1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Kinh Tế Thể Chế - Đề Tài : Nhà Nước Dẫn Dắt Phát Triển

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhà Nước Dẫn Dắt Phát Triển
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Thể Chế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 166,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KINH TẾ THỂ CHẾ ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC DẪN DẮT PHÁT TRIỂN Mục lục 1 Khái niệm 1 1 1 Các nhân tố để xây dựng định nghĩa của mô hình nhà nước phát triển C Johnson[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KINH TẾ THỂ CHẾ

ĐỀ TÀI:

NHÀ NƯỚC DẪN DẮT PHÁT TRIỂN

Trang 2

Mục lục

1 Khái niệm 1

1.1 Các nhân tố để xây dựng định nghĩa của mô hình nhà nước phát triển C Johnson và Adrian Leftwith 1

1.2 Mô hình nhà nước phát triển là mô hình kinh tế dựa vào Nhà nước 2

2 Cốt lõi thị trường 3

3 Chức năng/ nhiệm vụ của nhà nước 3

4 Nền tảng lý thuyết cho chức năng phát triển 3

5 Đặc điểm thể chế mô hình nhà nước phát triển 4

5.1 Nhà nước nắm vai trò trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế 4

5.2 Cơ quan hành pháp giữ vai trò quyết định trong việc hoạch định chính sách kinh tế Đồng thời, các cơ quan Nhà nước thường có mối liên kết rất chặt chẽ với khu vực tư nhân 4

5.3 Hình thành các tập đoàn kinh doanh lớn 5

5.4 Việc nắm giữ cổ phần chéo giữa các công ty là một thực tế phổ biến 5

5.5 Hệ thống ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng 5

6 So sánh các yếu tố giữa các nước áp dụng mô hình nhà nước dẫn dắt phát triển và không áp dụng mô hình ( trong chính sách Công nghiệp) 6

7 Điều kiện áp dụng nhà nước kiến tạo phát triển 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 3

1 Khái niệm

- Định nghĩa về nhà nước phát triển được đưa ra lần đầu bởi Chalmers Ashby Johnson (1982) Theo ông, nhà nước kiến tạo phát triển là một mô hình quản lý nhà nước, trong đó nhà nước

đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

1.1 Các nhân tố để xây dựng định nghĩa của mô hình nhà nước phát

triển C Johnson và Adrian Leftwith

Tồn tại các quy tắc ổn định và

vững chắc do giới tinh hoa

chính trị - quan liêu thiết lập

nên, tương đối độc lập trước

các sức ép chính trị có thể gây

tổn hại tới tăng trưởng kinh tế

Tồn tại tầng lớp quan liêu tinh hoa gần gũi với Nhà nước: Giới tinh hoa trong Nhà nước kiến tạo phát triến có số lượna nhỏ vànhững người này gần gũi với chính quyền, tạo thành hạt nhân vững chắc và đoàn kết hồ trợ cho Nhà nước Một đặc trưng khác là có nhiều quân nhân nắm giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền Các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp quan liêu ưu tú này

Có sự hợp tác chặt chẽ giữa

khu vực công và tư (Nhà nước

Tính độc lập tương đối của Nhà nước: Nhà nước độc lập

Trang 4

và doanh nghiệp) Sự hợp tác

được thể chế hóa này do một

cơ quan kế hoạch hóa mang

tính chiến lược giám sát (ví

dụ: Bộ Ngoại thương và Công

nghiệp ở Nhật Bản)

trước các nhóm áp lực (các giai cấp, tầng lóp, quyền lực mang tính địa phương) và đặt lợi ích quốc gia trên các lợi ích cá nhân này

Có sự đầu tư mạnh mẽ và liên

tục cho giáo dục, kết hợp với

một số chính sách nhằm bảo

đảm phân chia công bằng của

cải

Điều phối kinh tế và phát triển được một số thiết chế chuyên biệt đảm trách (ví dụ như một

bộ chịu trách nhiệm tổ chức các tương tác giữa Nhà nước

và nền kinh tế) Các thiết chế này có thực quyền và năng lực

kỳ thuật trong xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển

Có một Chính phủ nắm rõ và

tuân thủ các quy luật của kinh

tế thị trường Ngoài ra, chính

quyền phải mạnh thậm chí là

chuyên chế

Quan hệ với xã hội dân sự: Thường thì Nhà nước kiến tạo phát triển được thiết lập trong bối cảnh xã hội dân sự yếu Chính quyền mạnh, kiếm soát chặt xã hội dân sự và không phải bận tâm nhiều về các nhóm đối lập Kinh tế phát triển sẽ làm xã hội dân sự phát triển

Nhà nước kiến tạo phát triển

và lợi ích kinh tế: Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân Điều này xuất phát từ việc quyền lực và sự

Trang 5

độc lập của Nhà nước được củng cố trước khi giới tư bản trở thành một thế lực ánh hường Các lợi ích tư nhân chưa có một sức mạnh đáng

kế vào thời diêm thiết lập Nhà nước

Các quyền dân sự: Trong các Nhà nước theo mô hình kiến tạo phát triển, các quyền dân

sự bị hạn chế Đây thường là các quốc gia phi dân chủ và có mức độ chuyên chế cao Nhưng Nhà nước lại có được tính chính danh từ nhân dân nhờ các lợi ích từ tăng trưởng kinh tể được phân phối tốt (trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng )

1.2 Mô hình nhà nước phát triển là mô hình kinh tế dựa vào Nhà

nước

- Đối lập với các nền kinh tế thị trường tự do phát triển, nơi Chính phủ chủ yếu giữ vai trò điều tiết hay trọng tài của cuộc chơi, hoặc là người phản đối lại thu nhập, cung cấp phúc lợi công cộng, đảm bảo ổn định vĩ mô, Chính phủ tại các nền kinh

tế dựa vào Nhà nước có chức năng khác là điều phối quá trình chuyển đổi công nghiệp của đất nước, bao gồm cả việc đóng vai trò là người sản xuất trực tiếp

Trang 6

2 Cốt lõi thị trường

- 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân, cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây

- Theo các nhà nghiên cứu, đây là mô hình Nhà nước nằm ở giữa

mô hình Nhà nước điều tiết (theo chủ nghĩa tân tự do)) và mô hình Nhà nước kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình Xô viết) Nhà nước kiến tạo phát triển không đứng ngoài thị trường, nhưng cũng không làm thay thị trường mà Nhà nước chủ động can thiệp vào thị trường để thúc đẩy phát triển công nghiệp và tăng cường sức mạnh cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc

tế (phát triển và tăng trưởng kinh tế là mục tiêu tối thượng) Đây

là mô hình Nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình Nhà nước trên

3 Chức năng/ nhiệm vụ của nhà nước

Nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng nhất của Nhà nước là thúc đẩy phát triển kinh tế dài hạn

- Thay vì chấp nhận sự phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh sẵn có của đất nước

+ Nhà nước phát triển cố gắng thực hiện chính sách công nghiệp (chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế) để tạo ra những lợi thế so sánh mới đáp ứng triển vọng biến động của tương lai

- Nhà nước không chỉ quan tâm đến luật chơi của nền kinh tế mà còn can thiệp mạnh mẽ đi sâu hướng dẫn, chỉ đạo, điều tiết cả phương hướng, nội dung của hoạt động kinh tế nhằm thực hiện chức năng phát triển của nhà nước

+ Nhà nước vạch ra kế hoạch phát triển dài hạn hoặc ngắn hạn, chủ động phát triển những loại công nghệ cần thiết, thúc đẩy hoặc kiềm chế những ngành công nghiệp nhất định được ưu tiên hoặc bị xác định đã lỗi thời, thậm chí

Trang 7

trực tiếp tiến hành kinh doanh trong một số lĩnh vực Nói một cách ngắn gọn, Nhà nước có chức năng phát triển

4 Nền tảng lý thuyết cho chức năng phát triển

 Những phân tích xung quanh “lợi thế so sánh động” của một nền kinh tế

- Bản thân cơ chế thị trường là rất thiển cận, chỉ tập trung vào những lợi thế so sánh “tĩnh”, hay ngắn hạn và không thể chấp nhận việc hy sinh những lợi ích hiện nay để bảo hộ và phát triển những ngành non trẻ có ý nghĩa chiến lược trong tương lai

- Cho nên, để tạo ra sức cạnh tranh quốc tế dài hạn và tạo ra

“những bước nhảy” cho nền kinh tế, Nhà nước cần thực thi chức năng phát triển để thường xuyên thách thức thế cân bằng thị trường và phân công lao động quốc tế đang tồn tại

 Ví dụ nổi bật

- Từ năm 1943, Chính phủ Nhật Bản liên tiếp đưa ra các kế hoạch kinh tế Mỗi kế hoạch đều vạch ra mục tiêu tương lai mặc dù các mục tiêu này có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh

- Cho dù các kế hoạch của Chính phủ chỉ có tính định hướng nhưng khu vực tư nhân Nhật Bản luôn coi trọng các bản kế hoạch này và mỗi công ty thường dựa trên kế hoạch chung của đất nước để xây dựng các định hướng kinh doanh cho riêng họ

5 Đặc điểm thể chế mô hình nhà nước phát triển

5.1 Nhà nước nắm vai trò trung tâm trong quá trình phát triển kinh

tế

Rõ ràng rằng, một nhà nước kiến tạo phát triển phải là Đưa ra được các chính sách vĩ mô đúng đắn, nắm vai trò chủ đạo trong định hướng nền kinh tế Tuy nhiên, dù nắm vai trò chủ đạo nhưng nhà nước không hạn chế sự phát triển của các chủ thể khác của nền kinh tế mà giữ nhiệm vụ kiến tạo phát triển cho các chủ thể đó Khi đi theo

Trang 8

hướng kiến tạo phát triển, nhà nước chi phối về chiến lược đầu tư phát triển Nhà nước kiến tạo phát triển phải hài hòa giữa các chính sách kinh tế và sự vận động tự nhiên của nền kinh tế, tức là định hướng chứ không áp đặt lên nền kinh tế.Để làm được điều đó, nhà nước kiến tạo phát triển cần có những công cụ và chính sách phát triển đặc thù.Trong đó có hai công cụ quan trọng nhất Thứ nhất là công cụ tài chính: nhà nước phải sở hữu và chi phối hệ thống ngân hàng - thông qua các ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời chủ động quản lý ngân sách trung ương một cách tập trung (bao gồm cả ODA) Thứ hai

là công cụ doanh nghiệp: nhà nước phải chi phối hoạt động của một

số doanh nghiệp quy mô lớn trong các ngành kinh tế quốc dân quan trọng Về chính sách phát triển thì quan trọng nhất là chính sách công nghiệp với định hướng tập trung mọi nguồn lực để ưu tiên phát triển bằng

5.2 Cơ quan hành pháp giữ vai trò quyết định trong việc hoạch định

chính sách kinh tế Đồng thời, các cơ quan Nhà nước thường có mối liên kết rất chặt chẽ với khu vực tư nhân.

Suốt nhiều thập kỷ sau chiến tranh, Nhật Bản luôn nổi tiếng là Liên hiệp Nhật Bản Điều đó có nghĩa là giữa Chính phủ (mà trước hết là chính khách và quan chức của Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI)) và giới kinh doanh tư nhân có quan hệ rất chặt chẽ

5.3 Hình thành các tập đoàn kinh doanh lớn

- Những tập đoàn này bao gồm hàng chục công ty hạt nhân, cốt lõi là một hoặc một vài ngân hàng lớn chuyên lo cấp vốn cho các công ty thành viên Các tập đoàn này ít phụ thuộc vào thị trường chứng khoán Những công ty thành viên của tạp đoàn có thể độc lập trên danh nghĩa pháp lý nhưng trên thực tế chúng liên hệ và phối hợp rất chặt chẽ với nhau Dưới sự bảo trợ của Chính phủ, các tập đoàn này được hưởng nhiều đặc quyền kinh

Trang 9

doanh, từ sự bảo hộ thương mại, vay vốn không cần thế chấp cho đến kinh doanh độc quyền

- Nhược điểm lớn nhất là quan hệ liên kết trên nhiều mặt đã khiến các công ty trong những tập đoàn này không thể chủ động và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, một điều rất không phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế năng động như hiện nay Hơn nữa, hệ thống này thiếu sự minh bạch, dễ tạo ra môi trường cho những hành vi tìm kiếm đặc lợi và tham ô, tham nhũng Nhiều nhà kinh tế Hoa Kỳ cho rằng đây chỉ là một hình thức độc quyền trá hình

5.4 Việc nắm giữ cổ phần chéo giữa các công ty là một thực tế phổ

biến

- Mối quan hệ nắm giữa cổ phần đan chéo nhau này, đặc biệt là giữa các công ty bạn hàng có độ tín nhiệm cao, không phải vì mục đích lợi nhuận trước mắt và vì mối quan hệ làm ăn ổn định lâu dài, do đó tạo nên một liên minh phối hợp kinh doanh bền vững Số cổ phiếu của một công ty do các công ty khác nắm giữ

có xu hướng giảm

- Ở Nhật Bản, số cổ phiếu do cá nhân nắm giữ từ mức 73% năm

1949 đã giảm xuống còn 23% vào năm 1994 Sự nắm giữ cổ phiếu đan chéo này tạo nên một “kim tự tháp chứng khoán” nguy hiểm, góp phần tạo ra tình trạng phá sản hàng loạt kiểu domino vào những năm 1990 ở Nhật Bản và Hàn Quốc

5.5 Hệ thống ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng

- Ở Nhật Bản, mọi công ty, lớn cũng như nhỏ, đều tìm cách thiết lập một quan hệ chặt chẽ với ít nhất một ngân hàng để họ có thể tìm kiếm từ đó sự bảo hộ trong các trường hợp khủng hoảng Dù

Trang 10

vậy, các ngân hàng của Nhật Bản ít được trực tiếp tham gia vào quản lý của công ty

- Thị trường lao động thường kém linh hoạt

+ Các chủ doanh nghiệp phải đương đầu với những thủ tục pháp lý khó khăn và tốn kém nếu muốn sa thải người lao động

+ Ở một số nền kinh tế, người lao động được hưởng chế độ làm việc suốt đời, được cất nhắc và khen thưởng theo thâm niên phục vụ công ty chứ không phải chỉ theo hoặc chủ yếu theo năng lực và thành tích cá nhân Lòng trung thành với công ty, còn hơn cả hiệu suất công việc, luôn được coi

là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá nhân viên

6 So sánh các yếu tố giữa các nước áp dụng mô hình nhà nước dẫn dắt phát triển và không áp dụng mô hình ( trong chính sách Công nghiệp)

Nhà nước dẫn dắt phát triển Nhà nước không

theo mô hình dẫn dắt phát triển

Về mặt tư

tưởng

Có sự đồng thuận rất cao của những người quyết định chính sách:

- Ưu tiên cho mục đích thu hẹp khoảng cách phát triến và tăng tính cạnh tranh về kỹ nghệ

- Tính cần thiết của sự hỗ

Sự đồng thuật yếu ớt

về các mục tiêu kinh

tế cơ bản của Nhà nước cũng như về vai trò mà Nhà nước cần phải có trong việc dẫn dắt nền công nghiệp quốc gia Giữa những người ủng hộ kiến tạo phát

Trang 11

trợ tích cực của Nhà nước đối với sáng tạo, thương mại hóa, sản xuất

và xuất khẩu các sản phẩm và công nghệ của các doanh nghiệp của quốc gia trong một số ngành chiến lược

- Sự can thiệp của chính sách công nghiệp nhằm hướng tới cạnh tranh mang tính dài hơi Phát triển công nghiệp dưới

sự chỉ huy, dẫn dắt của Nhà nước

triển, thuyết tân tự

do, chủ nghĩa thực dụng và cơ hội chính trị có những mâu thuẫn và tranh đấu về cách thức phát triển

- Các can thiệp

về chính sách công nghiệp thường được xây dựng dựa trên những cân nhắc chính trị mang tính ngắn hạn

Về mặt thể

chế

Trong quá trình công nghiệp hóa, trách nhiệm lập kế hoạch

và áp dụng các chính sách công nghiệp được tập trung hóa cao

(Ví dụ: tồn tại một cơ quan điều phối trung ương); trong chu kỳ phát triển công nghệ cao, bộ máy hành chính có sự phi tập trung hóa hơn Tầng lóp tinh hoa kỹ trị xây dựng chính sách tương đối độc lập với sự can thiệp của giói chính trị, có thể gây tổn hại tới tăng trưởng kinh tế

Trách nhiệm xây dựng chính sách công nghiệp thường bị chia nhỏ trong tay của nhiều bộ, ngành khác nhau và thiếu sự phối họp giữa các thiết chế này

Các ý định tập trung hóa các trách nhiệm

và điều phối hiệu quả hơn gặp phải các tranh cãi và cản trở

- Tiến trình xây

Trang 12

Quan hệ hợp tác Nhà nước/doanh nghiệp được thể chế hóa cho tổng thể các ngành chiến lược nhằm tạo điều kiện cho việc xây dựng

và áp dụng chính sách công nghiệp một cách dài hơi

dựng chính sách công nghiệp bị chính trị hóa Điều này cản trở việc áp dụng chính sách một cách dài hơi

- Thiếu vắng sự họp tác được thể chế hóa giữa Nhà nước và

nghiệp nhằm phát triển một nhóm các công nghiệp chiến lược

Về chính

sách kinh

tế vĩ mô

Sử dụng một danh sách rộng rãi và được bổ sung thường xuyên các công cụ, phương tiện nhằm thúc đẩy sáng tạo, thương mại hóa, sản xuất, xuất khẩu công nghệ và các sản phâm do doanh nghiệp nội địa sản xuất trong một số ngành chiến lược Các hỗ trợ của Nhà nước thường đi kèm với điều kiện về hiệu quả

Vận dụng một cách ngẫu nhiên và không thường xuyên các công cụ nhằm thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, thương mại hóa, sản xuất và xuất khẩu nhưng không có một quy hoạch tống thế về các ngành chiến lược

Các chính sách thường mang tính ngắn hạn và có thể bị

Ngày đăng: 26/06/2023, 04:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Đinh Văn Ân, TS. Võ Trí Thành (chủ biên) (2002), “Thể chế- cải cách và phát triển”. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế- cải cách và phát triển”
Tác giả: TS. Đinh Văn Ân, TS. Võ Trí Thành (chủ biên)
Năm: 2002
2. GS. TS. Hoàng Ngọc Hòa (2006), “Các mô hình thể chế kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam”. Tạp chí cộng sản số 1(122) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các mô hình thể chế kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ "nghĩa ở Việt Nam”
Tác giả: GS. TS. Hoàng Ngọc Hòa
Năm: 2006
3. Th. s Phan Văn Ninh, “Thể chế kinh tế và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thể chế kinh tế và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế
4. Đinh Ngọc Thắng, Nguyễn Văn Quân (2017), “Nhà nước kiến tạo phát triển và xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển tại Việt Nam”. Tạp chí kiểm sát năm thứ 56- Viện kiểm sát nhân dân tối cao (06), 26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhà nước kiến tạo phát triển và xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển tại Việt Nam”
Tác giả: Đinh Ngọc Thắng, Nguyễn Văn Quân
Năm: 2017
5. PGS. TS Lê Minh Quân (2016), “Nhà nước kiến tạo”. Tạp chí Lý luận chính trị (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhà nước kiến tạo”
Tác giả: PGS. TS Lê Minh Quân
Năm: 2016
6. Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương (2013), “Nhà nước kiến tạo phát triển tại việt nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhà nước kiến tạo phát triển tại việt nam – thực trạngvà giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2013
7. Vũ Minh Khương (2009), ”Việt Nam trước thách thức xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển”. Tuần Việt Nam (05) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trước thách thức xây dựngNhà nước kiến tạo phát triển”
Tác giả: Vũ Minh Khương
Năm: 2009
8. M. Woo- Cumings (1999), “The development state” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The development state
Tác giả: M. Woo- Cumings
Năm: 1999
9. Z. Oni (1991), “The logic of the Developmental State” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The logic of the Developmental State
Tác giả: Z. Oni
Năm: 1991
10. U. Nwokorie, “Developmental states, Characteristics and emergence” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Developmental states, Characteristics andemergence

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w