1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Phát Hiện Động Dục Trấu Cái Để Phối Giống Nhân Tạo.pdf

177 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu phát hiện động dục trâu cái để phối giống nhân tạo
Tác giả Hà Văn Chiêu
Trường học Trung tâm Nghiên cứu & Chuyển giao tiến bộ công nghệ chăn nuôi Thái Sinh
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word 8250 DOC TRUNG TÂM CNCGTBCN CHĂN NUÔI THÁI SINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘNG DỤC TRẤU CÁI ĐỂ PHỐI GIỐNG NHÂN TẠO CNĐT HÀ VĂN CHIÊU 8250 HÀ NỘI 2010 1 B¸o c¸o kÕt qu[.]

Trang 1

TRUNG TÂM CNCGTBCN CHĂN NUÔI THÁI SINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘNG DỤC TRẤU CÁI

ĐỂ PHỐI GIỐNG NHÂN TẠO

CNĐT: HÀ VĂN CHIÊU

8250

HÀ NỘI- 2010

Trang 2

Báo cáo kết quả nghiên cứu

2 Cơ quan quản lý: Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

Địa chỉ: Số 53, Nguyễn Du, Hà Nội

3 Cơ quan thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu & Chuyển giao tiến bộ

công nghệ chăn nuôi Thái Sinh

4 Chủ nhiệm đề tài: TS Hà Văn Chiêu

Thường trú: Cụm Môncađa, Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội

5 Thời gian thực hiện: Từ năm 2009 đến năm 2010

6 Kinh phí đề tài: - Được phê duyệt : 250 000 000 đ

- Đã thực hiện : 250 000 000 đ

7.Mục tiêu cụ thể:

- Tìm được hiện tượng động dục điển hình ở trâu cái để phối giống nhân tạo có chửa

đạt tỷ lệ thụ thai ≥40%

- Tìm được biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục trong điều kiện nông thôn

- Xác định được thời điểm phối giống có tỷ lệ chửa ≥40%

- Phối giống được ít nhất 80 trâu cái có chửa

8 Nội dung

- Nghiên cứu những hiện tượng động dục ở trâu cái

- Nghiên cứu xác định được các hiện tượng động dục điển hình dễ nhận biết ở trâu cái

- Tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện động dục

- Xác định thời điểm phối giống nhân tạo tốt nhất ở trâu cái

- Nghiên cứu tính thời vụ về động dục ở trâu cái nội

9 Sản phẩm của đề tài:

Dạng I: - Báo cáo các hiện tượng động dục điển hình ở trâu cái

- Danh sách trâu cái chó chửa hoặc đã đẻ nghé con

Dạng II:

- Quy trình phát hiện động dục trâu cái

Dạng III

-Bảng dữ liệu về trâu cái động dục và được phối giống nhân tạo

- Báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu phát hiện động dục trâu cái để

phối giống nhân tạo

Trang 3

Phần 1

Mở đầu

Con trâu Việt Nam ( Swamp Buffalo ) gắn bó với nông dân nước ta từ bao đời, thể

hiện ở câu dân gian “ Con trâu là đầu cơ nghiệp” Con trâu là nguồn sức kéo quan trọng cho nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, trâu cày kéo trên mọi địa hình, từ ruộng nước ở vùng đồng bằng đến ruộng bậc thang miền núi và nhẫn nại kéo gỗ trong rừng dưới suối mà đến nay, mặc dù đã vào thời đại công nghiệp hóa vẫn chưa có loại máy nào thay thế được Trâu cung cấp một nguồn phân bón hữu cơ và sạch khá lớn cho cây trồng, hàng năm mỗi trâu cho khoảng 4 tấn phân chuồng ( đủ bón cho 1 sào bắc bộ/năm), từ cày keó đến phân bón, con trâu tham gia đắc lực vào thành quả thửa ruộng

5 tấn rồi trên 10 tấn/ha Thịt trâu là thực phẩm được con người ưa thích và đã được coi như một đặc sản ở nhiều nơi Hàng năm, đàn trâu nước ta đã cung cấp trên 100 000 tấn thịt và đang được thị trường ưa chuộng, không phải bán lẫn với thịt bò như trước đây Con trâu còn cung cấp da, sừng, xương, lông làm hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp Thực tế, con trâu trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân để nuôi con

ăn học, giải quyết việc lớn trong gia đình, nhiều nơi còn là con vật tâm linh để tế lễ và phục vụ du lịch thể thao

Con trâu quan trọng là vậy, tuy đang bị con người lãng quên, với lợi thế phàm ăn, dễ nuôi, đàn trâu nước ta vẫn phát triển với tốc độ 0,72% /năm Hiện nay nước ta có khoảng 2 920 000 con trâu, được nuôi chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc ( khoảg 88%), số ít ( 12%) ở các tỉnh phía Nam Chúng được nuôi phân tán trong các hộ nông dân ( 1-2 con/hộ) ở vùng đông bằng để cày kéo, lấy phân kết hợp sinh sản; còn ở vúng núi chúng

được nuôi quảng canh, thường thả rông theo đàn trên bãi chăn thả tự nhiên Do thiếu bàn tay của các nhà quản lý và các nhà khoa học, đàn trâu không những chỉ tăng chậm

mà còn bị thoái hoá về phẩm giống, tầm vóc giảm, khả năng chống chịu và sinh sản thấp Từ nhiều năm nay, rất ít các chương trình, dự án về con trâu Mấy chục năm nay, mới có một số đề tài nghiên cứu của một số nhà khoa học còn tâm huyết với trâu, và mới chỉ giải quyết được việc sản xuất lưu giữ tinh đông lạnh, còn việc trực tiếp phối giống nhân tạo cho trâu là chưa có công trình nghiên cúu nào Do vậy, ngoài những hạn chế sinh sản kém của bản thân con trâu và thời tiết khắc nghiệt thì việc phối giống nhân tạo cho trâu, việc giải quyết nạn thiếu trâu đực giống ở các vùng đồng bằng là chưa có đề tài nào đề cập đến Nhằm giải quyết những hạn chế trên và góp phần khôi phục, phát triển và phát huy vai trò con trâu nước ta, dựa trên kết luận khoa học “ Để phát hiện động dục ở gia súc, tốt nhất nên dùng đực thí tình Nếu không có đực thí tình,

có thể quan sát con cái qua những biểu hiện toàn thân, âm hộ và trạng thái nước

nhờn ” (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) chúng tôi đã tiến hành đề tài

“ Nghiên cứu phát hiện động dục ở trâu cái để phối giống nhân tạo ” Nghiên cứu này

đã tiến hành trong 2 năm ( 2009 -2010) mục đích và mục tiêu cụ thể là:

- Mục đích chung: Nhằm tìm giải pháp giải quyết những tồn tại và hạn chế vừa nêu, phát huy khả năng sinh sản của trâu cái, sử dụng rộng rãi kỹ thuật phối giống nhân tạo trong đàn trâu, góp phần phát triển đàn trâu Việt Nam và tăng thu nhập cho người nuôi trâu

Trang 4

- Mục tiêu cụ thể:

- Tìm đ−ợc hiện t−ợng động dục điển hình ở trâu cái để phối giống nhân tạo có chửa

≥40%

- Tìm đ−ợc các biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục trong điều kiện nông thôn Việt Nam

- Xác định đ−ợc thời điểm phối giống cho trâu cái có tỷ lệ chửa ≥40%

- Phối giống đ−ợc ít nhất 80 trâu cái có chửa

Trang 5

Phần 2

Tổng quan tình hình đàn trâu và nghên cứu về phối giống nhân tạo

trâu ở nước ngoài và ở Việt nam

Trâu là gia súc lớn, nhai lại, có sừng thuộc lớp động vật có vú (Mammalia ), bộ móng guốc chẵn ( Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Rumianantia), họ sừng rỗng ( Bovidae), tộc bò ( Bovini), loài trâu ( Bubalus bubalis) Loài trâu có 2 giống chính là giống trâu đầm lầy ( Swamp buffalo) và giống trâu sông ( River buffalo )

Trước khi được thuần hóa, trâu vốn sống hoang dã ở các nước Đông Nam á trong đó

có Việt Nam Trước cả loài bò, trâu được thuần hóa cách đây khỏang 5 000-7 000 năm Tại châu á, vào khỏang 30 thế kỷ trước Công Nguyên, trâu đã được thuần dưỡng ở vùng Sông ấn, vùng Lưỡng Hà ( khu vực I rắc ngày nay) Trung Quốc đã nuôi trâu từ năm 2 000 trước Công nguyên do du nhập từ phía Nam Mãi về sau, năm 723, trâu từ Lưỡng Hà mới du nhập vào Jordany Đến Thế kỷ thứ 13, những người tham gia Thập

tự chinh đã đưa trâu vào Châu âu và bắt đầu nuôi ở khu vực sông Đanuyp và vùng

đầm lầy Pontin ( Italia) ở Việt Nam, cách đây khoảng 4000-5000 năm, những người Việt cổ cũng đã sớm thuần hóa con trâu để gíup nghề trồng lúa nước

Trâu được thuần dưỡng là vật nuôi rất quan trọng trong đời sống con người ở các nước Châu á Chúng được dùng làm sức kéo, sản xuất thịt và sữa, là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình nông dân Hiện nay, cả thế giới có trên 174 000 000 con trâu, trong đó phân bố chủ yếu ( khoảng 97 % đàn trâu trên thế giới) được nuôi ở các nước Châu á như ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Việt Nam

2.1 Tình hình đàn trâu và nghiên cứu về phối giống nhân tạo trâu trên thế giới Quần thể loài trâu trên thế giới có khoảng trên 180 000 000 con, trong đó chủ yếu

tập trung ở các nước chưa phát triển Châu á là vùng nuôi nhiều trâu nhất, khoảng 165

000 00 con ( chiếm 97% tổng đàn trâu thế giới), Châu Phi có khoảng 3 400 000 con ( 2 %), Châu Mỹ có khoảng 1 360 000 con ( 0,8% ) và Châu âu có khoảng 340 000 con ( 0,2% ) ( theo thống kê của FAO, 2006) Nước nuôi nhiều trâu nhất là ấn Độ 98

000 000 con ( 56% tổng đàn trâu thế giới ), tiếp đến là Pakistan 26 300 000 con ( 15% ), Trung Quốc đứng thứ 3 thế giới có 22 700 000 con ( 13%) Việt Nam có gần

3 000 000 con trâu bằng khoảng 1,72% tổng đàn trâu thế giới và cũng được xem là một trong những nước nuôi nhiều trâu ( đứng thứ 7 thế giới ) Loài người nuôi trâu với lợi ích vô cùng to lớn: Đầu tiên là sức kéo, từ lâu và ngay cả hiện nay, con trâu đã nhẫn nại phục vụ con người cày bừa đất trồng cấy, kéo xe chuyên chở hàng hóa vật liệu vật tư và hành khách, quay guồng bơm nước, kéo máy ép mía Hàng năm, trâu cung cấp khoảng 72 000 000 tấn sữa với chất lượng sữa ngon, nhiều bơ, là nguồn sữa sạch và chứa ít chất cholesterol, là con thứ 2 cung cấp cho loài người nhiều sữa nhất trên hành tinh này; cung cấp cho con người trên 3 000 000 tấn thịt sạch, ngon mà ngày nay đuợc coi là đặc sản; là nguồn thu nhập chính của nhiều nông dân ở nước nghèo và nuớc

đang phát triển Con trâu cũng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước

và được nuôi chủ yếu với mục đích lấy sữa, lấy thịt và sức kéo ( Igawle and R.L

Trang 6

Dhoble, 2004), ngoài ra còn phục vụ thể thao, du lịch và là con vật tâm linh ở nhiều dân tộc Con trâu còn có lợi thế là con vật rất dễ nuôi, phàm ăn, chống chịu bệnh tật tốt

so với con bò Tuy nhiên, nhìn chung, quần thể đàn trâu phát triển chậm, chủ yếu do

sinh sản kém mà khoa học chưa tác động một cách tích cực

Sinh sản là một thiên chức bẩm sinh của bất cứ cơ thể sống nào để duy tì nòi giống của chúng Con người trên hành tinh chúng ta đã biết lợi dụng thiên chức này để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho mình Phối giống nhân tạo là một trong những hoạt

động đó Từ thủa xa xưa ( khoảng 800 năm trước Công nguyên), con người đã biết sử dụng kỹ thuật giản đơn, phương tiện phối giống nhân tạo sơ khai lúc đó là nắm bọt biển, sau đó ( năm 286 trước Công nguyên) là nắm lông ngựa Rồi trải qua một thời kỳ khá dài, do khoa học chưa phát triển, đặc biệt do một số thế lực tín ngưỡng cấm đoán, cho rằng PGNT là trái ý chúa trời, nên PGNT không phát triển được ( Nguyễn Tấn Anh- Nguyễn Quốc Đạt, 1997) Ngày nay, nhờ tiến bộ kỹ thuật và nhờ tác dụng lớn lao của chính bản thân kỹ thuật PGNT, Phối giống nhân tạo ( PGNT ) đã được coi như

là một ngành công nghệ sinh học bao gồm các hoạt động kỹ thuật do con người tiến hành nhằm di chuyển tinh dịch ( tinh thanh và tinh trùng) từ con đực đến đặt vào

đường sinh dục con cái vào thời điểm thích hợp để con cái có chửa và đẻ con, thay vì cho con đực giao cấu trực tiếp với con cái Các nhà khoa học thế giới đã tạo được Công nghệ phối giống nhân tạo bao gồm các bước chính:

Tạo chọn đực giống

Nuôi đực giống

Khai thác tinh dịch

Pha chế tinh dịch, phân liều

Đông lạnh bảo quản tinh dịch

Phát hiện động dục và phối giống con cái

PGNT thực sự đã trở thành công cụ hữu hiệu của công tác giống vật nuôi Nhờ phối giống nhân tạo, trên thế giới hàng năm có hàng triệu gia súc cao sản được tạo ra và

đóng góp cho nhân loại rất nhiều sản phẩm chăn nuôi như sức kéo, phân bón và đặc biệt là thịt, sữa một loại thức ăn giàu đạm, giàu chất dinh dưỡng mà chưa có bất cứ sản phẩm nào thay thế được

Các nhà khoa học và quản lý PGNT cũng đã khẳng định rằng, khi dùng kỹ thuật phối giống nhân tạo, tỷ lệ chửa đẻ trong một đàn cái phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố

được toán học hóa bằng Phương trình sinh sản của các nhà khoa học thuộc Hãng American Breeding Service ( ABS ):

% Có chửa = A x B x C x D

Trong đó: % Có chửa = Tỷ lệ có chửa của đàn cái được phối giống Yếu tố A (%) = Tỷ lệ đàn cái có khả năng sinh sản tốt Yếu tố B (%) = Tỷ lệ đàn cái được phát hiện động dục Yếu tố C (%) = Trình độ tay nghề người phối giống

Yếu tố D(%) = Chất lượng tinh đông lạnh sử dụng

Trang 7

Theo thuật toán đơn giản, khi phân tích phương trình trên cho thấy: Tỷ lệ chửa đẻ trong một đàn cái không phải là tổng hoặc trung bình cộng của các yếu tố trên, mà là tích của 4 nhóm yếu tố đó, mỗi yếu tố là thừa số nhân được thể hiện bằng số thập phân ( 0, ), nên tỷ lệ này luôn nhỏ hơn giá trị của bất cứ yếu tố ( một thừa số nhân) nào đó Nếu càng nhiều yếu tố có gía trị thấp thì tích này ( % có chửa) càng thấp Hơn thế nữa, nếu chỉ cần 1 yếu tố ( thừa số nhân) bằng 0 thì tích này ( % có chửa) sẽ bằng 0 Như vậy, trong phương trình sinh sản này, chỉ cần một yếu tố xấu sẽ dẫn đến kết quả chửa đẻ ( kết quả của phối giống nhân tạo) là thấp, và nếu có một yếu tố cực xấu ( như yếu tố B = đàn cái được phát hiện động dục ) thì số cái có chửa sẽ ít, tỷ lệ đẻ sẽ thấp ; hoặc xấu hơn, không phát hiện động dục được con cái nào, không có con cái nào được phối giống, tất yếu sẽ không có con cái nào có chửa để đẻ con Từ phân tích này, nhiều nhà khoa học thế giới đã quan tâm nghiên cứu hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực của từng nhóm yếu tố trong đó có yếu tố B (động dục và phát hiện động dục con cái )

Những năm đầu của thập niên 1930 ( ABS, 1991), Công nghệ bảo tồn tinh dịch bò

bắt đầu hình thành, sau đó tiếp tục phát triển dần cho đến ngày nay So với loài bò và lợn, PGNT ở trâu phát triển còn rất chậm trên thế giới, hình như bị loài người lãng quên

Tuy nhiên, phối giống nhân tạo ( PGNT ) trâu bằng tinh lỏng đã được bắt đầu từ những năm 1940, thành công đầu tiên của phối giống nhân tạo trâu được ghi nhận là con nghé đầu tiên ra đời vào năm 1943 tại ấn Độ ( Ranjian và Pathak, 1993 ) Ban đầu, tinh dịch trâu được lấy ra, pha loãng để tăng liều phối, và phối tinh lỏng này cho trâu cái Mãi về sau này, mới sử dụng môi trường pha loãng, đông lạnh bảo quản và phối nhân tạo cho trâu cái

- Từ năm 1972, nghiên cứu thành công đông lạnh tinh dịch trâu, bảo quản, giải đông, phối giống thành công ở Pakistan, ấn Độ, Bulgary ( Alexiev, 1998 ) Hiện nay, PGNT trâu đã phát triển ở một số nước, nhưng tỷ lệ có chửa còn thấp so với nhảy tự nhiên Theo Agarwal và Shankar ( 1994) thì phối tự nhiên, tỷ lệ có chửa là trên 60%, phối giống bằng tinh lỏng 35-60%, còn phối nhân tạo bằng tinh đông lạnh mới đạt 25-40% Tại Ai Cập, theo ông Mohamed Abdel ( năm1999- 2000) tỷ lệ phối giống ở trâu Murrah là 65,8% và 66,8% Tuy nhiên, hàng năm cũng có hàng trăm ngàn nghé con

ra đời bằng công nghệ PGNT, chủ yếu là ở các nước như ấn Độ, Pakistan, Bulgary, ý, Trung Quốc, Philippine và vùng Trung á Một số nghiên cứu có liên quan đến PGNT trên thế giới cũng được tiến hành nhưng rất rải rác mà chủ yếu xoay quanh công nghệ bảo tồn tinh đông lạnh trâu, nổi bật như:

- Năm 1983, có nhiều nghiên cứu của Rao và Rao về kiểm soát chu kỳ động dục trâu cái nhằm giúp cho thụ tinh nhân tạo đạt hiệu quả cao

- Năm 1996, A.J Dhami, K.L Sahni và các cộng sự đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố khác nhau đến khả năng chịu lạnh, khả năng tồn tại và khả năng thụ tinh của tinh trùng trâu trong điều kiện nhiệt đới

- Năm 2000, Fabbrocini, C.Del Serbo, G.Fasano, nghiên cứu thành công về tác dụng của tỷ lệ chất Glycerol và Pyruvate trong môi trường pha loãng để đông lạnh bảo tồn tinh dịch trâu

Trang 8

- Năm 2000, Sarnone và M.J.A Nastri, nghiên cứu thành công bảo tồn tinh dịch trâu -Năm 2001, P.Sukhato, S.Thongsodseang và cộng sự tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sức hoạt động và khả năng thụ tinh của tinh trùng trâu sau giải

-Năm 2006, nghiên cứu về biện pháp tiêm estogene và progesterone trong chu kỳ

động dục trâu cái Trung Quốc

- Năm 2006, William, H.F.L.Ribeiro và đồng nghiệp nghiên cứu sử dụng hormone gây rụng trứng đồng pha ở trâu cái theo mùa phối giống bằng thụ tinh nhân tạo

Do các hiện tượng động dục của trâu cái không rõ ràng khó nhận biết bằng các biện pháp chủ quan thông dụng ( quan sát bằng mắt thường), nên thụ tinh nhân tạo khó áp dụng, người chăn nuôi và nguời phối giống từ lâu rất ít sử dụng công nghệ PGNT cho trâu cái mà chủ yếu cho nhảy trực tiếp để giải quyết nhu cầu sinh sản trâu cái Có nhiều nhận xét cho rằng kỹ thuật phát hiện động dục và xác định thời điểm phối giống tốt nhất ở trâu cái là tồn tại chủ yếu cần phải nghiên cứu để giải quyết Các công trình nghiên cứu thực hiện trên thế giới chủ yếu đi sâu nghiên cứu bảo tồn tinh dịch trâu và các công trình nghiên cứu gây động dục đồng pha phục vụ cho công nghệ cấy truyền hợp tử Rất ít những công trình nghiên cứu nhằm giải quyết khó khăn và tồn tại về phát hiện động dục ở trâu cái ( các hiện tượng động dục ở trâu cái, các biện pháp phát hiện

động dục của chúng, mà tầm quan trọng của nó là quyết định thành quả của PGNT như Phương trình sinh sản của ABS nêu ra ), nên công tác thụ tinh nhân tạo trâu khó phát triển được như đang phát triển ở loài bò và lợn

Các nhà khoa học thế giới cũng dã nghiên cứu tổng kết được một số vấn đề chính về

đặc tính sinh sản của trâu cái liên quan đến phối giống nhân tạo:

TT Đặc tính sinh sản ĐVT ấn Độ Nơi khác

4 Thời điểm rụng trứng sau động dục Giờ 10-14 8-16

5 Thời điểm phối giống tốt nhất Giờ 8 giờ cuối pha

động dục

6-12 giờ cuối pha động dục

6 Thời gian mang thai Ngày 310 (305-314 ) 300- 316

Trang 9

7 Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ Ngày 25-35 30- 70

8 Khoảng cách lý tưởng 2 lứa đẻ Tháng 13-14 -

Khoảng cách thực tế 2 lứa đẻ Tháng - 16-30

2.2.Tình hình đàn trâu và nghiên cứu về phối giống nhân tạo trâu ở Việt Nam

2.2.1.Những nét cơ bản về con trâu ở Việt Nam

- Nguồn gốc và giống của con trâu Việt Nam: Con trâu Việt Nam cũng được thuần

hóa từ loài trâu ( Bubalus bubalis ), để giúp cho nghề trồng lúa nước phát triển, đáp

ứng nhu cầu lương thực, cách đây khoảng 4000-5000 năm, những người Việt cổ cũng

đã sớm thuần hóa con trâu từ loài trâu hoang

Trâu nội Việt Nam thuộc giống trâu đầm lầy ( Swamp buffalo ), có 48 NST Tổ tiên của chúng là trâu rừng Bubalus Arrnee mà ngày nay còn tồn tại rất ít ở vùng Đông Nam á và Đông Dương Trâu nội Việt Nam có sừng dài, thon nhọn, cong hình bán nguyệt về phía trên và hướng về phía sau Đầu to; trán phẳng, hẹp; mặt ngắn, mõm rộng; tai to rộng; cổ dài; thân ngắn, ngực lép, bụng to, mông thấp, chân thấp và mảnh, móng xòe; đuôi ngắn; vú bé lùi về phía sau; con đực có dương vật dính chặt vào bụng, túi dịch hòan ngắn Màu lông đặc trưng là màu tro sẫm, lông thưa, da dày, khô, thường có vệt khoang trắng hình chữ V lông da màu hồng vắt ngang phía dưới cổ và một vệt trên ngực Một số ít có lông màu trắng hồng ( trâu trắng) Trâu cũng thường

có các khoáy lông phân bố ở trên thân không theo quy luật nào mà thường được người dân chú ý khi chọn lọc và mua bán trâu, đôi khi có kèm cả tín ngưỡng

Do đặc điểm sinh thái từng vùng, điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, mục đích sử dụng khác nhau mà chúng phát triển thành nhiều nhóm chủ yếu theo tầm vóc; nhóm to như trâu Ngố ( 400- 500 kg), chủ yếu ở miền núi; nhóm trâu có tầm vóc bé như trâu Gié (300-400 kg), chủ yếu gặp ở miền đồng bằng

(Trâu cái Việt nam- Nguồn: Thái Sinh)

Trang 10

( Trâu đực Việt Nam- Nguồn: Thái sinh)

- Chăn nuôi trâu những năm gần đây ở nước ta: Tổng đàn trâu nước ta, hiện nay có

khoảng 2 920 000 con, chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, còn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nuôi ít trâu Mức độ tăng đàn trong những năm gần đây thấp, bình quân tăng 0,72%/năm, giao động lớn theo vùng, thậm chí có vùng giảm đầu con Các vùng tăng

đầu con như Tây Bắc: 4.6%, Bắc Trung Bộ: 1,48%, Duyên hải Miền Trung: 4,12%, Tây Nguyên: 5,12% và vùng Đông Bắc tăng 0,32%; các vùng giảm như vùng Đông Nam Bộ: 5,08%, Đồng bằng sông Cửu Long: 7,93%, Đồng bằng sông Hồng: 5,22% ( Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020)

Trâu Việt Nam có khối lượng lúc trưởng thành trung bình con đực 400-450kg, cái 330-350 kg, tỷ lệ thịt xẻ 42-45% Do chăn nuôi trâu không được đầu tư, nên tầm vóc của trâu ta có xu hướng giảm mạnh: theo số liệu điều tra, từ năm 1985 đến năm 2000, tầm vóc của trâu đực giảm từ 476 xuống còn 422,3 kg/con ( giảm 11,%), trâu cái từ

406 kg xuống còn 346,5 kg/con ( giảm 14,6%) Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình trạng suy thoái do cận huyết của đàn trâu nội ( Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020) Tuy đàn trâu tăng chậm, tác động của con người quá ít, nhưng hàng năm, đàn trâu nước ta, theo con số thống kê, vẫn cung cấp cho con người từ 50

và các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 11

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về sinh sản con trâu ở Việt Nam

Phối giống nhân tạo trâu ở Việt Nam, thực sự chưa phát triển với nhiều nguyên nhân khác nhau Chưa có nhiều chương trình nghiên cứu về lĩnh vực này, chỉ mới rải rác một

số nghiên cứu có liên quan đến sinh sản trâu cái, mà chủ yếu là trâu Murrah nhập từ nước ngoài vào Đặc biệt, hiện nay ở vùng đồng bằng nước ta, trâu cái chủ yếu nuôi theo phương thức nhốt chuồng, chăn dắt, trâu đực lại rất ít nên việc chửa đẻ của trâu cái rất hạn chế, chức năng sinh sản không phát huy được Vùng miền núi, do trâu được thả rông và có nhiều trâu đực, trâu cái chửa đẻ khá tốt, thể hiện trong đàn có nhiều nghé con theo mẹ, nhưng nguy hiểm là quần thể đàn trâu đang bị đồng huyết cao

Từ năm 1960, Viện chăn nuôi thành lập Trại thí nghiệm trâu Ngọc Thanh ( ở tỉnh Vĩnh Phú trước đây ) với 200 trâu cái nội Năm 1970, nhập trâu đực giống Murrah từ Trung Quốc để lai tạo với trâu cái nội bằng kỹ thuật TGNT theo phương pháp của Trung Quốc Cùng thời gian đó, Trại thí nghiệm trâu Ngọc Thanh đã chuyển giao thành công việc nuôi trâu đực giống Murrah, lấy tinh và pha chế tinh dịch để phối giống nhân tạo bằng tinh lỏng cho toàn đàn trâu cái nuôi tập trung của Hợp tác xã Yên Lập, Vĩnh Tường, Vĩnh phú Mặc dù trâu Murrah là giống trâu sông ( River Buffalo )

có 50 nhiễm sắc thể và trâu Việt Nam thuộc loại trâu đầm lầy ( Swamp Buffalo ) có 48 nhiễm sắc thể, trâu lai ( có 49 nhiễm sắc thể) sinh ra sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng sinh sản bình thường và cho sữa cao ( 1500kg/chu kỳ)

Từ những năm 1969, ông Nguyễn Đức Thạc, Nguyễn Văn Vực và các cộng sự khác của hai ông đã nghiên cứu và xác định được một số đặc điểm sinh trưởng, sinh sản và biện pháp cải tiến giống để nâng cao sức kéo của trâu Việt Nam Nghiên cứu cũng xác

định được kỹ thuật huấn luyện trâu đực suất tinh vào âm đạo giả, khai thác được tinh dịch trâu đực, xác định được các thông số kỹ thuật tinh dịch của trâu đực

Cũng từ năm 1970, việc nghiên cứu PGNT trâu để phục vụ công tác lai tạo trâu được Viện chăn nuôi quốc gia Việt Nam tiến hành ở các tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hóa

Đặc biệt, năm 1978, Chính phủ ấn Độ giúp Việt Nam 500 trâu cái và 50 trâu đực giống Murrah nuôi tại Trung tâm nghiên cứu trâu và đồng cỏ Sông Bé ( Trung tâm Sông Bé ) Các chuyên gia ấn Độ đã được cử sang giúp các nhà khoa học Việt Nam về

kỹ thuật nhân giống, sản xuất và bảo quản tinh đông lạnh trâu Murrah, kỹ thuật phối giống nhân tạo trâu Murrah và lai tạo trâu ra các xã của huyện Bến Cát, Sông Bé Thời

kỳ thịnh vượng nhất của Trung tâm Sông Bé đã có gần 1000 trâu, hàng trăm trâu Murrah và trâu vắt sữa, hàng trăm trâu cái nội làm nền lai tạo Trại trâu đực giống với

50 con và đàn trâu hạt nhân, quà của Thủ tướng chính phủ ấn Độ tặng do anh hùng Hồ Giáo trực tiếp chăm sóc phát triển khá tốt Thời kỳ thịnh vượng nhất của Trung tâm Sông Bé kết thúc khi hết bao cấp ( khoảng đầu những năm 1990 ) Đàn trâu mai mọt dần và hiện nay còn khoảng 50 con với sự trợ giá giống của Nhà nước Đây là lần nhập trâu giống lớn nhất của Việt Nam từ trước đến nay Tuy đàn trâu không phát triển được nhưng cũng để lại nhiều bài học kinh nhiệm có ý nghĩa về khoa học và quản lý Rải rác một số địa phương, một số số nhà khoa học quan tâm đến con trâu vẫn tiếp tục nghiên cứu cải tạo đàn trâu nội và đã mang lại ý nghĩa thiết thực cho nhiều nông dân nước ta

Cụ thể, hiện nay, Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi có 10 trâu

Trang 12

Murrah và đang sản xuất tinh đông lạnh dạng viên và cọng rạ để cung cấp cho một số

địa phương để lai tạo với trâu nội Việc phối giống nhân tạo trâu vẫn còn hạn chế do nhiều nguyên khác nhau về chính sách, về nghiên cứu khoa học và những đặc điểm sinh sản riêng của trâu cái nội là “động dục ngầm ”

Năm 1979, Vũ Ngọc Tý, Lưu Kỷ có kết quả nghiên cứu về môi trường pha loãng tinh dịch trâu Năm 1982, Lê Viết Ly và Võ Sinh Huy, đạt kết quả nghiên cứu về môi trường pha chế bảo tồn tinh trâu Murrah Năm 1984, tác giả Lê Việt Anh và cộng sự

đã nghiên cứu thành công bảo tồn tinh đông viên của trâu bằng môi trường Naggasse Năm 1987, có nghiên cứu để xác định thời gian dẫn tinh thích hợp nhất của trâu cái Murrah nuôi tại Trung tâm Sông Bé của Cao Xuân Thìn Những năm cuối của thập niên 1980, các tác giả Đỗ Kim Tuyên, các chuyên gia ấn Độ và cộng sự đã nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất tinh cọng rạ tinh dịch trâu, đây là thành công đầu tiên ở nước ta về công nghệ sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu và bò Từ năm

1996, các ông bà Bùi Xuân Nguyên, Nguyễn Thị ước, đã tiến hành nghiên cứu thành công gây rụng nhiều trứng và gây động dục đồng pha để nghiên cứu cấy truyền phôi ở trâu ( Nguyễn Thị ước, 1996) Năm 1996, Mai Văn Sánh, đã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, sinh sản, cho sữa thịt của trâu cái Murrah nuôi tại Trung tâm Sông Bé Năm 2001, các nhà khoa học Hoàng Kim Giao, Đặng Đình Hanh, Đào Đức Thà, Mai Văn Sánh và cộng sự đã có kết quả nghiên cứu về sản xuất tinh đông viên trâu Murrah tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển chăn nuôi Miền Núi tại Thái Nguyên Các năm 1979 đến 1996, có các công trình nghiên cứu của các tác giả Cao Xuân Quỳnh, Lê Viết Ly, Mai Văn Sánh nghiên cứu về bảo tồn tinh dịch trâu ở dạng lỏng và nghiên cứu về phối giống nhân tạo trâu cái Năm 2001, Nguyễn Hữu Trà nghiên cứu thành công tinh đông lạnh dạng cọng rạ bằng môi trường Tryladyl ( môi trường pha sẵn, nhập từ Đức) Năm 2004, Đào Lan Nhi đã tiến hành nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ sinh sản của đàn trâu cái nội nuôi trong nông hộ Mới đây nhất, từ năn 2006, nhà khoa học TS Trịnh Thị Kim Thoa và cộng sự đã có công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ tinh đông lạnh trong thụ tinh nhân tạo trâu” Nghiên cứu này đã cho kết quả rất đáng trân trọng trong công nghệ

đông lạnh bảo tồn tinh trâu Việt Nam bằng tinh cọng rạ với môi trường do chính tác giả này nghiên cứu thành công ( Trịnh Thị Kim Thoa, Lương Duy Tuệ, 2006) Trong công trình nghiên cứu này, có sự tham gia hiệu quả của các nhà khoa học và phương tiện thiết bị của Trung tâm nghiên cứu & Chuyển giao tiến bộ công nghệ chăn nuôi Thái Sinh, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Những cọng rạ này đã

được sử dụng phối giống thử nghiệm có kết quả tại một số địa phương trong nước, tỷ lệ

có chửa gần 60% Từ các kết quả trên, một số nghé con đã được đẻ ra do kỹ thuật PGNT tạo và phát hiện đông dục không có công cụ và đực thí tình hỗ trợ

Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu trên đều thành công chủ yếu là trong phòng công nghệ ở công đoạn khai thác bảo tồn tinh dịch Cụ thể là:

- Chọn lọc đực giống và nuôi dưỡng đực giống

- Kỹ thuật luỵện trâu đực nhảy giá xuất tinh vào âm đạo giả

- Đánh gía được chất lượng tinh dịch trâu,

Trang 13

- Kỹ thuật cân bằng, đông lạnh tinh trâu dạng tinh viên và cọng rạ

- Bảo tồn được tinh trâu trong điều kiện nước ta,

Đối chiếu với Phương trình sinh sản trên thì các nghiên cứu này mới giải quyết được yếu tố D ( các vấn đề khoa học và kỹ thuật thực tiễn liên quan đến tinh dịch ở trâu

đực ) Còn các kết quả phối giống nhân tạo cho trâu cái mới chỉ là kết quả nhỏ lẻ mang tính minh họa cho các thành công trên, chưa đưa ra đại trà phục vụ sản xuất

Như trong Phương trình sinh sản phối giống nhân tạo, tầm quan trọng của việc phát hiện động dục cho thấy: nếu không phát hiện được động dục thì sẽ không phối giống

được trâu cái nào, tất yếu sẽ không có trâu cái nào chửa để đẻ con Mọi cố gắng ở các khâu chăn nuôi khác ( chọn giống, xây dựng chuồng trại, tìm kiếm thức ăn, chăm sóc, thú y ) cũng đều sẽ bằng không mà hiệu quả kinh tế có thể là âm Ngược lại, chưa có công trình nghiên cứu nào tìm ra biện pháp có tính thực tế, dễ làm và hiệu quả, chính người nuôi trâu cái có thể áp dụng được để giải quyết những tồn tại và hạn chế vừa nêu Một trong những nguyên nhân chính vừa có tính khoa học và có tính thực tiễn sản xuất

là trâu cái động dục “ngầm” rất khó phát hiện so với bò cái Việc phát hiện động dục là công việc diễn ra hàng ngày ở ngay tại chuồng trâu, bãi chăn thả và thường do chính người chăn nuôi trâu ( nông dân, các cháu nhỏ ) thực hiện Những người này thường chưa được huấn luyện phát hiện động dục ở trâu cái, thậm chí cũng không ý thức được tầm quan trọng của mỗi lần trâu cái động dục Cho đến nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm biện pháp phát hiện động dụng ở trâu cái Nên mặc dù đã có kết quả rất tốt

về bảo tồn tinh dịch ở cọng ra, nhưng việc phát hiện động dục trâu cái chưa ai làm

được nên việc phối giống nhân tạo cho trâu cái vẫn chưa đưa ra sản xuất đại trà, việc cải tạo đàn trâu hầu như không tiến triển, chất lượng đàn trâu thực tế đang bị suy giảm

2.2.3 Những vấn đề còn tồn tại trong PGNT trâu cái

Phối giống nhân tạo (PGNT) là một hoạt động kỹ thuật để di chuyển tế bào sinh sản

đực ( tinh trùng) từ con đực đặt vào bộ máy sinh sản con cái thay vì cho giao cấu trực tiếp, để tinh trùng tiến hành tiếp cận và thụ tinh với tế bào sinh sản cái ( trứng) để tạo

ra một cơ thể mới ( S.E.S Hafez, 2000 ) Mục đích của PGNT là để đẩy nhanh công tác cải tiến con giống, phòng tránh bệnh sinh sản ( Nguyễn Tấn Anh, 1998 ) Các hoạt

động kỹ thuật của Công nghệ truyền giống nhân tạo bao gồm: Tạo và chọn đực giống, nuôi đực giống, lấy tinh, pha chế phân liều bảo tồn tinh, phát hiện động dục bò cái, phối giống, và khám thai con cái ( Hà Văn Chiêu, 2000)

Thế giới và Việt Nam đã sử dụng PGNT khá rộng rãi ở loài bò và lợn, tuy nhiên PGNT ở loài trâu ( Bubalus Bubalis ) còn quá ít ( Lê Việt Anh, 1984 ) Các nước như

ấn Độ, Bulgary, Trung Quốc, Philippine và một số nước Đông Nam á đã sử dụng phổ biến công nghệ này ở trâu cái ( Jiang Hesheng, Jiang Ruming, 2006) Tại Việt Nam, mặc dù “con trâu là đầu cơ nghiệp ”, có truyền thống nuôi trâu lâu đời, quần thể đàn trâu khá lớn, gần 3 000 000 con ( Cục chăn nuôi, 2007), nhưng phối giống nhân tạo cho trâu cái còn rất hạn chế, chưa triển khai ra sản xuất một cách rộng rãi ( Trịnh Thị Kim Thoa, 2006) Nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu vẫn do chưa có biện pháp và

kỹ thuật phát hiện động dục ở trâu cái; quan niệm trâu cái động dục ngầm, khó phát hiện mà phải dùng đực thí tình còn tồn tại Trên 80 % trâu cái thường động dục kín (Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm- Hội chăn nuôi Việt Nam, tập 1, năm 2000 )

Trang 14

Tuổi đẻ lần đầu 36- 40 tháng ( giao động: 30 -52); chu kỳ động dục: 21 ngày ( 18-30); thời gian động dục kéo dài và rất biến động theo cá thể: 18 giờ ( 12-72); Thời gian mang thai: 312-315 ngày: thời gian động dục lại sau đẻ: 120 ngày ( 60 – 365 ngày thời gian phối có chửa sau đẻ là 254 ngày; khoảg cách giữa 2 lứa đẻ: 19 tháng ( 14-23 tháng), ( Alexieva, 2004 và Cẩm nang chăn nuôi, Hội chăn nuôi, 2000 )

Liên quan đến động dục kín, chỉ có khoảng 15 - 20 % biểu hiện hiện tượng động dục khá rõ ràng, dễ nhận biết, phần lớn ( trên 80 %) trâu cái động dục ngầm ( thể hiện triệu chứng ra ngoài khó nhận biết bằng quan sát thông dụng) Khi động dục, tất cả trâu cái đều bài tiết niêm dịch ở đường sinh dục ( Đào Lan Nhi, 2004) Tính chất vật

lý, màu sắc và số lượng niêm dịch diễn biến theo các giai đoạn động dục

- Giai đọan trước động dục ( chưa chịu đực ): Niêm dịch ít, lỏng, loãng, trong suốt,

lỗ cổ tử cung hơi mở;

- Giai đoạn động dục ( chịu đực ): Niêm dịch nhiều hơn, trong suốt, dính kéo dài,

lỗ cổ tử cung mở rộng hơn;

- Giai đoạn sau động dục ( thôi chịu đực): Niêm dịch nhiều, đặc, đục, dính, đứt

đoạn, lỗ cổ tử cung khép lại ( Nguyễn Tấn Anh, Nguyên Duy Hoan, 1998 )

Muốn phát hiện động dục ở trâu cái được chính xác phải theo dõi niêm dịch ( khối lượng và trạng thái vật lý: độ loãng, màu sắc, độ dính ) bằng cách xác định ngày trâu cái động dục trong kỳ động dục, xem xét trạng thái lý học của niêm dịch Người chăn nuôi phải theo dõi con vật nằm trên nền chuồng vào buổi sáng ( 4- 7 giờ sáng và 20-

21 giờ vào mùa hè; 5-7 giờ và 19-20 giờ vào mùa đông để kiểm tra khối lượng và trạng thái niêm dịch Kiểm tra lại bằng cách cho trâu cái tiếp xúc với trâu khác xung quanh: nếu trâu cái chịu đực thì là trâu cái động dục và phối giống được; kiểm tra lại bằng cách thăm khám buồng trứng nếu buồng trứng có nang trứng phát triển là trâu cái động dục

Thời điểm phối giống thích hợp ở trâu cái là trong khoảng thời gian chịu đực, tức là vào khoảng 2/3 thời gian sau của pha động dục đến ít giờ trước của pha thôi chịu đực

Có thể áp dụng quy tắc sáng –chiều như ở bò cái nhưng phải chú ý phát hiện trâu cái lúc mới bắt đầu động dục ( Cao Xuân Thìn, 1987 ) Cũng như bò cái, trâu động dục và sinh đẻ không theo thời vụ, mà xảy ra quanh năm Tuy nhiên so với bò thì, ở Việt Nam trâu thường động dục và được phối giống nhiều vào mùa Xuân và đầu mùa Hè nên đẻ nhiều vào các tháng mùa Đông và mùa Xuân năm sau, hoặc nếu lao tác nhiều theo vụ lúa thì tính thời vụ mới thể hiện rõ ràng Nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt, lao tác nhẹ thì mùa vụ không còn ảnh hưởng đến mùa sinh sản ở trâu cái một cách rõ ràng ( Nguyễn

Đức Thạc,1985)

2.2.4 Những hạn chế về sinh lý sinh sản trâu cái

1 Sự thành thục về tính dục trâu cái và tuổi phối giống lần đầu muộn so với bò cái: Trâu cái động dục vào lúc 24-36 tháng tuổi, chậm hơn so với bò cái Có nghĩa là, trâu cái phải 2 năm tuổi đến 3 năm tuổi mới động dục lần đầu và bắt đầu phối giống được

2 Tuổi có chửa lần đầu cao: Trâu cái mang thai khoảng 10,5 tháng, nên nếu tuổi phối giống lần đầu là 30-36 tháng thì tuổi đẻ lứa đầu khoảng 40-46 tháng tuổi ( lúc trâu cái 3,5 tuổi trở lên)

Trang 15

3 Động dục và phối giống sau đẻ: Sau đẻ có thể phải từ 4- 12 tháng ( bình quân 7-8 tháng) mới lại phối giống được, phối có chửa sau đẻ bình quân là 8,5 tháng

4 Một số đặc điểm sinh sản khó khăn khi áp dụng PGNT trâu cái

- Thời gian động dục lại sau đẻ thường dài do phụ thuộc nhiều yếu tố: Thời tiết, giống, cá thể, chế độ nuôi dưỡng chăm sóc Lần động dục này thường không có khả năng có chửa

- So với bò cái, trâu cái thường động dục ngầm, thời gian động dục ngắn:

TT Hiện tượng động dục Bò cái Trâu cái Tác giả

2 Ăn ít hoặc bỏ ăn Rõ ràng Không rõ ràng Ingawade

4 Theo đuổi nhau Nhiều hơn ít hơn Nhiều tác giả

5 Biến đổi âm hộ Nhiều, rõ hơn ít, không rõ Ingawade

6 Nhảy lên lưng nhau Nhiều Nhiều Nhiều tác giả

9 Thời điểm đông dục Ngày đêm Nhiều lúc đêm Bhikane

10 Thời gian động dục Dài ( 18-30 h) Ngắ(12-24 h ) Bhikane

Đây là lý do quan trọng nhất làm cho phối giống ở trâu cái khó và ít thành công Đặc biệt là vào mùa nóng ẩm hoặc mùa lạnh giá, vì khả năng chịu nhiệt độ cực đại hoặc cực tiểu ở trâu là kém, mùa hè thường động dục vào ban đêm nên khó phát hiện động dục so với bò

- Phần lớn ở trâu cái, sau khi đẻ, động dục trở lại kém, ít động dục, thời gian động dục lại dài, những lần động dục đầu thường có khả năng chửa thấp Đây là nguyên nhân chính làm cho khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ở trâu cái rất dài (Nguyễn Tấn Anh, 1998 )

2.2.5 Triệu chứng (hiện tượng) động dục với việc phối giống nhân tạo ở trâu cái

Cũng như bò cái, khi động dục trâu cái có những triệu chứng đặc hiệu theo từng pha

động dục:

- Pha trước động dục: Trâu cái tỏ ra ngơ ngác, hay đi lại, ăn ít hơn thường ngày và có

xu thế tiếp cận con khác; âm nộ hơi sưng, có màu hồng tươi, các lông hơi thưa Niêm dịch còn ít, trong và loãng; trâu cái chưa chịu đứng lại ( chưa chịu đực ) khi con khác nhảy lên Giai đoạn này cần phải được theo dõi phát hiện mới có đủ thời gian thông báo cho cán bộ kỹ thuật phối giống; giai đoạn này chưa phối được

- Pha động dục: Trâu cái hay đi lại nhiều hơn, có xu thế tìm tiếp cận con khác; âm hộ sưng to hơn, màu đỏ, các lông thưa hơn do môi âm hộ căng phồng Niêm dịch nhiều hơn, trong và dính kéo dài; đứng lại khi con khác nhảy ( chịu đực) lên từ phía sau Giai

đoạn này phối giống tốt nhất

- Pha sau động dục: Nhiều hiện tượng giống như giai đoạn trước động dục, âm hộ bớt sưng, hơi nhăn, màu đỏ thẫm; niêm dịch đục, dính, đứt đoạn; trâu cái thôi chịu nhảy, hiện tượng rụng trứng xảy ra, trứng rơi vào phễu di chuyển đến đoạn phồng ống dẫn

Trang 16

trứng ( nơi thụ tinh xảy ra) Phối giống ở nửa đầu giai đoạn này là được, nếu phối vào nửa giai đoạn cuối là quá muộn

2.2.6 Phát hiện động dục ở trâu cái

1 Những hiện tượng động dục dễ dàng nhận biết để phát hiện: Các hiện tượng động dục trên ở trâu cái là khó nhận biết vì các hiện tượng không rõ ràng

2 Những dấu hiệu chính của từng hiện tượng dễ nhận biết: Có thể chọn các hiện tượng như chịu đực để giúp người chăn nuôi phát hiện đuợc động dục ở trâu cái Còn khi đã được phát hiện động dục, thì người phối giống sử dụng hiện tượng trạng thái lý học của niêm dịch để xác định thời điểm phối giống cho trâu cái

3 Những thời điểm trong ngày ( Tần số động dục trong ngày ): Có thể trâu cái sẽ

động dục nhiều hơn vào buổi tối hơn là ban ngày, nhất là mùa hè

4 Phương pháp và dụng cụ phát hiện: Sẽ không sử dụng các dụng cụ hỗ trợ để phát hiện động dục trâu cái vì nông dân chưa có điều kiện tự trang bị

2.2.7.Tầm quan trọng của động dục ở trâu cái trong phối giống nhân tạo

Các tài liệu trên cho thấy đàn trâu nội Việt Nam sinh sản kém, nhất là khu vực đồng bằng, với nguyên nhân chính là sự hiện diện trâu đực quá ít, kỹ thuật phối giống nhân tạo trâu chưa được áp dụng Việc có được đàn trâu đực đủ để phối giống trực tiếp ( 1

đực cho 50 trâu cái ) cho đàn trâu cái hiện có là một ảo tưởng Cách giải quyết chủ yếu vẫn là bằng PGNT, vừa sử dụng được đực giống có phẩm giống cao, vừa tránh được bệnh tật, vừa đỡ tốn kém mua và nuôi một số lượng lớn đực giống Tuy nhiên, khi áp dụng PGNT, như Phương trình sinh sản của ABS cho thấy yếu tố động dục và phát hiện động dục trâu cái là yếu tố quyết định Khác với loài bò, trâu cái động dục ngầm, nên khó phát hiện, việc tìm được phương pháp phát hiện động dục và xác định được thời gian phối giống có chửa ở trâu cái là mục tiêu của Đề tài nghiên cứu này

2.2.8 Phối giống nhân tạo ở trâu chưa phát triển

Như trên đã phân tích, tuy trên thế giới và nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về PGNT trâu, nhưng so với các công trình nghiên cứu tương tự ở bò và lợn thì vẫn còn rất khiêm tốn Mặt khác các công trình nghiên cứu đó đều thiên về giải quyết bảo tồn tinh dịch trâu ( giải quyết yếu tố D ) trong Phương trình sinh sản của ABS Có rất ít, thậm chí chưa có công trình nghiên cứu hoàn thiện nào về động dục ở trâu cái, các biện pháp phát hiện động dục trâu cái mà một số cán bộ kỹ thuạt phối giống đang sử dụng hiện nay vẫn chủ yếu là tham chiếu từ kỹ thuật phát hiện động dục ở bò cái

Sinh sản là chức năng quan trọng quyết định sự tăng đàn và cho sản phẩm trong chăn nuôi Với loài trâu, điều khiển sinh sản qua PGNT là khó khăn hơn loài bò bởi trâu thành thục muộn, động dục kín khó phát hiện Những biểu hiện động dục liên quan

đến thời điểm rụng trứng và thời điểm phối giống tốt nhất chưa đựợc sác định chắc chắn nên tỷ lệ chửa do PGNT còn thấp

Các phuơng pháp phát hiện động dục thông qua các hiện tượng động dục chưa được khẳng định Tin cậy nhất vẫn là dùng trâu đực thí tình Điều này đã gây nhiều phức tạp, tốn kém, hạn chế cho việc áp dụng rộng rãi kỹ thuật PGNT ở trâu

Trang 17

2.2.9 Nguyên nhân đưa đến những tồn tại trên

Đặc điểm sinh sản của trâu cái có những khác biệt với bò cái là trâu cái thường có

đến trên 80% là động dục ngầm ( các triệu chứng động dục dễ quan sát như: ít ăn, theo

đuổi vờn nhau, nhảy lên lưng nhau… là không rõ ràng; tần số và cường độ thấp, khó quan sát nhận biết được nếu không có kỹ thuật và người hướng dẫn

Ngoài những nguyên nhân của chính trâu cái nêu trên, ở Việt Nam còn có khó khăn

là chính sách của Nhà nước cũng chưa cụ thể, tập quán chăn nuôi quảng canh nhỏ lẻ, phân tán, điều kiện kinh tế khó khăn, nguời chăn nuôi trâu phần lớn là nông dân nghèo,

ít hiểu biết về khoa học kỹ thuật; thị trường thịt sữa từ con trâu chưa ổn định ( có lúc phải nhờ cậy vào con bò như thịt trâu giả thịt bò ở các cửa hàng tiêu thụ thịt ) Mục

đích chăn nuôi chỉ là để cày kéo, lấy phân, tận dụng phụ phẩm trồng trọt và giải quyết lao động phụ trong gia đình Về phía khoa học kỹ thuật, chưa có nghiên cứu nào về phát hiện động dục ở trâu cái nhằm tìm ra những hiện tượng động dục điển hình, đặc hiệu và dễ nhận biết ở trâu cái giúp cho việc phát hiện trâu cái động dục và có thể để cho người kỹ thuật phối giống tiến hành phối giống nhân tạo được Đây cũng là lý do cần thiết phải thực hiện nghiên cứu này nhằm giải quyết những tồn tại và hạn chế trên Nếu nghiên cứu này thành công ( điều đề tài này kỳ vọng ) sẽ đạt được:

- Xác định được các hiện tượng động dục ở trâu cái nội

- Chọn lựa được một số hiện tượng động dục dễ nhận biết, chính xác trong kỳ động dục trâu cái

- Xác định được thời điểm phối giống thích hợp nhất

- Phối giống nhân tạo được trâu cái

-Tìm được phương pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục trong điều kiện chăn nuôi nông hộ ở Việt Nam mà không phải dùng các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ

*Xác định được các hiện tượng động dục ở trâu cái trong điều kiện chăn nuôi trâu quảng canh, phân tán ở nước ta:

Để phối giống được trâu cái, phải phát hiện được động dục, cũng như bò cái, trâu cái

có các triệu chứng động dục tương tự, nhưng không rõ ràng Các triệu chứng dễ nhận biết ( người chủ nuôi trâu nhận biết được ) có thể là:

- Trâu cái dễ bị hưng phấn, ngơ ngác ( mức độ theo giai đoạn động dục );

- Hay đi lại, hay vờn nhau ( mức độ theo giai đoạn động dục );

- ăn ít, hoặc bỏ ăn ( mức độ theo giai đoạn động dục );

- âm hộ sưng, màu đỏ, lông thưa ( mức độ theo giai đoạn động dục );

- Nhiều niêm dịch, trong hay đục, loãng hay đặc, dính kéo dài ( theo giai đoạn

Trang 18

Phải xác định được các triệu chứng dễ quan sát, dễ xác nhận, không cần công cụ hỗ trợ, người chủ nuôi trâu nhận biết được và chính xác, chứng tỏ trâu cái động dục thực

sự Các triệu chứng có thể sẽ là:

- Hiện tượng chịu đực ( chưa chịu, chịu nhảy, thôi chịu nhảy )

-Các trạng thái lý học niêm dịch ( trong loãng, trong dính kéo dài, đục đứt đoạn )

*Xác định được phương pháp quan sát và xác định các triệu chứng cho điểm 2 vừa nêu:

Sau khi đã xác định các triệu chứng dễ nhận biết và có hiệu quả ( hiện tượng chịu nhảy, trạng thái vật lý của niêm dịch) thì phải tiến hành xác định được kỹ thuật và phương pháp phát hiện động dục trâu cái Phải lựa chọn được phương pháp mà các thành viên trong hộ nuôi trâu ( ông, bà, bố, mẹ, các con cháu… ) có thể làm được sau khi đã được cán bộ kỹ thuật phối giống huấn luyện kỹ thuật phát hiện động dục Phát hiện động dục là công việc hàng ngày ( 24/24 giờ) của người chăn nuôi trâu và được thực hiện tại chuồng nuôi, bãi chăn, với số lượng đàn trâu đông và nuôi rải rác trong các nông hộ nên trong điều kiện Việt Nam hiện tại là chưa có thể trang bị các dụng cụ

hỗ trợ ( gắn chíp, đánh dấu, dùng đực thí tình…) được mà phương pháp phát hiện phải

là phương pháp thông dụng ( không có dụng cụ hỗ trợ) như vẫn đang thường được tiến hành trên bò cái ở nông thôn Việt Nam hiện nay

* Xác định được thời điểm phối giống có tỷ lệ chửa cao nhất ở trâu cái:

Khi đã phát hiện được trâu cái động dục ( do chủ nuôi bò thực hiện ) thì việc xác

định thời điểm phối giống hiệu quả cao nhất là vô cùng quan trọng Việc tạo điều kiện cho hai giao tử ( trứng và tinh trùng ) gặp nhau tại đoạn phồng ống dẫn tinh là phụ thuộc vào thời điểm phối giống:

-Nếu phối quá sớm ( vào giai đoạn trâu cái mới động dục ) thì tinh trùng đến điểm thụ tinh quá sớm và trứng chưa rụng, sự thụ tinh không xảy ra vì vắng mặt trứng;

- Nếu phối quá muộn ( vào giao đoạn cuối kỳ động dục ) thì khi trứng có mặt tại điểm thụ tinh nhưng tinh trùng chưa tới nên vắng mặt tinh trùng, hiện tượng thụ tinh cũng không thể xảy ra

Để cho 2 giao tử này cùng có mặt tại điểm thụ tinh, việc phối giống phải tiến hành vào giai đoạn nửa cuối kỳ động dục lúc mà trâu cái chịu đực ( đứng lại cho con khác nhảy lên từ phía sau ) và niêm dịch trong suốt, dính, kéo dài Hai trịệu chứng này xảy

ra trước khi rụng trứng khoảng 8-14 giờ đồng hồ Việc xác định thời điểm phối giống tốt nhất chỉ làm được khi đã được huấn luyện kỹ và có kinh nghiệm Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cán bộ kỹ thuật có trình độ trung cấp chăn nuôi thú y trở lên hoặc cán bộ kỹ thuật phối giống gia súc được huấn luyện kỹ mới có thể kiểm tra xác định chính xác 2 hiện tượng này

Nếu đạt được kết quả trên, kỳ vọng chắc chắn rằng người nông dân sẽ được các cán

bộ kỹ thuật phối giống nhân tạo ở địa bàn huấn luyện kỹ thuật phát hiện động dục ở trâu cái, trâu cái Việt Nam sẽ được phát hiện động dục, tiếp theo là đuợc các kỹ thuật viên phối giống bằng tinh đông lạnh của những đực giống tốt, các kết quả của các công trình nghiên cứu vừa nêu trên sẽ được ứng dụng trong sản xuất ( sinh sản trâu cái ), đàn nghé đẻ ra chắc chắn sẽ được cải tiến, chất lượng giống đàn trâu Việt Nam sẽ được

Trang 19

nâng cao, sản phẩm thịt từ trâu cho thị trường sẽ nhiều hơn Giúp người dân tăng thêm thu nhập, tham gia đắc lực xóa đói giảm nghèo cho hàng triệu người nông dân nước ta

2.3 Những vấn đề cần nghiên cứu để giải quyết tồn tại và hạn chế trên

Trên cơ sở những tồn tại vừa nêu trên, để đạt được mục đích nghiên cứu, tham khảo

đặc điểm động dục của gia súc cái, tham khảo các tài liệu khoa học liên quan và kết quả của một số công trình nghiên cứu, nội dung nghiên cứu của đề tài này sẽ là:

2.3.1 Nghiên cứu những hiện tượng động dục ở trâu cái

- Những đặc điểm về động dục của trâu cái: Về mặt nguyên tắc, các gia súc cái ( bò, lợn, trâu… ) đều thể hiện những triệu chứng đặc hiệu khi động dục Những triệu chứng này ở bò và lợn đã được xác định khá rõ ràng và đã được sử dụng trong sản xuất rất có hiệu quả trên thế giới và ở nước ta Riêng con trâu chưa có được kết quả mong muốn này Các hiện tượng động dục sẽ được con cái thể hiện bằng hành vi, hình thái của các cơ quan sinh sản, trạng thái của các sản phẩm sinh sản… mà con người có thể nhận biết được

- Mức độ ( tần suất, cường độ ) thể hiện những hiện tượng động dục trên là theo giai

đoạn động dục và phụ thuộc vào đặc điểm môi trường mà con cái đó chịu tác động ( điều kiện nuôi dưỡng, sự hiện diện của đồng loại, nhiệt độ và ánh sáng…) Cần phải xác định tần suất của từng hiện tượng động dục nhằm giúp xác định thời gian trong ngày/đêm khi nào trâu cái thể hiện động dục nhiều nhất

2.3.2 Nghiên cứu xác định được các hiện tượng động dục điển hình dễ nhận biết ở trâu cái

Cũng như ở loài bò và lợn, hiện tượng động dục ở trâu cái khá đa dạng ( hành vi, hình thái, trạng thái…), để dễ cho việc phát hiện nên phải nghiên cứu chọn lựa một số hiện tượng nào đó chứng tỏ trâu cái đã động dục, hiện tượng dễ nhận biết, người nuôi trâu cái có thể tự nhận biết được Tham khảo từ kết quả ở bò và lợn, các hiện tượng như chịu đực, trạng thái niêm dịch sẽ là những hiện tượng chính được nghiên cứu này quan tâm và kỳ vọng

2.3.3 Các biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục

Sau khi đã chọn lựa được hiện tượng động dục điển hình và dễ nhận biết, thì tiến hành nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật để phát hiện chúng Có tìm được biện pháp

kỹ thuật này thì kết quả của 2 nội dung trên mới có tác dụng trong sản xuất và như vậy mục đích của nghiên cứu này mới đạt được Những biện pháp kỹ thuật phù hợp theo người sử dụng dự kiến sẽ là:

- Để cho chính người chăn nuôi trâu cái sử dụng được: Quan sát bằng mắt thường các hành vi, trong đó chủ yếu là hành vi chịu đực Mục đích của nội dung này là để người nuôi trâu cái phát hiện được hiện tuợng này trong giai đoạn trâu cái mới đang bắt đầu

động dục để kịp thời báo cho người kỹ thuật phối giống

- Để cho người kỹ thuật phối giống sử dụng: Hiện tượng động dục như trạng thái lý học của niêm dịch ( độ trong đục, độ dính…) là hiện tượng được chọn lọc để xác định thời điểm phối giống tốt nhất Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, mới chỉ có cán bộ

kỹ thuật phối giống tiến hành được bằng cách thăm khám Sau khi được người chủ trâu

Trang 20

cái phát hiện trâu cái động dục bằng hiện tượng chịu đực sẽ báo ngay cho người kỹ thuật phối giống đến và tiến hành thăm khám niêm dịch, kết hợp với hiện tượng chịu

đực và các hiện tượng khác, cán bộ kỹ thuật phối giống quyết định phối hay chưa phối giống trâu cái này

- Dụng cụ hỗ trợ phát hiện động dục ( đực thí tình, đánh dấu, gắn chíp… ): Việc tìm dụng cụ hỗ trợ cho phát hiện động dục ở trâu cái chưa phải là nội dung chính của nghiên cứu này vì nếu có kết quả cũng chưa có điều kiện sử dụng trong điều kiện nông thôn Việt Nam do đàn trâu cái được nuôi quá phân tán ở nhiều hộ và hộ nông dân chưa

có điều kiện kinh tế và ý thức sử dụng các dụng cụ này

2.3.4 Nghiên cứu thời điểm phối giống nhân tạo tốt nhất ở trâu cái

Như ta đã biết, kỳ động dục gia súc cái ( trong đó có thể cả trâu cái) thường chia làm 3 pha chính ( trước động dục, động dục, sau động dục ) Việc phối giống có kết quả đối với gia súc cái thường là vào thời điểm từ giữa pha động dục đến nửa đầu của pha sau động dục Nội dung này cần xác định là ở trâu cái nên tiến hành phối giống vào thời điểm nào để đạt tỷ lệ có chửa cao nhất Để thực hiện nội dung này cần phải tiến hành phối giống cho trâu cái Trong nội dung này bao gồm các hoạt động:

- Xác định thời điểm phối: Phối giống vào các pha trên ( tham chiếu từ thời điểm phối giống ở bò cái) để xác định tìm ra thời điểm phối giống tốt nhất ( có tỷ lệ chửa cao nhất ) trong 3 giai đoạn của kỳ động dục, chủ yếu là pha chịu nhảy

- Mua tinh đông lạnh hoặc thuê trâu đực: Có thể mua tinh trâu đực trong nước hay nhập từ nước ngoài, hoặc thuê trâu đực Cũng cần phải nói rõ rằng, đề tài này không có mục đích lai tạo, phối giống chủ yếu là để chứng minh cho các hiện tượng động dục

điển hình và thời điểm phối giống là chính xác bằng việc trâu cái có chửa Đương nhiên, có được tinh trâu đực bảo đảm phẩm giống quy định là tốt hơn, nhưng đặc biệt phải được người nuôi trâu cái chấp nhận thì mới thuê được trâu cái để làm đối tượng nghiên cứu

-Bảo quản tinh dịch hoặc đông lạnh: Tinh dịch thu được sẽ được đưa ngay vào phòng công nghệ để phân tích đánh giá chất lượng tinh ở các chỉ tiêu kỹ thuật ( màu sắc,V, A,

C, pH, K… ), chỉ có lượng xuất tinh nào đạt yêu cầu mới đưa vào pha chế Tinh dịch

đạt tiêu chuẩn sẽ pha với môi trường đã chuẩn bị sẵn với tỷ lệ sao cho mỗi liều tinh ( cọng rạ 0,25 cc ) đạt 40 triệu tinh trùng Các cọng rạ này sẽ được cân bằng nhiệt đế

40C trong 4-6 giờ, sau đó sẽ được đông lạnh bằng hơi nitơ ( - 110 đến- 1200C), tiếp theo là đông lạnh sâu ( -1960C) Lô tinh nào đạt tiêu chuẩn ( sức hoạt động sau giải

đông > 30% ) mới được bảo tồn ( bảo quản trong bình nitơ lỏng -1960C) để sử dụng cho nghiên cứu này

- Phối giống cho trâu cái: Việc dùng tinh trâu đực đã được bảo tồn trên phối giống cho trâu cái là nhằm mục đích chứng minh cho các nội dung của nghiên cứu này Sẽ tham chiếu quy trình phối giống bò cái và kinh nghiệm của một số cán bộ kỹ thuật phối giống đã thành công để phối giống có hiệu quả cho trâu cái

- Khám thai: Khám thai không phải là nội dung nghiên cứu của đề tài, nhưng nó cần

được thực hiện để có kết quả chứng minh Sẽ sử dụng phương pháp khám thai qua trực tràng Sau khi phối nhân tạo, trong 3 tháng, nếu trâu cái đó không động dục trở lại là

Trang 21

có thể trâu cái đã có chửa do kết quả phối giống trước đó, khám thai qua trực tràng sẽ kết luận chắc chắn điều này

2.3.5 Tính thời vụ về thể hiện động dục của trâu cái

Nhiều tài liệu cho rằng, con trâu động dục ngầm, hiểu theo nghĩa không thể hiện các hiện tuợng động dục ra bên ngoài Thực tế và bản chất con trâu không phải như vậy, loài trâu là con vật động dục quanh năm, có chăng là hiện tượng động dục không rõ ràng, khó nhận biết và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chăm sóc nuôi dưỡng kém, thời tiết khí hậu quá ngưỡng chịu đựng, hoặc lao tác theo thời vụ gieo trồng quá nặng nề Cần thiết phải nghiên cứu nội dung này để tìm biện pháp khắc phức nhằm tham gia phát huy khả năng sinh sản của con trâu nuôi ở nông thôn nước ta, tạo điều kiện cho

PGNT ở con trâu phát triển

Trang 22

Phần 3 nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là trâu cái nội Việt Nam, có khả năng sinh sản tốt, bộ máy sinh sản có cấu tạo và hoạt đông bình thường, không bị viêm nhiễm đường sinh dục, buồng trứng còn đang hoạt động, có độ tuổi từ 3 năm đến 10 năm ( còn khả năng sinh sản ), được nuôi dưỡng trong điều kiện nông hộ Việt Nam( tương đối đủ thức ăn thô xanh, nước uống, được phòng bệnh tốt ) và luôn được tách biệt với trâu đực xung quanh Số lượng đã sử dụng nghiên cứu là 227 con với tổng số 288 lần phối giống, trong đó phối lần 1 là 187 con, phối lần 2 là 69 con, phối lần 3 là 22 con và phối lần 4

là 10 con ( trong quá trình phối giống, phát hiện 10 con này có vấn đề về sinh sản)

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Xác định các hiện tượng động dục của trâu cái nội

Việc xác định các hiện tượng đông dục trâu cái là nội dung của nghiên cứu này, có phát hiện được trâu cái thì mới có trâu cái để phối giống Tương tự như loài bò và lợn, trâu cái động dục theo chu kỳ, mỗi kỳ động dục kéo dài trong một thời gian nhất định ( thường là 20 đến 35 giờ) Mỗi kỳ động dục thường lộ ra bên ngoài bằng các hiện tượng hoặc triệu chứng nhất định, nhưng các triệu chứng ấy chỉ có tác dụng khi phát hiện và nhận biết được chúng Các triệu chứng thường là những hành vi hoạt động, hình thái của một số bộ phận sinh sản, trạng thái của một số vật phẩm sinh sản…Những hiện tượng này thường không rõ nét và không dễ nhận biết như ở bò cái

và lợn nái Vì vậy phải xác định chúng và huấn luyện người thực hiện

Huấn luyện kỹ thuật phát hiện động dục cho người phối giống: Chọn các cán bộ kỹ thuật đang phối giống cho bò cái thuộc địa bàn nghiên cứu để huấn luyện phát hiện trâu cái động dục, để các cán bộ này sẽ tiến hành huấn luyện lại cho người nuôi trâu phát hiện động dục trâu cái ngay tại các hộ chăn nuôi trâu Các cán bộ kỹ thuật phối giống, trong thời gian đi phối giống sẽ huấn luyện lại cho nông dân, người sẽ trực tiếp phát hiện động dục hàng ngày ở ngay tại chuồng nuôi trâu của chính mình

Phát hiện động dục trâu cái: Sau khi được huấn luyện, các nông dân sẽ tiến hành phát hiện động dục và báo cho người kỹ thuật đến phối giống Tại chuồng bò của hộ nuôi, cán bộ kỹ thuật sẽ tiến hành khám lâm sàng hiện tượng động dục của trâu cái và xác

định thời điểm phối giống thích hợp nhất

Nhân lực, nguyên liệu, vật tư chủ yếu cần để nghiên cứu phát hiện động dục:

- Chọn và thuê trâu cái để phát hiện động dục

- Huấn luyện kỹ thuật phát hiện động dục cho nông dân nuôi trâu cái

- Thuê người đã được huấn luyện phát hiện động dục trâu cái

- Vật tư công cụ để phát hiện động dục:

+ Đèn pin có bộ sạc điện để phát hiện động dục ban đêm

+ Sổ sách ( mẫu ) để ghi chép

+Phòng hộ lao động cần thiết khác

Trang 23

3.2.2 Chọn lựa các triệu chứng động dục điển hình và dễ nhận biết nhất

Triệu chứng động dục của trâu cái khá đa dạng và đặc biệt là thầm lặng rất khó nhận biết bằng phương pháp quan sát chủ quan Vì vậy, ở nội dung nghiên cứu này phải tìm

ra được các hiện tượng động dục điển hình, đặc hiệu nhất, chính xác nhất ( chứng tỏ là trâu cái động dục ), dễ nhận biết không cần đến dụng cụ hỗ trợ mà người nông dân vẫn

có thể phát hiện trâu cái động dục của mình Loài bò có 2 hiện tượng: Mức độ chịu nhảy và trạng thái niêm dịch là những hiện tượng được chọn lọc, kỳ vọng con trâu cũng sẽ như vậy Đây là 2 nội dung quan trọng vì nó giúp cho việc phát hiện động dục

dễ dàng và tin cậy để xác định động dục chính xác thì mới phối giống có hiệu quả

3.2.3 Tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục

Sau khi đã xác định được các hiện tượng động dục trâu cái, thì cần phải tìm được các phương pháp và phương tiện cần thiết để phát hiện và nhận biệt chúng để phát hiện trâu cái động dục để phối giống nhân tạo dựa trên nguyên tắc là khi trâu cái động đều thể hiện ra bên ngoài các triệu chứng đặc hiệu mà con người có thể nhận biết được

3.2.4 Xác định thời điểm phối giống thích hợp nhất khi trâu cái động dục

Khi phát hiện được trâu cái động dục, cần thiết phải xác định được thời điểm phối giống thích hợp nhất ( thời điểm phối giống có khả năng có chửa cao nhất) Trong suốt thời gian động dục, trâu cái đều thể hiện các triệu chứng đặc hiệu, nhưng mỗi pha động dục ( giai đoạn động dục) thì mức độ động dục, trạng thái lý học của các vật chứng

động dục đều khác nhau và đại điện cho mỗi pha động dục khác nhau Dựa vào đặc

điểm này mà xác định thời điểm động dục ở trâu cái

3.2.5 Nghiên cứu tính thời vụ động dục của trâu cái nội

Về mặt nguyên lý, loài trâu cũng giống như loài bò, chúng động dục quanh năm Tuy nhiên do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém, do thời vụ lao tác nhiều khi nặng, do các điểm cực đại cực tiểu của nhiệt độ trong năm ở nước ta khá lớn, 3 yếu tố này kết hợp nhau tác động lên con trâu đã đưa đến trâu cái nội Việt Nam thường động dục vào những tháng mùa vụ mát mẻ và động dục ít vào những ngày quá nắng nóng hoặc quá rét ẩm Cần nghiên cứu yếu tố này và các biện pháp khắc phục chúng

3.3 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

3.3.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu đã được tiến hành trên địa bàn các xã, huyện đồng bằng và trung du của tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh như các xã xung quanh thành phố Bắc Giang, các xã của các huyện Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Ngạn, Lục Nam, Việt Yên và một số xã của tỉnh Bắc Ninh gần kề

3.3.2.Thời gian tiến hành nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu đã tiến hành đề tài là trong các tháng của năm 2009 và năm

2010 Thời gian thực tế nghiên cứu là 24 tháng để thực hiện công tác chuẩn bị thủ tục nghiên cứu, chuẩn bị điều kiện nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu và tổng kết báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học

3.4 Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

Các phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện theo từng nội dung và mục tiêu nghiên cứu của nội dung đó

Trang 24

3.4.1 Đối với nghiên cứu xác định những đặc điểm động dục ở trâu cái và khác biệt với bò cái

Đã tiến hành theo dõi quan sát, ghi chép các hiện tượng động dục của 60 trâu cái, chia làm 2 lô trên 2 địa bàn khác nhau Công việc do các cán bộ kỹ thụât dẫn tinh thực hiện tại địa bàn nông thôn Mỗi lần phát hiện đã tiến hành ghi chép, một số ít trường hợp ghi hình các hiện tượng động dục theo mẫu in sẵn Việc phát hiện động dục đã

được tiến hành bằng phương pháp quan sát bằng mắt thường như cách làm ở bò cái cụ thể là:

- Quan sát bằng mắt thường các hiện tượng động dục trâu cái không dùng các dụng cụ

hỗ trợ: Đã quan sát hành vi, thăm khám các trạng thái của bộ máy sinh sản bên ngoài, trạng thái lý học niêm dịch, hành vi thực hiện giao cấu ( nhảy lên con khác hay cho con khác nhảy lên)

3.4.2 Đối với nội dung xác định hiện tượng động dục dễ nhận biết và điển hình

Từ kết quả xác định được các hiện tượng động dục trên, đã phân loại các hiện tượng

động dục ở trâu cái được làm đối tượng nghiên cứu thành các hiện tượng dễ nhận biết và/hoặc điển hình đối với người nông dân và cán bộ kỹ thuật phối giống nhân tạo dựa trên mức độ ( cường độ) động dục, tần suất động dục, thời điểm động dục, trạng thái lý học của vật chứng động dục, phương tiện sử dụng để phát hiện

Hiện tượng động dục dễ nhận biết = Hiện tượng động dục dễ quan sát ( nghe, nhìn, thấy, sờ khám dễ dàng )

Hiện tượng động dục điển hình= Hiện tượng thể hiện động dục chính xác 100% ( có rụng trứng)

3.4.3 Đối với nội dung tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện động dục trâu cái

Thông qua cách phát hiện và kinh nghiệm phát hiện, phương tiện sử dụng, thời

điểm phát hiện đã xác định được kỹ thuật phát hiện động dục ở trâu cái ( trâu cái

động dục)

- Không sử dụng phuơng tiện gì

- Quan sát bằng mắt thường, lắng nghe tiếng kêu, sờ khám niêm dịch, đè tay lên lưng trâu cái

- Ghi chép vào phiếu phối giống

3.4.4 Đối với nội dung xác định thời điểm phối giống tốt nhất ở trâu cái

- Đã phối thử vào các thời điểm khác nhau trong pha chịu nhảy để tìm được thời điểm phối giống có chửa với tỷ lệ cao nhất Không phối giống vào các pha chưa chịu nhảy

và giai đọan cuối của pha thôi chịu nhảy Thời điểm phối cho tỷ lệ chửa cao nhất là thời điểm phối giống tốt nhất

Phối thử vào các thời điểm như ( xem sơ đồ sau) :

- 2/3 thời điểm cuối của pha chịu nhảy (sau khi kết thúc pha chưa chịu nhảy 6-8 giờ)

- 1/2 đầu của pha thôi chịu nhảy ( sau khi kết thúc pha chịu nhảy khoảng 6 giờ) ( Có nghĩa thời điểm từ sau khi kết thúc Pha chưa chịu nhảy 6 giờ đến 24 giờ đông

hồ sao cho trước khi rụng trứng 6- 24 giờ đồng hồ trâu cái phải được phối giống )

Trang 25

Pha

Thôi chịu nhảy

12 h ( 8- 14 )

Lưu tồn trứng

8 h ( 6-10 )

Chưa phối Phối tốt nhất

Thôi phối

- Lô I : Thời điểm từ 6- 15 giờ sau khi kết thúc pha chưa chịu nhảy ( 30 con )

- Lô II : Thời điểm từ 16- 24 giờ sau khi kết thúc pha chưa chịu nhảy ( 30 con) Lặp lại 2 lần về không gian và thời gian với sơ đồ bí trí thí nghiệm như sau:

3.4.5 Đối với nội dung nghiên cứu tính thời vụ động dục ở trâu cái nội

Đã theo dõi phát hiện 308 lần động dục của trâu cái trong các năm 2009 và 2010, tính số bình quân lần dục các tháng trong năm và số bình quân động dục 2 vụ ( mùa mát : Mùa mát từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 )

Trang 26

Phần 4

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Kết quả nghiên cứu về những hiện t−ợng động dục ở trâu cái

4.1.1 Kết quả phát hiện động dục trâu cái ở nhóm thí nghiệm I (Lô I )

Bảng 1 Kết quả phát hiện động dục và phối giống trâu cái ở Lô I ( n=30 con )

Liếm vờn nhau

Âm

hộ s−ng

Nhảy nhau

Chịu nhảy

Niêm dịch

Trang 27

n = Dung lượng mẫu của mỗi hiện tượng động dục

X = Sự xuất hiện của hiện tượng động dục

+ = Phối giống có chửa

Bảng trên cho thấy khi phát hiện động dục và phối giống 30 trâu cái được nuôi nhốt 2-3 con và thường chăn dắt cùng nhau cho thấy xuất hiện 8 hiện tượng động dục chính là :

-Kêu rống

-ăn ít hoặc bỏ ăn

- Đi lại nhiều so với các ngày trước đó

-Liếm vờn nhau hoặc kéo thừng khi dắt hoặc cột buộc

- âm hộ sưng

- Nhảy nhau, theo nhau

- Chịu nhảy ( khi con khác nhảy hoặc đè tay lên lưng thì đứng lại)

- Có niêm dịch chảy ra ngoài hoặc lắng đọng trong âm đạo

Trong 20 con thể hiện động dục bằng hành vi Kêu rống, phối giống có có chửa 14 con; 21 con thể hiện hành vi Ăn ít hoặc bỏ ăn có 14 chửa; 30 con thể hiện hành vi Đi lại nhiều, có 14 con chửa; 27 con thể hiện hành vi Liếm vờn nhau, có 15 con chửa; 28 con thể hiện hành vi nhảy nhau, có 14 con chửa; 30 con thể hiện hành vi chịu nhảy, có 18 con chửa; 30 con thể hiện hiện tượng lâm sàng có niêm dịch có 17 con chửa

4.1.2 Kết quả phát hiện động dục trâu cái ở nhóm thí nghiệm II (Lô II )

Bảng 2 Kết quả phát hiện động dục và phối giống trâu cái ở Lô II ( n=30 con )

Liếm vờn

Âm hộ sưng

Nhảy nhau

Chịu nhảy

Niêm dịch

Trang 28

n= Dung l−ợng mẫu của mỗi hiện t−ợng

X= Sự xuất hiện của hiện t−ợng động dục

+ = Phối giống có chửa

Bảng trên cho thấy khi phát hiện động dục và phối giống 30 trâu cái (

2-3 con/hộ) thì có 19 con thể hiện động dục bằng hành vi Kêu rống, trong đó

15 con có chửa; 24 con thể hiện hành vi Ăn ít hoặc bỏ ăn trong đó 14 có chửa; 28 con thể hiện hành vi Đi lại nhiều, trong đó 15 con có chửa; 29 con thể hiện hành vi Liếm vờn nhau, trong đó 14 con có chửa; 28 con biểu hiện hiện tuợng lâm sàng Âm hộ s−ng, trong đó 13 con có chửa; 27 con thể hiện hành vi nhảy nhau, trong đó 15 con có chửa; 30 con thể hiện hành vi chịu nhảy, trong đó 17 con có chửa; 30 con thể hiện hiện t−ợng lâm sàng có niêm dịch trong đó 16 con có chửa

4.1.3.Tần suất xuất hiện của từng hiện t−ợng động dục ở trâu cái

4.1.3.1.Tần suất xuất hiện hiện t−ợng động dục Kêu rống

Bảng 3 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện t−ợng Kêu

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

Tỷ lệ trâu kêu khi động dục % 66,6* 63,3 * 65.0 **

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô )

Trang 29

61 62 63 64 65 66 67

Ty le keu

Đồ thị 1 Biểu diễn tần suất động dục theo hiện tượng kêu

Kêu là hiện tượng động dục thuộc loại hành vi phát ra tiếng vang, một hành vi động dục của hầu hết con cái ở động vật có vú để gọi đàn, phát tiếng vang báo hiệu cho con

đực ở xa biết về sự hiện diện của con cái và thông tin rằng bản thân con cái đang sẵn sàng cặp đôi để giao phối, thực hiện chức năng bẩm sinh để duy trì nòi giống Trâu cái cũng vậy, khi động dục thì phát ra tiếng kêu, thông tin cho trâu đực biết rằng trâu cái

đang mong muốn trâu đực đến để giao phối Trong phối giống nhân tạo, con người chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và sẵn sàng tiếp nhận phối giống để chửa và đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 nhóm nghiên cứu chỉ thấy có 39 con đều kêu gọi đàn, chiếm 65.0 % số con động dục thể hiện hành vi này Mức độ kêu phụ thuộc rất nhiều yếu tố ( cá thể, tình trạng sức khoẻ, thời tiết khí hậu, ban ngày hoặc ban đêm ) Trong nghiên cứu này, khoảng 65.0 % số trâu cái theo dõi đều thể hiện kêu rống, hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên,

có nghĩa là đa số trâu cái động dục là kêu, nhưng còn một số khá đông ( khoảng 35% ) không thể hiện triệu chứng này Số những trâu cái không kêu khi động dục trong nghiên cứu này khó tìm nguyên nhân, có thể do bản năng trâu cái, hay tiếng kêu không

rõ ràng mà người quan sát khó nhận biết Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát hiện

động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục là kêu, tuy nhiên cũng còn những trâu không kêu khi động dục Tiếng kêu giúp cho người chăn nuôi nhận biết được từ xa, ngay cả khi không trông thấy con vật ( khi đang nấu cơm, làm vườn, đang nghỉ ngơi trong nhà…) Do vậy, nếu người chăn nuôi chú ý lắng nghe vào những ngày mà trâu cái có khả năng động dục thì có thể phát hiện sớm trâu cái động dục Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy, nhiều trâu cái động dục không kêu rống, nên khi phát hiện động dục nếu chỉ chú ý vào tiếng kêu thì nhiều khi bỏ sót nhiều trâu cái động dục Mặt khác, hiện tượng kêu rống không giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì khó xác định và lượng hoá được mức độ kêu để khẳng định trâu cái đang động dục ở pha nào, mặc dù khi ở pha chịu nhảy trâu cái kêu nhiều hơn ( tần suất cao hơn ) pha trước và pha sau động dục Có thể nói, tiếng kêu của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.2 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục - ăn ít hoặc bỏ ăn

Trang 30

Bảng 4 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng ăn ít và bỏ ăn

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

2 Số con động dục ăn ít hoặc bỏ ăn con 21 24 45

Tỷ lệ trâu ăn ít hoặc bỏ ăn % 70,0 * 80,0* 75,0**

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô )

** 73,0 % ≤ po ≤ 77,0 % ( Po = Khoảng tin cậy của số trung bình )

64 66 68 70 72 74 76 78 80

đại đa số trâu cái động dục là ăn ít, nhưng cũng còn một số khác ( khoảng 25% ) không thể hiện triệu chứng này hoặc thể hiện không rõ ràng Sử dụng quy luật này vào

kỹ thuật phát hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục là ăn ít Tuy nhiên cũng còn nhiều trâu cái vẫn ăn bình thường hoặc mức độ giảm ăn không nhận biết

được khi động dục Hành vi ăn ít giúp cho người chăn nuôi nhận biết được trâu cái

động dục khi cho ăn hoặc thấy thức ăn còn thừa trong máng Tuy nhiên cũng nên hiểu rằng, không nhất thiết việc trâu cái ăn ít là do động dục mà có thể còn do nhiều nguyên nhân khác như trâu cái đau ốm, thức ăn lạ hoặc ôi thiu Do vậy người chăn nuôi phải chú ý quen biết tình hình ăn uống của từng trâu cái và nắm đặc điểm, tập tính của từng trâu cái vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động dục

Trang 31

Việc trâu cái ăn ít hoặc bỏ ăn chưa giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì khó xác định và lượng hoá được mức độ ăn ít để khẳng định trâu cái

đang động dục ở pha nào, mặc dù khi ở pha chịu nhảy trâu cái thường ăn ít hơn ( mức

độ bỏ ăn cao hơn ) pha trước và pha sau động dục Có thể nói, hành vi ăn ít của trâu cái

là để người nuôi trâu nhận biết được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.3 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục Đi lại nhiều

Bảng 5 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng đi lại nhiều

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

2 Số con động dục đi lại nhiều con 30 28 58

Tỷ lệ trâu đi lại nhiều % 100,0* 93,3* 96,6**

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô )

** 94,6 % ≤ po ≤ 98.6 % ( Po = Khoảng tin cậy của số trung bình )

88 90 92 94 96 98 100

Lo I Lo II Trung binh

Di lai nhieu

Đồ thị 3 Biểu diễn kết quả tần suất xuất hiện hành vi đi lại nhiều

Hiện tượng trâu cái đi lại nhiều khi động dục ( nông dân còn gọi là lồng chuồng) là hiện tượng động dục thuộc loại hành vi thể hiện bằng hoạt động như đi lại, chạy vòng quanh chuồng, chạy theo bờ rào, nếu chăn dắt thì trâu cái kéo dây thừng khó dắt, khó

điều khiển khi cày bừa so với những ngày trước đó liền kề Một hành vi động dục của hầu hết mọi con cái khi động dục do tìm cách tiếp xúc “ bạn tình” Trâu cái cũng vậy, khi động dục thì sẽ đi lại nhiều, dành thời gian tìm gặp trâu đực để giao phối Trong phối giống nhân tạo, con người chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và sẵn sàng tiếp nhận phối giống để chửa và đẻ con Nghiên cứu này

đã theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 nhóm nghiên cứu thì thấy có 58 con đều đi lại nhiều, chiếm 96,6% số con động dục thể hiện hành vi này Mức độ thể hiện hành vi này phụ thuộc rất nhiều yếu tố cá thể, tình trạng sức khoẻ, thời tiết khí hậu, ban ngày hoặc ban đêm… Khoảng 96,6 % số trâu theo dõi đều thể hiện hành vi đi lại nhiều, hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên, có nghĩa là hầu hết số trâu cái động dục

là đi lại nhiều, nhưng cũng còn một số khác rất ít ( khoảng 3,4 % ) không thể hiện triệu chứng này hoặc mức độ thể hiện không rõ ràng khó nhận biết Sử dụng quy luật này

Trang 32

vào kỹ thuật phát hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục là đi lại nhiều, tuy nhiên cũng còn một số ít trâu cái vẫn đi lại bình thường hoặc mức độ không nhận biết được khi động dục Hành vi đi lại nhiều cũng giúp cho người chăn nuôi nhận biết

được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Tuy nhiên cũng nên hiểu rằng, không phải trâu cái nào đi lại nhiều là do động dục mà còn do nhiều nguyên nhân khác Do vậy người chăn nuôi phải chú ý nắm đặc điểm, tập tính của từng trâu cái vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động dục Hiện tượng này không giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì khó xác định

và lượng hoá được mức đi lại để khẳng định trâu cái đang động dục ở pha nào, mặc dù khi ở pha chịu nhảy trâu cái thường đi lại nhiều hơn ( mức độ cao hơn ) pha trước và pha sau động dục Có thể nói, hành vi này của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết

được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng đồng hành khác để khẳng định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.4.Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục Liếm vờn nhau

Bảng 6 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng Liếm vờn nhau

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

2 Số con động dục liếm vờn nhau con 27 29 56

Tỷ lệ trâu liếm vờn nhau % 90,0* 96,6* 93,3**

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô ) ** 91,3 % ≤ po ≤ 95,3 % ( Po = Khoảng tin cậy của số trung bình )

86 88 90 92 94 96 98

Liem von nhau

Đồ thị 4 Biểu diễn tần suất xuất hiện hành vi Liếm vờn nhau

Hành vi liếm vờn nhau là hiện tượng động dục thuộc loại hành vi thể hiện bằng hoạt

động như trâu cái theo nhau, liếm nhau, vờn nhau, húc nhau và tụ lại từng nhóm, tỏ ra thân thiện nhau, hành vi chỉ xảy ra khi trâu cái đồng loại bên cạnh ( trong một nhóm trâu cáI ít nhất có 2 con trở lên) Một hành vi động dục của nhiều con cái khi động dục

do muốn tiếp xúc và thân thiện với “ bạn tình” Trâu cái cũng vậy, khi động dục thì liếm vờn nhau, dành thời gian tìm gặp trâu đực để giao phối Trong phối giống nhân tạo, con người chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động

Trang 33

dục và sẵn sàng tiếp nhận phối giống để chửa và đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 nhóm nhóm trâu cái thì thấy cả 56 con liếm vờn nhau, chiếm 93,3% số con

động dục thể hiện hành vi này Mức độ thể hiện hành vi này cũng phụ thuộc rất nhiều yếu tố ( như cá thể, tình trạng sức khoẻ, sự hiện diện của đồng loại, thời tiết khí hậu, ban ngày hoặc ban đêm…), nhưng nói chung trong điều kiện bình thường thì đa số trâu cái đều thể hiện hành vi này Hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên, có nghĩa là

đa số trâu cái động dục là liếm vờn nhau Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát hiện

động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục là liếm vờn nhau Kết quả cũng cho thấy, khi trâu cái nuôi nhốt một mình hoặc bị cột buộc thì hành vi này không thể hiện

được, đây là một hạn chế cho việc phát hiện động dục trâu cái theo phương thức nuôi

đang phổ biến ở các hộ nuôi trâu ở vùng đồng bằng nước ta Hành vi này giúp cho người chăn nuôi nhận biết được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Do vậy người chăn nuôi phải chú ý vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động dục Tuy nhiên, nó không giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì khó xác định và lượng hoá được mức độ liếm vờn nhau để khẳng định trâu cái đang động dục ở pha nào, mặc dù khi ở pha chịu nhảy trâu cái thường liếm vờn nhiều hơn ( mức độ cao hơn ) pha trước và pha sau Có thể nói, hành

vi này của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu

động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng

định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.5 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục âm hộ sưng

Bảng 7 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng âm hộ sưng

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

2 Số con động dục có âm hộ sưng con 26 28 54

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô )

** 87,9 % ≤ po ≤ 91,9 % ( Po = Khoảng tin cậy của số trung bình )

82 84 86 88 90 92 94

Am ho sung

Đồ thị 5 Biểu diễn tần suất xuất hiện hiện tượng âm hộ sưng

Trang 34

âm hộ sưng là hiện tượng động dục thuộc loại triệu chứng lâm sàng thể hiện bằng sự biến dạng hình thái của âm hộ như 2 môi âm hộ sưng căng, bóng ướt, phía trong màu hồng tươi Mức độ thay đổi theo pha động dục Pha trước động dục âm hộ hơi sưng, phía ngoài hơi đen bóng, phía trong màu hồng tuơi; ở pha động dục thì mức độ sưng căng cao hơn, môi âm hộ đen bóng, phía trong đỏ tươi; pha sau chịu nhảy âm hộ bớt sưng, hơi nhăn, phía trong đỏ thẫm Hiện tượng được coi như là một sự chuẩn bị để trâu cái tiếp nhận dương vật trâu đực khi nhảy trực tiếp; nó tăng độ cảm giác khi dương vật tiếp xúc với môi âm hộ, khiến trâu cái chủ động hướng dẫn dương vật vào khe âm

hộ để vào âm đạo, tăng độ co bóp dương vật kích thích phóng tinh Mặt khác âm hộ bóng ướt như là sự bôi trơn tăng cao sự phóng tinh dịch Hiện tượng này rất khó nhận biết vì không có chuẩn nào để so sánh, nên nông dân khó sử dụng để phát hiện động dục Trong phối giống nhân tạo, con người chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và sẵn sàng tiếp nhận phối giống để có chửa và đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 nhóm trâu cái thì thấy 54 con đều có âm hộ sưng, chiếm 89,9% số trâu cái được quan sát thể hiện hành vi này Mức độ thể hiện hành vi này phụ thuộc rất nhiều yếu tố ( cá thể, tình trạng sức khoẻ, thời tiết khí hậu ) hoặc có khi thể hiện âm hộ sưng nhưng không đủ rõ ràng để nhận biết bằng mắt thường Hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên, có nghĩa là đa số trâu cái động dục là sưng âm hộ Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục là có âm hộ sưng Hiện tượng này giúp cho người chăn nuôi nhận biết được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Do vậy người chăn nuôi phải chú ý vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái

động dục Tuy vậy, nó không giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì khó xác định và lượng hoá được mức độ khác nhau để khẳng định trâu cái

đang động dục ở pha nào, mặc dù khi ở pha chịu nhảy trâu cái có mức độ âm hộ sưng cao hơn ( mức độ cao hơn ) so vói pha trước và pha sau động dục Có thể nói, hành vi này của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu

động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng

định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.6 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục Nhảy lên con khác

Bảng 8 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng Nhảy lên con khác

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

Tỷ lệ số con nhảy lên lưng nhau % 93,3* 90,0* 91,6 ± 2,0

* p > 0,05 ( không có sự sai khác nhau rõ rệt giữa 2 lô )

** 89,6 % ≤ po ≤ 93.6 % ( Po = Khoảng tin cậy của số trung bình )

Trang 35

88 89 90 91 92 93 94

Lo I Lo II Trung

binh

Nhay nhau

Đồ thị 6 Biểu diễn tần suất xuất hiện hiện tượng nhảy lên con khác

Hành vi nhảy nhau là hiện tượng động dục thuộc loại hành vi thể hiện bằng hoạt

động như trâu cái theo nhau, nhảy lên lưng nhau nhưng chưa đứng lại cho con khác nhảy lên Một hành vi động dục của đa số con cái khi động dục do muốn tiếp xúc và muốn chấp nhận con khác giao phối Trâu cái cũng vậy, khi động dục thì tìm cách nhảy chồm lên con khác và nếu con khác nhảy chồm lên lưng thì chưa đứng lại ( chưa chịu nhảy) Trong phối giống nhân tạo, chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và sẵn sàng tiếp nhận phối giống để chửa và đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 lô nghiên cứu thì có 55 con nhảy lên lưng nhau, chiếm 91,6% số con động dục thể hiện hành vi này Mức độ thể hiện hành vi này phụ thuộc rất nhiều yếu tố ( cá thể, tình trạng sức khoẻ, sự hiện diện của đồng loại, thời tiết khí hậu, ban ngày hoặc ban đêm…), nhưng nói chung trong điều kiện bình thường thì

đa số trâu cái thí nghiệm đều thể hiện hành vi này Hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên, có nghĩa là phần lớn số trâu cái động dục là cố nhảy chồm lên con khác

Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái

động dục là nhảy nhau Kết quả cũng cho thấy, khi trâu cái nuôi nhốt một mình hoặc

bị cột buộc thì hành vi này không thể hiện được, đây là một hạn chế cho việc phát hiện

động dục trâu cái theo phương thức nuôi đang phổ biến ở các hộ nuôi trâu ở vùng đồng bằng nước ta Hành vi này giúp cho người chăn nuôi nhận biết được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Do vậy người chăn nuôi phải chú ý vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động dục Nó không giúp cho việc xác

định thời gian phối giống một cách chính xác vì pha sau động dục trâu cái cũng thể hiện hành vi tương tự này Có thể nói, hành vi này của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết được ban đầu là trâu cái sắp bắt đầu động dục để chú ý quan sát tiếp và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

Trang 36

4.1.3.7 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục Chịu nhảy

Bảng 9 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng Chịu nhảy

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

0 20 40 60 80 100

Chiu nhay

Đồ thị 7 Biểu diễn tần suất xuất hiện hiện tượng chịu nhảy ở trâu cái

Hành vi chịu nhảy là hiện tượng động dục thuộc loại hành vi thể hiện bằng hoạt

động như con cái bị con khác theo và nhảy lên lưng thì đứng lại, hiện tượng này gọi là chịu nhảy và chỉ xảy ra khi có mặt của ít nhất 1 đồng loại Một hành vi động dục của mọi con cái khi động dục “đồng ý” tiếp nhận con khác giao phối Trong phối giống nhân tạo, chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và

đã tiếp nhận phối giống để chửa và đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 lô nghiên cứu thì thấy cả 60 con đều chịu nhảy, chiếm 100% số con động dục thể hiện hành vi này Mức độ thể hiện hành vi này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nói chung trong diều kiện bình thường thì tất cả trâu cái thí nghiệm đều thể hiện hành vi này, vì thực chất nó là hành vi giao cấu Hiện tượng này phù hợp với quy luật tự nhiên, có nghĩa là tất cả số trâu cái động dục là cố chịu con khác nhảy chồm lên lưng mình Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục và đã chịu nhảy thì là lúc trứng sắp rụng Kết quả cũng cho thấy, khi trâu cái nuôi nhốt một mình hoặc bị cột buộc thì hành vi này không thể hiện được, đây là một hạn chế cho việc phát hiện động dục trâu cái theo phương thức nuôi đang phổ biến ở các hộ nuôi trâu ở vùng đồng bằng nước ta Nghiên cứu cũng khắc phục hạn chế này bằng cách lấy tay đè nặng lên lưng trâu cái và trâu cái nào động dục thì sẽ đứng yên, 4 chân ở thế trụ

đứng vững vàng, lưng cong lên, đuôi vểnh làm hé lộ âm hộ, đúng như tư thế chịu giao cấu của trâu đực Hành vi này giúp cho người chăn nuôi nhận biết được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Do vậy người chăn nuôi phải chú ý vào ngày mà trâu cái

có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động dục Nó giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác và tin cậy vì pha động dục trâu cái cũng thể

Trang 37

hiện hành vi này Có thể nói, hành vi này của trâu cái là để người nuôi trâu nhận biết

được trâu cái đã động dục và là gần thời điểm trâu cái sẽ rụng trứng và là lúc phối giống với tỷ lệ chửa cao nhất Người chăn nuôi phải để ý quan sát và quan sát các hiện tượng song song khác để khẳng định trâu cái động dục và xác định thời gian phối giống thích hợp nhất

4.1.3.8 Tần suất xuất hiện hiện tượng động dục Có niêm dịch

Bảng 10 Kết quả phát hiện động dục, phối giống trâu cái theo hiện tượng Có niêm dịch

TT Diễn giải ĐVT Lô I Lô II Cả 2 lô

2 Số con động dục có niêm dịch con 30 30 60

Tỷ lệ con có niêm dịch % 100,0* 100,0* 100,0 *

* Không có sự sai khác nhau giữa 2 lô

0 20 40 60 80 100

độ keo dích ) của niêm dịch là biến đổi theo các pha động dục Nếu niêm dịch trong và loãng là trâu cái đang ở pha trước động dục ( còn khá lâu mới rụng trứng, chưa phối giống được ), nếu niêm dịch trong và dính kéo dài là lúc trâu cái đã sắp rụng trứng và

là lúc phối tốt nhất, còn nếu niêm dịch đục và dính đứt đoạn là lúc trâu đã ở pha sau

động dục, sắp hoặc đã xảy ra rụng trứng, lúc này phối là quá muộn, khả năng thụ tinh giữa trứng và tinh trùng rất ít Trong phối giống nhân tạo, chúng ta đã lợi dụng hiện tượng này để nhận biết được trâu cái động dục và đã tiếp nhận phối giống để chửa và

đẻ con Khi theo dõi 60 trâu cái động dục ở 2 lô nghiên cứu thì thấy cả 60 con đều có niêm dịch, chiếm 100% số con động dục thể hiện hiện tượng này Mức độ thể hiện hiện tượng này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nhưng trong điều kiện bình thường thì tất cả trâu cái thí nghiệm đều thể hiện hiện tượng này Kết quả này phù hợp với quy luật tự

Trang 38

nhiên, có nghĩa là tất cả số trâu cái động dục đều có niêm dịch, còn trạng thái vật lý

niêm dịch cho ta biết thời điểm phối giống Sử dụng quy luật này vào kỹ thuật phát

hiện động dục, ta thấy nói chung khi trâu cái động dục đều có niêm dịch, trạng thái

niêm dịch thể hiện thời điểm phối giống Hiện tượng này giúp cho người chăn nuôi

nhận biết được trâu cái động dục khi quan sát hàng ngày Do vậy, người chăn nuôi

phải chú ý vào ngày mà trâu cái có khả năng động dục để phát hiện sớm trâu cái động

dục Nó giúp cho việc xác định thời gian phối giống một cách chính xác vì pha động

dục trâu cái cũng thể hiện hiện tượng này Có thể nói, hiện tượng này của trâu cái là

để người nuôi trâu nhận biết được ngay là trâu cái sắp bắt đầu động dục hoặc đã động

dục hoặc đã qua pha động dục để chú ý quan sát và kết hợp với các hiện tượng động

dục khác để khẳng định trâu cái động dục và quyết định thời điểm phối giống

4.2 Kết quả nghiên cứu chọn lựa các hiện tượng dễ nhận biết và điển hình

Dễ nhận biết= Dễ thấy hoặc nghe ( người chăn nuôi dễ phát hiện ) và không phải

dùng dụng cụ hỗ trợ

Điển hình ( tin cậy) = Tần suất cao so với tần xuất trung bình, chính xác là

trâu động dục

4.2.1 Tần suất xuất hiện của các hiện tượng dễ nhận biết và điển hình

Bảng 11 Kết quả tần suất xuất hiện các hiện tượng động dục trâu cái ( %)

TT Hiện tượng Lô I Lô II Bình quân

ty le dong duc

1= Hiện tượng động dục kêu rống

2= Hiện tượng động dục ăn ít hoặc bỏ ăn

Trang 39

3= Hiện t−ợng động dục hay đi lại

4= Hiện t−ợng động dục liếm vờn nhau

5= Hiện t−ợng động dục âm hộ s−ng

6= Hiện t−ợng động dục nhảy nhau

7= Hiện t−ợng động dục chịu nhảy

8= Hiện t−ợng động dục niêm dịch

Đồ thị 9 Biểu diễn tần suất xuất hiện của các triệu chứng động dục trâu cái

Từ bảng 11 và đồ thị 9 cho thấy có 8 triệu chứng động dục chính xuất hiện khi trâu cái động dục trong điều kiện nông thôn của địa bàn nghiên cứu Trong đó, tần suất thấp nhất ( 65%) thuộc triệu chứng hành vi kêu, ăn ít hoặc bỏ ăn; tần suất cao nhất tuyệt đối ( 100%) thuộc 2 triệu chứng là chịu nhảy và niêm dịch; còn các triệu chứng khác nh− hay đi lại, liếm vờn nhau, nhảy nhau, âm hộ s−ng đều có tần suất khá cao ( 89,9% đến 96,6%)

Nh− vậy đại đa số, các triệu chứng động dục trên là phổ biến ở trâu cái, thấp nhất cũng có tỷ lệ 65%, có nghĩa là cứ 100 trâu cái động dục thì có ít nhất 65 con thể hiện

đầy đủ 8 hiện t−ợng động dục trên, chỉ có tối đa 35 trâu cái thể hiện không đầy đủ các hiện t−ợng động dục, nh−ng 100 % số trâu đều thể hiện các hiện t−ợng động dục khi trâu cái động dục, trong đó các hiện t−ợng động dục nh− chịu nhảy và niêm dịch là hiện t−ợng phổ biến nhất, dễ nhận biết nhất và chính xác nhất Trên cơ sở này có thể có

2 kết luận: 1) Đa số trâu cái (trên 95% ) vẫn thể hiện một số triệu chứng động dục nhất

định, nếu chú ý và biết cách nhân biết thì vẫn phát hiện đ−ợc các hiện t−ợng động dục

đó một cách dễ dàng và không nhất thiết phải dùng đến dụng cụ hỗ trợ; 2) Các triệu chứng trên là những dấu hiệu trâu cái động dục và có thể dùng để làm các tín hiệu hay vật chứng để phát hiện động dục trâu cái

4.2.2 Tỷ lệ có chửa ở các hiện t−ợng dễ nhận biết và điển hình ( tin cậy)

Bảng 12 Kết quả phối giống để xác định triệu chứng dễ phát hiện và tin cậy( con )

Trang 40

TT Hiện tượng động dục Lô I

( %)

Lô II ( %)

Cả 2 lô

(%)

1= Hiện tượng động dục kêu rống

2= Hiện tượng động dục ăn ít hoặc bỏ ăn

3= Hiện tượng động dục hay đi lại

4= Hiện tượng động dục liếm vờn nhau

5= Hiện tượng động dục âm hộ sưng

6= Hiện tượng động dục nhảy nhau

7= Hiện tượng động dục chịu nhảy

8= Hiện tượng động dục niêm dịch

Đồ thị 10: Biểu diễn tỷ lệ có chửa đối với từng triệu chứng để phát hiện động dục

Các bảng 12, 13 và đồ thị 10 cho thấy tương ứng với một triệu chứng thì có một tỷ

lệ có chửa nhất định Tỷ lệ có chửa thấp dưới 50% là các triệu chứng kêu, ăn ít hay bỏ

ăn, hay đi lại, liếm vờn nhau, âm hộ sưng, nhảy nhau Còn 2 triệu chứng có tỷ lệ cao chửa trên 50% là chịu nhảy, niêm dịch

- Đối với các triệu chứng có tỷ lệ chửa < 50% cũng là những triệu chứng có tần số xuất hiện < 100%, điều này phù hợp với kết quả trên là có một số con khi thể hiện các triệu chứng có thể là do nguyên nhân khác mà không phải do nguyên nhân động dục

- Đối với các triệu chứng có tỷ lệ chửa > 50% cũng là những triệu chứng có tần số xuất hiện tuyệt đối ( 100% ), điều này phù hợp với kết quả trên là tất cả những trâu cái khi thể hiện động dục bằng các triệu chứng này chủ yếu do nguyên nhân động dục

4.2.3 Kết quả lựa chọn được các hiện tượng tin cậy nhất

Ngày đăng: 26/06/2023, 09:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w