguồn thu từ công nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà bảo trợ kinh doanh Tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi, một trong những biện pháp tái cấu trúc viện nghiên cứu là chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp hoặc tự trang trải kinh phí.

Quá trình chuyển đổi hệ thống tổ chức KH&CN diễn ra không chỉ ở các nước đang chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường, như các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu cũ như Ba Lan và CH Séc, mà còn ở nhiều quốc gia phát triển khác.

Quá trình chuyển đổi hệ thống khoa học và công nghệ (KH&CN) ở Tây Âu và Mỹ diễn ra thường xuyên và liên tục, chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi của hệ thống chính trị và kinh tế bên ngoài Do đó, nghiên cứu về chuyển đổi hệ thống KH&CN, đặc biệt là hệ thống cơ quan nghiên cứu và triển khai (NC&TK), luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trong lĩnh vực này.

Vào đầu thập kỷ 1990, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về kinh nghiệm và bài học trong việc chuyển đổi hệ thống khoa học và công nghệ (KH&CN) Nổi bật trong số đó là công trình của Meske và các đồng nghiệp, tập trung vào kinh nghiệm chuyển đổi hệ thống KH&CN của Đức (Meske, 1993, 1994).

Các nhà nghiên cứu ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã tích cực tham gia vào việc nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi hệ thống khoa học và công nghệ tại quốc gia của họ (Imre, 1998; Muller, 1998; Kozlowski, 1998; Gaponenko, 1998; Kramanrenko, 1998; Szczepanski; Sisesti).

Trong báo cáo “From paid transactions for technology to organizational restructuring” của tác giả Shulin Gu năm 1995, có phân tích toàn diện về chính sách chuyển đổi hệ thống KH&CN Tác giả đã xem xét các biện pháp chính sách của nhà nước trong các giai đoạn cải cách khác nhau: từ giai đoạn tiền cải cách (1978-1995), giai đoạn cải cách hệ thống quản lý KH&CN và xây dựng thị trường công nghệ (1985-1987), đến giai đoạn sáp nhập các viện NC&TK vào doanh nghiệp (sau 1987) và chuyển đổi toàn bộ các viện NC&TK (từ 1990) Các phát hiện cho thấy cải cách các viện NC&TK công nghệ công nghiệp là cần thiết để thích nghi với tình hình kinh tế mới, trong khi cách tiếp cận thị trường công nghệ lại không hiệu quả trong việc cải cách hệ thống NC&TK cũ.

9 hướng thị trường, việc tái cấu trúc là cần thiết của quá trình chuyển đổi các viện NC&TK công nghệ công nghiệp

Trong các nước phát triển, nghiên cứu về quyền tự trị của khoa học đã được chú trọng từ sớm, với tác phẩm nổi bật là cuốn sách “The autonomy of Science: Some Thoughts” của Maurice Goldsmith vào năm 2005 Chủ đề này thu hút sự quan tâm từ nhiều lĩnh vực như Xã hội học Khoa học và Xã hội học chính trị của Khoa học Đặc biệt, thập niên 1990 chứng kiến những cuộc thảo luận sôi nổi về quyền tự trị của khoa học sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, dẫn đến sự hình thành các hướng nghiên cứu như “Post-Communist Science and Technology Studies” và “Post-Socialist Science and Technology Studies”, trong đó có những công trình nổi bật của Dr Jan Kozlowski, Giáo sư tại Đại học Warsaw.

The article discusses a collaborative work by the advisor to the Polish Minister of Science and Higher Education, along with Professor Radosevic from the University of Sussex and Dr Ircha from the University of Warsaw, titled “History Matters: The Inherited Disciplinary Structure of Post-Communist Science in Central and Eastern European Countries and its Restructuring.” Additionally, it highlights another research project by Jan Kozlowski in collaboration with Ircha, focusing on “The Structure of Disciplinary Comparative Advantage in Post-Communist Countries.”

Các công trình nghiên cứu đã khẳng định rằng tự trị trong KH&CN là điều cần thiết, với lịch sử tan rã và tái cấu trúc làm minh chứng cho sự cần thiết này Từ những năm 80 đến nay, Việt Nam đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về đổi mới trong KH&CN, đặc biệt nhấn mạnh vào quá trình chuyển đổi của hệ thống cơ quan KH&CN.

Quá trình tự điều chỉnh thích nghi của hệ thống dựa trên nguyên tắc "tự sắp xếp" trong khuôn khổ "trật tự pháp luật - sự điều tiết của nhà nước" không nên áp dụng nguyên tắc giảm đầu mối để tổ chức mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ.

Kể từ khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP được ban hành, vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN đã trở thành chủ đề thảo luận sôi nổi Tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, có ít nhất 10 luận văn thuộc khoa Khoa học Quản lý nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có một số luận văn tiêu biểu đáng chú ý.

Luận văn của Nguyễn Kim Công đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ theo Nghị định 35/HĐBT tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Tác giả chỉ ra những hạn chế và vướng mắc trong quá trình hoạt động của các tổ chức này, đồng thời đề xuất ba nhóm giải pháp chính để khắc phục tình hình hiện tại và tương lai Các giải pháp bao gồm: giải pháp cho nhà nước, giải pháp cho Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các viện chuyên ngành, và giải pháp cho đơn vị 35.

Tác giả Phạm Tuấn Huy trong luận văn "Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu - triển khai thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam" đã chỉ ra những ảnh hưởng của chính sách khoa học và công nghệ đến tự chủ của các viện này Luận văn nhấn mạnh rằng để thúc đẩy quá trình tự chủ, cần xây dựng năng lực và tinh thần tự chủ cho các viện nghiên cứu - triển khai, từ đó tạo quyền tự chủ cho họ Đồng thời, các giải pháp chính sách cũng cần tập trung vào việc tăng cường quyền, năng lực và tinh thần tự chủ cho các viện nghiên cứu.

TK thuộc VKH&CNVN không thể tiến hành riêng rẽ, độc lập mà phải tiến hành đồng bộ

Luận văn của tác giả mở ra hướng nghiên cứu mới cho các tác giả sau, bao gồm việc tiếp tục nghiên cứu luận chứng xây dựng chính sách cân bằng giữa tự chủ và tự chịu trách nhiệm Tập trung vào việc nâng cao năng lực tự chủ cho các viện nghiên cứu - triển khai thuộc VKH&CNVN, kết hợp với việc thiết lập quyền tự chủ và tinh thần tự chủ, nhằm biến các viện này thành những thực thể tự chủ thực sự.

Tác giả Trần Ngọc Hoa trong luận văn "Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ" đã phân tích quá trình thực thi thiết chế tự chủ tại các tổ chức KH&CN qua hai giai đoạn Mỗi giai đoạn được tác giả làm rõ với những điểm mạnh và điểm yếu trong việc thực hiện thiết chế tự chủ, đồng thời so sánh với một số quốc gia khác Luận văn cũng đánh giá việc thực thi tự chủ của các tổ chức KH&CN và tổ chức R-D sử dụng ngân sách nhà nước, cùng với việc phân tích nguyên nhân của những hạn chế gặp phải trong thời gian qua.

Mục tiêu

Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi thành công của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp các tổ chức tối ưu hóa quy trình chuyển đổi và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Nhiệm vụ cụ thể: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Đánh giá thực trạng thực hiện nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP tại các tổ chức KH&CN hiện nay

- Đánh giá một số yếu tố dẫn đến thành công trong việc chuyển đổi theo nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP

- Khái quát hóa các điều kiện để các tổ chức KH&CN chuyển đổi thành công theo thiết chếtự chủ, tự chịu trách nhiệm

Mẫu khảo sát

Vì có không nhiều các trường hợp chuyển đổi thành công theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nên đề tài chọn mẫu theo nghiên cứu trường hợp

Theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP, trường hợp Viện Dầu Khí (VPI), Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp (IMI) cùng với Liên hiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao tại Hải Phòng được quy định cụ thể.

Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Trung tâm tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn, cùng với Trung tâm nông – lâm công nghệ cao tại Hải Phòng, đang thực hiện chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững và hiệu quả.

Câu hỏi nghiên cứu

Nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự thành công của việc chuyển đổi theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập bao gồm khả năng quản lý, sự hỗ trợ từ chính phủ, và sự tham gia của các bên liên quan Việc xây dựng một môi trường làm việc linh hoạt và khuyến khích đổi mới sáng tạo cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Giả thuyết

Theo đánh giá sơ bộ, thị trường đóng vai trò quan trọng nhất trong việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm Thị trường không chỉ là nguồn tài chính chính mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố tổ chức và nhân sự.

17 khác, muốn chuyển đổi thành công cần có môi trường để tạo ra các phương tiện tự chủ.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu tài liệu kết hợp với nghiên cứu thực tế thông qua quan sát và phỏng vấn ý kiến của các chuyên gia.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được thực hiện thông qua việc tìm hiểu các tài liệu liên quan đến Nghị định 115 và các nghị định khác, cũng như nghiên cứu các công trình đã viết về việc thực hiện Nghị định 115 tại các tổ chức KH&CN Mục tiêu là đánh giá và phân tích các tài liệu liên quan đến việc đánh giá Nghị định 115, từ đó tìm ra những luận cứ lý thuyết cho nghiên cứu.

Phương pháp quan sát là cách tiếp cận từ góc độ bên ngoài tổ chức, cho phép người quan sát có cái nhìn khách quan về quá trình thực hiện của tổ chức KH&CN Điều này giúp đưa ra những đánh giá chính xác và khách quan nhất về hoạt động của tổ chức.

Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia bao gồm 03 chuyên gia trong lĩnh vực KH&CN, 03 chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá chính sách và 03 nhà quản lý để thu thập nhận xét và đánh giá Lãnh đạo của các viện nghiên cứu cũng là những chuyên gia quan trọng cần được tham khảo, vì họ là những người trực tiếp thực hiện quá trình chuyển đổi theo Nghị định 115 Ý kiến của nhóm chuyên gia này rất quan trọng để đưa ra những kết luận cho giả thuyết, giúp hiểu rõ hơn về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi.

Nội dung

Phân tích tính tương thích giữa triết lý mục tiêu và triết lý phương tiện của nghị định 115/2005/NĐ-CP cho thấy rằng các tổ chức KH&CN công lập, giống như các tổ chức khác, cần có kinh phí để tồn tại Nguồn kinh phí này chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách nhà nước.

Nhà nước "thuê" các tổ chức KH&CN thực hiện nghiên cứu khoa học thông qua hình thức cấp phát, dẫn đến việc các đơn vị này gần như không có nguồn thu đáng kể ngoài ngân sách Nhà nước Để thoát khỏi sự phụ thuộc vào ngân sách và phát triển thị trường công nghệ, các tổ chức KH&CN công lập cần tự mình tìm kiếm nguồn thu khác Nguồn ngân sách Nhà nước chỉ nên chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn thu của các tổ chức này.

Trên thực tế đã có những tổ chức chuyển đổi theo 115 và 43 thành công Điển hình là Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI) thuộc Tập đoàn Dầu Khí

Việt Nam có nhiều viện nghiên cứu và tổ chức sự nghiệp công lập tại Hải Phòng, những tổ chức này thường thuộc các công ty hoặc đơn vị dịch vụ, và điểm chung của chúng là đều hoạt động trong một thị trường nhất định.

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mởđầu, luận văn bao gồm 3 chương chính

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP

Lý thuyết về tự chủ, tự chịu trách nhiệm

“Tự chủ, tự chịu trách nhiệm” hay cách gọi khác là “tự trị”, trong tiếng

Theo từ điển Oxford, "Autonomos" có nghĩa là quyền tự do quản lý và kiểm soát công việc của chính mình, tức là hành động độc lập Samuel Warren và Louis Brandeis đã đề cập đến khái niệm này trong bài báo pháp luật năm 1890, trong đó "autonomos" trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "có luật lệ riêng của nó" Cụ thể, "auto" có nghĩa là "chính nó" và "nomos" có nghĩa là "luật", do đó, autonomos mang ý nghĩa là "luật lệ của chính nó" Điều này thể hiện sự độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, mà hoạt động dựa trên những nguyên tắc và luật lệ riêng.

Theo Bách khoa toàn thư Anh, "tự trị" được định nghĩa là trạng thái tự quản, thể hiện sự tự do tự định hướng và đặc biệt là không phụ thuộc vào các yếu tố đạo đức.

Trong tổ chức học, tự chủ được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc đưa ra các quyết định quan trọng mà không cần sự chấp thuận từ người khác.

Khái niệm “tự trị” được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như chính trị, luật pháp và khoa học công nghệ Trong luật pháp, “tự trị” được hiểu là một “quyền riêng tư” (Privacy), trong khi trong chính trị, nó thường chỉ những “khu tự trị”, tức là những khu vực có quyền kiểm soát và quản lý theo luật lệ riêng, không phụ thuộc vào luật của quốc gia sở hữu khu tự trị đó.

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm không chỉ áp dụng cho các tổ chức có khả năng độc lập mà còn liên quan đến quyền tự quyết của họ.

Quyền tự chủ là quyền của mỗi cá nhân trong xã hội, cho phép họ quyết định cuộc sống của mình mà không phụ thuộc vào người khác Những người như nô lệ hay tù nhân không có quyền tự chủ, trong khi bất kỳ ai sống độc lập và không để người khác chi phối cuộc sống của mình đều có quyền này.

Giá trị khoa học và xã hội đôi khi mâu thuẫn, dẫn đến câu hỏi về việc quản lý và kiểm soát khoa học Có ý kiến cho rằng các nhà khoa học nên tự kiểm soát công việc của mình, trong khi một số khác cho rằng xã hội cần có biện pháp kiểm soát khoa học Mặc dù nhiều triết gia và nhà khoa học đồng thuận rằng khoa học nên phục vụ xã hội, nhưng rất ít người có thể giải thích rõ ràng mối quan hệ giữa các giá trị khoa học và giá trị xã hội.

Mối quan hệ giữa quyền tự chủ và khả năng tự trị rất quan trọng trong triết học đạo đức, chính trị và xã hội Quyền tự chủ đặt ra ranh giới cho việc tự trị và quản lý từ bên ngoài, và cần phân biệt giữa khả năng tự trị và quyền tự trị (Dworkin, 1988) Một người tự chủ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ nhận thức cần thiết cho việc ra quyết định (Buchanan và Brock, 2004) Tuy nhiên, một người có thể có khả năng đưa ra quyết định nhưng vẫn phải đối mặt với những hạn chế về quyền tự chủ, như trường hợp của một người đang thụ án chung thân Ngược lại, một người có quyền tự chủ nhưng không có khả năng đưa ra quyết định do mất ý thức hoặc bệnh tâm thần.

Quyền tự trị trong khoa học có vai trò quan trọng, đặc biệt trong triết lý khoa học, nơi nó thường được liên kết với phương pháp luận và nhận thức luận Tuy nhiên, bài viết này sẽ tập trung vào quyền tự chủ về đạo đức, chính trị và xã hội trong lĩnh vực khoa học, thay vì đi sâu vào các khía cạnh phương pháp luận hay nhận thức luận.

Khoa học không tự quyết định mà phụ thuộc vào những người làm khoa học, bao gồm cá nhân, nhóm nghiên cứu và các tổ chức như tạp chí và trường đại học Quyết định trong nghiên cứu và giáo dục có sự tương tác lẫn nhau, với cá nhân bị ảnh hưởng bởi các hạn chế của chính phủ đối với nhóm và tổ chức Ví dụ, nhà nghiên cứu không thể công bố các nghiên cứu liên quan đến chủ đề bị cấm bởi chính phủ.

Năng lực tự chủ trong khoa học được định nghĩa là khả năng của cá nhân, nhóm và tổ chức trong việc ra quyết định liên quan đến các hoạt động khoa học như nghiên cứu, giáo dục và công bố Quyền tự chủ trong khoa học là quyền của các cá nhân, nhóm và tổ chức trong việc đưa ra quyết định về các hoạt động khoa học Những định nghĩa này sẽ hỗ trợ trong việc kiểm tra các lập luận ủng hộ và phản đối quyền tự trị khoa học.

Thế giới hiện nay đã chứng kiến những tiến bộ đáng kể về quyền tự chủ trong khoa học Chúng ta có thể khám phá các lập luận ủng hộ quyền tự chủ này thông qua hai chiến lược chính: một là chiến lược mang tính đạo đức, và hai là chiến lược mang tính thực tế.

Các cá nhân có quyền tham gia vào các hoạt động khoa học dựa trên các quyền chính trị, đạo đức và pháp luật của họ Họ có quyền tự do tư tưởng và ngôn luận, như đã được nêu bởi Donnelly (2002) và Dworkin (1988) Hơn nữa, quyền hợp pháp bảo vệ tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do hội cũng là lý do cho sự tham gia của cá nhân trong lĩnh vực khoa học (Robertson 1977).

Chiến lược thực tế bắt đầu từ việc quan sát lợi ích khoa học xã hội qua các ứng dụng trong công nghệ, kỹ thuật, nông nghiệp, y tế và giao tiếp (Bush 1945) Khoa học không thể tạo ra hiểu biết nếu không có sự cho phép từ các nhà khoa học và tổ chức trong việc thực hiện quyết định Do đó, chiến lược này khác với chiến lược đạo đức, vì nó lý giải từ cấp độ nhóm nghiên cứu và tổ chức khoa học trước khi đến cá nhân Tác giả nhấn mạnh lý luận thực tế về quyền tự trị khoa học.

1 Nghiên cứu khoa học tạo ra kiến thức với nhiều ứng dụng thực tế trong công nghệ, kỹ thuật, nông nghiệp, y tế, và các lĩnh vực khác

2 Các ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu khoa học có giá trị (tức là có giá trị hoặc đạt đƣợc).

3 Để tạo ra kiến thức, các nhà khoa học cá nhân, các nhóm, các tổ chức và phải đƣợc phép thực hiện các quyết định liên quan đến hoạt động của họ, chẳng hạn nhƣ lựa chọn vấn đề, hình thành giả thuyết, thiết kế thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích dữ liệu, xuất bản, thẩm định, chấp nhận lý thuyết, và giáo dục.

Các tổ chức KH&CN công lập

1.2.1 Ho ạt độ ng Khoa h ọ c và Công ngh ệ

Hoạt động Khoa học và Công nghệ, theo UNESCO, đề cập đến các hoạt động xã hội do một nhóm lớn trong xã hội, bao gồm các nhà khoa học và nhà công nghệ, thực hiện.

24 thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phát triển KH&CN

Hoạt động KH&CN có những chức năng riêng, đặc trƣng của mình và đƣợc cụ thể hóa nhƣ sau:

Hoạt động Khoa học có hai chức năng chính: giải thích và cải tạo Chức năng giải thích thể hiện qua các nghiên cứu nhằm khám phá bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng, từ đó thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người Ngược lại, chức năng cải tạo liên quan đến việc áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống, nhằm cải biến thế giới phục vụ nhu cầu tồn tại của con người và xã hội.

Hoạt động công nghệ chuyển đổi tri thức khoa học thành giải pháp kỹ thuật thông qua việc tổng hợp các nguồn lực như kỹ thuật, thông tin, con người và tài chính Chức năng này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ.

- Sáng tạo ra giải pháp kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm vật chất hoặc thông tin

- Sáng tạo ra một quy trình kỹ thuật nhằm cải tiến phương pháp chế tác sản phẩm vật chất hoặc thông tin

- Định hướng cho một quy trình sản xuất hoặc dịch vụ

Các thời đại của nền văn minh nhân loại được phân biệt không chỉ bởi sản phẩm mà còn bởi phương thức sản xuất Theo K Marx, sự khác biệt giữa các xã hội nằm ở cách thức mà họ sản xuất ra những sản phẩm đó.

- Thay thế xã hội về mặt cơ cấu, thiết chế và phân tầng xã hội

Hoạt động Khoa học và Công nghệ chủ yếu bao gồm hai yếu tố quan trọng: nghiên cứu và phát triển (R&D) cùng với chuyển giao tri thức, trong đó có chuyển giao công nghệ.

R&D là yếu tố chính và then chốt của hoạt động Khoa học và Công nghệ, bao gồm 3 loại hình chính là: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

Giai đoạn 25 và nghiên cứu triển khai là quyết định cho sự ra đời của công nghệ mới Từ các nghiên cứu cơ bản, ứng dụng cho nghiên cứu ứng dụng sẽ được tìm ra, sau đó mới đến nghiên cứu để triển khai Đây là giai đoạn tốn kém, gặp nhiều rủi ro và có tỷ lệ thất bại cao.

Hoạt động chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ, là một quá trình phổ biến, diễn ra dưới nhiều hình thức và tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa khu vực R&D với kinh tế và xã hội Chuyển giao tri thức có hai dạng chính: phi kinh tế và kinh tế Dạng phi kinh tế chủ yếu là các buổi tập huấn và phổ biến kiến thức về khoa học và kỹ thuật mới Trong khi đó, hoạt động chuyển giao tri thức mang tính kinh tế có độ thương mại cao, diễn ra dưới hình thức mua bán công nghệ.

- Hoạt động dịch vụ KH&CN: bao gồm thu thập, truyền bá thông tin KH&CN, chuyển giao tri thức, truyền bá kinh nghiệm, phổ cập kiến thức

- Các dịch vụ kỹ thuật cho R&D: dịch vụđo lường, sửa chữa dụng cụđo lƣợng, kiểm định chất lƣợng

- Duy tu, bảo dƣỡng thiết bị kỹ thuật

Các hoạt động Khoa học – Công nghệ đóng vai trò quyết định trong việc hình thành, duy trì và phát triển công nghệ mới Nếu những hoạt động này được thực hiện hiệu quả, quá trình phát triển và đổi mới công nghệ sẽ diễn ra thuận lợi.

Theo luật KH&CN 2013, các tổ chức KH&CN đƣợc định nghĩa là:

Tổ chức khoa học và công nghệ là đơn vị chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và cung cấp dịch vụ liên quan Các tổ chức này được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

Tác giả không đồng ý với định nghĩa trong luật KH&CN 2013 vì luật đã tách riêng nghiên cứu triển khai khỏi nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai, được gọi chung là hoạt động R&D Hơn nữa, các khâu R&D, T và TD đều thuộc dịch vụ khoa học và công nghệ, do đó việc phân loại các tổ chức khoa học và công nghệ như vậy là chưa chính xác.

B ả ng 1: Ho ạt độ ng khoa h ọ c và công ngh ệ

Nghiên cứu và Triển khai

TD Phát triển công nghệ

Dịch vụ khoa học và công nghệ

Nguồn: ghi chép trên lớp dựa theo bài giảng của Vũ Cao Đàm

Vũ Cao Đàm đã phân loại các tổ chức KH&CN trong tuyển tập thứ 10

“Tuyển tập các công trình đã công bố” dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước như sau:

B ả ng 2: Mô hình các t ổ ch ứ c KH&CN

Triển khai Chuyển giao công nghệ

Mô hình I Tổ chức R&D Công ty tƣ vấn

Mô hình II Tổ chức R&D Doanh nghiệp

Tổ chức R&D Doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp

Doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp

Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố [10, 292]

Theo đó, có thể phân loại các tổ chức KH&CN theo 4 mô hình cơ bản nhƣ sau:

Mô hình I là mô hình kinh điển và lâu đời nhất, trong đó các tổ chức R&D đảm nhận toàn bộ quá trình nghiên cứu và triển khai Doanh nghiệp đóng vai trò phát triển công nghệ, trong khi công ty tư vấn là cầu nối giữa doanh nghiệp và các tổ chức R&D.

Mô hình II mở rộng vai trò của doanh nghiệp, từ việc triển khai kết quả nghiên cứu ứng dụng vào các labo cho đến phát triển công nghệ, hoàn toàn do doanh nghiệp thực hiện Trong mô hình này, các tổ chức R&D chỉ tập trung vào hai khâu đầu tiên: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Điều này dẫn đến việc các công ty tư vấn không còn cơ hội xuất hiện trong mô hình này.

Mô hình III đề cập đến sự xuất hiện của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) được hình thành từ các tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) Những doanh nghiệp này bắt đầu từ giai đoạn phát triển (D) và thực hiện việc chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp khác có nhu cầu.

28 tục khâu phát triển công nghệ, các tổ chức R&D vẫn đóng vai trò quan trọng ở nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng

Mô hình IV cho thấy vai trò của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) đã thay đổi, từ việc tham gia vào nghiên cứu ứng dụng đến chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp Trong khi đó, vai trò của các tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) đã bị thu hẹp, chỉ còn tập trung vào nghiên cứu cơ bản, trong khi doanh nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghệ.

Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu các tổ chức R&D công lập, là những tổ chức có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, được thành lập theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Đây là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP.

Thị trường

Khái niệm “thị trường” hiện nay rất phổ biến, thường được nhắc đến trong các lĩnh vực như thị trường tài chính, thị trường hàng hóa và thị trường công nghệ Thị trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các tổ chức, và thuật ngữ “thị trường” cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Theo Adam Smith, thị trường là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa người mua và người bán Định nghĩa này nhấn mạnh rằng thị trường cần có không gian, bao gồm cả không gian thật và không gian ảo, để kết nối những người có nhu cầu bán với những người có nhu cầu mua.

Theo từ điển kinh tế học hiện đại, thị trường được định nghĩa là bất kỳ khung cảnh nào nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, mà không nhất thiết phải có một thực thể vật chất tương ứng.

Thị trường được hiểu là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh.

1 David W.Pearse, Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1990, trang 632

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã dẫn đến sự phổ biến của các không gian ảo và sự gia tăng của thị trường ảo Đây là một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển.

Các nhà kinh tế cho rằng khi điều kiện cạnh tranh được đảm bảo, bình đẳng và công bằng, các thị trường riêng lẻ sẽ đạt trạng thái tối ưu về kinh tế và cân bằng Pareto Khi các thị trường này đạt được cân bằng, nền kinh tế tổng thể cũng sẽ đạt trạng thái cân bằng Pareto.

Thị trường có thể được định nghĩa là một hệ thống kinh tế cho phép thực hiện các giao dịch kinh tế Những giao dịch này có thể diễn ra bên trong doanh nghiệp hoặc thông qua các thị trường bên ngoài.

Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với các tổ chức KH&CN công lập

Hiện nay, các tổ chức KH&CN công lập hoạt động theo quy định của Nhà nước và chịu sự chi phối của các cơ quan quản lý, dẫn đến cơ chế “xin – cho” trong mọi mặt như hướng nghiên cứu, tài chính, và nhân lực Điều này tạo ra bất cập lớn, kìm hãm sự phát triển khoa học và giảm hiệu quả nghiên cứu Nếu một hướng nghiên cứu mới không được phê duyệt, nó sẽ bị coi là vô giá trị, trong khi nhân lực và biên chế phải tuân theo sự sắp xếp của Nhà nước, gây khó khăn trong việc quản lý nguồn lực Tình trạng này cũng phổ biến ở các cơ quan Nhà nước khác.

Việc các tổ chức KH&CN công lập được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm sẽ thúc đẩy tính chủ động trong công việc, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực của tổ chức.

32 quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với các tổ chức KH&CN công lập đƣợc thể hiện qua các mặt nhƣ sau:

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là yếu tố quan trọng giúp các tổ chức KH&CN công lập phát huy tính sáng tạo và chủ động trong nghiên cứu Trước đây, quá trình đề xuất và chờ phê duyệt nghiên cứu thường kéo dài, dẫn đến nhiều ý tưởng giá trị bị bỏ lỡ Cơ chế này vô tình kìm hãm sự phát triển của những ý tưởng có giá trị khoa học lớn Khi được tự chủ, các nhà khoa học sẽ mạnh dạn thực hiện nghiên cứu mà không lo ngại về việc được phê duyệt, từ đó tạo ra những kết quả tốt hơn.

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong tài chính giúp các tổ chức KH&CN quản lý nguồn tài chính hiệu quả hơn Việc này giao quyền quyết định chi tiêu cho các tổ chức công lập, buộc họ phải có trách nhiệm với ngân sách được cấp Nếu chi tiêu không hợp lý, họ sẽ phải bù đắp bằng tiền túi, trong khi nếu tiết kiệm, họ sẽ được hưởng số tiền thừa Hiện nay, nhiều tổ chức KH&CN công lập gặp khó khăn trong việc chi tiêu, dẫn đến tình trạng tồn đọng ngân sách và không triển khai được hoạt động Điều này cho thấy sự yếu kém trong quản lý tài chính Để tự chủ và tự chịu trách nhiệm, các tổ chức cần được trang bị năng lực nội sinh đầy đủ, nếu không sẽ bị đào thải.

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực của tổ chức KH&CN Để đạt được sự tự chủ, tổ chức cần có tiềm năng và năng lực thực sự Tính đào thải của tự chủ cho thấy rằng những tổ chức không đủ năng lực sẽ bị loại bỏ khi không còn sự hỗ trợ từ Nhà nước Năng lực của người quản lý KH&CN cũng được thể hiện qua khả năng tự chủ này.

Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với thị trường

Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thị trường trong các tổ chức KH&CN đã bị lãng quên, trong khi yếu tố thị trường lại quyết định khả năng tự chủ của các tổ chức này Thông thường, các tổ chức KH&CN công lập chỉ tập trung vào việc thực hiện các đề tài, dự án do Nhà nước giao, dẫn đến hạn chế lớn trong cơ chế cũ Nếu chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ Nhà nước, các tổ chức sẽ gặp khó khăn trong việc tự chi trả các khoản chi phí, bao gồm cả lương nhân viên Rất ít tổ chức KH&CN nghĩ đến việc tìm kiếm thị trường để tự nuôi sống mình.

Việc mở rộng thị trường là yếu tố quan trọng giúp tổ chức gia tăng lợi nhuận và thu hút nguồn tài chính Thị trường càng lớn, lợi ích tài chính càng cao Để mở rộng thị trường, tổ chức cần tìm kiếm các nhà đầu tư cho hoạt động của mình, và các nhà đầu tư sẽ nhận được lợi ích từ kết quả hoạt động của tổ chức Chẳng hạn, khi tổ chức thực hiện một nghiên cứu và nhận tài trợ từ doanh nghiệp, doanh nghiệp đó sẽ được ưu tiên sử dụng kết quả nghiên cứu, tạo ra một hình thức trao đổi có lợi cho cả hai bên.

Thị trường là nguồn tài chính thiết yếu cho các tổ chức KH&CN công lập, giúp chúng tồn tại và phát triển Khai thác hiệu quả thị trường không phải là điều dễ dàng, và không phải tổ chức nào cũng tìm được thị trường phù hợp, dù là nhỏ Nếu giải quyết được vấn đề thị trường, các tổ chức sẽ có cơ hội thực hiện cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm một cách thoải mái hơn.

Mối quan hệ giữa tự chủ, tự chịu trách nhiệm với nhân lực

Nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng trong quá trình tự chủ và tự chịu trách nhiệm Trước đây, cơ chế cũ quy định số lượng chỉ tiêu hàng năm mà các tổ chức phải đạt được, và trách nhiệm này thuộc về cơ quan quản lý Nhà nước, cụ thể là Sở.

Bộ Nội vụ sẽ thực hiện tuyển dụng và phân bổ nhân sự cho các tổ chức Tuy nhiên, với cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm, các tổ chức có quyền tự quyết trong việc tuyển dụng nhân sự theo nhu cầu công việc Chẳng hạn, nếu tổ chức cần thêm 10 nhân viên trong vòng 3 tháng, họ có thể tự thuê hợp đồng cho 10 người đó và sau 3 tháng có thể chấm dứt hợp đồng, với kinh phí do tổ chức tự chi trả.

Việc tự chủ trong tuyển dụng giúp tổ chức chịu trách nhiệm hơn trong việc lựa chọn nhân sự, từ đó tạo cơ hội cho những người có năng lực thực sự Điều này tránh tình trạng tuyển dụng chỉ dựa vào mối quan hệ, dẫn đến việc lãng phí nguồn nhân lực và trí tuệ Khi những người giỏi không có cơ hội, tổ chức sẽ phải chấp nhận những ứng viên kém hơn nhưng có gia thế tốt, gây thiệt hại lớn cho chính mình Nhân lực không phù hợp không chỉ không mang lại lợi ích mà còn làm giảm hiệu quả hoạt động của tổ chức.

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong tổ chức nâng cao sự cố gắng của nhân lực Tổ chức có quyền quyết định sa thải nhân viên không đủ năng lực và tuyển dụng hoặc tăng lương cho những người có khả năng Điều này tạo động lực làm việc cho nhân viên, khuyến khích họ có trách nhiệm và nâng cao năng lực bản thân, đáp ứng yêu cầu công việc và phát triển, đồng thời tránh tình trạng trì trệ trong lực lượng lao động nhà nước hiện nay.

HIỆN TRẠNG THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG

Ngày đăng: 26/06/2023, 13:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguy ễ n Thanh Bình (2010), Nh ững khó khăn trong vi ệ c chuy ển đổ i các đơn vị NC&TK c ủa ngành Năng lượ ng Nguyên t ử Vi ệt Nam theo cơ chế t ự ch ủ , t ự ch ị u trách nhi ệ m và gi ả i pháp kh ắ c ph ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị NC&TK của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải pháp khắc phục
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2010
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2005): Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa tổ chức khoa học và công nghệ công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2006), Nghị định 43/2006/NĐ - CP về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 43/2006/NĐ - CP về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
4. Vũ Cao Đàm (2002), Đâu là giới hạn của việc xóa bỏ cơ chế “xin – cho” trong hoạt động khoa học, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đâu là giới hạn của việc xóa bỏ cơ chế “xin – cho” trong hoạt động khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2002
5. Vũ Cao Đàm (2002), Trao đổi về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hệ thống khoa học và giáo dục ở Thái Lan, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 5/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hệ thống khoa học và giáo dục ở Thái Lan
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2002
6. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập Các công trính đã công bố, Tập I , Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Các công trính đã công bố, Tập I
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2009
7. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập Các công trính đã công bố, Tập II , Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Các công trính đã công bố, Tập II
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2009
9. Lê Thu Hương (2011), Nh ậ n di ệ n nh ữ ng y ế u t ố c ả n tr ở vi ệ c th ự c hi ện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ -CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Tác giả: Lê Thu Hương
Năm: 2011
10. Hồ Sỹ Hùng (2005), Nhận diện doanh nghiệp KH&CN, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện doanh nghiệp KH&CN
Tác giả: Hồ Sỹ Hùng
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2005
11. Trần Quốc Khánh 2007), Tình hình thực hiện Nghị định 115 tại các địa ph ƣơng , Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện Nghị định 115 tại các địa ph ƣơng
Tác giả: Trần Quốc Khánh
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2007
12. Tr ầ n Th ị H ồ ng Lan (2008), Điề u ki ệ n chuy ển đổi sang cơ chế t ự ch ủ và t ự ch ị u trách nhi ệ m c ủ a các t ổ ch ứ c khoa h ọ c & công ngh ệ thu ỷ l ợ i (nghiên c ứu trườ ng h ợ p Vi ệ n Khoa h ọ c Thu ỷ l ợ i Vi ệ t Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học & công nghệ thuỷ lợi (nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam)
Tác giả: Trần Thị Hồng Lan
Năm: 2008
13. Hoàng Xuân Long (2002), Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc xây dựng các cơ chế, chính sách về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R -D Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc xây dựng các cơ chế, chính sách về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R -D
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2002
14. H ồ Ngọc Luật (2006), Vấn đề đặt ra khi thực hiện Nghị quyết Đại hội X về phát triển KH&CN, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đặt ra khi thực hiện Nghị quyết Đại hội X về phát triển KH&CN
Tác giả: H ồ Ngọc Luật
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2006
15. Nguyễn Quân (2007), Bàn về chính sách sử dụng cán bộ KH&CN, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chính sách sử dụng cán bộ KH&CN
Tác giả: Nguyễn Quân
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2007
16. Bạch Tân Sinh (2004), Nghi ên cứu sự hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp , Báo cáo đề tài cấp Bộ (MOST) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi ên cứu sự hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp
Tác giả: Bạch Tân Sinh
Nhà XB: Báo cáo đề tài cấp Bộ (MOST)
Năm: 2004
17. Tạp chí Hoạt động Khoa học (2006), 10 kết quả nổi bật trong hoạt động của Bộ KH&CN năm 2005, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 kết quả nổi bật trong hoạt động của Bộ KH&CN năm 2005
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2006
18. Tạp chí Hoạt động Khoa học (2007), Chuyển đổi tổ chức KH&CN theo Nghị định 115 - Tình hình và kiến nghị, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số /2007 19. Hoàng Văn Tuyên (20 07), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạtđộng NC&TK của doanh nghiệp, Báo cáo đề tài cấp Cơ sở (NISTPASS) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi tổ chức KH&CN theo Nghị định 115 - Tình hình và kiến nghị
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2007
20. Wikipedia, (2/10/2014), Thị trường , http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường
Tác giả: Wikipedia
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2014
1. Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ và Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ Khác
2. Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm