1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Và Hóa Chất Trong Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Ở Thành Phố Bạc Liêu.pdf

59 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Và Hóa Chất Trong Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Ở Thành Phố Bạc Liêu
Tác giả Lê Kiều Lam
Người hướng dẫn Th.S Tạ Văn Phương
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I......................................................................................................................... 1 (11)
  • CHƯƠNG II (13)
    • 2.1. Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm sú (13)
      • 2.1.1. Tình hình nghề nuôi tôm trên thế giới (13)
      • 2.1.2. Tình hình nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam (14)
    • 2.2. Đặc điểm sinh học tôm sú (15)
      • 2.2.1. Phân loại và hình thái (15)
      • 2.2.2. Phân bố (16)
      • 2.2.3. Khả năng thích nghi với môi trường (16)
      • 2.2.4. Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng (17)
      • 2.2.5. Sinh trưởng (18)
      • 2.2.6. Sinh sản (18)
    • 2.3. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Bạc Liêu (19)
      • 2.3.1. Điều kiện tự nhiên (19)
        • 2.3.1.1. Vi trí địa lý (0)
        • 2.3.1.2. Địa hình (0)
        • 2.3.1.3. Khí hậu (19)
      • 2.3.2. Tài nguyên thiên nhiên (19)
        • 2.3.2.1. Tài nguyên đất (19)
        • 2.3.2.2. Tài nguyên rừng (20)
        • 2.3.2.3. Tài nguyên biển (20)
        • 2.3.2.4. Tình hình nuôi tôm ở tỉnh Bạc liêu (0)
    • 2.4. Sơ lược một số vấn đề về thuốc và hóa chất (21)
      • 2.4.1. Khái niệm thuốc thú y thủy sản (21)
      • 2.4.2. Sơ lược một số loại bệnh và cách phòng trị trên tôm sú (21)
        • 2.4.2.1. Các virus gây bệnh gan tụy (22)
        • 2.4.2.2. Các virus gây chết cấp tính (23)
        • 2.4.2.3. Bệnh do vi khuẩn (24)
        • 2.4.2.4. Bệnh do các tác nhân khác (27)
    • 2.5. Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm ở ĐBSCL (28)
      • 2.5.1. Một số loại thuốc và hóa chất thường sử dụng trong NTTS (29)
    • 3.1. Thời gian và địa điểm (31)
    • 3.2. Vật liệu (31)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (31)
      • 3.3.1. Thu nhập thông tin sơ cấp (0)
      • 3.3.2. Thu nhập thông tin thứ cấp (31)
      • 3.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (33)
  • CHƯƠNG IV.................................................................................................................... 23 (31)
    • 4.1. Khảo sát hiện trạng nuôi tôm công nghiệp ở Bạc Liêu (34)
      • 4.1.1. Mùa vụ (35)
      • 4.1.2. Độ tuổi (36)
      • 4.1.3. Năm kinh nghiệm nuôi và trình độ chuyên môn (36)
      • 4.1.4. Lao động tham gia sản xuất (37)
      • 4.1.5. Tổng diện tích ao nuôi (0)
      • 4.1.6. Ao lắng và diện tích ao lắng (39)
      • 4.1.7. Phương pháp và thời gian cải tạo (39)
      • 4.1.8. Mật độ và kích cỡ giống thả nuôi (40)
      • 4.1.9. Nguồn giống và giá giống (42)
      • 4.1.10. Thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn (42)
      • 4.1.11. Thời gian nuôi, tỷ lệ sống và năng suất (45)
      • 4.1.12. Chi phí sản xuất trong nuôi tôm công nghiệp tại Thành phố Bạc Liêu (46)
      • 4.1.13. Thu nhập và lợi nhuận của mô hình nuôi (47)
      • 4.1.14. Các bệnh thường gập ở tôm nuôi (0)
      • 4.1.15. Hướng giải quyết của hộ nuôi (0)
    • 4.2. Phân tích tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm (50)
      • 4.2.1. Thuốc và hóa chất diệt khuẩn trong cải tạo ao nuôi (0)
      • 4.2.2. Nhóm khoáng thiên nhiên (51)
      • 4.2.3. Nhóm hóa chất quản lý nước và phòng trừ dịch bệnh (52)
      • 4.2.4. Nhóm hóa chất gây màu nước (52)
      • 4.2.5. Các loại chất dinh dưỡng bổ sung vào thức ăn (53)
      • 4.2.6. Nhóm chế phẩm sinh học (CPSH) (54)
  • CHƯƠNG V (34)
    • 5.1. Kết luận (56)
    • 5.2. Đề xuất (56)

Nội dung

LVLkieulam 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH H ỌC ỨNG DỤNG ��� LUẬN VĂN TỐT NGHI ỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Mà SỐ 304 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH S Ử DỤNG THUỐC VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI TÔM SÚ T[.]

1

Ngành nuôi trồng thủy sản đã có sự phát triển vượt bậc trong những năm gần đây, được công nhận là lĩnh vực có tiềm năng lớn tại Việt Nam Hiện nay, nó được xem là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

Hiện nay, các loài cá nước ngọt và tôm biển là những đối tượng nuôi trồng chủ yếu trong ngành thủy sản Nghề nuôi thủy sản nước lợ đang phát triển mạnh mẽ tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là tôm sú (Penaeus monodon), loài tôm nước lợ phổ biến ở các tỉnh như Kiên Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Tôm sú không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn đóng góp vào nguồn ngoại tệ cho đất nước, nâng cao đời sống của người dân ĐBSCL, đặc biệt là tại Bạc Liêu.

Kể từ năm 2000, tôm sú đã trở thành sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị trường quốc tế, chiếm khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Năm 2002, giá trị xuất khẩu thủy sản đã vượt qua 2 tỷ đô la, với tôm sú đóng góp lớn Đến năm 2005, diện tích nuôi tôm đạt 540.000 ha, sản lượng 330.000 tấn, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm phần lớn với 498.233 ha và 259.477 tấn, giá trị xuất khẩu tôm nuôi vượt 1 tỷ USD/năm Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu 191.553 tấn tôm, trị giá 1.625 tỷ USD, tăng 18,8% về khối lượng và 7,7% về giá trị so với năm 2007, khẳng định vị thế tôm là sản phẩm thủy sản xuất khẩu có giá trị nhất của nước ta.

Phát triển nuôi tôm công nghiệp dẫn đến gia tăng chất thải hữu cơ, gây ô nhiễm môi trường nước và làm tăng nguy cơ bệnh tật cho tôm Việc sử dụng thuốc và hóa chất là cần thiết để kiểm soát bệnh, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm hóa chất, dư lượng trong sản phẩm và mất cân bằng sinh thái Hơn nữa, việc sử dụng không hiệu quả thuốc và hóa chất có thể làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng Do đó, nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm sú thâm canh tại Thành phố Bạc Liêu là rất cần thiết.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học nhằm phát triển nghề nuôi tôm Sú một cách hiệu quả và bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường và đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng an toàn.

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất

Tổng quan về thuốc và hóa chất sử dụng phổ biến trong nuôi tôm sú.

Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm sú

2.1.1 Tình hình nghề nuôi tôm trên thế giới Đối với nghề nuôi tôm thương phẩm, theo nhiều tác giả thì nghề nuôi tôm được hình thành từ rất sớm ở các nước khu vực Đông Nam Á với hình thức nuôi tôm quảng canh Tuy nhiên, nghề nuôi tôm thật sự bắt đầu phát triển mạnh từ những năm đầu thập niên 1970 Năm 1975, Ecuado trở thành nước dẫn đầu trên thế giới về sản lượng tôm nuôi ở Tây bán cầu và Đài Loan, Trung Quốc đứng đầu ở Đông bán cầu Sản lượng tôm nuôi trên thế giới tăng từ 50.000 tấn vào năm 1975 lên 200.000 tấn vào năm 1985, trong đó 70% sản lượng tôm nuôi đến từ các quốc gia Châu Á Năm 1988, sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt 450.000 tấn Tuy nhiên nghề nuôi tôm trong những năm đó đã bắt đầu gặp trở ngại về dịch bệnh Đài Loan bị thiệt hại nặng nhất với sản lượng giảm từ 78.000 tấn năm 1987 còn 30.000 tấn năm 1988 và khoảng 10.000 tấn năm 1990 Năm 1992, Thái Lan trở thành nước có sản lượng tôm đứng đầu trên thế giới và tiếp tục duy trì đến giữa thập niên 90 Năm 1993 – 1994, nghề nuôi tôm ở Trung Quốc bị sụp đổ do dịch bệnh sản lượng giảm từ 200.000 tấn năm 1992 xuống còn 88.000 tấn năm 1993 Năm 2003, sản lượng tôm ở Trung Quốc đạt 500.000 tấn (Yuan et al, 2006, trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương)

Năm 1995, nghề nuôi tôm toàn cầu gặp khó khăn do dịch bệnh virus, mặc dù sản lượng vẫn tăng nhờ áp dụng nhiều công nghệ mới Theo FAO (1998), sản lượng tôm nuôi toàn cầu năm 1996 đạt 900.000 tấn, với Châu Á chiếm 84% sản lượng hàng năm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) Tuy nhiên, sản lượng nuôi tôm thế giới đã giảm từ 733.000 tấn/năm 1994 xuống còn 600.000 tấn vào năm 1997 (World shrimp farming, 1997; trích dẫn bởi Nguyễn văn Hảo, 1999).

Theo thống kê của FAO (2008) thì sản lượng tôm sú nuôi tăng từ 21.000 tấn năm

1981 đến 200 tấn năm 1988 và đạt 500.000 tấn năm 1993 và khoảng 575.000 tấn năm

Từ năm 1990 đến 2000, sản lượng tôm biển toàn cầu đã tăng nhanh từ 632.400 tấn lên 1.087.900 tấn Nuôi trồng thủy sản toàn cầu cũng phát triển mạnh mẽ với tốc độ 7,6%, đạt khoảng 37,5 triệu tấn vào năm 2001, chiếm 29,1% tổng sản lượng thủy sản Tuy nhiên, vào năm 2002, sản lượng tôm sú giảm xuống còn khoảng 630.000 tấn do sự cạnh tranh từ tôm thẻ chân trắng của Thái Lan và Indonesia, nhưng đã phục hồi lên 740.000 tấn vào năm 2003 Từ năm 2004, sản lượng tôm sú nuôi bắt đầu giảm dần, đạt khoảng 670.000 tấn/năm Theo FAO (2009), sản lượng tôm sú toàn cầu đã chững lại và có xu hướng giảm, xuống dưới 600.000 tấn vào năm 2007 Tôm sú vẫn là loài tôm nuôi quan trọng nhất, chiếm 50% tổng sản lượng thủy sản, trong khi tôm chân trắng chiếm 25% (FAO, 1998).

Sự gia tăng nhanh chóng sản lượng tôm nuôi và sự phát triển đa dạng các hình thức nuôi như quảng canh, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh (lên đến 300 - 400 con/m²) đã dẫn đến nhiều tác động tiêu cực Những tác động này bao gồm suy thoái môi trường, dịch bệnh lây lan, mặn hóa đất, cạn kiệt nguồn nước ngầm, phá rừng ngập mặn, suy giảm sản lượng và tính đa dạng của nguồn lợi thủy sản, cũng như sự xâm nhập của giống loài lạ ảnh hưởng đến quần thể địa phương.

2.1.2 Tình hình nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam

Trại nghiên cứu sản xuất giống đầu tiên được thành lập vào năm 1982 tại Qui Nhơn với sự tài trợ của FAO Từ năm 1984 đến 1985, tôm sú đã được sinh sản nhân tạo thành công ở Nha Trang, trở thành đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống và nuôi tôm biển tại Việt Nam.

Theo thống kê của Bộ Thủy Sản, diện tích và sản lượng nuôi tôm ở Việt Nam đã tăng nhanh chóng qua các năm Năm 1990, diện tích nuôi tôm ước tính khoảng 185.000 ha với sản lượng đạt 35.000 tấn Đến năm 1993, diện tích tăng lên khoảng 200.000 ha và sản lượng đạt 45.000 tấn Năm 1994, cả nước có 230.000 ha với sản lượng đạt 56.000 tấn Đến năm 2000, sản lượng tôm sú nuôi đạt 571,5 nghìn tấn, chiếm 52,3% tổng sản lượng các loại tôm nuôi.

Từ năm 2001, với sự cho phép của chính phủ, diện tích nuôi tôm luân canh trong ruộng lúa đã gia tăng đáng kể, đạt trên 450.000 ha và sản lượng 170.000 tấn Đến năm 2003, diện tích nuôi tôm tăng lên 546.757 ha, sản lượng gần 200.000 tấn Năm 2004, sản lượng tôm Sú của Việt Nam đạt 290.000 tấn, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 200.000 tấn Năm 2007, sản lượng tôm nuôi đạt 307.000 tấn Theo kế hoạch, đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước dự kiến đạt 1.000.000 ha, sản lượng 2.000.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu 2.500.000 USD, thu hút 2.800.000 lao động Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II (2006), ĐBSCL có diện tích nuôi tôm Sú 552.450 ha, chiếm 88% diện tích cả nước, với sản lượng đạt 276.139 tấn Nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã phát triển qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ hình thức quảng canh từ những năm 1970.

Từ năm 1980 đến nay, mô hình nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã phát triển đa dạng với nhiều hình thức như nuôi quảng canh cải tiến đơn (trên 300.000 ha), tôm – lúa luân canh (hơn 100.000 ha), tôm rừng (hơn 29.000 ha mặt nước) và tôm bán thâm canh Theo kế hoạch năm 2010, diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL dự kiến đạt khoảng 492.067 ha, trong đó mô hình quảng canh cải tiến chiếm 375.000 ha, nuôi bán thâm canh khoảng 65.067 ha và nuôi thâm canh đạt 52.000 ha.

Các mô hình nuôi kết hợp và thân thiện với môi trường như nuôi tôm trong rừng ngập mặn, nuôi tôm luân canh trên ruộng lúa, và nuôi tôm kết hợp với các đối tượng thủy sản khác đang được duy trì và nghiên cứu để nâng cao năng suất và hiệu quả Những phương pháp này không chỉ đa dạng hóa mô hình nuôi mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm.

Đặc điểm sinh học tôm sú

2.2.1 Phân loại và hình thái

Tôm sú (Penaeus monodon) là loài tôm lớn nhất trong họ tôm he, với 7 - 8 răng trên chủy và 3 - 4 răng dưới chủy, chủy thẳng nhô lên Chúng có đặc điểm sống gan nghiêng, gai đuôi có rảnh nhưng không có gai bên Phần đầu ngực và bụng có băng đen ngang, trong khi chân ngực có màu đỏ Loài tôm này không chỉ có kích thước lớn mà còn có giá trị kinh tế rất cao.

Tôm sú chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, với phạm vi rộng từ Ấn Độ Dương đến Nhật Bản, Đài Loan, Tahiti, châu Úc và châu Phi Trong vòng đời, tôm sú trải qua các giai đoạn như trứng, ấu trùng (bao gồm nauplii, Zoea, Mysis), hậu ấu trùng, ấu niên và trưởng thành, mỗi giai đoạn có đặc tính sống và vùng phân bố riêng Tôm trưởng thành di chuyển ra biển khơi để sinh sản, trứng nở thành ấu trùng sống phù du, sau đó phát triển thành hậu ấu trùng có tập tính di chuyển xuống tầng đáy và ăn tạp, di cư vào vùng cửa sông để sinh sống và lớn lên.

2.2.3 Khả năng thích nghi với môi trường

Tôm sú là loài động vật có khả năng sống trong môi trường nước mặn, với khả năng thích ứng khác nhau ở từng giai đoạn phát triển Chúng có thể tồn tại và sinh trưởng ở độ mặn từ 1,5 - 40 ‰, nhưng điều kiện lý tưởng là từ 10 - 34 ‰ Tôm sú cũng có khả năng chịu đựng sự thay đổi nhiệt độ lớn, với nhiệt độ thích hợp từ 22 - 32 °C; dưới 15 °C và trên 35 °C, tôm có thể hoạt động không bình thường và dẫn đến chết hàng loạt Chất đáy phù hợp cho tôm sú là bùn cát.

Tôm Sú ưa thích môi trường có độ pH từ 7,5 đến 8,5, và nếu vượt quá giới hạn này, sẽ gây hại cho sự sống của tôm Độ pH dưới 4 hoặc trên 10 có thể dẫn đến cái chết của tôm, trong khi khoảng pH lý tưởng cho tôm là từ 7 đến 9 Về độ mặn, khả năng chịu đựng và thích nghi của tôm khác nhau tùy theo loài, nhưng thường các loài nuôi có thể chịu đựng độ mặn từ 5 đến 10 ‰ hoặc thấp hơn Độ mặn cao từ 45 đến 60 ‰ có thể gây chết tôm, trong khi hầu hết các loài tôm phát triển tốt ở độ mặn thích hợp.

Tôm Sú có khả năng chịu đựng độ mặn thấp đến 0‰, nhưng khi độ mặn vượt quá 40‰, khả năng sống của chúng, đặc biệt là ấu trùng, sẽ giảm đáng kể Tôm thường sinh trưởng tốt nhất ở độ muối từ 15 - 30‰.

25 ‰ (Chu Thị Thơm và csv, 2005)

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến khả năng bắt mồi của tôm, với mức nhiệt độ cao hơn 32 - 34 °C hoặc thấp hơn 25 °C có thể làm giảm khả năng này từ 20 - 50% Để tôm bột và tôm trưởng thành phát triển tốt, nhiệt độ lý tưởng nên duy trì trong khoảng 25 - 30 °C, với mức tối ưu là 28 °C.

Nhiệt độ nước không phù hợp, đặc biệt là trên 32°C, có thể dẫn đến tình trạng tôm kém ăn, chậm sinh trưởng, và dễ mắc bệnh (Chu Thị Thơm và cs., 2005) Nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của tôm nằm trong khoảng 25 - 30°C Mặc dù một số loài tôm có thể phát triển ở nhiệt độ dưới 20°C, nhưng nhiệt độ vượt quá 35°C có thể gây chết tôm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).

Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng trong nuôi tôm, với nồng độ thấp (0,0 - 1,5 mg/l) có thể gây chết tôm Hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng cho sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nằm trong khoảng 3,5 mg/l đến bão hòa, và tốt nhất là từ 5 mg/l trở lên Trong ao nuôi tôm sú, nồng độ oxy hòa tan cho phép là từ 3 - 12 mg O2/l, với mức tối ưu là 4 - 7 mg O2/l Đối với các ao nuôi bán thâm canh và thâm canh, cần sử dụng máy quạt nước khi nồng độ oxy dưới 3 mg/l, đặc biệt trong điều kiện thời tiết âm u hoặc vào cuối vụ nuôi.

Hàm lượng H₂S trong nước chỉ từ 0,01 mg/lít đã đủ gây độc cho tôm, vì vậy cần hạn chế tối đa sự hiện diện của nó Việc thay nước hoặc bón vôi là những biện pháp hiệu quả để giảm thiểu khí H₂S trong môi trường nước Khí H₂S rất độc hại đối với tôm và có thể gây ảnh hưởng bất lợi ở bất kỳ nồng độ nào.

Ammonia ở dạng khí NH₃ rất độc, với hàm lượng trên 1 mg/l có thể gây chết tôm, trong khi nồng độ trên 0,1 mg/l cũng gây ảnh hưởng xấu ở pH 9 và độ mặn 20‰ Nitrite thường không đạt mức gây chết tôm, nhưng nồng độ cao từ 4 - 5 mg/l có thể gây tác động bất lợi (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) Hàm lượng NH₄ trên 0,1 mg/l có thể gây độc cho tôm, và để giảm lượng NH₄, có thể thực hiện thay nước hoặc sục khí (Đoàn Khắc Độ).

2.2.4 Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng

Tôm sú là loài ăn tạp, ưa thích côn trùng, giáp xác, thực vật, giun nhiều tơ và mảnh vụn hữu cơ Kiểm tra thành phần thức ăn trong dạ dày cho thấy tôm sú thích động vật sống hơn giáp xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ Khi nuôi trong ao, thức ăn tốt nhất cho tôm sú là thức ăn viên công nghiệp, thức ăn tươi sống hoặc thức ăn tự chế biến (Đoàn Khắc Độ, 2008).

Vòng đời của tôm sú qua các giai đoạn:

Hình 2.2: Vòng đời của P.monodon theo Motoh (1981)

Giai đoạn phôi của tôm diễn ra ở nhiệt độ 25 - 30 độ C, trong khoảng 12 - 15 giờ, trứng sẽ nở thành ấu trùng nauplius Sau đó, tôm trải qua 4 giai đoạn ấu trùng: Nauplius, Zoae, Mysis và Postlarvae Đến giai đoạn tôm giống, chân ngực và chân bụng đã hoàn thiện, cho phép chúng bơi và bò như tôm trưởng thành Giai đoạn tôm tiền trưởng thành chứng kiến sự phát triển dần dần của các bộ phận, mặc dù chưa hoàn toàn thành thục Cuối cùng, ở giai đoạn trưởng thành, tôm đã hoàn toàn thành sinh dục và bước vào thời kỳ sinh sản Trong suốt quá trình sinh trưởng, tôm trải qua nhiều lần lột xác, mỗi lần lột xác đều dẫn đến sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng Tuổi thọ của tôm sú khoảng 1,5 năm, trong khi con cái có thể sống đến 2 năm (Đoàn Khắc Độ, 2008).

Tôm sú có khả năng sinh sản quanh năm, nhưng mùa vụ chính diễn ra từ tháng 3 đến tháng 4 và từ tháng 7 đến tháng 10 Tôm sú đạt độ tuổi thành thục và bắt đầu sinh sản khi được 8 tháng tuổi trở lên Để nhận biết tôm cái thành thục, có thể quan sát túi tinh ở cơ quan sinh dục phụ, trong khi tôm đực có tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh.

Tôm cái thành thục sẽ lột xác trước khi giao phối với tôm đực Tôm sú thường đẻ trứng vào ban đêm, từ 22 giờ đến 2 giờ, tại phần đầu ngực và 3 đốt đầu tiên của thân Số lượng trứng phụ thuộc vào chất lượng buồng trứng và kích cỡ của tôm mẹ, với mỗi cá thể trung bình đẻ khoảng 500.000 trứng.

- 1.000.000 trứng Nếu tôm được cắt mắt và nuôi vỗ trong bể xi măng thì cho lượng trứng 200.000 - 600.000 trứng /1 tôm cái Trứng nở thành ấu trùng: ở nhiệt độ 27 -

Ở nhiệt độ 28°C, trứng sẽ nở thành ấu trùng Nauplius sau khoảng 14 - 15 giờ Quá trình phát triển từ ấu trùng đến tôm trưởng thành bao gồm các giai đoạn: Nauplius, zoea, mysis, postlarvae, tiền trưởng thành và cuối cùng là trưởng thành (Đoàn Khắc Độ, 2008).

Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Bạc Liêu

Bạc Liêu là một tỉnh nằm ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tọa lạc phía Đông Bắc của bán đảo Cà Mau Tỉnh này giáp với Hậu Giang và Kiên Giang ở phía Bắc, Sóc Trăng ở phía Đông và Đông Bắc, Cà Mau ở phía Tây và Tây Nam, và biển Đông ở phía Đông và Đông Nam.

Bạc Liêu có địa hình chủ yếu bằng phẳng, với độ cao khoảng 1,2m so với mặt biển, xen lẫn là các giồng cát và khu vực trũng ngập nước quanh năm Địa hình dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam, và có nhiều kênh rạch lớn như kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, Cạnh Đền, Phó Sinh, và Giá Rai.

Bạc Liêu có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.000 đến 2.300 mm, với nhiệt độ trung bình khoảng 26°C Khu vực này nhận được từ 2.500 đến 2.600 giờ nắng mỗi năm, độ ẩm trung bình mùa khô là 80% và mùa mưa là 85% Bạc Liêu ít bị ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, không chịu tác động trực tiếp từ lũ lụt của hệ thống sông Cửu Long, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh từ thủy triều biển Đông và một phần chế độ nhật triều biển Tây.

2.3.2.1 Tài nguyên đất Đất đai của tỉnh được chia thành nhiều nhóm: nhóm đất mặn chiếm 32,6% quỹ đất, nhóm đất phèn chiếm 59,9%, nhóm đất cát chiếm 0,18%, bãi bồi và đất khác chiếm

Tỉnh Bạc Liêu có tổng diện tích đất tự nhiên là 258.247 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 98.309 ha, đất nuôi trồng thủy sản và đất muối là 120.714 ha, đất lâm nghiệp có rừng 4.832 ha, đất chuyên dùng 11.323 ha, và đất ở 4.176 ha Đất chưa sử dụng còn lại chiếm một phần nhỏ Đặc biệt, có 125.546 ha đất có khả năng trồng rừng, nuôi tôm và làm muối, chiếm 48,62% tổng diện tích Đất đai của Bạc Liêu chủ yếu là đất phù sa bồi đắp lâu năm, ổn định, rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp toàn diện.

Diện tích rừng và đất rừng tại Bạc Liêu chiếm 1,87% tổng diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là rừng phòng hộ với 4.657 ha Rừng Bạc Liêu đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng ngập mặn, úng phèn, có năng suất sinh học cao và giá trị lớn về bảo vệ môi trường Các loại cây trồng chủ yếu trong khu vực này là tràm và đước.

Bờ biển dài 56km, diện tích vùng biển 4 vạn km 2 Động vật biển bao gồm 661 loài cá,

Việt Nam có 319 giống thủy sản thuộc 138 họ, bao gồm nhiều loại có giá trị kinh tế cao như tôm, cá hồng, cá gộc, cá sao, cá thu, cá chim và cá đường Trong số đó, tôm biển có 33 loài khác nhau, với khả năng đánh bắt lên đến hơn 10.000 tấn mỗi năm Trữ lượng cá đáy và cá nổi đạt hơn 100.000 tấn mỗi năm, tạo tiềm năng cho việc xuất nhập khẩu trực tiếp.

2.3.2.4 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Bạc Liêu

Theo báo cáo của trung tâm khuyến nông - khuyến ngư Bạc Liêu, đến cuối năm 2009, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt 124.190 ha, trong đó 64.542 ha đang nuôi, bao gồm 64.310 ha tôm (1.501 ha tôm công nghiệp) và 232 ha cá cùng thủy sản khác Diện tích nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp chưa thả giống là 720 ha, trong khi diện tích đang thả giống là 3.323 ha (bao gồm 15 ha tôm công nghiệp và bán công nghiệp) Tổng diện tích thu hoạch đạt 13.156 ha, với sản lượng 545 tấn (tôm 367 tấn, cá và thủy sản khác 178 tấn).

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu là 258.246,6 ha Diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã liên tục tăng từ năm 2005 đến 2010, từ 118,71 ha vào năm 2005 lên 126,3 nghìn ha vào năm 2010 Theo kế hoạch, tỉnh sẽ tiếp tục mở rộng diện tích NTTS lên 128 nghìn ha (theo Sở NN & PTNT Bạc Liêu).

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, sản lượng tôm nuôi trồng thủy sản (NTTS) vẫn có xu hướng tăng trưởng Sau sự giảm sút vào năm 2006, sản lượng đã phục hồi và tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo Đến năm 2009, sản lượng tôm NTTS đạt 67,7 nghìn tấn, và tỉnh Bạc Liêu dự kiến sẽ nâng con số này lên 87,7 nghìn tấn vào năm 2015, theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu.

Bảng 2.2 Báo cáo tiến độ sản xuất đến ngày 31/12/2009 (Sở NN & PTNT BL)

Nuôi trồng thủy sản (ha)

DT NTTS DT đang nuôi

Tổng số Tr.đó tôm

Tổng số Tr.đó tôm

Sơ lược một số vấn đề về thuốc và hóa chất

2.4.1 Khái niệm thuốc thú y thủy sản

Quy chế khảo nghiệm giống thủy sản, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản được ban hành theo Quyết định số 18/2002/QĐ-BTS ngày 3/6/2002 của Bộ trưởng Bộ thủy sản Theo chương I, điều 3, các thuật ngữ như thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học được định nghĩa rõ ràng để đảm bảo sự hiểu biết thống nhất trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Thuốc là chế phẩm được chiết xuất từ động vật, thực vật, khoáng chất, hóa chất, vắc-xin và các chế phẩm sinh học khác, nhằm mục đích phòng và trị bệnh, điều chỉnh sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của thủy sản, cũng như xử lý và cải tạo môi trường nuôi.

* Hóa chất: Là sản phẩm hoá học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường, phòng và trị bệnh cho nuôi trồng thủy sản

Chế phẩm sinh học là sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật, bao gồm vi sinh vật, nấm, vi trùng, virus và nguyên sinh Chúng bao gồm cả độc tố và nọc độc từ động vật hoặc thực vật, được sử dụng để chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh cho thủy sản nuôi trồng, cũng như xử lý môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản.

2.4.2 Sơ lược một số loại bệnh và cách phòng trị trên tôm Sú

Việc mở rộng quy mô thâm canh trong ngành nuôi tôm hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức, đặc biệt là nguy cơ từ các dịch bệnh nguy hiểm Những bệnh phổ biến như đốm trắng (WSSV), bệnh còi (MBV), đầu vàng (YHV), Hội chứng Taura (TSV), cùng với các vấn đề về vi khuẩn, dinh dưỡng và môi trường, đã gây ra không ít thiệt hại cho người nuôi tôm ở nhiều quốc gia.

2.4.2.1 Các virus gây bệnh gan tụy

Bệnh MBV (Monodon baculovirus) ở tôm Sú

Bệnh MBV, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1980 ở tôm sú (Penaeus monodon) nhập khẩu từ Đài Loan đến Mexico, đã được xác định có nguồn gốc từ nhiều quốc gia như Đài Loan, Philippines, Malaysia, và Thái Lan Tại Đài Loan, bệnh này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi tôm sú vào các năm 1987 và 1988 Hiện nay, bệnh MBV đã lan rộng ra nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm châu Á, châu Phi, miền Nam châu Âu và châu Mỹ, với tôm sú và nhiều loài tôm biển khác thường xuyên bị nhiễm virus Virus này gây tổn thương cho tế bào gan tụy, làm cho tôm dễ bị mẫn cảm với các yếu tố môi trường và bệnh tật khác.

Bùi Quang Tề đã nghiên cứu mức độ nhiễm bệnh MBV trên tôm sú ở các tỉnh ven biển phía Nam từ tháng 10 - 11/1994, phát hiện tỷ lệ nhiễm virus MBV cao, với tôm thịt ở Minh Hải đạt 50 - 85,7%, Sóc Trăng 92,8%, tôm giống Bà Rịa - Vũng Tàu 5,5 - 31,6% và Nha Trang 70 - 100% Bệnh MBV đã gây ra tình trạng chết hàng loạt cho tôm ở các tỉnh phía Nam trong giai đoạn 1993 - 1994 Đỗ Thị Hòa tiếp tục nghiên cứu từ tháng 4/1994 đến 7/1995, cho thấy tỷ lệ nhiễm virus ở ấu trùng tôm sú là 33,8%, tôm giống 52,5% và tôm thịt 66,5% Năm 1995, điều tra sơ bộ về bệnh tôm sú ở các tỉnh phía Bắc như Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng cho thấy tôm từ Nha Trang nuôi tại đây cũng bị nhiễm MBV Đến nay, kiểm tra tôm post từ miền Bắc đến miền Nam cho thấy hầu hết đều nhiễm mầm bệnh MBV với mức độ khác nhau Mặc dù bệnh MBV không gây chết hàng loạt, nhưng làm tôm chậm lớn và chết rải rác.

Bệnh do virus MBV gây ra, ký sinh ở tế bào biểu mô ống gan tụy và ruột giữa, ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn của tôm, nhưng chủ yếu biểu hiện từ giai đoạn tôm giống, có thể xuất hiện từ Zoea 2 Ấu trùng và postlarvae nhiễm bệnh thường giảm ăn, chậm phát triển, với mang và cơ thể có nhiều sinh vật bám, trong khi ruột có đường trắng dọc cơ thể Tôm nuôi trong ao với mật độ cao có mức độ nhiễm bệnh cao và triệu chứng mãn tính, thể hiện qua màu sắc sẫm, mang đỏ hoặc đen, và vỏ có nhiều sinh vật bám Gan tụy teo lại, có màu vàng và mùi tanh, dẫn đến tỷ lệ chết từ 70-100% trong 3-7 ngày Để phòng ngừa, cần sử dụng tôm giống khỏe không nhiễm MBV, vệ sinh trại, chăm sóc tốt và loại bỏ tôm bệnh Phòng bệnh MBV chủ yếu bằng cách không sử dụng tôm giống nhiễm bệnh, tẩy dọn ao bể nuôi, nuôi tôm đúng mùa vụ, và quản lý chăm sóc tốt với đầy đủ thức ăn về chất và lượng.

Xử lý nước bằng tầng ozon và các chất sát trùng như BKC trước khi ấp trứng (Bùi Quang Tề, 2006)

Theo nghiên cứu của Từ Thanh Dung và cộng sự (2005), để phòng và trị bệnh MBV ở tôm, cần chọn giống tôm không nhiễm bệnh, tránh gây sốc cho tôm, đảm bảo chế độ ăn uống đầy đủ và quản lý môi trường nuôi trồng tốt, đồng thời loại bỏ tôm bệnh kịp thời.

Bệnh nhiễm trùng virus dưới da và hoại tử ( IHHNV): Bệnh IHHNV được phát hiện ở

Bệnh hội trứng dị hình còi cọc ở tôm chân trắng (Penaeus vannamei) xuất hiện từ giai đoạn postlarvae đến tôm trưởng thành, và đã được ghi nhận tại nhiều quốc gia như Singapore, Philippines, Thái Lan, Indonesia và Malaysia Tại Việt Nam, phân tích mô bệnh gan tụy của tôm sú cho thấy sự hiện diện của virus IHHNV với tỷ lệ nhiễm thấp, nhưng tôm nuôi ở Quảng Ninh đã được xác định nhiễm bệnh qua test PCR, dẫn đến tình trạng chậm lớn và tỷ lệ tôm còi từ 20-50% Virus IHHNV có khả năng lây lan cả chiều đứng và chiều ngang, từ bố mẹ sang ấu trùng hoặc lây nhiễm sang giai đoạn sớm của ấu trùng Phương pháp phòng bệnh IHHNV tương tự như các bệnh khác như MBV và Đầu Vàng.

2.4.2.2 Các virus gây chết cấp tính

Bệnh đốm trắng(White spot syndrome virus - WSSV):

Bệnh đốm trắng, lần đầu tiên được phát hiện ở Trung Quốc, đã gây ra tỷ lệ chết cao ở tôm sú (Chen, 1989) Từ năm 1992 đến 1994, Thái Lan đã chịu thiệt hại hơn 40 triệu USD do bệnh đầu vàng và đốm trắng ở tôm nuôi Năm 1994, các nghiên cứu từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan đã xác định nguyên nhân gây bệnh đốm trắng Bệnh thường xảy ra ở cả tôm giống và tôm trưởng thành trong các khu vực nuôi thâm canh và quảng canh, đặc biệt khi môi trường nuôi không đảm bảo Bệnh đốm trắng cũng lây lan nhanh chóng giữa các động vật giáp xác tự nhiên như tôm he, tôm nước ngọt, cua, chân chèo và ấu trùng côn trùng (Bùi Quang Tề, 2006).

Trong những năm gần đây, bệnh đốm trắng đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngành nuôi tôm ven biển ở Việt Nam, gây ra thiệt hại lớn do tôm chết hàng loạt Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân và đầu mùa hè, đặc biệt khi có sự biến đổi thời tiết mạnh mẽ, với biên độ nhiệt độ trong ngày vượt quá 5 °C, dẫn đến sốc cho tôm Theo Bùi Quang Tề (2003), các tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, và Nghệ An là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề từ bệnh đốm trắng, không chỉ ở tôm nuôi mà còn ở tôm và cua tự nhiên.

Để phòng bệnh đốm trắng (WSSV), cần chọn tôm bố mẹ có chất lượng, chiều dài từ 26 - 30 cm và không nhiễm WSSV Tránh vận chuyển tôm giống với mật độ cao và sử dụng thức ăn tươi sống đảm bảo không hư thối, được nấu chín Hàng tháng, bổ sung Vitamin C cho tôm từ 1 – 2 đợt với liều lượng 2 - 3 g/1kg thức ăn cơ bản, mỗi đợt kéo dài 1 tuần Nguồn nước cấp cho ao nuôi tôm cần được lắng lọc và khử trùng, đồng thời ngăn chặn sự xâm nhập của tôm và giáp xác khác Nước ao nuôi tôm bị bệnh đốm trắng phải được xử lý bằng chlorua với nồng độ cao (30 – 50g/m³) và không được xả ra ngoài Khi phát hiện bệnh, nên thu hoạch ngay lập tức.

Bệnh đầu vàng (Yellow head virus – YHV):

Bệnh đầu vàng, lần đầu tiên được mô tả bởi Boonyarapalin và csv (1992), đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho tôm sú nuôi ở miền trung và miền nam Thái Lan, đặc biệt là ở các vùng nuôi thâm canh Virus này cũng đã xuất hiện tại Đài Loan và các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, và Philippines, gây nguy hiểm cho tôm nuôi (Lightner, 1996) Tại Việt Nam, bệnh đầu vàng đã xuất hiện ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Nam Bộ, với tỷ lệ chết lên đến 100% trong vòng 3-5 ngày sau khi có dấu hiệu bệnh, thường xảy ra sau 20 ngày thả giống Bệnh thường phát triển ở các ao nuôi có điều kiện môi trường kém và mật độ nuôi cao, với triệu chứng đặc trưng là gan và tụy có màu vàng nhạt, dễ nhầm lẫn với một số bệnh khác (Bùi Quang Tề, 2003) Để phòng ngừa, cần áp dụng phương pháp phòng trị tổng hợp, tránh vận chuyển tôm từ vùng bệnh đến vùng chưa có bệnh Tôm chết nên được xử lý bằng cách chôn sống trong vôi nung hoặc đốt, và nước từ ao bệnh cần được xử lý bằng vôi nung hoặc clorua vôi trước khi thải ra ngoài (Bùi Quang Tề, 2006).

Để phòng trị bệnh đầu vàng theo Từ Thanh Dung và cộng sự (2005), cần chọn tôm giống tốt, không nhiễm bệnh và loại bỏ tôm bệnh Tẩy trùng ao ương và kênh cấp nước thật kỹ trước khi nuôi Xử lý nước bằng chlorine 25ppm trước khi nuôi và hạn chế thay nước trong quá trình nuôi, đồng thời xử lý nước thải bằng chlorine.

Bệnh đốm trắng do vi khuẩn (BWSS) ở tôm sú, do vi khuẩn gây ra, đã được ghi nhận ở Malaysia và Thái Lan, với Vibrio cholerae là tác nhân phổ biến trong các ao có pH và độ kiềm cao Tại Việt Nam, Vibrio spp cũng được phát hiện trong tôm sú nuôi Tôm bị bệnh xuất hiện các đốm trắng mờ đục trên vỏ, chủ yếu ở lớp biểu bì và tổ chức liên kết, ít ảnh hưởng đến tổ chức bên trong Để phòng và trị bệnh, cần kiểm soát mật độ vi khuẩn trong nước, thường xuyên thay nước ao, và sử dụng Bacillus subtilis trong chế phẩm vi sinh Đối với ao nhiễm bệnh, bón vôi nung (CaO) với liều lượng 25ppm để không làm tăng độ kiềm và pH Sử dụng khoáng vi lượng cũng giúp kích thích tôm lột vỏ, giảm bớt đốm trắng trên thân tôm.

Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm ở ĐBSCL

Ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) đang phát triển mạnh mẽ với sự mở rộng về diện tích và mức độ thâm canh, cùng với đầu tư vào cơ sở hạ tầng và chế biến sau thu hoạch Việc sử dụng thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành Theo báo cáo điều tra hiện trạng, có ít nhất 373 loại hóa chất và chế phẩm sinh học được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, bao gồm 14 loại hóa chất xử lý đất và nước, 6 chất gây màu nước, 86 loại chất khử trùng và diệt tạp, 138 kháng sinh, và 47 loại chế phẩm sinh học (Mai Văn Tài và Csv., 2004).

Việc sử dụng thuốc và hóa chất trong nghề nuôi tôm biển đang gia tăng nhanh chóng do sự chuyển đổi từ nuôi quảng canh sang thâm canh Một cuộc điều tra tại 60 hộ nuôi tôm và các nhà phân phối thuốc và hóa chất ở tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu đã chỉ ra những xu hướng này.

74 loại thuốc và hóa chất trong đó có 19 loại kháng sinh đang được dùng trong nghề nuôi tôm (Huỳnh Thị Tú và csv., 2006)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Nam và Phạm Văn Ty (2007), lớp bùn đáy hình thành từ sự tích lũy các chất hữu cơ là môi trường sống cho nhiều vi sinh vật gây thối và sinh ra khí độc như amoniac, nitrit, và hydrogen sulfur Những vi sinh vật này bao gồm các tác nhân gây bệnh như Virio, Aeromonas, E.Coli, cùng với nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật Khi có sự mất cân bằng trong hệ vi sinh vật nước, chúng có thể tấn công vật chủ Ngoài ra, ô nhiễm môi trường và tình trạng stress ở tôm cũng làm suy giảm sức khỏe, tạo điều kiện cho bệnh phát sinh.

Tại Việt Nam, có hơn 300 loại hóa chất và thuốc được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt trong nuôi thương phẩm, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước và chất lượng tôm (Nguyễn Thị Phương Nga, 2004).

Thuốc và hóa chất có thể được sử dụng an toàn nếu tuân thủ đúng hướng dẫn Mặc dù thuốc có thể an toàn trong một số trường hợp, nhưng cũng có thể gây hại trong những tình huống khác Theo GESAMP (1997), trong nuôi quảng canh hoặc quảng canh cải tiến, nhu cầu về thuốc là tối thiểu, chủ yếu chỉ cần bón phân, xử lý đất hoặc nước, và diệt tạp bằng hạt trà hoặc dây thuốc cá Ngược lại, trong các hình thức nuôi thâm canh hoặc bán thâm canh, nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh, chất phụ gia trong thức ăn, hormon, và thuốc trừ sâu để diệt ký sinh trùng lại cao hơn.

2.5.1 Một số loại thuốc và hóa chất thường sử dụng trong NTTS

Theo GESAMP (1997), thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm xử lý nước, chất lắng đọng, tăng năng suất thủy vực, cung cấp thức ăn bổ sung và kích thích sinh trưởng.

Vôi, đặc biệt là vôi nông nghiệp như CaCO3 và Dolomite, được sử dụng phổ biến để trung hòa axit và tăng độ kiềm trong ao Liều lượng bón vôi thường là 10 – 15 kg/100m² để chuẩn bị ao và 20 – 25 kg/1000m² để ổn định môi trường Việc bón vôi giúp trung hòa axit sunfủic sinh ra từ quá trình oxy hóa tầng phèn trong các ao được xây dựng từ vùng rừng ngập mặn.

Zeolite, với thành phần chính là SiO2 và Al2O3, có khả năng hấp thu khí độc như NH3 và NO2 Liều lượng sử dụng hiệu quả là từ 10 đến 15 kg cho mỗi 1000m² Tuy nhiên, hiệu quả của zeolite sẽ giảm khi sử dụng trong môi trường nước lợ do bị kiềm chế bởi nồng độ cation.

(3) Phèn (Sunfat nhôm – Kali) được sử dụng với nồng độ 10 – 20ppm, làm giảm độ đục ở các ao nuôi tôm

Phân bón đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường nguồn thức ăn tự nhiên cho ao nuôi Phân hữu cơ phổ biến như phân gà, phân bò và phân lợn thường được sử dụng với liều lượng từ 100 đến 200 kg trên 1000 m² Ngoài ra, phân vô cơ như NPK, DAP và Ure cũng được áp dụng với liều lượng từ 2 đến 3 kg trên 1000 m².

Trifluro 2,4-dinitro-NN-dipropyl-2,2-toluidine, còn được gọi là Formaline hay Formaldehyde, có cấu trúc hóa học với góc đặc trưng và tồn tại dưới dạng lỏng màu trắng Sản phẩm thương mại của Formaline rất đa dạng với nhiều hàm lượng khác nhau như 20%, 35%, và 37% Nó được sử dụng để diệt khuẩn, ký sinh trùng, và tảo, với nồng độ 15-25 ppm cho mục đích diệt khuẩn và 200 ppm để kiểm soát trứng.

Thuốc tím, hay còn gọi là Kali permanganat (KMnO₄), là một chất hóa học dạng hạt mịn màu tím đen, dễ tan trong nước và được sử dụng để lắng phù sa Đây là một chất oxy hóa mạnh, vì vậy cần chú ý đến liều lượng khi sử dụng Khi xử lý nước có nhiều tảo và hợp chất hữu cơ lơ lửng, thuốc tím giúp nước trở nên trong suốt hơn, do tảo và các hợp chất này lắng xuống đáy.

CuSO₄, hay còn gọi là sulfat đồng, là một hợp chất có màu xanh tan trong nước, có tác dụng chống lại các bệnh nhiễm khuẩn dạng sợi và động vật nguyên sinh Nó kích thích quá trình lột xác ở tôm, giảm thiểu bệnh thối rữa do vi khuẩn và tiêu diệt tảo độc Tuy nhiên, nồng độ vượt quá 0,07 ppm có thể gây độc hại cho tôm và cá.

Rotenon, hay còn gọi là dây thuốc cá, được sử dụng để diệt tạp trong ao trước khi thả tôm, cá giống Hợp chất này có khả năng làm tê liệt đường hô hấp với liều lượng 1kg cho 100m³ nước.

Saponin, được chiết xuất từ bã hạt chè dại, là một chất diệt tạp hiệu quả trong ao nuôi tôm, được sử dụng với nồng độ 20 – 30 ppm Ngoài ra, saponin còn có tác dụng kích thích quá trình lột xác của tôm.

5 - 7ppm Các sản phẩm thương mại chỉ có 12 – 17 % saponin

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm

• Thời gian: 2 tháng, từ tháng 03/2011 đến 05/2011

• Địa điểm: Hiệp Thành, P2, P 8 của thành phố Bạc Liêu

● Đối tượng nghiên cứu: Mô hình nuôi tôm sú thâm canh

Vật liệu

Bảng câu hỏi được soạn sẵn trình bày ở phụ lục.

Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu nh ậ p thông tin th ứ c ấ p

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo hàng năm của Chi cục Nuôi trồng thủy sản và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, cùng với thông tin cập nhật từ Internet, tạp chí và các báo cáo khoa học.

Nội dung của thông tin thứ cấp bao gồm:

- Khảo sát tình hình dịch bệnh trên tôm sú ở Thành phố Bạc Liêu

- Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất

Phỏng vấn trực tiếp người nuôi tôm sú tại Thành phố Bạc Liêu nhằm thu thập thông tin về trình độ chuyên môn của người sản xuất Dữ liệu được thu thập dựa trên bảng câu hỏi đã được soạn sẵn (phụ lục).

23

Khảo sát hiện trạng nuôi tôm công nghiệp ở Bạc Liêu

Nghề nuôi tôm công nghiệp ở Bạc Liêu đã phát triển từ đầu những năm 2000, xuất phát từ sự kém hiệu quả của nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến Chính sách của nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn đã cho phép chuyển đổi các vùng canh tác nông nghiệp kém hiệu quả ven biển sang nuôi trồng thủy sản Bạc Liêu, với bờ biển dài khoảng 56 km, đã phát triển mạnh nghề nuôi tôm biển, trong đó mô hình thâm canh và bán thâm canh chiếm 4.830 ha trong tổng diện tích 54.017 ha nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước ngọt của tỉnh vào năm 2005 (Sở Thủy sản Bạc Liêu, 2006).

Trong năm 2006, sản lượng tôm đạt 58.400 tấn, với tổng diện tích nuôi tôm là 64.828 ha, bao gồm 9.115 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, cùng 24.552 ha nuôi quảng canh cải tiến Tuy nhiên, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại lên tới 14.664 ha, trong đó 1.437 ha thuộc mô hình thâm canh và bán thâm canh Sự giảm sút trong mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh so với năm 2005 chủ yếu do thiếu vốn, dẫn đến việc chuyển đổi sang nuôi các đối tượng khác như cá và cua, cũng như nuôi tôm với mật độ thưa và năng suất thấp, chỉ đạt từ 2,5 – 2,8 tấn/ha/vụ.

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản Ha 126.076 125.767 126.100

Diện tích nuôi tôm CN và BCN Ha 11.174 10.770 11.000

Diện tích nuôi tôm sú Ha 10.830 10.612 10.800

Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Bạc Liêu, 2010

Nuôi tôm nước lợ là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh Bạc Liêu, với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 126.076 ha vào năm 2009 Trong đó, diện tích nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp chiếm 11.174 ha Mặc dù kế hoạch của tỉnh có xu hướng giảm diện tích nuôi tôm, nhưng năng suất tôm sú vẫn tăng đều, đạt 2,42 tấn/ha vào năm 2009, 2,43 tấn/ha vào năm 2010, và 2,55 tấn/ha vào năm 2011.

Bảng 4.2: Diện tích và sản lượng nuôi tôm ở thành phố Bạc Liêu qua 2 năm và kế hoạch năm 2011

Chỉ tiêu Đơn vị Năm

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản Ha 7.201 6.579 6.654

Diện tích nuôi tôm CN và BCN ha 5.716 5.126 5.200

Diện tích nuôi tôm sú ha 5.670 5.006 5.100

Ngu ồ n: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Bạc Liêu, 2010

Từ bảng 4.2 cho thấy tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ở thành phố Bạc Liêu năm

Năm 2009, diện tích nuôi tôm cao nhất đạt 7.201 ha, chiếm 64% toàn tỉnh, nhưng đến năm 2011, diện tích này giảm xuống còn 6.654 ha, chiếm 60% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản Sản lượng tôm nuôi năm 2009 đạt 12.260 tấn, chiếm 47% tổng sản lượng, nhưng đã giảm xuống còn 11.800 tấn vào năm 2011, chiếm 43% Điều tra cho thấy, với mật độ nuôi 20,7 con/m², nhu cầu con giống cho thành phố Bạc Liêu khoảng 1,3 tỷ post/vụ.

Theo kết quả điều tra, hầu hết người dân nuôi tôm chỉ thực hiện một vụ chính và một vụ phụ do giá tôm cao, với tôm là đối tượng nuôi chủ yếu Vụ chính (vụ 1) thường bắt đầu vào khoảng tháng

2 – 6 âm lịch, vụ phụ (vụ 2) là sau khi thu hoạch vụ 1

Bảng 4.3: Số vụ nuôi tôm của các hộ thả nuôi trong năm

Số vụ nuôi Số lương (hộ) Tỷ lệ (%) vụ 1 30 100 vụ 2 27 90

Theo bảng 4.3, trong vụ nuôi tôm thứ nhất của năm, có 30 hộ tham gia (chiếm 100%) Vụ 1 được coi là vụ chính nhờ vào thời tiết thuận lợi, diễn ra trong mùa khô từ tháng 2 đến tháng.

Tất cả các hộ nuôi tôm trong vụ này đã đầu tư cao và chuẩn bị kỹ lưỡng từ khâu chọn giống, cải tạo ao đến chăm sóc và quản lý môi trường nước cũng như sức khỏe tôm nuôi Vụ 2 có 27 hộ (chiếm 90%) được xem là vụ phụ, bắt đầu từ tháng 7, trùng với mùa mưa Thời tiết trong vụ này thường bị ảnh hưởng bởi mưa bão, dẫn đến sự biến động của các yếu tố môi trường như độ mặn và nhiệt độ, do đó rủi ro cao hơn so với vụ 1.

Theo Bộ Thủy sản (2006), tôm rất nhạy cảm với thời tiết và dễ bị nhiễm bệnh khi có sự thay đổi, đặc biệt sau mưa bão, khi các yếu tố lý hóa môi trường bị biến đổi, dẫn đến sốc tôm và tạo cơ hội cho virus, vi khuẩn tấn công Do đó, hạn chế thả tôm trong thời điểm không thuận lợi và chọn mùa tối ưu sẽ tăng khả năng thành công Hiện nay, hầu hết các mô hình nuôi tôm công nghiệp chỉ nuôi một vụ chính, trong khi vụ phụ được duy trì với mật độ thưa hơn, vì tôm là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân.

4.1.2 Độ tuổi Độ tuổi của người dân nuôi tôm cũng phản ánh lên được kinh nghiệm thực tế trong quá trình sản xuất Do đó việc tìm hiểu tuổi tác của người trực tiếp nuôi tôm là một vấn đề cần thiết Kết quả điều tra được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.4: Cơ cấu về độ tuổi của chủ hộ Độ tuổi Hộ Tỷ lệ (%)

Theo bảng 4.4, tỷ lệ người nuôi tôm trên 55 tuổi chỉ chiếm 3,3%, nhưng họ có kinh nghiệm nuôi lớn nhất là 10 năm Độ tuổi từ 46 – 55 chiếm 33,3% với kinh nghiệm trung bình 9,3 năm, trong khi độ tuổi 36 – 45 chiếm 43,3% với kinh nghiệm 6,8 năm Nhóm tuổi 26 - 35 chiếm 20,1% và có kinh nghiệm thấp nhất là 4 năm Đặc biệt, 76,6% người nuôi tôm là ở độ tuổi trung niên, giúp họ có kinh nghiệm và khả năng phát hiện sớm các vấn đề trong ao nuôi Tuy nhiên, do thói quen nuôi theo kinh nghiệm lâu năm, việc thay đổi phương thức nuôi và áp dụng kỹ thuật mới gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước và dịch bệnh lây lan nhanh.

4.1.3 Năm kinh nghiệm nuôi và trình độ chuyên môn

Trong nuôi tôm, kinh nghiệm là yếu tố quan trọng quyết định thành công hay thất bại của vụ nuôi Kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm và từ các vụ nuôi trước, cũng như học hỏi từ bạn bè, giúp người nuôi hiểu rõ hơn về đối tượng nuôi Những kinh nghiệm này cho phép người dân nắm bắt kịp thời và xử lý hiệu quả trong quá trình nuôi, xác định mùa vụ thích hợp, thời điểm thả giống, cũng như cách cho ăn và quản lý chăm sóc tôm.

Phần lớn nông hộ nuôi tôm chủ yếu học hỏi qua sách báo và kinh nghiệm của cán bộ địa phương, chiếm 87% Mặc dù ngành thủy sản địa phương tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật nuôi cho nông dân, nhưng chỉ chiếm 10% do hạn chế về kinh phí và nhân lực, dẫn đến hiệu quả không cao Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nông dân nuôi thủy sản có trình độ đại học tương đối thấp, chỉ chiếm 3%.

Kinh nghiệm Tập huấn Đại học

Kinh nghiệm nuôi tôm sú trung bình là 7,2±2,89 năm, với 30% nông hộ có kinh nghiệm dưới 6 năm đạt năng suất 3,17 tấn/ha Nhóm nông hộ nuôi từ 6 – 9 năm cũng chiếm 30% và đạt năng suất 3,23 tấn/ha, trong khi nhóm có kinh nghiệm trên 9 năm chiếm 40% và đạt năng suất cao nhất 3,54 tấn/ha Lợi nhuận thu được theo năm kinh nghiệm cho thấy nông hộ dưới 6 năm đạt 177 triệu đồng/ha, nhóm 6 – 9 năm đạt 240 triệu đồng/ha, và nhóm trên 9 năm đạt lợi nhuận cao nhất 259 triệu đồng/ha Điều này chứng tỏ rằng năm kinh nghiệm có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và lợi nhuận trong nuôi tôm.

Theo Trương Quốc Phú (2007), lợi nhuận cao từ 100 – 150 triệu đồng/ha/vụ đã thúc đẩy nông dân tham gia mô hình nuôi tôm thâm canh, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng diện tích nuôi tôm Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay, người nuôi tôm đang phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến môi trường và dịch bệnh.

4.1.4 Lao động tham gia sản xuất

Nghề nuôi tôm sú đang phát triển mạnh mẽ trong ngành nuôi trồng thủy sản tại ĐBSCL, đặc biệt là ở Bạc Liêu, và đóng góp quan trọng vào việc tạo ra việc làm Lao động trong lĩnh vực này được phân thành hai loại: lao động gia đình và lao động thuê mướn.

LĐ gia đình LĐ thuê

Hình 4.2 Lao động tham gia sản xuất

Ngày đăng: 26/06/2023, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Tề, 2003. Bệnh Học Thủy sản. Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I.Trang 62-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Học Thủy sản
Tác giả: Bùi Quang Tề
Nhà XB: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
Năm: 2003
2. Bùi Quang Tề, 2006. Bệnh Học Thủy sản. Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I. 439 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Học Thủy sản
Tác giả: Bùi Quang Tề
Nhà XB: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
Năm: 2006
3. Bộ thủy sản, 2004. Kết quả nghiên cứu về bệnh phân trắng, teo gan trên tôm sú nuôi thương phẩm tại Ninh Thuận. Thông tin khoa học công nghệ kinh tế thủy sản số 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu về bệnh phân trắng, teo gan trên tôm sú nuôi thương phẩm tại Ninh Thuận
Tác giả: Bộ thủy sản
Nhà XB: Thông tin khoa học công nghệ kinh tế thủy sản
Năm: 2004
4. Bộ thủy sản, 2006. Cách phòng và chữa một số bệnh thường gập ở tôm he sau mưa, thông tin khoa học – kinh tế thủy sản, số 4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách phòng và chữa một số bệnh thường gập ở tôm he sau mưa
Tác giả: Bộ thủy sản
Nhà XB: thông tin khoa học – kinh tế thủy sản
Năm: 2006
5. Bộ Thủy Sản trung tâm khuyến nông quốc gia, 2006. Kỹ thuật sản xuất giống tôm Sú chất lượng cao. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giống tôm Sú chất lượng cao
Tác giả: Bộ Thủy Sản trung tâm khuyến nông quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
6. Bộ Thủy Sản, 2009. Danh mục các loại thuốc và kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loại thuốc và kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy Sản
Năm: 2009
7. Bộ Thủy Sản, 2009. Danh mục các loại thuốc và kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loại thuốc và kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy Sản
Năm: 2009
8. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài và Nguyễn Văn Tó, 2005. Kỹ thuật nuôi tôm nước lợ. Nhà xuất bản lao động, trang 29-31, 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi tôm nước lợ
Tác giả: Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động
Năm: 2005
9. Đoàn Khắt Độ, 2008. Kỹ thuật nuôi tôm sú, trang 5-9. Biên soạn dịch thuật sách sài gòn, 76 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi tôm sú
Tác giả: Đoàn Khắt Độ
Nhà XB: Biên soạn dịch thuật sách sài gòn
Năm: 2008
11. Vũ Dũng Tiến và Don Griffiths, 2009. GAP và BMP trong nuôi tôm tại Việt Nam: Chính sách, hiện trạng và phương hướng thực hiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: GAP và BMP trong nuôi tôm tại Việt Nam: Chính sách, hiện trạng và phương hướng thực hiện
Tác giả: Vũ Dũng Tiến, Don Griffiths
Năm: 2009
12. Hướng dẫn quản lí chất lượng nước trong ao nuôi tôm sú dành cho ngành nuôi trồng thủy sản, 2004. Phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lí chất lượng nước trong ao nuôi tôm sú dành cho ngành nuôi trồng thủy sản
Nhà XB: Phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển Hà Nội
Năm: 2004
13. Huỳnh Thị Tú và csv., 2006. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc – hóa chất trong nuôi tôm và tồn lưu của Enrofloxacin và Furazolidone trong Tôm Sú (Penaeus monodon). Tạp chí nghiên cứu khoa học – Đại Học Cần Thơ, trang1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc – hóa chất trong nuôi tôm và tồn lưu của Enrofloxacin và Furazolidone trong Tôm Sú (Penaeus monodon)
Tác giả: Huỳnh Thị Tú, csv
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu khoa học – Đại Học Cần Thơ
Năm: 2006
14. Hoàng Tùng. Nghiên cứu gia hoá tôm Sú (Penaeus monodon) trên thế giới:Những bài học và giải pháp tiếp cận cho Việt Nam, Đại học thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu gia hoá tôm Sú (Penaeus monodon) trên thế giới:Những bài học và giải pháp tiếp cận cho Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tùng
Nhà XB: Đại học thủy sản Nha Trang
15. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nuôi trồng thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, 2006. Theo thống kê viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nuôi trồng thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nhà XB: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II
Năm: 2006
16. Lê Xuân Sinh, Đỗ Minh Chung, Phan Thị Ngọc Khuyên và Từ Thanh Tuyền, 2006. Tác động về mặt xã hội của các hoạt động nuôi trồng thủy sản nước lợ ven biển ĐBSCL. Tạp chí khoa học. Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động về mặt xã hội của các hoạt động nuôi trồng thủy sản nước lợ ven biển ĐBSCL
Tác giả: Lê Xuân Sinh, Đỗ Minh Chung, Phan Thị Ngọc Khuyên, Từ Thanh Tuyền
Nhà XB: Tạp chí khoa học
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Chung, 2000. Cơ sở sinh học và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tôm Sú. Nhà xuất bản nông nghiệp tp. Hồ Chí Minh. 45 trang, trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tôm Sú
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Hảo, 2002. Một số vấn đề về kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp. Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, trang 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
19. Nguyễn Thị Phương Nga (2004). Phân tích tình hình phân phối và sử dụng thuốc trong thủy sản tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau. Luận văn thạc sĩ . Đại học cần thơ (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tình hình phân phối và sử dụng thuốc trong thủy sản tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Nga
Nhà XB: Đại học cần thơ
Năm: 2004
20. Nguyễn Thanh Phương, Huỳnh Hàn Châu và Châu Tài Tảo, 2006. Tình hình sản xuất giống tôm Sú (Penaeus monodon) ở tỉnh Cà Mau và thành phố Cần Thơ. Tạp chí nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất giống tôm Sú (Penaeus monodon) ở tỉnh Cà Mau và thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Thanh Phương, Huỳnh Hàn Châu, Châu Tài Tảo
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu khoa học
Năm: 2006
21. Nguyễn Quốc Thịnh, 2006. Báo cáo khoa học, đề tài cấp trường. Điều tra đánh giá ảnh việc sử dụng thuốc và hóa chất trong quá trình nuôi đến tình hình dịch bệnh trên cá tra(Pangasius hypophthalmus) nuôi bè Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học, đề tài cấp trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Thịnh
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w