PowerPoint Presentation Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Liên bang Nga NỘI DUNG Bối cảnh kinh tế Liên Xô trước khi sụp đổ01 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ02 Nội dung chuy[.]
Trang 1Quá trình
chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường của Liên bang
Nga
Trang 31 Bối cảnh kinh tế Liên
Xô trước sụp đổ
Trang 4Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, kinh tế thế giới
khủng hoảng, các nước tư bản chủ nghĩa tiến hành
tự điều chỉnh kinh tế
Kinh tế Liên Xô dần bước vào khủng hoảng, tăng trưởng kinh tế chậm
Đầu thập niên 80, Liên Xô tiến hành cải cách
trên khuôn khổ mô hình cũ
Bối cảnh Liên Xô trước khi sụp đổ
Trang 5Sai lầm giữa mục
tiêu và lựa chọn
giải pháp TNH
Chậm trễ xây dựng thể chế về tài chính,
pháp lý
Việc thiếu sự đảm bảo về pháp lý đã không thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài do lo ngại độ rủi ro
cao
TNH không kết hợp với tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp
Sự thao túng của tội phạm
có tổ chức liên kết với
tham nhũng
Nguyên nhân của sự sụp đổ
Trang 62 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ
Trang 7bỏ những tàn dư của
hệ thống chỉ huy phân bổ nguồn lực
Những thay đổi thể chế tiếp tục diễn ra, vai trò của khu vực phi chính phủ tăng lên mạnh
mẽ
Chính phủ tập trung ổn định hóa kinh tế và tài chính
Chương trình cải cách Kinh
tế toàn diện được ban hành
Trang 83 Nội dung chuyển đổi
Trang 93.1: Tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước
Liên bang Nga bắt đầu tiến hành tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước từ nửa
cuối năm 1992 với mục tiêu cơ bản:
Xây dựng một nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội dựa trên sở hữu tư
nhân, tăng cường hiệu quả của khu
vực doanh nghiệp.
Góp phần vào ổn định hóa tài chính,
góp phần xây dựng một nền kinh tế
cạnh tranh và phi độc quyền hóa.
Phát triển kết cấu hạ tầng xã hội bằng cách sử dụng các khoản tiền thu được từ tư nhân hóa.
Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 10Chương trình bao gồm hai quá trình độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau
3.1: Tư nhân hóa
doanh nghiệp
nhà nước
Tính đến tháng 7/1994, 15.052 DNNN vừa và lớn, thu hút hơn 80% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp đã được tư nhân hóa.
Trang 11Năm 1995, nước Nga bước vào đợt tư nhân hóa mạnh mẽ lần thứ hai thông qua Kế hoạch “vay nợ để mua cổ phần”, đặc biệt
chú trọng vào tư nhân hóa những bộ phận có giá trị nhất trong nền kinh tế.
Từ năm 1997, bắt đầu diễn ra giai đoạn tư nhân hóa thứ ba trong
đó Chính phủ tập trung vào tư nhân hóa theo mục tiêu ở từng
dự án cá biệt
3.1: Tư nhân hóa
doanh nghiệp
nhà nước
Trang 123.2: Cải cách thể chế tài chính - tiền tệ
3.2.1: Cải cách hệ thống thuế
Trang 13Đầu những năm 1990 , Nga tiến hành cải cách hệ thống thuế theo hướng
phù hợp với nền kinh tế thị trường
Thời kỳ 1992 - 1998 chính phủ Nga nhiều lần tiến hành sửa
đổi các luật thuế và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống thuế
Từ năm 1999 chính phủ Nga đã xây dựng 1 chiến lược cải cách
hệ thống thuế
Theo thời gian 1 hệ thống thuế tương đối đồng bộ đã hình thành
gồm 3 nhóm thuế chủ yếu: nhóm thuế Liên Bang ; nhóm thuế của
các nước cộng hòa thuộc Liên bang và nhóm thuế địa phương
Trong thời kỳ tính đến năm 1998 , hệ thống thuế của Nga
hoạt động rất kém hiệu quả
Năm 1999 Bộ Thuế và Phí đã được thành lập nhằm tăng cường
hiệu quả công tác quản lý thuế
Trang 143.2.1: Cải cách
hệ thống thuế Kết quảđã thanh toán được gần 50% số thuế : Vào đầu năm 1999 các công ty lớn
của họ Doanh thu thuế của cả nước từng bước được cải thiện Cơ cấu thu thuế cũng thay đổi theo hướng nguồn thu của ngân sách liên bang ngày càng lớn so với nguồn thu của ngân sách khu vực và địa phương
Trang 153.2.2 Cải cách hệ thống ngân hàng
Vào thời điểm Liên Xô tan rã hệ thống ngân hàng của Liên bang Nga chỉ có 5 ngân hàng Sau đó ngân hàng Trung ương Nga (CBR) đã thực hiện 1 số chính sách tự do cho phép thành lập mới các ngân hàng Đến năm 1997 đã có khoảng 1675 ngân hàng và
39000 chi nhánh ngân hàng
Năm 1993 Cơ quan Giám sát Ngân hàng được thành lập trực thuộc CBR có chức năng chủ yếu là giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng đang lớn mạnh
Năm 1995 Luật Ngân hàng Trung ương mới được ban hành
Trang 16và các ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác cho vay đáng tin cậy và có khả năng sinh lợi Hơn nữa hoạt động giám sát của ngân hàng còn nhiều hạn chế.
Với yếu kém tích dồn lại cuộc khủng hoảng tài chính ở Nga năm 1998 đã gây ra sự đổ vỡ của
hệ thống ngân hàng và hệ thống thanh toán
Trang 173.2.2 Cải cách hệ thống ngân hàng
Trước tình hình ấy Chính phủ Nga được sự giúp
đỡ của Ngân hàng thế giới và IMF đã tiến hàng
một loạt các biện pháp tái cơ cấu ngân hàng
Xây dựng khung pháp lý
Xây dựng thể chế thích hợp
Củng cố hệ thống ngân hàng
Hình thành 1 khu vực ngân hàng nòng cốt
Đến nay Nga đã đạt một số tiến bộ trong cải cách
hệ thống ngân hàng tuy nhiên hiệu quả hoạt động của khu vực ngân hàng của Liên bang Nga vẫn còn yếu kém nên nỗ lực cải cách phải tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới
Trang 18Hội đồng Bộ trưởng ban hành
hai nghị quyết quan trọng, tạo
môi trường pháp lý cho sự ra
đời của các công ty cổ phần
1991
Gắn liền với các chương trình tư nhân hóa ồ ạt và kế hoạch vay nợ để mua cổ phần
Sự phát triển của nền tảng pháp lý, kết cấu hạ tầng, tăng tiền mặt và vốn trên thị trường và tính ổn định được cải thiện của thị trường
Giá chứng khoán và khả năng thanh khoản của giá cổ phiếu giảm đột ngột ảnh hưởng lớn đến đầu tư và lòng tin vào nền
kinh tế
Những động thái tích cực của nền kinh tế góp phần vào sự hồi phục của thị
Trang 193.3 Cải cách thể chế kinh tế đối ngoại
Suốt những năm 1990 việc cải cách thể chế kinh tế đối ngoại của Nga chủ yếu nhằm vào mục tiêu mở cửa nền kinh tế ra bên ngoài Việc mở cửa nền kinh tế của Nga trên cả 2 phương diện chức năng và thể chế được đánh giá ở mức độ khá cao
Tuy nhiên sau sự tan vỡ của Hội đồng Tương trợ Kinh tế và Hiệp ước Vacsava Nước Nga đã không duy trì được chỗ đứng cả về phương diện chính trị và kinh
tế trên trường quốc tế
Cuộc khủng hoảng đã tạo sức ép lớn buộc Nga phải tập trung vào các biện pháp
khôi phục uy tín của Nhà nước và các doanh nghiệp Nga trên thị trường tài
chính quốc tế và tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 203.3 Cải cách thể chế kinh tế đối ngoại
Từ năm 2000 Chính phủ của Tổng thống V Putin đã đề ra 2 mục tiêu cơ bản của hoạt động cải cách thể chế kinh tế đối ngoại trong những năm tiếp theo.
Đặc biệt, Nga đã chủ trương tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết
để gia nhập WTO Ngày 6/6/2002 Bộ Thương mại Mỹ đã chính thức
công nhận Nga là “một nền kinh tế thị trường”.
Trang 213.4 Cải cách thể chế hành chính
Đợt nỗ lực cải cách thứ nhất diễn ra từ năm 1991 đến
1993, đã chứng kiến sự phình to của bộ máy nhà nước Cho dù bộ máy phình to nhưng hiệu quả và hiệu lực hoạt động rất thấp
Kể từ năm 1991, Chính phủ Nga đã có 3 đợt nỗ lực lớn trong cải cách hành chính
Trang 22Cải cách cơ cấu hành chính.
Điều chỉnh mối quan hệ
giữa các cấp chính quyền
Ngăn chặn tham nhũng
Cải cách chính sách nguồn nhân lực
Nâng cao hiệu quả và hiệu lực của nền hành chính
Đợt nỗ lực cải tổ thứ hai diễn ra từ năm 1996 đến 1998 và được
cho điển hình của thất bại Những nội dung quan trọng của
chương
trình bao gồm:
Trang 23Không có nhiều cuộc cải cách hành chính thành công trong lịch sử nước Nga
Sức khỏe không tốt của tổng thông vào cuối nhiệm kì và sự thay đổi tổng thống
Cuộc khủng hoảng kinh tế
năm 1998
Chương trình không được chính
phủ quan tâm và ủng hộTuy nhiên, trong thực tế chương trình hầu như đã không được
thực hiện Thất bại này được quy cho một số lí do như:
Trang 24Đợt nỗ lực cải cách thứ ba
diễn ra năm 2000 khi V.Putin
lên làm tổng thống Chương
trình chứa đựng hai nội dung
quan trọng là cải cách kinh
tế và cải cách cơ cấu tổ chức
của Nhà nước
Trong thời gian tới, cuộc cải cách hành chính của Liên bang Nga vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức
Trang 253.5 Cải cách thể
chế xã hội
Vào đầu những năm 1990, sự tan rã của hệ thống XHCN
đã tạo ra một khoảng trống lớn về phúc lợi xã hội ở Liên bang Nga Thực tế đó đã tạo điều kiện cho các thể chế
xã hội có vai trò tích cực trong việc hình thành xã hội dân sự ở Liên bang Nga
Hiến pháp Liên bang Nga (12/1993) đảm bảo quyền của các công dân được thành lập và tham gia vào các thể chế
xã hội, cho phép các thể chế như: NGO, văn hóa, giáo dục
tự do hoạt động Các thể chế này được thành lập rộngkhắp trên phạm vi toàn Liên bang, tuy nhiên phần lớn chúng tập trung ở các khu vực trung tâm
Trang 263.5 Cải cách thể
chế xã hội
Tính đến đầu năm 2001, diện hoạt động của các thể chế
xã hội trải rộng từ các hoạt động xã hội, pháp lý, giáo dục, văn hóa và nhiều dịch vụ khác Ngày nay, các thể chế này đã trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, sự phát triển của các thể chế xã hội ở Nga cũng gặp phải nhiều cản trở Ngoài ra cũng gặp khó khăn
về môi trường pháp lý, năng lực tổ chức, khả năng tài chính và kết cấu hạ tầng
Trang 274 Kết quả của sự chuyển đổi
Trang 28Bảng GDP của Nga sau sự sụp sổ của Liên Xô qua các năm
Trang 295 Nhận xét chung và bài học rút ra
Trang 30Nước Nga tượng trưng cho sự thất
bại trong chuyển đổi kinh tế nói
chung và trong cải cách thể chế nói
riêng trong số các nước có nền
kinh tế chuyển đổi ở Trung và
Cải cách thể chế đã không được tiến hành theo đúng phương pháp, đúng tiến độ, đúng phạm vi và đã không
thành công
Từ năm 2000 đến nay, do kết quả của các cuộc cải cách mạnh mẽ sau khủng hoảng, Nga đã đạt được những thành tựu khả quan
về kinh tế - xã hội
Nhận xét chung
Trang 31Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh
Pháp luật và cơ chế chính sách phải
tạo thuận lợi nhất cho mọi người
dân và doanh nghiệp phát triển sản
xuất kinh doanh và phải được tiến
Trang 32THANK YOU
FOR LISTENING