1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa

68 597 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Phan Cao Cường
Người hướng dẫn TS. Trần Thế Bách
Trường học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Thực vật học
Thể loại Luận văn thạc sĩ sinh học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Trang 1

[Type text]

PHAN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC THUỘC

NGÀNH MỘC LAN (Magnoliophyta) Ở KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN

TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : Thực vật học

Mã số : 62 42 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thế Bách

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

[Type text]

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHAN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC THUỘC

NGÀNH MỘC LAN (Magnoliophyta) Ở KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN

TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

[Type text]

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

Tài nguyên cây thuốc là một trong những nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người Trong cuộc sống ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển những vấn đề về sức khỏe con người ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết nhằm hướng tới một cuộc sống mà

ở đó có sự phát triển bền vững Những sản phẩm được con người ưu tiên sử dụng là những sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên

có mọt thảm thực vật phong phú và đa dạng, chứa đựng trong đó một kho dược liệu tự nhiên vô cùng hữu ích Trong số 11.373 loài cây có hoa ở Việt Nam có tới 3.870 loài được sử dụng làm thuốc[14]

Từ xa xưa cho đến ngày nay đồng bào các dân tộc anh em trên đất nước

ta đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc chữa bệnh Cùng với kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã minh chứng cơ sở khoa học của những cây thuốc qua thành phần hóa học, tác dụng kháng khuẩn… chúng ta càng thấy rõ tác dụng của nó Các cây thuốc phân bố rộng và đa dạng, số loài cây thuốc được ghi nhận vào năm 2007 là 3948 loài trong hệ thực vật Việt Nam[12] Ngày nay, song song với quá trình phát triển kinh tế xã hội là những tác động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe con người, sự gia tăng bệnh tật ngày càng nhiều Đã có nhiều bệnh mà y học hiện đại không thể

sử dụng thuốc tây điều trị, trong khi đó một số bài thuốc y học cổ truyền lại

có khả năng chữa khỏi mà không gây tác dụng phụ, công thức pha chế và cách thức sử dụng cũng hết sức đơn giản, nguyên liệu lại có sẵn trong tự nhiên Chính vì vậy, nền y học hiện đại đã quay lại tìm các hợp chất có trong

tự nhiên từ các loài thực vật dùng làm thuốc kết hợp kinh nghiệm dân tộc để chữa bệnh

Cũng như nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia khác trong nước, Khu bảo tồn thiên thiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa có hệ thực vật nói chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng đang bị suy giảm cả về số lượng cũng như chất lượng Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên cho đến đang tiến hành thực hiện Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng theo Quyết định 1895/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, các công trình

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

nghiên cứu về cây thuốc vẫn chưa được quan tâm và chú ý nhiều Xuất phát

từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” để hoàn thiện nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

của mình

Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá sự đa dạng tài nguyên cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc thái đen ở trong khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Mục tiêu cụ thể của đề tài là tập hợp một cách hệ thống các loài cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các taxon, các bệnh chữa trị; cung cấp thông tin một số bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái đen ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Ý nghĩa khoa học của đề tài là cung cấp dữ liệu khoa học về đa dạng cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Làm cơ sở khoa học để bảo tồn, phát triển

các loài cây thuốc tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược trong các chương trình quy hoạch, quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên thực vật của khu BTTN Xuân

Liên, tỉnh Thanh Hóa

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới

Thực vật dân tộc đã được hình thành ngay từ khi xuất hiện con người để sống và đấu tranh hòa nhập với thiên nhiên Con người đã sử dụng cây cỏ phụ

vụ cho cuộc sống của mình (như cây làm thức ăn, làm nhà ở, cây làm thuốc, cây lấy tinh dầu…) Các loài cây và các bài thuốc gia truyền gắn liền với đời sống anh em các dân tộc Sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia đều có những nền y học cổ truyền riêng Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, đó là những nét khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử dụng cây carum và cây húng tây Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn

Độ Tuy nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng

cây thuốc xuất hiện từ rất lâu đời Rễ của cây Thục Quỳ (Althea officinalis), cây Lan Dạ Hương (Hyacinthus sp) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được

cất giữ quanh bộ xương người có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Irắc Cho đến nay giá trị làm thuốc của ba loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận Điều này cho thấy, trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi

có sự ghi chép của sử sách

Sử dụng cây thuốc được các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức

độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó Nền y học Trung Quốc được xem là cái nôi của y học cổ truyền, các bài thuốc được xem như hình thành sớm nhất từ đây Từ năm 3216 trước công nguyên, Thần Nông – một nhà dược học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe con người Ông đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm rồi ghi chép tất cả những hiều biết vào cuốn sách

”Thần nông bản thảo” gồm 365 vị thuốc rất có giá trị Trong đó, nhiều bài

thuốc vẫn được sử dụng cho tới ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp) để chống nôn, cây Đại Phong Tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh

phong Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang (túi thơm) để phòng chống và chữa trị bệnh lao

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

phổi và bệnh lỵ Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”

Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm,

khi đó nhân dân ấn độ đã biết dùng lá cây Ba Chẽn (Desmodium triangulare)

sao vàng sắc đặc để trị kiết lỵ và tiêu chảy [18] Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh Bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita được các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dược Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật

Những hiểu biết về thảo mộc của người Hy Lạp và Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ Người Hy Lạp cổ xưa chịu ảnh hưởng của người Babylon, Ai Cập, Ấn Độ Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp được mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”

Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu sưu tầm và nghiên cứu Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn

sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The

English Physician” Đây là cuốn dược điển có giá trị và là một trong những

cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe của hàng triệu người Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và các bác sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn

bộ dân số của các nước châu Phi Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzanmia

có khoảng 30.000 – 40.000 người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng

600 người Tương tự ở Malawi có khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc

cổ truyền nhưng số lượng bác sĩ rất ít [26] Nền y học cổ truyền ở các quốc gia Châu Phi có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng

Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn

do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất

từ cây cỏ để làm thuốc Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh Gotthall (1950) đã phân lập được

chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis Lucas và Lewis (1994) đã

chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn

nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp) Từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta), người ta

đã chiết xuất được berberin Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các

hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+ và gram-, nấm Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp

được chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfia spp.) Đặc biệt, Vinblastin và

Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn Digitalin được chiết xuất từ cây Dương

địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp) để làm thuốc trợ tim Từ những thành tựu nghiên cứu cấu

trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Dược lý hiện đại chủ yếu tập trung vào các hợp chất tự nhiên có hoạt tính chữa bệnh trong khi các nhà nghiên cứu về thảo mộc cho rằng tác dụng chữa bệnh của cây thuốc là do sự kết hợp của nhiều thành phần có trong cây thuốc Chẳng hạn như chất khoáng, vitamin, tinh dầu glycosid và nhiều chất khác đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hoặc hỗ trợ các đặc tính chữa bệnh của cây thuốc, bảo vệ cơ thể của các tác nhân gây độc Trong khi đó, các

hợ chất được phân lập và tổng hợn có khả năng chữa bệnh hiệu quả nhưng vì thiếu đi các hợp chất tự nhiên khác nên chúng có khả năng gây độc đối với cơ thể Trước đây, việc sử dụng thảo dược để chữa bệnh thường bị hiểu lầm với phép thuật và mê tín dị đoan Ngày nay, khoa học hiện đại đã chứng minh được khả năng chữa bệnh của thảo mộc Vì vậy, thế giới ngày càng quan tâm tới cây thuốc cũng như phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao

Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đất nước này Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế

từ thảo mộc Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla

Theo số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế từ năm 1976, các nước công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

số này đã tăng lên 551 triệu USD Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu

sử dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, …

từ năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD Đến năm 2003, thị trường thảo dược toàn cầu đã vượt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này vẫn tiếp tục tăng

Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người Theo tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này lưu giữ thông tin có tới 30.000 loài được coi là đang

bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong đó có nhiều loài là cây thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Chẳng hạn như ở Bangladesh, một số

cây thuốc quý như Tylophora indicia (để chữa hen), Zannia indicia (thuốc tẩy

xổ)…trước đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi Loài Ba gạc

(Rauvolfila serpentina) vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái

Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị trường Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp Tuy nhiên, do bị khai thác liên tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt Vì vậy một số bang ở Ấn Độ đã đình chỉ khai thác loài Ba gạc này Ở Trung Quốc, loài

Dioscorea sp đã từng có trữ lượng lớn và từng được khai thác tới 30.000 tấn,

nhưng hiện nay số lượng bị giảm đi rất nhiều, có loài đã phải trồng lại Một

vài loài cây thuốc dân tộc quý như Fritillaria cirrhosa làm thuốc ho, phân bổ

nhiều ở vùng Tây bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn phân bố ở 1 đến 2 điểm với

số lượng ít ỏi

Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng của các loài cây thuốc trước hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dược liệu và do môi trường sống của chúng bị hủy diệt bở các hoạt động của con người Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhưng lại bị tàn phá nhiều nhất Theo số liệu của tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tình khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục

vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nhiều phương thuốc bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian Những kinh nghiệm này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng

và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú Ước tính, nước ta

có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm

và hơn 2.000 loài tảo [5], [10], [11] Có khoảng trên 3.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc

Trong cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư” của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Hai cuốn sách này được xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam Đến thế

kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc tính chữa bệnh [40]

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây Các phương thức chữa bệnh mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte xuất bản cuối thể kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại hơn 7.000 loài thực vật Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung

và đặt tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” gồm 4 tập, 1.050 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật Tuy nhiên cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” vào năm 1980 đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [16] Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc

và vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2000 [14] Công trình này thống kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài thực vật đã được mô tả

về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng

Cuốn sách từ điển cây thuốc Việt Nam, do Võ Văn Chi (1991) biên soạn

đã mô tả được 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1.050 chi, được xếp và 230 họ thực vật theo hệ thống của Takhtajan [6] Tác giả đã trình bày về cách nhận biết, các bộ phận được sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng của các loài thực vật Đến năm 2000, Võ Văn Chi và Trần Hợp tiếp tục giới thiệu cuốn sách

“Cây cỏ có ích ở Việt Nam” mô tả khoảng 6.000 loài thực vật bậc cao có mạch với các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng [6]

Trần Đình Lý (1995) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây có ích” Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song mây Trong

số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm thuốc

Nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc được các nhà khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam biên soạn Trong đó, đáng chú ý là những cuốn sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001 – 2002) các tác giả đã trình bày giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu của Việt Nam [15] Năm 2005, Lã Đình Mỡi và cộng sự giới thiệu tiếp công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” đây được coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính sinh học được sử dụng làm thuốc ở nước ta [16]

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” [1] Cuốn sách

đã trình bày đầy đủ các thông tin về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng,

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

phân bố, dạng sống – sinh thái và công dụng Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu danh pháp các loài thực vật

Trong những năm qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ bản, đặc biệt là chương trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dược liệu –

Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc Đến nay ở nước ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc được ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm

1.3 Tình hình nghiên cứu thực vật ở thanh hóa

Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích rừng lớn, phong phú và đa dạng Các khu rừng chạy dọc theo dãy Pù Luông và tiếp giáp với dãy trường sơn, được đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học Nhưng việc nghiên cứ hệ thực vật ở đây chủ yếu theo hướng điều tra ở thành phần loài từng vùng như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Anh Đức (năm 2002), đánh giá thành phần loài và sự phân bố của thực vật Bến En [27], Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (năm 2007), đánh giá thành phần loài của hệ thực vật trên núi đá vôi ở Bến En [28], Averyanov L và cộng sự đã điều tra thành phần loài cũng như đánh giá đa dạng ở khu bảo tồn thiên thiên

Pù Luông [29]

1.4 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc

ở Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên – Thường Xuân – Thanh Hóa

Tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa đời sống của nhiều người dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn Cuộc sống nơi đây vẫn mang tính tự cung tự cấp, trong những năm trở lại đây do chính sách của đảng và nhà nước

có sự điều chỉnh và quan tâm nhiều đến bà con vùng cao nên đời sống của họ

đã phần nào bớt đi được những khó khăn Cuộc sống nơi những vùng núi cao cũng đã bắt buộc họ phải sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trong cuộc sống mỗi khi ốm đau người dân nơi đây vẫn vào rừng tìm kiếm những loài cây trong rừng về làm thuốc Trải qua bao thế hệ, những kinh nghiệm đó đã ngày càng được người dân nơi đây tích lũy Sự hiểu biết về các loài cây thuốc của

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

người dân nơi đây được thể hiện thông qua việc sử dụng chúng trong việc trị bệnh cho người ốm, việc thu hái, địa điểm thu hái cũng như cách thức chế biến chúng

Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định

số 1476/QĐ-UB ngày 15 tháng 6 năm 2000 tuy nhiên việc nghiên cứu tài nguyên cây thuốc vẫn chưa được chú trọng Mới đây, một số chương trình dự

án có liên quan đang được tỉnh cũng như các cơ quan chức năng khác đầu tư

và thực hiện: Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học và an toàn sinh học tỉnh Thanh Hóa” theo Quyết định số 967/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa; dự án “Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” theo Quyết định số 1895/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa và Chương trình quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh Thanh Hóa – Quan trắc đa dạng sinh học thành phần loài tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn Quốc gia

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề tài nguyên cây thuốc mà được đồng bào dân tộc nơi đây sử dụng Dưới

sự hướng dẫn của các thầy tại Viện Sinh thái Tài nguyên và Sinh vật tôi đã

mạnh dạn nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cao học của mình

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các loài cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) và một số bài thuốc của một số ông lang, bà mế có kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Thái đen ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Thời gian thực hiện: Từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 11 năm 2012

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đa dạng thực vật: Thu thập và xử lý mẫu vật, xác định tên, xây dựng danh lục, phân tích, đánh giá đa dạng các bậc taxon (lớp, họ, chi) của các loài cây thuốc và các bài thuốc được đồng bào dân tộc Thái đen sử dụng ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Vấn đề sử dụng cây thuốc: Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài cây thuốc Một số bài thuốc chữa bệnh của các ông lang, bà mế

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Điều tra thực địa theo tuyến:

Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra Tuyến được chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu bảo tồn Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc trưng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)

Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái Đen sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu bản Các tuyến điều tra thực địa:

+ Bản Vịn, xã Yên Nhân

+ Bản Lửa, xã Yên Nhân

+ Hón Mong, xã Yên Nhân

+ Bản Khẹo, xã Bát Mọt

+ Hang Cáu, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Ảnh 2.1 Điều tra thực địa và thu hái

mẫu tại Bản Moong

Ảnh 2.3 Điều tra thực địa và thu hái

mẫu tại Bản Lửa cùng người bản địa

Ảnh 2.2 Điều tra thực địa và thu hái mẫu cây quế thanh tại bản Khẹo

Ảnh 2.4 Xử lý mẫu vật sau khi thu mẫu

tại hiện trường

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

2.3.2 Điều tra tình hình khai thác sử dụng dược liệu

Điều tra tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc chính là phương pháp điều tra nhanh về thị trường dược liệu Mục đích chủ yếu là nắm những loài cây thuốc đang có nhu cầu sử dụng và khối lượng sử dụng của mỗi loại hàng năm là bao nhiêu Căn cứ vào kết quả điều tra để giới thiệu cho khai thác và

sử dụng Phương pháp chung để tiến hành điều tra là phương pháp phỏng vấn trực tiếp

Đối tượng phỏng vấn bao gồm: những người thường xuyên đi khai thác cây thuốc, người sử dụng cây thuốc làm dược liệu chữa bệnh Để thu thập các cây thuốc và bài thuốc dân tộc một cách tốt nhất, nên giải thích rõ mục đích phỏng vấn cà tạo niềm tin để họ cung cấp đầy đủ và chính xác mọi loại thông tin

- Các ông Lang bà mế đã phỏng vấn

+ Ông Hà Văn Luông, bản Lửa, Xã Yên Nhân

+ Ông Lục Văn Nhưng, bản Khẹo, xã Bát Mọt

+ Ông Lục Văn Táu, Hón Mong, xã Yên Nhân

+ Bà Lang Thị Quynh, xã Yên Nhân

+ Bà Lương Thị Lan, Bản Vịn

+ Lang Thị Phúc, bản Vịn

2.3.3 Thu thập số liệu, tài liệu:

Tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn thông tin đáng tin cây như các báo cáo khoa học của khu bảo tồn, kỷ yếu, tạp chí khoa học, internet, …

Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân (PRA): Phỏng vấn các ông Lang, bà Mế, các cán bộ làm công tác quản lý tại khu bảo tồn và cộng đồng dân cư địa phương thông qua bảng hỏi đã được xây dựng sẵn để sưu tầm và phát hiện các bài thuốc, cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian Mỗi cây thuốc, bài thuốc nều có mẫu thu và ghi chép các thông tin cần thiết nhất công dụng, bộ phận sử dụng, cách sử dụng của cây

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

2.3.4 Xử lý số liệu

Phương pháp chuyên gia: Dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia đặc

biệt là các vật đề như xác định tên khoa học các mẫu đã thu hái

Phương pháp xử lý mẫu vật, chỉnh lý tên khoa học (theo Nguyễn Nghĩa thìn, 1997) Các tiêu bản tươi được thu thập ngoài thực địa tiếp tục xử lý trong phòng thí nghiệm tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Các mẫu sau khi sấy khô được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 0,3-0,5% HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hại Các mẫu tiêu bản được sây khô, ép khẳng, trình bày và khâu trên giấy bìa cứng kích thứoc 28

cứ vào Sách đỏ Việt Nam, 2007; Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2009; Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động thực vật quý hiếm để lập danh sách các loài quí hiếm ở khu BTTN Xuân Liên Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có các thông tin khác như dạng sống, công dụng, môi trường sống, bộ phận sử dụng làm thuốc theo mẫu

Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc, nhóm bệnh,

Bản đồ phân bố các loài thực vật quý hiếm: Căn cứ vào các điểm đã phát hiện được cây thuốc ngoài thực địa (đã được xác định vị trí bằng GPS và đánh dấu vào bản đồ điều tra), đánh dấu điểm phân bố của loài trên bản đồ (theo Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006)

Xác định các loài quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt: Trên cơ sở danh lục thực vật, lập danh sách các loài quí hiếm ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Hóa Các loài được xác định quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt dựa vào tiêu chí của các công trình sau:

- Sách đỏ Việt Nam, 2007;

- Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2004;

- Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động thực vật quý hiếm Các nhóm bệnh được phân chia theo tài liệu của Lê Trần Đức (1995)

“Cây thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu” Chi tiết như sau:

- Nhóm 1: Bệnh ngoại cảm (gồm Cảm mạo phát sốt ớn lạnh, nghẹt mũi,

Cảm cúm hơi sốt sợ lạnh, đau mỏi, Cảm gió lạnh, rét run, Cảm nóng rét nắng mưa thời khí hỗn tạp, Cảm về mùa hè nôn đầy, Cảm cúm mùa hè sốt dai đau mình, Cảm nắng hay sốt nóng đơn thuần, Nóng rét qua lại, Sốt rét cơn, Sốt dị ứng, phát ngứa sưng phù, Bệnh ôn nhiệt sốt hè thu, Trúng gió méo mồm lệch mắt, Trúng phong thấp hôn mê co cứng, Trùng phong hàn hôn mê quyết lạnh)

- Nhóm 2: Bệnh về hô hấp (Ngạt mũi, sổ mũi, hắt hơi, Viêm mũi dị ứng, Ho,

viêm họng, Ho đờm, Ho khan, viêm phế quản, Viêm phổi, sưng phổi, Hen phế quản, Hen suyễn, Suyễn thở, Ho lao)

- Nhóm 3: Bệnh về huyết mạch (gồm Các loại chảy máu, Huyết áp cao,

Huyếp áp thấp, Hạ đường huyết, Mạch máu xơ cứng (tắc mạch, giãn mạch), Đau tim)

- Nhóm 4: Bệnh về tâm thần (gồm Khó ngủ hồi hộp, Ngủ lờ mờ không sâu,

dễ tỉnh, Điên cuồng, Tinh thần phân liệt (sấu uất), Động kinh, Kinh giản)

- Nhóm 5: Bệnh về tiêu hoá (Nghẹn nuốt khó, Nấc cụt, Ợ, Nôn oẹ, Nôn mửa,

Đau bụng không tiêu, Đau bụng lạnh dạ, Nóng ruột chán cơn, Táo bón, Ỉa chảy phân loãng, sống phân, Ỉa xối ra nước không dứt, Lỵ mới phát, Lỵ ra máu, có sốt, Lỵ mạn tính, Thổ tả, Đau bụng giun quấy, Trục giun, Ngộ độc, Đau dạ dày, Viêm đại tràng mạn tính, Lòi dom và trĩ mới phát)

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

- Nhóm 6: Bệnh về tiết niệu và gan thận (gồm Tiểu tiện không thông, Đái

buốt, đái đục, Đái dưỡng trấp, Đái ra cát sỏi, phủ thũng, viêm cầu thận cấp, Thấp thũng, Viêm gán, truyền nhiễm, sưng gan (Áp-xe), Viêm gan mạn tính,

Xơ gan mạn tính, Xơ gan cổ trướng, Viêm túi mật, sỏi mật, Đái tháo nhạt không rõ nguyên nhân, Đái tháo đường, Viêm tiền liệt tuyến, Vô niệu do nhiễm độc hay uất hoả)

- Nhóm 7: Bệnh về sinh dục (gồm Thận hư, tinh yếu, Di mộng tiết hoạt tinh,

Liệt dương)

- Nhóm 8: Bệnh suy nhược không đau (gồm Cơ thể hư nhược, Tinh thần

suy nhược, Tự ra mồ hôi khi ra gió, Ra mồ hôi ở tay chân, Bốc nóng giữa đỉnh đầu)

- Nhóm 9: Các bệnh đau nhức (Đau đầu chóng mặt, Đau đầu ê ẩm, nặng

đầu, Đau đầu như búa bổ, Đau nửa đầu liền với mắt, Mắt đau sưng đỏ, Đau mắt trắng, mặt mờ, Đau răng, viêm lợi, Đau ngang lưng (thần kinh hông), Phong thấp, Tê thấp, Thấp thở, Phong nhiệt nhức nhói, Đầu gối sưng đau, Tê phù, Đau lưng trên, bà vai, cánh tay, Nổi hạch, viêm hạch, lao hạch, Viêm tinh hoàn (sa đì), Bại liệt nửa người, Xuất huyết dạng thấp (Thấp cơ)

- Nhóm 10: Bệnh ngoài da (gồm Đơn độc sưng tấy, Mụn nhọt, Lở ngứa các

loài, Thuốc dùng ngoài đối với từng loại lở ngứa, Lở nấm, Tổ đỉa, Chín mé, Hắc lào, Lở chàm, Ghẻ, Lang ben, lang trắng, Mụn cóc, Bước cổ, Phong hủi,

lở cùi, Tràng nhạc hay lao hạch)

- Nhóm 11: Bệnh ngoại thương (gồm Bị thương, bị ngã, Bị thương chảy

máu, Bị bỏng, Rắn cắn)

- Nhóm 12: Bệnh phụ nữ (gồm Kinh không đều, thấy sớm kỳ, Kinh thấy

chậm kỳ, Kinh loạn kỳ, Kinh nguyệt gián đoạn thất thường, Kinh bế, Rong kinh, Băng huyết nhẹ do cơ năng; Khí hư, bạch đới, Viêm phần phụ, Viêm âm

hộ, âm đạo sưng đau, Sa sinh dục (sa dạ con), U xơ tử cung, Mót đái do viêm các cơ quan sinh dục, Vô kinh do giảm chức năng buồng trứng, Tắc tia sữa, Viêm tuyến vú, U xơ tuyến vú, Áp xe vú, Nhọt vú, Vú bị lở, đứt cổ gà, Nôn

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

nghén, Động thai, Phòng sẩy thai, Sau khi đẻ say máu; Sau khi đẻ cảm sốt, Sau khi đẻ phù nề)

- Nhóm 13: Bệnh trẻ em (gồm Ợ, nấc cụt, trớ sữa; Ói sữa; Trẻ ỉa chảy phọt

toé ra nước; Ỉa chảy phân loãng, Ỉa phân sống; Cam tích; Cam tướt; cam lỵ; còi xương; Suy dinh dưỡng; Cam thũng; Quai bị; Ho gà; Sởi; Thủy đậu, Sốt bại liệt, Viêm màng não B và di chứng, Sổ xuất huyết do muỗi, Sưng amidan, Viêm tai, Thấp tim, Đái dầm, Thoát vị thừng tinh, Lở chàm, Chốc đầu – mô đầu, Rôm rảy, tưa lưỡi, Lở mồm)

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

KHU BTTN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA 3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Khu BTTN Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính huyện Thường Xuân cách Thành phố Thanh Hoá 60km về hướng Tây Nam, có vị trí tiếp giáp Khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và Khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào đã tạo ra một hệ tam giác khu hệ động vật phong phú và đa dạng về hệ sinh thái

Toạ độ địa lý: 19051’52’’-19059’00’’ vĩ độ Bắc; 105019’20’’ kinh độ Đông

+ Phía Bắc giáp được giới hạn bởi sông Khao;

+ Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An giới hạn bởi ngọn Bù ta leo;

+ Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và Phần còn lại của xã Bát Mọt;

+ Phía Đông được giới hạn bởi ngọn Bù Khang và đập Thuỷ điện Cửa đặt

3.1.2 Diện tích quy hoạch

Diện tích tự nhiên của khu bảo tồn là: 27.123,20 ha bao gồm: Diện tích rừng đặc dụng là 26.303,6 ha (diện tích đã quy hoạch giao quản lý, sử dụng

ổn định: 23.475,0 ha; diện tích ngập nước lòng hồ đang tạm giao: 2.828,6 ha)

và diện tích rừng sản xuất giao quản lý ổn định lâu dài: 819,6 ha

- Phân chia theo phân khu chức năng:

+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 10.846,1 ha

+ Phân khu phục hồi sinh thái: 12.362,9 ha

+ Phân khu hành chính dịch vụ: 3.094,6 ha

Vùng đệm được quy hoạch với diện tích: 36.420,59 ha, thuộc 4 xã có diện tích rừng và đất rừng quy hoạch cho Khu bảo tồn: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân và ba xã Lương Sơn, Xuân Cao, Luận Khê có đường

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

giáp ranh với ranh giới của vùng lõi khu bảo tồn Trong đó có ba dân tộc sinh sống: Dân tộc Thái chiếm 69,0%, dân tộc Kinh chiếm 18,5%, dân tộc Mường chiếm 12,5%

3.1.3 Đặc điểm tự nhiên, địa hình, thủy văn

Khu BTTN Xuân Liên nằm trên dãy núi Sầm Nưa ở Lào đến các huyện Thường Xuân, Như Xuân của tỉnh Thanh Hóa Các núi này có khá nhiều đỉnh cao như núi Tà Leo 10400 m, Bù Chó 1563 m, đỉnh cao nhất 1605 m nằm ở phía Nam bản Vịn, xã Bát Mọt Nền địa chất của vùng rất đa dạng bao gồm

đá trầm tích, đá phiến, spilite, aldezit, và nhiều loại đá biến chất khác như đá lửa, đá kính

Địa hình của khu vực này đặc trưng bởi dãy núi cao từ 800m đến 1600m được chia cắt bởi các thung lũng sâu và hẹp, các sườn dốc từ Tây sang Đông Địa hình phía đông đặc trưng là vùng chân núi có độ dốc vừa phải, nhiều trong số hàng loạt các sông suối trong vùng này chảy tương đối phẳng lặng mang phù sa cho các nhánh của nó Sông Chu là con sông hình thành từ Lào, chảy qua Nghệ An trước khi chảy qua khu bảo tồn thiên nhiên

Bảng 3.1 Số liệu khí tượng ghi ở trạm thủy văn Bái, Như Xuân,

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

12 Tọa độ: Kinh độ Đông 105023 105034 105007

3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Sự đa dạng địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thảm thực vật với các kiểu rừng chính:

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp: Đặc trưng như Pơ mu

(Fokienia hodginssi), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Vù hương (Cinnamomum balnansae), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia)

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Đặc trưng bởi các loài thuộc họ

Đậu (Leguminoisae), Thầu dầu (Euphorbiaceae)…(Nguồn tài liệu: Kết quả

điều tra của BirdLife 1999)

Nhân tố địa hình cũng đã tạo cho Khu BTTN Xuân Liên có những hệ sinh thái rừng đặc trưng gồm:

+ Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi: Với nhiều hang động là nơi cư trú và sinh cảnh sống của các loài thuộc bộ Linh trưởng, sự ưu thế của các loài Chò chỉ

(Shorea chinensis), Đinh (Markhamia stipudata), Thông nàng (Podocarpus

impricatus), Thông tre (Podocarpus pilgeri)

+ Hệ sinh thái rừng nguyên sinh núi đất cao trên 800 m: Các họ chiếm ưu thế Long não (Lauraceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Sến (Sapotaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae)…

+ Hệ sinh thái rừng thứ sinh núi đất cao trên 800 m mà đặc trưng bởi các loài thuộc các họ: Họ Đậu (Fabaceae), họ Thiên lý (Asclepiadaceae), họ Cà Phê (Rubiaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dẻ (Fabaceae), họ Dầu (Diperocarpaceae)…

+ Hệ sinh thái rừng thứ sinh núi đất dưới 800 m với các họ chiếm ưu thế: Họ Đậu (Fabaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Hồ đào

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

(Juglandaceae)…và 2 loài Nứa (Neohouzeana dulloa), Giang

(Dendrocalamus patellaris) thuần loại trong hệ sinh thái này

+ Hệ sinh thái trảng cỏ cây bụi thứ sinh: Các cá thể trong các họ sau chiếm ưu thế Thầu dầu (Euphorbiaceae), Mua (Melastomaceae), Cỏ roi ngựa (Verlenaceae), họ Cúc (Asteraceae)…[33]

3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Dân số và phân bố lao động

Dân số: Tổng số hộ trong 7 xã là 7002 hộ, 39746 nhân khẩu Trong đó: Dân tộc Thái chiếu 69%, dân tộc kinh chiếm 18%, Mường 12%

Lao động và phân bố lao động trong vùng: Theo số liệu điều tra năm

2010, trong vùng có 13.153 lao động, chiếm 33,3 % dân số Lao động nam 6.232 người chiếm 47%, lao động nữ 6.921 người chiếm 53%

Sản lượng lương thực: 2.551 tấn/năm trong đó lúa 894 tấn, màu 240 tấn, sắn 1.417 tấn

Qua điều tra trong vùng, tỷ lệ hộ nghèo và hộ đói vẫn còn cao, chiếm 46,6 %

Chăn nuôi

Chăn nuôi là thế mạnh của vùng của vùng do có nhiều diện tích đồng cỏ

và diện tích rừng rộng lớn Nhưng do thiếu nguồn vốn đầu tư, công tác thú y chưa được chú trọng quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền trong hỗ trợ chính sách về về vốn, Chuyển giao khoa học là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế sự phát triển chăn nuôi trong vùng

Sản xuất lâm nghiệp

Chính sách giao đất lâm nghiệp đã được thực hiện trên địa bàn các xã từ năm 2000, với số hộ tham giao nhận đấu từ 4.520 hộ trong tổng số 7002 hộ chiếm 51%

Tuy nhiên, nhận thức của người dân về nghề rừng còn nhiều hạn chế, dẫn đến công tác đầu tư trồng rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng của người dân còn nhiều bất cập; người dân chủ yếu lợi dụng khai thác vốn rừng

tự nhiên sẵn có là chính, diện tích đất trồng rừng vẫn còn khá lớn Trong vùng

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

mới chỉ có 3 trang trại rừng và thu nhập mang lại chưa đáng kể, việc du nhập

và chuyển giao các loài cây lâm nghiệp có giá trị, năng suất cao còn hạn chế

Công tác định canh, định cư

Từ năm 2000 đến năm 2005, trong vùng có 4 xã thực hiện chính sách di dân tái định cư ra ngoài vùng ngập công trình hồ thủy lợi, thủy điện Cửa đạt, với số hộ di dân 2000 hộ Tuy nhiên, ngoài số hộ di dân tái định cư đến các huyện lân cận trong và ngoài tỉnh, vẫn còn hơn 300 hộ di dân nội vùng tại các

xã trong vùng đệm theo hình thức tự liên hệ, dan đến thiếu đất canh tác là một thực tế và đây là một trong những áp lực đối với tài nguyên rừng vùng lõi khu bảo tồn

Cơ sở hạ tầng

Giao thông: Cơ bản các tuyến đường liên xã, liên thôn trong vùng đã được quan tâm đầu tư, việc lưu thông hàng hóa, đi lại giữa các xã, các thôn trong xã đã có thể đi bằng phương tiện ô tô, xe máy

Thủy lợi: ở một sô thôn bản đã được đầu tư xây dựng kiên cố đập chứa nước, kênh mương dẫn nước phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp

Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thông tin: Trong khu vực đã có nhiều tiến bộ, tất cả các xã đều có trường học, trạm xá Tuy nhiên trang thiết bị còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập, chữa bệnh và giao lưu văn hóa thông tin trong vùng

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT RỪNG KHU BTTN

XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả quan trắc đa dạng sinh học thành phần loài trong chương trình quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh Thanh Hóa kết hợp với quá trình điều tra, chúng tôi đã thu thập được danh lục thực vật được sử dụng làm cây thuốc tại khu BTTN Xuân Liên (phụ lục I)

Trong phần Danh lục, các loài thực vật ở khu BTTN Xuân Liên được sắp xếp theo hệ thống của bộ Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” Danh lục được xây dựng theo nguyên tắc sự phát triển của các ngành thực vật

từ thấp đến cao Trong mỗi ngành các họ, chi, loài được xếp theo vần ABC Riêng ngành thực vật Hạt kín do khối lượng lớn nên chia thành 2 lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm Sau đó cũng xếp tương tự như trên

Tổng số loài chúng tôi đã thống kê được là 310 loài, thuộc 248 chi, 91 họ của ngành thực vật bậc cao có mạch đó là:

4.1 Đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (Magnoliophyta) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá

4.1.1 Tính đa dạng về các bậc taxon

Theo bảng Danh lục các loài thực vật ở khu BTTN Xuân Liên (Phụ lục 1), chúng tôi đã thống kê được các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái Đen ở khu BTTN Xuân Liên sử dụng là 310 loài, 248 chi, thuộc 91 họ của ngành thực vật có hoa Sự phân bố của các taxon được trình bày trong bảng 3

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái Đen ở khu BTTN Xuân Liên sử dụng

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Biểu đồ 4.1 Số lƣợng các taxon của các ngành cây thuốc đƣợc đồng bào

dân tộc Thái Đen ở khu BTTN Xuân Liên sử dụng

Theo biểu đồ 4.1 Cho thấy sự phân bố các taxon trong ngành thực vật là khá chênh lệch Trong đó, Cây thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) thuộc 310 loài, 248 chi, 91 họ; lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có 78 họ, 226 chi, 285 loài chiếm 92 % tổng số; lớp Hành (Liliopsida) có 13 họ, 22 chi, 25 loài chiếm 8% tổng số

Qua bảng 4.1 cho thấy lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm phần lớn trong ngành với số loài là 285 - chiếm 91,94% của toàn ngành Mộc lan, số chi

226 - chiếm 91,13%, và số họ là 78 - chiếm 85,71% tổng số loài của ngành

Mộc lan Ở lớp này có nhiều loài có giá trị cao nhƣ: Đơn châu chấu (Aralia

armata), Đáng chân chim (Schefflera heptaphylla)

Bên cạnh đó, lớp Hành (Liliopsida) chiếm tỷ trọng thấp hơn hẳn, số loài chỉ là 25 - chiếm 8,06%; số chi 22 - chiếm 8,87% và số họ là 13 - chiếm 14,29% tổng số loài của ngành Hạt kín Tuy vậy, có nhiều loài mang lại kết

quả tốt trong việc chữa trị bệnh, cụ thể nhƣ: Hồi dầu (Tacca plantaginea), Thổ phục linh (Smilax glabra Wall ex Roxb), dứa Bắc bộ (Pandanus

tonkinensis Martelli),

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

4.1.2 Đa dạng họ (91 họ)

Bảng 4.2 Danh sách các họ thuộc ngành Mộc Lan tại

Khu BTNT Xuân Liên

Biểu đồ 4.2 Các họ có nhiều loài nhất thuộc ngành Mộc Lan

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Từ kết quả trên cho thấy, họ có nhiều loài nhất là họ thầu dầu (Euphorbiaceae) với 30 loài, tiếp đến là họ hướng dương (Asteraceae) với 17 loài, họ dâu tằm (Moraceae) với 16 loài, Các họ trúc đào (Apocynaceae) và

họ long não (Lauraceae) có cùng số loài là 8 Vậy chỉ với 10 họ (chiếm 13,19% tổng số họ), đã có 172 loài (chiếm 44,51% loài trong tổng số họ) Từ các kết quả trên cho thấy sự đa dạng và phong phú của hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái đen sử dụng cả về số lượng các taxon bậc họ, chi và loài

4.1.3 Sự đa dạng ở mức độ chi:

Để thấy rõ mức độ đa dạng ở bậc chi, chúng tôi thống kê số chi có nhiều loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái Đen sử dụng nhiều nhất (4 loài trở lên), kết quả được chỉ ra ở bảng sau:

Bảng 4.3 Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Biểu đồ 4.3 Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất

Từ kết quả trên cho thấy, chi có nhiều loài nhất là chi Sung vả (Ficus)

với 9 loài, các chi còn lại chỉ có từ 3 đến 4 loài Vậy chỉ với 12 chi (chiếm 4,84% tổng số chi) đã có tới 46 loài (chiếm 14,85% tổng số loài) Từ các kết quả trên cho thấy sự đa dạng và phong phú của hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái Đen sử dụng cả về số lượng các taxon bậc họ, chi và loài

4.1.4 So sánh thực vật làm thuốc ở khu BTTN Xuân Liên với một số khu

vực khác

Kết quả so sánh dẫn liệu về số lượng loài tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên với các dẫn liệu về số lượng loài tại Bến En, Cúc phương trong các ngành của hệ thực vật được thể hiện ở bảng 4.4

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

Bảng 4.4 Số loài và tỷ lệ % loài của Xuân liên

so với Bến En và Cúc Phương

Ngành

Xuân Liên Bến En Cúc Phương

Số loài

Tỷ lệ%

Số loài

Tỷ lệ%

Số loài

Tỷ lệ%

Kết quả bảng 4.5 cho thấy ở các hệ thực vật, sự phân bố của cá loài trong

các ngành là không đồng đều, ngành Magnoliophyta luôn chiếm ưu thế, tiếp

đến là ngành Polypodiophyta, còn lại các ngành khác tỷ lệ không đáng kể Kết

quả này đều phù hợp với kết quả của một số tác giả như Lê Trần Chấn Sở dĩ

có sự khác nhau là mỗi vùng hệ thực vật đều chịu sảnh hưởng của các điều

kiện tự nhiên xã hội, sinh thái khác nhau, điều này phù hợp với nghiên cứu

của Nguyễn Nghĩa Thìn, Phan Kế Lộc

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

4.2 Một số nhóm bệnh đƣợc chữa trị bằng cây thuốc tại khu Bảo tồn

thiên nhiên Xuân Liên

Bảng 4.5: Một số nhóm bệnh chữa trị bằng cây thuốc tại khu bảo tồn

Ngày đăng: 26/05/2014, 18:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc  đƣợc đồng bào dân tộc Thái Đen ở khu BTTN Xuân Liên sử dụng - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.1. Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc đƣợc đồng bào dân tộc Thái Đen ở khu BTTN Xuân Liên sử dụng (Trang 28)
Bảng 4.2. Danh sách các họ thuộc ngành Mộc Lan tại                                     Khu BTNT Xuân Liên - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.2. Danh sách các họ thuộc ngành Mộc Lan tại Khu BTNT Xuân Liên (Trang 30)
Bảng 4.3. Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.3. Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất (Trang 31)
Bảng 4.4. Số loài và tỷ lệ % loài của Xuân liên                                                     so với Bến En và Cúc Phương - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.4. Số loài và tỷ lệ % loài của Xuân liên so với Bến En và Cúc Phương (Trang 33)
Bảng 4.5: Một số nhóm bệnh chữa trị bằng cây thuốc tại khu bảo tồn - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.5 Một số nhóm bệnh chữa trị bằng cây thuốc tại khu bảo tồn (Trang 34)
Bảng 4.6. Các loài có tiềm năng giúp An thần - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.6. Các loài có tiềm năng giúp An thần (Trang 35)
Bảng 4.7. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Bại liệt - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.7. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Bại liệt (Trang 36)
Bảng  4.6  cho  thấy;  có  3  loài  có  tiềm  năng  chữa  bệnh  thuộc  về  các  họ  Đậu  (Fabaceae), Chuối  (Musaceae),  Lạc tiên  (Passifloraceae) - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
ng 4.6 cho thấy; có 3 loài có tiềm năng chữa bệnh thuộc về các họ Đậu (Fabaceae), Chuối (Musaceae), Lạc tiên (Passifloraceae) (Trang 36)
Bảng 4.9. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Hen suyễn - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.9. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Hen suyễn (Trang 38)
Bảng 4.10. Các loài có tiềm năng chữa rắn cắn - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.10. Các loài có tiềm năng chữa rắn cắn (Trang 39)
Bảng 4.11. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Sốt rét - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.11. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Sốt rét (Trang 43)
Bảng 4.11 cho thấy có 19 loài có tiềm năng chữa bệnh sốt rét thuộc 17 họ. - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.11 cho thấy có 19 loài có tiềm năng chữa bệnh sốt rét thuộc 17 họ (Trang 44)
Bảng 4.13. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Tiểu đường - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.13. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Tiểu đường (Trang 48)
Bảng 4.14. Các loài có tiềm năng chữa bệnh về Tim mạch, Huyết áp - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.14. Các loài có tiềm năng chữa bệnh về Tim mạch, Huyết áp (Trang 49)
Bảng 4.15.  Các loài có tiềm năng chữa bệnh Trĩ  Stt  Tên họ  Tên khoa học loài  Tên Việt Nam - Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành mộc lan (magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.15. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Trĩ Stt Tên họ Tên khoa học loài Tên Việt Nam (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w