CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 – 1999 Thái Lan và Malaysia Mục lục Giới thiệu chung Nguyên nhân Diễn biến Hậu quả Ý nghĩa Các biện pháp đã được thực hiện Mục lục Giới thiệu chung Nguyên nhân D[.]
Trang 1CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 – 1999
Thái Lan và Malaysia
Trang 41 Giới thiệu chung
Tháng 7 năm 1997
Thái Lan
Các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn
và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này
Trang 62 Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ
quan
Nguyên nhân khách quan
Trang 72 Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ
quan
Nguyên nhân khách quan
Trang 82.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 92.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 10Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.
Thị trường dòng vốn
Tỷ giá thả nổi
Tỷ giá
cố định
Ổ n đ
ịn h tỷ g
iá
Trang 112.1.1 Nền tảng vĩ mô yếu kém
Đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá
làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc tăng
Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn
Các ngân hàng của nước này đi vay nợ nước ngoài
để bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai
Trang 122.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 132.1.2 Nền kinh tế phát triển mất cân đối
• Tập trung quá cao vào
1 vài mặt hàng.
• Hàng điện tử chiếm 21,2%, tổng kim
ngạch xuất khẩu của Thái Lan và 49,2% của Malaysia
• Công nghệ chậm đổi mới.
• Nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai
tăng cao
Vay nợ nước ngoài
lớn
• Đề bù đắp ngoại tệ thiếu hụt, các nước đã vay nước ngoài ngắn hạn với nhiều điều kiện không thuận lợi
và lãi suất cao
• Nguồn dự trữ ngoại tệ không đủ lực để can thiệp vào tình hình tài chính tiền tệ quốc gia
1996 xuống còn 26,6%
so với GDP.
Trang 142.1.2 Nền kinh tế phát triển mất cân đốiMất cân đối trong
cơ cấu đầu tư
cổ phần, cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán.
Sự yếu kém trong quản lý công
• Hệ thống ngân hàng thương mại và các
tổ chức tài chính khác phát triển quá nhanh và hoạt động kém hiệu quả.
• Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại thấp
• Tổng số nợ khó đòi
so với GDP ở Thái Lan là 20%, ở
Malaysia là 23%, ở Indonesia là 11% và Philippines là 8%.
Trang 152.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 162.1.3 Thâm hụt tài khoản
vãng lai
• Do kim ngạch xuất khẩu của các nước
từ năm 1995 đến nay giảm mạnh
Nguyên
nhân chủ
yếu 1
• Do THTKVL và thâm hụt cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng đã buộc các nước trong khu vực phải vay nóng
1995 trở lại đây, THTKVL
ở Thái Lan là 8,1%GDP năm 1995 và 8,2% GDP năm 1996 Tương tự, ở Malaysia là 9,7% GDP
năm 1996
Trang 172.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 18sách tự do hóa tài
khoản vốn với lãi
suất cao
Những xúc tiến đầu tư và những bảo hộ ngầm của
chính phủ cho các thể chế tài chính làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng
Các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài
Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
Trang 192.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 202.1.5 Tỷ giá hối đoái dồn
nén
Các chính sách “neo giá”
giữa các đồng tiền khu
vực với đồng USDDẫn tới việc phá giá hàng
loạt các đồng tiền khu vực
Thả nổi đồng Baht Thái Lan
dấn đến hiệu ứng lan tỏa
sang các đồng Peso, Ringgit
và Rupiah, nhưng các đồng
nội tệ này đã bị giảm giá
trước xu hướng ngày càng
tăng của đồng USD.
Lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong điều kiện đồng nội tệ trên thực tế bị giảm giá
so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng
hoảng
Trang 212.1 Nguyên nhân chủ quan
Nền tảng vĩ mô yếu kém
Nền kinh tế phát triển mất cân đốiThâm hụt tài khoản vãn lai
Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Tỷ giá hổi đoái dồn nén
Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Trang 222.1.6 Hệ thống tài chính
yếu kém và vấn đề niềm tin
bị tổn thươngHiện tượng thất
sản
Hàng loạt ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ
nợ
Trang 232.1.6 Hệ thống tài chính
yếu kém và vấn đề niềm tin
bị tổn thương Ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng trước nguy cơ
phá sản Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước mất dần niềm tin và rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này
Sau lời tuyên bố từ chức của Bộ trưởng Tài chính A Vinavan vào cuối tháng 6/1997, thị trường chứng khoán Bangkok giảm xuống ở mức thấp nhất với chỉ số 482,97 điểm, giảm 14,75 điểm so với giữa tháng 6/1997 Các nhà đầu cơ bán hạ giá các cổ phiếu và chuyển tiền ra nước ngoài
để mua USD.
Trang 242 Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ
quan
Nguyên nhân khách quan
Trang 25• Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm.
• Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy
cơ bảo hòa của thị trường thế giới
1.Thị trường
thương mại
toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới
• Khi phát hiện những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường hoạt động đầu cơ tiền tệ.
• Một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước
ngoài đồng loạt rút vốn ra Chính sách tài chính thắt chặt của IMF.
các nước NICs Đông
Nam Á giảm lượng
bán hơn 40% trên thị
trường thế giới
Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm
1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát, làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn
so với các nước ở Đông Á và thu hút những luồng vốn đầu
tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ
Rất nhiều nhà đầu cơ
trong tổng số 2300 quỹ
tín dụng tư nhân ở Mỹ,
với tài sản trên 100 tỷ
USD đã nhảy vào thị
trường khu vực này trong
2 tháng 7-8/1997
Sự đầu cơ của của các quỹ do Soros kiểm soát, các quỹ tín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumar, Panther và
Jaguar
Cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm
kéo dài
Trang 27CP Thái Lan quyết định thả nổi
đồng Baht Đồng Baht mất giá gần 50%
Trang 293.1 Thái Lan
• Nền kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng trở lại dù với tốc độ chậm
Đầu năm 1999
• Các nước ASEAN thoát khỏi khủng hoảng
Tháng 11/1999
Quý 2 với 0.4% nguồn
thu từ xuất khẩu Tổng tốc độ tăng trưởng năm
1999 đạt 1% với ngân sách bội chi là -
154 Baht
Trang 30Ringgit/USD, lãi suất
trong nước xuống
Cuối năm 1997
Đồng Ringgit mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng
đổi 1 USD
Trang 313.2 Malaysia
GDP giảm 6.2%, đồng Ringgit mất thêm 4.7% giá trị
mức tăng trưởng từ 8.2% năm 1996 còn 7% năm 1997 và - 7.5% năm 1998
199
8
Nền kinh tế Malaysia dần phục hồi và tăng trưởng lên 1.4% đến tháng 2, đồng thời quý 2 và quý 3 tăng trưởng lần lượt 4.1%
và 8.8%.
199
9
Trang 334.1 Hậu quả chung
GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mất
tài khoản vãng lai
và suy yếu của hệ
thống tài chính bị
đẩy lên đỉnh
Mất ổn định chính trị và tâm
lý chống phương Tây gia tăng
Tỷ giá hối đoái tăng mạnh,
các chi phí dịch vụ nợ tăng và chất thêm gánh nặng nợ nần lên vai các công ty
Chi phí xuất khẩu tăng, đẩy giá thành lên cao, giảm sức cạnh tranh cùa sản phẩm trên thị trường
Trang 344.2 Hậu quả của Thái Lan
và ngưng cho
vay mới
Các nhà đầu tư chứng khoán bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và chuyển ra
ngoài Thu nhập bình
quân đầu người của Thái Lan đã
1996 vẫn còn nhận được gần 66 tỷ USD
Trang 354.3 Hậu quả của Malaysia
và tiền tệ ồ
ạt
Cuối năm 1997
KLSE mất 50%
điểm, tụt xuống dưới 600, đồng ringgit cũng mất 50% giá trị
Năm 1998
GDP giảm 6,2%, đồng ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới
270 điểm
Trang 37và vốn vay ngân hàng
nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi với nền
và sự lây lan của khủng hoảng tài chính
Đông Á
Trang 391.Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế
• Thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả
1.Cải cách khu vực tài chính
• Thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực tài chính
1.Cải tổ cách thức và khu vực xí nghiệp 1.Cải cách các thị trường
Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn
hóa các thể chế tài chính
Đóng cửa các thể chế tài
chính đổ vỡ
Tăng cường giám sát và áp
dụng các tiêu chuẩn quản
trị, kế toán mới đối với các
Củng cố các quy định và tiêu chuẩn về cáo bạch
Bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ
Nâng cao quyền lực và trách nhiệm của ban giám đốc
Áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán theo thông lệ
quốc tế
Tăng cường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo thuận lợi
cho các hoạt động mua lại
Sáp nhập kể cả với doanh nghiệp trong nước cũng như với
doanh nghiệp nước ngoài.
Trang 40THANKS FOR WATCHINH