1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Báo Chí Học, Truyền Thông Đại Chúng, Báo In, Báo In Mặt Trận.pdf

110 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo In Mặt Trận Với Việc Tuyên Truyền, Vận Động Trí Thức Tham Gia Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội (Giai Đoạn 2010-2013)
Tác giả Hà Thị Bích Thủy
Người hướng dẫn TS. Hoàng Hải
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (11)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (13)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu (15)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (17)
  • 7. Kết cấu luận văn (18)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI (19)
    • 1.1 Trí thức với phát triển kinh tế - xã hội (19)
      • 1.1.1 Trí thức là gì (19)
      • 1.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ trí thức (26)
    • 1.2. Báo chí với đội ngũ trí thức (32)
      • 1.2.1 Tuyên truyền về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức (32)
      • 1.2.2 Tuyên truyền về vai trò của trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội (34)
  • Chương 2: TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN VỀ VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2010-2014 (37)
    • 2.1 Khảo sát báo Đại đoàn kết (37)
      • 2.1.1 Lịch sử phát triển của Báo Đại đoàn kết (37)
      • 2.1.2 Khảo sát trên báo Đại đoàn kết (43)
    • 2.2 Khảo sát trên Tạp chí Mặt trận (48)
      • 2.2.1 Lịch sử phát triển Tạp chí Mặt trận (48)
      • 2.2.3 Đánh giá nhận xét (57)
    • 2.3 Một số nhận xét chất lượng của Báo in Mặt trận (0)
      • 2.3.1 Ưu điểm (61)
      • 2.3.2 Hạn chế (63)
  • Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN (66)
    • 3.1 Đánh giá chung về công tác tuyên truyền, vận động (66)
      • 3.1.1 Thành công (66)
      • 3.1.2 Hạn chế (68)
    • 3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động trí thức trên báo Đại đoàn kết và tạp chí Mặt trận (69)
      • 3.2.1 Về cơ chế chính sách (69)
    • 3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng các tuyên truyền, vận động trí thức (0)
  • KẾT LUẬN (80)

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  HÀ THỊ BÍCH THỦY BÁO IN MẶT TRẬN VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI (GIAI Đ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hải

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Hải Các kết quả trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Hà Thị Bích Thủy

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Thị Bích Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13

7 Kết cấu luận văn 14

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1 Trí thức với phát triển kinh tế - xã hội 15

1.1.1 Trí thức là gì 15

1.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ trí thức 22

1.2 Báo chí với đội ngũ trí thức 28

1.2.1 Tuyên truyền về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức 28

1.2.2 Tuyên truyền về vai trò của trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội 30

Chương 2: TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN VỀ VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2010-2014 33

2.1 Khảo sát báo Đại đoàn kết 33

2.1.1 Lịch sử phát triển của Báo Đại đoàn kết 33

2.1.2 Khảo sát trên báo Đại đoàn kết 39

2.2 Khảo sát trên Tạp chí Mặt trận 44

2.2.1 Lịch sử phát triển Tạp chí Mặt trận 44

2.2.3 Đánh giá nhận xét 53

2.3 Một số nhận xét chất lượng của Báo in Mặt trận 57

2.3.1 Ưu điểm: 57

Trang 6

2.3.2 Hạn chế 59

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN 62

3.1 Đánh giá chung về công tác tuyên truyền, vận động 62

3.1.1 Thành công 62

3.1.2 Hạn chế: 64

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động trí thức trên báo Đại đoàn kết và tạp chí Mặt trận 65

3.2.1 Về cơ chế chính sách 65

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng các tuyên truyền, vận động trí thức 72

Tiểu kết chương 3 75

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Thống kê số lượng tin bài tuyên truyền (từ năm 2010 đến năm 2014) 39

Bảng 2.2: Thống kê số lượng tin bài tuyên truyền (từ năm 2010 đến năm 2014) 48

Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện tỷ trọng nội dung tác phẩm của Báo Đại đoàn kết 54

(từ năm 2010 đến năm 2014) 54

Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện tỷ trọng nội dung tác phẩm của Tạp chí Mặt trận 56

(từ năm 2010 đến năm 2014) 56

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mọi thời đại và ở bất kỳ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn là nguồn lực quan trọng đối sự phát triển của xã hội Tấm bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám:

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh vvvaaà thịnh; nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy” là minh chứng rõ nét cho tư tưởng trọng dụng và đánh giá cao trí thức của bậc tiền nhân Tư tưởng đó đến nay và muôn đời sau sẽ vẫn còn nguyên giá trị Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trí thức Việt Nam càng có vai trò quan trọng đặc biệt

Họ không chỉ là một lực lượng tiêu biểu cho nguồn trí tuệ của dân tộc, mà còn là một động lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người và tạo nguồn nhân lực có kiến thức Mặt khác, trí thức còn là nhân

tố quyết định đến sự phát triển nhanh chóng và bền vững của nước ta trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn

là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền

bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học

và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển Mục tiêu sớm đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức”

Từ quan điểm đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách nhằm phát triển đội ngũ trí thức; phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội Là một kênh thông tin quan trọng và hữu hiệu của Đảng,

Trang 10

Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, tuyên truyền vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với nội dung thông tin có định hướng phù hợp với thực tế, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định

Có thể khẳng định, báo chí chính là công cụ tuyên truyền hiệu quả nhất các chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đối với các tổ chức kinh tế - xã hội tới nhân dân Đồng thời, báo chí cũng đăng tải những phản hồi của nhân dân tới Đảng, Nhà nước nhằm bổ sung và hoàn thiện đường lối, chính sách Vì vậy, ý nghĩa

thông tin của báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng

Trong hệ thống báo chí Việt Nam, hệ thống báo chí của các tổ chức chính trị

- xã hội đang ngày càng lớn mạnh, trong đó hệ thống báo chí của Mặt trận từ khi ra đời đến nay đã không ngừng phát triển, đổi mới cả nội dung và hình thức, góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội Có thể khẳng định, đây là hệ thống báo có tính lý luận và thực tiễn cao

Trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế -

xã hội, đặc biệt là đội ngũ trí thức trên hệ thống báo Mặt trận đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Xuất phát từ vai trò trên của báo chí,

cùng những nhiệm vụ đặt ra cho báo chí trong thời kỳ mới, tác giả chọn đề tài: “Báo

in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã

(Tuy nhiên, do quá trình thực hiện Luận văn kéo dài hơn so với dự kiến nên tác giả

đã thực hiện đề tài: “Báo in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội (giai đoạn 2010-2014)

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thực tế cho thấy, báo chí Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề còn mới trong hoạt động nghiên cứu hiện nay Do đó, đây là mảng nghiên cứu còn mới mẻ, còn là vấn đề mở cho những

ai quan tâm, có thể liệt kê dưới đây các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả

Một số khoá luận, luận văn đề cập đến vấn đề báo chí tuyên truyền về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực chính trị - xã hội khác

nhau ví dụ như: “Báo chí với vấn đề tuyên truyền về công tác phát triển Đảng trong

thanh niên” (Khoá luận cử nhân báo chí - Đỗ Thị Thái Hoà, 2009, Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội); “Báo chí tuyên truyền chủ trương chính sách của

Đảng và Nhà nước về kinh tế- xã hội miền núi” (Khoá luận cử nhân báo chí - Chu

Thuý Ngà, 2010, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội); “Tạp chí Xây dựng

Đảng với việc tuyên truyền hướng dẫn thực hiện NQ TW 3 (Khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước” (Khoá luận cử nhân báo chí -

Trịnh Quỳnh Hoa, 2012, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia

Hà Nội)

Về mặt báo chí, đã có một số khoá luận lấy báo Đại đoàn kết (báo thuộc hệ thống báo chí Mặt trận) làm đối tượng nghiên cứu nhưng là nghiên cứu trên một

khía cạnh, một vấn đề khác như: “Gia đình Việt Nam và vấn đề giáo dục gia đình

trong giai đoạn hiện nay trên Báo Đại đoàn kết” (Khoá luận cử nhân báo chí – Chu

Thanh Tâm, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội); “Văn hoá gia đình

Việt Nam và tác dụng của giáo dục văn hoá, đối với sự phát triển của gia đình trong giai đoạn hiện nay được phản ánh (trên báo Phụ nữ Việt Nam và Đại đoàn kết)” (Khoá luận cử nhân báo chí - Nguyễn Hương Giang, 2013, Học viện Báo chí

tuyên truyền, Hà Nội); “Nâng cao hiệu quả truyền thông của chuyên mục "Tham

vấn và phản biện" trên báo Đại đoàn kết” (Luận văn Thạc sỹ Báo chí - Nguyễn Thị

Thu Hương, 2014, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà

Nội) Thêm vào đó có đề tài “Đánh giá của bạn đọc về Tạp chí Mặt trận” (Khoá

luận cử nhân xã hội học - Nguyễn Việt Phương, 2013, Đại học Khoa học xã hội và

Trang 12

nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu Tạp chí Mặt trận dưới góc độ xã hội học, nội dung của công trình nghiên cứu này nhằm tập trung tìm hiểu đánh giá

của bạn đọc về nội dung và hình thức của Tạp chí Mặt trận

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện “Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên

truyền về lý luận và thực tiễn của Tạp chí Mặt trận” - Chủ nhiệm đề tài Nguyễn

Thu Thảo, 2013, Tạp chí Mặt trận, số 3, Hà Nội) có nói tới công tác tuyên truyền

của Tạp chí Mặt trận nói chung; “Tạp chí Mặt trận với Tuyên truyền về nông thôn

mới”, Ths Nguyễn Thu Thảo, Tạp chí Mặt trận điện tử; “Tuyên truyền về sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội” Nguyễn Thị Thủy, 2014, Tạp

chí Cộng sản (số 5), Hà Nội) đề tài cũng tiến hành nghiên cứu Tạp chí Mặt trận, nhưng không phải là toàn bộ hệ thống báo chí Mặt trận

Đề tài “Cách thức tổ chức thông tin của Tạp chí Mặt trận” (Luận văn Thạc

sỹ truyền thông đại chúng – Nguyễn Thị Thu Thảo, 2013, Học viện Báo chí và Tuyên truyền), nghiên cứu Tạp chí Mặt trận dưới góc độ hình thức và cách thức tổ chức nội dung thông tin nói chung trên Tạp chí Mặt trận

Đề tài “Báo chí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với hoạt động kinh tế báo

chí” (Luận văn thạc sỹ - Phạm Khánh Giang, 2013, Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội) nghiên cứu hệ thống báo chí Mặt trận

ở phương diện kinh tế báo chí

Nghiên cứu dưới dạng đề tài cấp Bộ có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của

Luận văn còn phải kể tới đề tài của Tiến sĩ Hoàng Hải, 2013, “Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam với công tác tuyên truyền về giới trí thức tham gia công tác Mặt trận trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Mặt trận, Hà Nội

Như vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài Luận văn của tác giả thực sự là một công trình mới mẻ, đầu tiên trong việc nghiên cứu về hệ thống báo chí Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện Luận văn này sẽ đồng thời có những thuận lợi (khuyến khích, động viên nghiên cứu

và đóng góp lý luận vào công việc nghiên cứu báo chí) nhưng cũng sẽ có những khó khăn (ít tài liệu, khó tiếp cận),v.v…

Trang 13

Những công trình nghiên cứu trên đây là những nỗ lực của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu công tác vận động, tuyền truyền, của báo chí, đối với đội ngũ trí thức Đó là những kết quả có ý nghĩa và là thành quả của quá trình làm việc nghiêm túc công phu của các nhà báo, các học viên, các nhà nghiên cứu Tác giả luận văn xem đây là những chỉ dẫn và các tài liệu có giá trị tham khảo rất cao, góp phần phục vụ đắc lực trong việc triển khai đề tài Luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Phân tích những chính sách của Đảng, Nhà nước về định hướng tuyên truyền, vận động đội ngũ trí thức nói chung; đặc biệt là hệ thống hoá những vấn đề

lý luận cơ bản về vai trò của báo chí Mặt trận (báo in) trong công tác tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội

- Phân tích thực trạng về tuyên truyền, vận động trên hệ thống báo Mặt trận ở nước ta giai đoạn 2010 - 2014 Trong đó, đánh giá mặt tích cực, những hạn chế của

hoạt động này và rút ra các bài học kinh nghiệm

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền về giới trí thức của báo chí Mặt trận giai đoạn 2015 - 2020

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:

Nghiên cứu về Báo in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội (Khảo sát trên Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đoàn kết)

Trang 14

4.1.1 Báo Đại đoàn kết

Báo Đại đoàn kết thành lập ngày 25/1/1942, tiền thân của báo Đại đoàn kết

là báo Cứu quốc và báo Giải phóng Báo Đại đoàn kết - cơ quan Trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Báo Đại đoàn kết có nhiều đóng góp trong công tác thông tin tuyên truyền đúng đắn đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đến với bạn đọc Đồng thời, ông khẳng định trang báo điện tử này là phương tiện thể hiện tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc tới nhân dân, cầu nối giữa nhân dân, Đảng và Nhà nước Báo Đại đoàn kết phải phản ánh được tiếng nói của nhân dân với cả nước, tạo nên thông tin hai chiều giữa nhân dân và Mặt trận, huy động sáng kiến nhân dân, qua đó hoàn thành nhiệm vụ tạo ra một diễn đàn sáng kiến nhân dân bảo

vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước

4.1.2 Tạp chí Mặt trận

Tạp chí Mặt trận xuất bản số đầu tiền vào tháng 8/2001 Tạp chí Mặt trận là

cơ quan tuyên truyền và phát triển lý luận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Từ năm 2010, thử nghiệm Tạp chí điện tử, từ tháng 8 năm 2011 đã ra chuyên đề: Mặt trận và cuộc sống Bên cạnh xuất bản báo chí, Tạp chí còn hợp tác xuất bản sách, tổ chức sự kiện, dịch vụ khoa học, tư vấn phát triển; đồng thời phối hợp quảng bá sản phẩm và thương hiệu cho các doanh nghiệp So với nhiều tạp chí khác, Tạp chí Mặt trận ra đời muộn Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù là cơ quan

lý luận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tạp chí Mặt trận tương đương với các tạp chí lí luận của bộ, ngành nước ta (cấp vụ) Tạp chí có nhiệm vụ thông tin, tạo diễn đàn để nghiên cứu trao đổi về mọi mặt hoạt động của tổ chức Mặt trận ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, là diễn đàn để tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát và nghiên cứu các tác phẩm báo in trên Tạp chí Mặt trận, báo Đại đoàn kết cùng những sản phẩm báo chí của những cơ quan này về vấn đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội trong 5

Trang 15

năm (Từ 2010 đến năm 2014) Tác giả chọn thời gian này vì đây là thời điểm diễn

ra rất nhiều hoạt tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam về Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 1/2016

Bên cạnh đó, để so sánh và đề xuất giải pháp tác giả có nghiên cứu mở rộng thêm về thời gian và có tham khảo báo chí của một số tổ chức thành viên Mặt trận

về nội dung liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp lý luận chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về báo chí nói chung và báo in nói riêng Tác giả cũng dựa trên lý luận về nguồn gốc ra đời, vai trò, chức năng của báo in, đặc biệt là các chức năng thông tin, giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động, khai sáng

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Đề tài được thực hiện trên cơ sở nhận thức học về duy vật biện chứng, lý luận về truyền thông, quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về báo chí truyền

Trang 16

thông và công tác tư tưởng, về chiến lược triển khai công tác tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp thống kê, so sánh, phương pháo phỏng vấn sâu… Các phương pháp này được sử dụng phù hợp theo từng chương và có sự kết hợp trong quá trình phân tích nhằm làm nổi bật các nội dung nghiên cứu

lập bảng biểu theo các số liệu thu từ hoạt động khảo sát các dạng tin bài, phóng sự trên Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đoàn kết có liên quan đến vấn đề tuyên truyền về trí thức gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội Phương pháp này nhằm nghiên cứu tần xuất xuất hiện, nội dung tuyên truyền, phương thức, hình thức thể hiện của các tác phẩm báo chí về chủ đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh

tế - xã hội ở các đối tượng được khảo sát

tương quan

nguồn tài liệu sẵn có, vận dụng để khái quát hóa và lý thuyết hóa các vấn đề đơn lẻ khảo sát được Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề lý luận

và vai trò của báo chí nói chung, báo in nói riêng trong công tác tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội Thông qua phân tích nội dung văn bản bao gồm phân tích về mặt định tính nội dung các báo cáo, tài liệu, giáo trình, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội

việc xem xét, đánh giá và phân tích các tác phẩm báo chí được khảo sát, đối chiếu,

so sánh giữa các tác phẩm đăng trên 2 báo, từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho luận văn

Trang 17

Quá trình tổng hợp sẽ thu thập các tác phẩm báo chí được đăng tải trên Tạp chí Mặt trận, báo Đại đoàn kết phân tích nội dung và hình thức, đưa ra những đánh giá về chất lượng nội dung và hình thức tuyên truyền

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn là một công trình nghiên cứu vận dụng lý luận báo chí học để giải quyết một vấn đề của thực tiễn Kết quả của đề tài này sẽ góp phần bổ sung, phát triển cho lý luận báo chí học, lý luận Mặt trận về vấn đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội nói riêng và xây dựng đất nước nói chung

Đây có thể được coi là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy cho sinh viên, học viên sau đại học Thực hiện luận văn, tác giả cũng mong muốn những cán bộ, phóng viên, biên tập viên và những người làm công tác tuyên truyền, vận động trí thức ở Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đoàn kết, cũng như báo chí nói chung có thêm một góc nhìn về lý luận và có thể áp dụng vào thực tiễn cho tác phẩm của mình

Như đã trình bày trong phần Mở đầu luận văn, từ trước tới nay, đã có một số luận văn nghiên cứu xung quanh vấn đề về trí thức Tuy nhiên, chưa có luận văn nào nghiên cứu với tên cụ thể: Báo in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, luận văn sẽ đóng góp hiệu quả cho vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này Luận văn không chỉ cho thấy thực trạng vấn đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội được khảo sát mà còn đề ra những biện pháp nâng cao chất lượng trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Luận văn cung cấp cái nhìn khái quát về công tác tuyên truyền, vận động trí thức trên Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đoàn kết, từ đó những người thực hiện có khả năng nhìn nhận trực tiếp công tác tuyên truyền của mình, để có hướng điều chỉnh tốt hơn Những người làm mảng kinh tế trên cơ sở nghiên cứu về đề tài của luận văn này cũng sẽ có những bài học cụ thể cho mình trong công tác tuyên truyền về phát triển kinh tế - xã hội

Trang 18

Luận văn có tính thời sự cấp bách, được ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang gấp rút thi đua hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm đầu (2011-2015) trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ diễn ra vào tháng 1/2015 Báo in với tư cách là một trong những phương tiện truyền thông phổ biến ở Việt Nam được nghiên cứu cụ thể, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng tuyên truyền các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động trí thức trên các ấn phẩm của Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và giới truyền thông nói chung cũng tham khảo ít nhiều Trong đó, có Tạp chí Môi trường và Cuộc sống - nơi tác giả đang cộng tác

Riêng với bản thân tác giả, quá trình nghiên cứu đề tài: “Báo in Mặt trận với

việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội” sẽ là một

cơ hội tích lũy kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết cũng như năng lực chuyên môn, để thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ của mình với tư cách là một phóng viên, biên tập viên

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 2: Tuyên truyền của Báo in Mặt trận về vận động trí thức tham gia

phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2014

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền giai đoạn 2015-2020 của Báo

in Mặt trận

Trang 19

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Trí thức với phát triển kinh tế - xã hội

- Trí thức Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về

lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội [47]

- Trí thức: Người sử dụng trí óc một cách sáng tạo

- Trí thức: Người thông minh, có khả năng phát triển cao độ để hiểu biết là lý

giải, đặc biệt được giáo dục tốt và quan tâm đến khoa học hay nghệ thuật, hoặc yêu thích các hoạt động liên quan đến nỗ lực tinh thần một cách nghiêm túc

- Trí thức: là người hoặc do thích thú hoặc do nghề nghiệp mà quan tâm đến

những công việc tinh thần

- Trí thức: Người chuyên làm việc, lao động trí óc [4, tr.32]

Trí thức theo định nghĩa cá nhân:

- Người trí thức: Là người đem lại giá trị cho những gì mà tự chúng không

có (Paul Valéry - nhà thơ, triết gia Pháp)

Trang 20

- Người trí thức: Nói đến những người suy tư, mà không sính chữ nghĩa,

không lợi dụng, bịp bợm và ăn bám… (Henri Barbusse - nhà văn Pháp)

- Người trí thức: Là người phát hiện những điều thuộc bản chất sự vật mà

người khác không nhìn ra được (Jean Paul Sartre - nhà triết học hiện sinh, nhà soạn kịch, nhà biên kịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người Pháp)

Tuy nhiên, vẫn có thể phân chia các định nghĩa hiện hành thành 2 nhóm: nhóm chặt chẽ (rất hữu dụng khi bàn vấn đề ở bình diện triết lý, gồm cả thiên chức, nhiệm vụ trí thức đối với nhân dân, xã hội) và nhóm thông dụng (để dùng rộng rãi trong đời sống, dễ hiểu với trình độ chung)

óc (đúng với mọi thời) nhưng trước đây 60 năm có thể là trí thức – nếu có sáng tạo (ví dụ như Nam Cao, Tô Hoài…)

Do tôn thờ chân lý, trí thức chỉ tin những gì đã được chứng minh đầy đủ và

do đó bảo vệ sự thật đến cùng Khám phá chân lý là niềm say mê cao nhất (bị cấm đoán nghiên cứu hoặc cấm nói sự thật là điều đau khổ vô tận) Khám phá ra chân lý

là hạnh phúc cao nhất, do vậy họ có yêu cầu bức xúc công bố và đòi hỏi được công

bố (Galilê bị cấm công bố “quả đất tròn”) Tuy quyết bảo vệ kết quả nghiên cứu bằng tranh luận, nhưng trí thức cũng sẵn sàng nhận sai lầm, từ bỏ niềm tin, nếu có chứng minh đầy đủ – từ đó họ đòi hỏi tự do tư tưởng, tự do ngôn luận… Tôn thờ cái

Trang 21

tốt (thiện), trí thức rất nhạy cảm khi cái xấu lộng hành (ví dụ bất công, áp bức, hạn chế quyền tự do, dân chủ giả hiệu…)

Theo cách thông dụng, trí thức được định nghĩa như những người lao động trí óc nói chung, ví dụ: trong khẩu hiệu “Liên minh Công – Nông – Trí”; hoặc trong một bản thành tích có câu: chế độ ưu việt của ta đã đào tạo được hàng triệu trí thức XHCN… Cách định nghĩa này làm số trí thức trong xã hội tăng lên rất nhiều, có mặt ở mọi lĩnh vực, ngành nghề

Trong xã hội Việt Nam, thời phong kiến không có khái niệm “trí thức”, mà chỉ có nói tới tầng lớp sĩ phu; đến thời Pháp thuộc mới có khái niệm “trí thức”,

được dịch từ chữ Intellectue (tiếng Pháp), Intellectual (tiếng Anh) Và có thể hiểu,

trí thức là những người lao động trên mọi lĩnh vực, ngành nghề, sử dụng trí tuệ và tài năng của mình trong lao động, sáng tạo, đưa ra những ý tưởng có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội Trí thức không nhất thiết phải là những người

Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ Trí thức có thể là bất kỳ ai, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý

Đặc điểm của trí thức

Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng rất phong phú Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng

Trang 22

lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt

mạnh và mặt yếu của nó Có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau:

- Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc Nhờ ham học, ham đọc mà người trí thức luôn luôn tiếp cận được cái mới, do đó trình độ lý luận không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lý luận quá mức có thể dẫn đến tình trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn Đó là nhược điểm mà người trí thức cần đề phòng

- Trí thức là người luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập khuôn theo công thức sẵn có Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai trò nhân

tố quan trọng thúc đẩy khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, kinh tế - xã hội phát triển Tuy nhiên, xã hội cũng dễ nhìn nhận những sáng tạo quá đà, nhất là trong phong cách sống, là lập dị

- Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề Vì vậy, trí thức thường hay có ý kiến phản biện Trong xã hội cũng như trong mỗi đơn vị, những ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị, ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc hoặc bổ sung, hoàn thiện chủ kiến của mình Nhưng ý kiến phản biện, nhất là những ý kiến quá thẳng thắn, dễ gây phản ứng tiêu cực Vì vậy, người phản biện cũng cần chọn cách nói, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phục của ý kiến mình được cao hơn

Thói quen lật lại vấn đề khiến người trí thức nhiều khi lật đi lật lại cả ý kiến của mình Tự phản biện mình là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sự cầu thị Tuy nhiên, nếu trước bất cứ việc gì cũng cân đi nhắc lại mà không dám hành động thì sẽ thành do dự, nhu nhược, thiếu quyết đoán

- Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đã tin điều gì một cách có căn cứ thì trí thức thường rất trung thành với niềm tin của mình Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolas Copernik sẵn sàng đối mặt với toà án giáo hội, chứ không phản bội niềm tin của mình là trái đất quay xung quanh mặt trời Gần một trăm năm sau, lại đến lượt nhà thiên văn Italia Galileo Galilée dũng cảm bảo vệ thuyết quả đất quay trước tòa

án giáo hội, bất chấp án lưu đày và rút phép thông công

Trang 23

- Trí thức thường có hoài bão vươn lên những đỉnh cao, những vị trí nổi bật

trong xã hội Cách chúng ta 150 năm, Nguyễn Công Trứ từng viết: “Đã mang tiếng

ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”[23, tr.109]

Người trí thức nói chung trọng danh hơn trọng lợi Thậm chí không ít người trọng danh hơn cả mạng sống của mình

- Trí thức thường khảng khái, tự trọng Người xưa đã khái quát phẩm hạnh này thành nguyên tắc sống: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi lòng, quyền uy không khuất phục nổi) Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức Xã hội trọng vọng trí thức không chỉ vì trí tuệ của họ mà còn vì phẩm chất cao quý này

- Trí thức thường cư xử lịch thiệp Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch lòng người khác

1.1.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội

Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam gắn liền với sự phát triển của đội ngũ trí thức Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1930 đến nay, trí thức Việt Nam luôn là một lực lượng của cách mạng, luôn xung kích đi đầu trên mặt trận khoa học công nghệ và văn hoá Trí thức Việt Nam không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp mà còn làm nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu, tổng kết,

khám phá, truyền bá, trao truyền kinh nghiệm cho các thế hệ nối tiếp

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trí thức Việt Nam, bằng công sức và trí tuệ của mình, cùng với khối liên minh công nông đã góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, thu non sông về một mối, thống nhất đất nước

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là công cuộc đổi mới, trí thức Việt Nam góp phần quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần thay đổi bộ mặt xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân

Trang 24

Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trí thức Việt Nam càng có vai trò quan trọng đặc biệt Họ không chỉ

là một lực lượng tiêu biểu cho nguồn trí tuệ của dân tộc, mà còn là một động lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người và tạo nguồn nhân lực có kiến thức Mặt khác, trí thức còn là nhân tố quyết định đến sự phát triển nhanh chóng và bền vững của nước ta trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới

Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống [47]

Đội ngũ trí thức Việt Nam khá hùng hậu, hiện có 70% - 80% công chức trong chính quyền trung ương đã có trình độ đại học, tỷ lệ này là 50% ở tuyến quận, huyện Trong tổng số khoảng 4 triệu Việt kiều định cư ở hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung ở các nước phát triển, có khoảng 400.000 trí thức được đào tạo rất bài bản về chuyên môn ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao [38-2, tr.9], có kiến thức cập nhật về khoa học - công nghệ, về quản lý kinh tế làm việc trong các trung tâm kinh

tế, khoa học - công nghệ ở nước ngoài Họ là nguồn lực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, đặc biệt khi đất nước ta tham gia hội nhập quốc tế Qua thống kê cho thấy, số lượt chuyên gia trí thức Việt kiều về làm việc với các cơ quan quản lý Nhà nước chiếm đến 55%; số lượt trí thức về nước tham gia giảng dạy và hợp tác nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu chiếm khoảng 45%

Ðội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi

Trang 25

dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới

Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng, trình độ quản lý của Nhà nước Ðội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới được Đảng, Nhà nước ta đánh giá và ghi nhận Tuy nhiên, đội ngũ trí thức còn bộc lộ một

số ưu, khuyết điểm sau:

- Ưu điểm: Trí thức Việt Nam hầu hết xuất thân từ nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, có phẩm chất chính trị vững vàng, nhiệt tình, trách nhiệm với đất nước, có năng lực chuyên môn, tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Ða số trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước [47]

- Nhược điểm: Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề,

độ tuổi, giới tính Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh,

có uy tín ở khu vực và quốc tế Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống

Trình độ của trí thức ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học tụt hậu so với yêu cầu phát triển đất nước và so với một số nước tiên tiến trong khu vực, nhất

là về năng lực sáng tạo, khả năng thực hành và ứng dụng, khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin

Trang 26

Một bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu chí khí

và hoài bão Nhiều trí thức trẻ có tâm trạng thiếu phấn khởi, chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn

Những hạn chế, yếu kém của đội ngũ trí thức do nhiều nguyên nhân Nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ còn thấp; việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ đang trong quá trình hình thành

Bằng hoạt động sáng tạo, trí thức nước ta đã có đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, đội ngũ trí thức của Việt Nam còn có khoảng cách với đội ngũ trí thức của thế giới và ngay với một số nước trong khu vực, vì vậy, cần sớm được khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ

Tổ quốc trong thời kỳ mới

1.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ trí thức

1.1.2.1 Khái quát

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của trí thức, coi trí thức yêu nước là một lực lượng cách mạng, là nhân tài, vốn quý của dân tộc

Cả trước và sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng, Bác Hồ đã có chủ trương tập hợp và xây dựng đội ngũ trí thức để phục vụ kháng chiến và kiến thiết đất nước Nhiều trí thức Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, nghe theo tiếng gọi của Đảng đã trở về nước tham gia kháng chiến, phụng sự Tổ quốc Để có một lực lượng trí thức đông đảo, phục vụ công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước sau

Trang 27

khi nước nhà giành được độc lập, từ những năm 50 của thế kỷ XX, hàng nghìn thanh niên Việt Nam được Đảng ta chọn lọc đưa sang Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đào tạo về khoa học kỹ thuật Đảng và Bác Hồ đã sử dụng nhiều trí thức trong bộ máy nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực như tổ chức chính phủ, công nghiệp, nông nghiệp, văn hoá, giáo dục Bác Hồ quan niệm rằng, cách tốt nhất để phục vụ lợi ích của công nông là phải đưa những người có đủ tài, đủ đức vào bộ máy nhà nước để phụng sự lợi ích của người lao động

Ngay cả khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn gay

go và quyết liệt nhất, Đảng ta vẫn luôn chăm lo đến việc xây dựng đội ngũ trí thức, chuẩn bị cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau ngày miền Nam giải phóng Nhiều trường đại học ở miền Bắc được mở ra để đào tạo nhân tài, nhiều học sinh được cử

ra nước ngoài đào tạo về khoa học, kỹ thuật

Năm 1975, đất nước thống nhất, Đảng ta đưa ra chủ trương trọng dụng trí thức yêu nước ở miền Nam cùng với đội ngũ trí thức miền Bắc tập hợp lại thành một lực lượng xung kích trong cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật nhằm đưa nước

ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp tiên tiến

Từ năm 1986 trở lại đây, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta nhận thức sâu sắc về vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, coi trí thức là động lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta khẳng định việc phát triển, xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, của các bộ, ban ngành, các địa phương Từ nhận thức đó, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến phát triển khoa học và công nghệ, coi đây là khâu then chốt trong quá trình phát triển đất nước

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định ý nghĩa chiến lược của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức, coi đây là nền tảng của cách mạng Việt Nam Đảng luôn nhất quán trong đường lối, chính sách đối với trí thức Nhận thức được xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Đảng cũng đã định hướng

Trang 28

phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa qua các văn kiện Đại hội Đảng

Trước những năm 2000, Đảng đã đề ra đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề cao vai trò của khoa học công nghệ, coi đó là nền tảng của quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng chưa nói đến vấn đề công nghiệp hóa,

hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức Ở Đại hội Đảng IX (tháng

4-2001), Đảng Cộng sản lần đầu tiên đã nói đến vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Trong Báo cáo tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “Kinh tế tri thức đang có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất”[7, tr.32] Điều này, chứng tỏ Đảng đã xác định sự ra đời và phát triển tất yếu của kinh tế tri thức và vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng và với nền kinh tế - xã hội trên thế giới nói chung Từ khẳng định đó, Đảng ta đã xác định cách thức phát triển của Việt Nam là kết hợp hai bước phát triển tuần tự và nhảy vọt: “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” Như vậy, tuy lần đầu tiên đưa thuật ngữ “phát triển kinh tế tri thức” vào đường lối, chiến lược phát triển đất nước nhưng chúng ta có thể nhận thấy Đảng ta coi phát triển

kinh tế tri thức là cách thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để tạo ra những bước nhảy vọt

Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của các kỳ Đại hội trước về phát triển kinh tế tri thức, ở Đại hội XI, Đảng tiếp tục đưa ra những quan điểm cụ thể hơn về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong những năm

tới Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại

hội XI, khi dự báo về tình hình thế giới và trong nước trong những năm sắp tới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học –

Trang 29

công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và

kinh tế tri thức” Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ

sung, phát triển năm 2011), cũng nhận định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước” Như vậy, khác với các kỳ Đại hội trước, khi dự báo về tình hình thế giới, ở Đại hội XI, Đảng ta đã gắn quá trình phát triển kinh tế tri thức với quá trình toàn cầu hóa và sự hình thành xã hội thông tin Điều đó nói lên sự tác động qua lại, sự gắn kết chặt chẽ giữa quá trình phát triển kinh tế tri thức với các quá trình phát triển khác trên thế giới, đòi hỏi Việt Nam cần phải chủ động, tích cực hơn trong chiến lược phát triển kinh tế

Ở Đại hội XI, Đảng ta đã đưa ra những phương hướng rất cụ thể để đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức Đảng ta đã nhận định phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ là cơ sở, là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế tri thức: “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” [8, tr.52] Đây là phương hướng tổng quát, vừa có ý nghĩa trước mắt, vừa định hướng lâu dài trong mục tiêu phát triển kinh tế tri thức

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định : « Trong những năm đổi mới, Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Ðảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng

Trang 30

và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài »

Nhìn chung, công tác trí thức của Ðảng và Nhà nước trong những năm qua

đã thể hiện coi trọng vị trí, vai trò của trí thức, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức và các hội của trí thức hoạt động, phát triển Đặc biệt trong bối cảnh mới hiện nay, vai trò của giới trí thức lại càng quan trọng bởi đây là lực lượng đón nhận những thay đổi của thời cuộc nhanh nhất, chủ động nhất Vì vậy, những chủ trương trên của Đảng Cộng sản Việt Nam góp phần đáng kể cho việc phát huy vai trò to lớn của đội ngũ trí thức

1.1.2.2 Chính sách phát triển trí thức Mặt trận Tổ Quốc

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận

Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế Hiến pháp năm 1992 đã xác định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là

cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân " [19, tr 47] điều đó càng khẳng định

Trang 31

Mặt trận Tổ quốcViệt Nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta

Thêm vào đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai

trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới

Trong vấn đề chính sách phát triển trí thức thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

đã trên tinh thần dựa vào những chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước để thực hiện công tác vận động trí thức ở các ngành, các địa phương và ở nước ngoài Đối với Mặt trận địa phương còn tùy thực tế vận dụng chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền để công tác này phù hợp với với địa phương

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã nhận thức rõ ý nghĩa vận động đội ngũ trí thức tham gia hoạt động xã hội Thực tế những năm gần đây, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã thu hút từ nhà giáo, nhà báo, nhà văn, kỹ sư, bác sỹ, luật sư… tham gia những tổ chức chuyên đề và cùng Mặt trận có nhiều hoạt động tích cực góp phần phát triển kinh tế- xã hội thiết thực Do đó, vai trò của đội trí thức ngày càng quan trọng nhưng còn không ít hạn chế, trong đó có trách nhiệm phát huy vai trò đội ngũ trí thức của Mặt trận…

Mặt trận đóng vai trò quan trọng trong tập hợp đoàn kết trí thức Trong Mặt trận có nhiều tổ chức thành viên, đặc biệt là Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đóng vai trò chính trong tập hợp trí thức Quá trình tập hợp trí thức bên cạnh mặt tích cực còn không ít hạn chế nên có tình trạng nhiều trí thức muốn ra nước ngoài

Tóm lại, với những chủ trương và nỗ lực trong công tác tập hợp trí thức tham gia vào phát triển kinh tế - Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã đưa ra nhiều phương thức

và biện pháp khác nhau, do đó Mặt trận luôn nhận được sự hưởng ứng từ đội ngũ trí thức Tuy nhiên, những mặt hạn chế vẫn còn tồn tại và đây là vấn đề sẽ được luận văn tiếp tục nghiên cứu và trong các phần sau

Trang 32

1.2 Báo chí với đội ngũ trí thức

1.2.1 Tuyên truyền về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức

Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng Báo chí đã và đang đóng góp hết sức to lớn vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội Trong tình hình cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng ngày càng tinh vi và phức tạp, trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng

Hoạt động báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận Không chỉ là yếu tố cấu thành hữu cơ, báo chí là vũ khí xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận Báo chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ chức Quan điểm này đã được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của Mác-Ănghen, Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Báo chí là bộ phận hữu cơ và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng

Báo chí Việt Nam đã góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Báo chí đã góp phần tích cực xây dựng lý tưởng xã hội vì mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần ổn định chính trị tư tưởng, bình ổn đời sống tinh thần để huy động nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống; xây dựng lý tưởng xã hội, tuyên truyền tư tưởng của Đảng

Báo chí - vũ khí tư tưởng sắc bén, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định công tác báo chí là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, nhất là trong những giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt của cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng Việt Nam và đội ngũ những người làm báo nước nhà đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, phản ánh sinh động thực tế

Trang 33

hào hùng của các cuộc kháng chiến cứu nước, cũng như thực tiễn sôi động của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần khơi dậy các phong trào thi đua yêu nước của quần chúng, nhân dân

Trong công cuộc đổi mới đất nước, báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Đồng thời, trong quá trình đó, báo chí cũng đã tự đổi mới và ngày càng trưởng thành về mọi mặt Có thể nói, chưa bao giờ đội ngũ những người làm báo, các loại hình báo chí và phương tiện truyền thông đại chúng nước ta phát triển mạnh mẽ và hùng hậu như hiện nay Cách đây một năm, nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất cho đội ngũ những người làm báo cách mạng, là sự ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp to lớn của các thế hệ những người làm báo cách mạng Việt Nam

Trong thời gian vừa qua, báo chí đã tập trung tuyên truyền về đại hội đảng

bộ các cấp và Đại hội lần thứ XI của Đảng, đóng góp vào thành công của Đại hội; tuyên truyền về các ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ Báo chí cũng đã phát hiện, biểu dương những nhân

tố mới, gương người tốt, việc tốt, những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước của nhân dân Đồng thời, báo chí đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; mở rộng thông tin đối ngoại, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, thành tựu đổi mới của nhân dân ta đến với bạn bè quốc tế và đồng bào ta sinh sống ở nước ngoài

Có thể khẳng định rằng, báo chí thực sự đã trở thành vũ khí sắc bén của công tác tư tưởng của Đảng, Nhà nước và của nhân dân Thực tiễn sự phát triển của báo chí càng làm tăng vai trò và ảnh hưởng của báo chí đến mọi mặt đời sống của đất nước Có thể nói, cả trong nhận thức, quy định pháp lý, chức năng và thực tế đều

Trang 34

khẳng định, báo chí có vai trò quan trọng và là công cụ hàng đầu, hữu hiệu và phổ biến nhất trong tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền về sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ

chức chính trị - kinh tế - xã hội còn một số hạn chế: Nội dung thông tin còn chưa đầy đủ và đi sâu vào từng vấn đề cụ thể Hình thức tuyên truyền chậm đổi mới còn nặng về lý luận chưa sát thực tế Do đó, cần hoàn thiện hơn nữa trong quá trình triển khai công tác tuyên truyền, phần nội dung này sẽ được tác giả để cập trong chương

ba của luận văn

1.2.2 Tuyên truyền về vai trò của trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội

Trong xu thế toàn cầu hoá với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, với sự phổ biến của Internet, với

sự tiến nhanh đến nền kinh tế tri thức thì vai trò và trách nhiệm của trí thức là rất lớn lao Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước luôn chú trọng đến công tác tuyên truyền về vai trò của trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội Nhiều tổ chức chính trị xã hội như Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; các tổ chức đoàn thể thường xuyên tổ chức Hội thảo, Hội nghị,… nhằm tuyên truyền, đề cao vai trò của trí thức

Đối với hệ thống báo chí trực thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong những năm qua đã đã triển khai nhiều chương trình tuyên truyền về vai trò của trí thức

- Về Tạp chí Mặt trận: thông tin tuyên truyền của tạp chí Mặt trận về vận

động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội khá phong phú, bên cạnh thông tin

về sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận tổ quốc (cơ quan chủ quản của Tạp chí); Tạp chí còn thông tin về các cuộc vận động khác

Về hình thức là các bài bình luận chuyên sâu về vấn đề

- Báo Đại đoàn kết: thông tin tuyên truyền được đăng tải trên báo trong các

mục khác nhau của báo: chính trị, xã hội, kinh tế…

Trang 35

Hệ thống báo chí Mặt trận đã góp phần quan trọng trong việc cập nhật thông tin nhanh, kịp thời và nhiều chiều về diễn biến của thị trường, những khó khăn của Doanh nghiệp về vốn, lao động…, qua đó, giúp Đảng, nhà nước có những chủ trương, giải pháp và quyết sách kịp thời để giảm bớt khó khăn, giúp DN có nhiều kênh thông tin để định hướng phát triển phù hợp trong thời khủng hoảng

“Kinh tế là trung tâm”, chính vì vậy, thông tin kinh tế luôn là chủ đề rất được quan tâm chỉ đạo, định hướng trong thời gian vừa qua cả về liều lượng và tần suất Báo chí Mặt trận không ngừng đổi mới cả về cách thức, phương pháp và nội dung thông tin sao cho thiết thực, khách quan và chính xác Khi phát hiện thấy có vấn đề hoặc chưa chính xác, báo chí Mặt trận luôn “dũng cảm” cải chính và phản hồi kịp thời để độc giả, doanh nghiệp được biết, qua đó tạo thêm niềm tin vào kênh thông tin của báo chí Đây là hai nhiệm vụ cơ bản đối với mỗi cơ quan báo chí Mặt trận, nó có quan hệ mật thiết với nhau, nhất là trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay Nếu những thông tin trên báo chí nhanh và chuẩn xác, kèm theo những bình luận, dự báo sắc sảo sẽ là sự bảo đảm uy tín và thương hiệu của tờ báo Một khi tờ báo đã có uy tín và thương hiệu thì lượng bạn đọc sẽ tăng, theo đó là quảng cáo và vấn đề kinh tế của tờ báo cũng được giải quyết

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã và đang tác động rất sâu vào mọi quan hệ của đời sống xã hội Do đó, báo chí Mặt trận thường xuyên điều chỉnh, sửa đổi những quy định hiện không còn phù hợp, thậm chí kìm hãm để thúc đẩy sự phát triển tích cực của báo chí

Báo in Mặt trận đã tích cực tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội Sự tuyên truyền này đã góp phần thông tin kịp thời đến lực lượng quan trọng này của xã hội, đồng thời đưa ra những ý kiến phản hồi tức cực từ lực lượng trí thức để từ đó phản hồi lại cho cơ quan Đảng và Nhà nước trong việc điều chỉnh chính sách, chủ trương cụ thể hơn, hoàn thiện hơn

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Có thể nói, trong mọi thời đại và ở bất kỳ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn

là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển xã hội Tấm bia tại Văn Miếu – Quốc

Tử Giám ghi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh

và thịnh; nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy” để thấy rằng, ở thời nào cũng đều đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng chỉ rõ: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển” Từ quan điểm đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, quyết sách nhằm phát triển đội ngũ trí thức

Là cơ quan tuyên truyền của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hệ thống báo in Mặt trận đã bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong công tác tuyên truyền, vận động giới trí thức trong phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế - xã hội nói riêng Để từ đó góp phần vào thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng, Nhà nước đã đề ra trong xây dựng phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 37

Chương 2: TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN VỀ VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN

2010-2014 2.1 Khảo sát báo Đại đoàn kết

2.1.1 Lịch sử phát triển của Báo Đại đoàn kết

Cách đây hơn 70 năm, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị xứ ủy Bắc Kỳ, tờ Báo Cứu quốc đã được chuẩn bị tích cực cho việc ra đời số đầu tiên, đến ngày 25/1/1942, trong một căn nhà lá nhỏ ở làng Xuân Kỳ (nay thuộc huyện Sóc Sơn –

Hà Nội), báo Cứu Quốc – cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh đã ra số đầu tiên Tòa soạn lúc ấy chỉ có 3 người: Tổng bí thư Trường Trinh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, Ban Biên tập có các đồng chí Lê Quang Đạo và Lê Toàn Thư Trong làng báo chí Cách mạng Việt Nam, có lẽ hiếm có cơ quan báo chí nào có vinh hạnh đặc biệt như những người làm báo Đại đoàn kết vì được thừa hưởng di sản từ một tờ báo lớn, ra đời cách đây 70 năm, có sứ mệnh và vị trí rất đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Trong điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn của những ngày đầu cách mạng, đồng chí Trường Trinh cùng với các nhà báo đã tích cực hoạt động và trực tiếp viết báo Khoảng thời gian đó báo Cứu Quốc chỉ ra được 30 số nhưng đã có đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp cách mạng Sau khi nước nhà giành được độc lập, báo chuyển về Hà Nội và nhanh chóng trở thành tờ nhật báo Cứu Quốc là

tờ báo đầu tiên có vinh dự được đăng những bài báo của Bác Hồ sau Cách mạng

Kể từ đó đến 1955, Bác Hồ đã viết và đăng trên báo Cứu Quốc rất nhiều bài khác nhau với những bút danh khác nhau (khoảng 400 bài) Ngoài ra còn phải kể tới những văn bản quan trọng của đất nước đều lần đầu công bố trên Cứu Quốc như Tuyên ngôn Độc lập; Lời thề của Chính phủ và Lời thề của Quốc dân được đăng ngay sau ngày Lễ Độc lập; Hiếp pháp 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; Thông báo tìm người tài đức của Bác Hồ v.v

Sau đó suốt hai cuộc cách mạng chống Pháp và chống Mỹ, Cứu Quốc luôn là

tờ báo đi đầu trên mọi mặt trận Kể từ khi ra đời cho tới sau này, trực tiếp phụ trách

Trang 38

và tham gia viết bài cho báo Cứu Quốc là những nhà cách mạng, nhà báo tên tuổi lẫy lừng của đất nước như Xuân Thủy, Lê Quang Đạo, Hồng Hà, Thép Mới, Nguyễn Thành Lê cùng với rất nhiều văn nghệ sĩ trí thức hàng đầu như Tô Hoài, Nam Cao, Xuân Oanh, Trần Đình Thọ v.v

Chính tại Hội trường Báo Cứu Quốc, tại nơi tờ báo đứng chân ở An Toàn Khu – Định Hóa (Thái Nguyên) năm 1950, Hội những người viết báo Việt Nam nay

là Hội nhà báo Việt Nam đã ra đời với Chủ tịch sáng lập Hội là nhà báo Xuân Thủy

Cố nhà báo Hồng Hà – nguyên Bí thư Trung ương Đảng – nguyên phóng viên Báo Cứu Quốc đã từng viết những lời đẹp đẽ nhất về tờ báo: “Cứu Quốc là tờ báo hằng ngày đầu tiên của Đảng ta và Mặt trận Việt Minh, có truyền thống vô cũng oanh liệt, hết sức vẻ vang Cứu Quốc là ngọn cờ tư tưởng và báo chí thời kỳ Việt Minh chói lọi, xứng đáng có một vị trí nổi bật trong lịch sử báo chí cách mạng”

Năm 1954, hòa bình lập lại, báo Cứu Quốc chuyển địa điểm về Hà Nội, tại

số nhà 66 Bà Triệu hiện nay Từ đó, một lực lượng cán bộ tinh nhuệ của tờ báo đã được hi viện cho báo Nhân dân khi tờ báo Đảng thay nhiệm vụ của báo Mặt trận xuất bản hàng ngày, Cứu Quốc trở thành tuần báo Đầu năm 1964, từ Hà Nội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định cử một đoàn cán bộ báo Cứu Quốc vào miền Nam làm nòng cốt để thành lập báo Giải Phóng – cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Các nhà báo Tống Đức Thắng (tức Trần Tâm Trí) và Thái Duy (tức Trần Đinh Vân) phóng viên báo Cứu Quốc bằng con đường vượt Trường Sơn vào Nam Riêng Tổng Biên tập báo Cứu Quốc Kỳ Phương được đưa nhanh vào chiến trường theo một tàu không số chở vũ khí vào Bến Tre Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát trực tiếp chỉ đạo việc ra báo Ngoài ba đồng chí từ miền Bắc vào Nam, Mặt trận đã điều một số cán bộ từ Đảng bộ Việt kiều Campuchia, từ đô thị Sài Gòn về báo Một số thanh niên yêu nước cũng được tuyển về phục vụ cho việc ra báo Ngày 22/12/1964, báo Giải Phóng với 4 trang khổ lớn, in hai màu đã xuất hiện trong vùng giải phóng miền Nam, vùng ven và đưa vào nội đô, sang Phnompenh và ra miền Bắc Trong thư Ban Biên tập báo Giải Phóng nhân dịp ra số đầu tiên, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã viết

Trang 39

“ làm sao khi đọc báo Giải Phóng, nhân dân miền Nam sẽ được động viên tinh thần yêu nước, tin tưởng ở sức mạnh của cách mạng Báo Giải Phóng sẽ vượt vĩ tuyến 17 ra với đồng bào miền Bắc, cổ vũ bà con ngoài đó đóng góp sức người, sức của vào cuộc chiến đấu trên nửa đất nước Báo Giải Phóng cũng đến với bạn bè quốc tế giúp họ hiểu rõ và hiểu đúng cuộc kháng chiến của chúng ta” Những ngày tháng làm báo Giải Phóng cũng là những ngay tháng hết sức nguy hiểm, gian khổ,

hi sinh của những người làm báo Tờ báo cũng là nơi tập hợp những cây bút tên tuổi, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng là tiếng nói của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đóng góp rất lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước

Sau khi đất nước được thống nhất, đầu năm 1977, báo Giải phóng hoàn thành

sứ mệnh lịch sử, Cứu Quốc hợp nhất với báo Giải Phóng lấy tên là Đại đoàn kết Và tuần báo Đại đoàn kết, cơ quan Trung ương của Mặt trận tổ quốc Việt Nam hợp nhất từ Báo Cứu Quốc và Báo Giải Phóng xuất bản số đầu tiên ngày 6/2/1977

Ngày đăng: 26/06/2023, 11:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đinh Văn Mậu - Phạm Hồng Thái - Nguyễn Anh Tuấn - Phạm Bính - Đặng Khắc Ánh (1997), Chính trị học đại cương, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị học đại cương
Tác giả: Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Bính, Đặng Khắc Ánh
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
15. Hà Minh Đức (2010), C.M ác – Ph.Ăngghen –V.I. L ênin với báo chí, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.M ác – Ph.Ăngghen –V.I. L ênin với báo chí
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
16. Hà Minh Đức (2000), Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
17. Hoàng Hải (chủ biên) (2011), Tạp chí Mặt trận 10 năm phát triển, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Mặt trận 10 năm phát triển
Tác giả: Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2011
18. Hoàng Tùng (2001), Những bài báo chính luận, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài báo chính luận
Tác giả: Hoàng Tùng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
19. Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1993), NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 1993
20. Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành (2004), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
21. Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (2009), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
22. Ngọc Đản (1995), Báo chí với sự nghiệp đổi mới, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Ngọc Đản
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1995
23. Nguyễn Đức Tài (2005), Tuyển tập Tác giả và Tác phẩm Văn học Cổ-Trung đại Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tác giả và Tác phẩm Văn học Cổ-Trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Tài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
24. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
25. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
26. Nguyễn Văn Dững – Hoàng Anh (2003); Nhà báo, bí quyết, kỹ năng, nghề nghiệp; NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo, bí quyết, kỹ năng, nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
27. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
28. Trần Quang (2007), Các thể loại báo chí chính luận, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí chính luận
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2007
29. Trần Thế Phiệt, Lịch sử nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam, Tài liệu tham khảo dành cho đào tạo sau đại học, Học viện báo chí và tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thế Phiệt
Nhà XB: Học viện báo chí và tuyên truyền
30. Vũ Duy Thông (chủ biên) (2004); Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí, xuất bản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí
Tác giả: Vũ Duy Thông
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
31. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. II. Sách tiếng nước ngoài dịch ra tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
32. Claudia Mast (2007), Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2007
33. E.P.Prôkhôrốp (2004), Cơ sở lý luận báo chí, tập 1,2, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí, tập 1,2
Tác giả: E.P.Prôkhôrốp
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w