1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Kinh Tế Thể Chế - Đề Tài : Quá Trình Chuyển Đổi Sang Nền Kinh Tế Thị Trường Của Liên Bang Nga

32 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Chuyển Đổi Sang Nền Kinh Tế Thị Trường Của Liên Bang Nga
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 604,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PowerPoint Presentation Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Liên bang Nga NỘI DUNG Bối cảnh kinh tế Liên Xô trước khi sụp đổ01 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ02 Nội dung chuy[.]

Trang 1

Quá trình

chuyển đổi sang nền kinh

tế thị trường của Liên bang

Nga

Trang 3

1 Bối cảnh kinh tế Liên

Xô trước sụp đổ

Trang 4

Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, kinh tế thế giới

khủng hoảng, các nước tư bản chủ nghĩa tiến hành

tự điều chỉnh kinh tế

Kinh tế Liên Xô dần bước vào khủng hoảng, tăng trưởng kinh tế chậm

Đầu thập niên 80, Liên Xô tiến hành cải cách

trên khuôn khổ mô hình cũ

Bối cảnh Liên Xô trước khi sụp đổ

Trang 5

Sai lầm giữa mục

tiêu và lựa chọn

giải pháp TNH

Chậm trễ xây dựng thể chế về tài chính,

pháp lý

Việc thiếu sự đảm bảo về pháp lý đã không thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài do lo ngại độ rủi ro

cao

TNH không kết hợp với tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp

Sự thao túng của tội phạm

có tổ chức liên kết với

tham nhũng

Nguyên nhân của sự sụp đổ

Trang 6

2 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ

Trang 7

bỏ những tàn dư của

hệ thống chỉ huy phân bổ nguồn lực

Những thay đổi thể chế tiếp tục diễn ra, vai trò của khu vực phi chính phủ tăng lên mạnh

mẽ

Chính phủ tập trung ổn định hóa kinh tế và tài chính

Chương trình cải cách Kinh

tế toàn diện được ban hành

Trang 8

3 Nội dung chuyển đổi

Trang 9

3.1: Tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước

Liên bang Nga bắt đầu tiến hành tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước từ nửa

cuối năm 1992 với mục tiêu cơ bản:

Xây dựng một nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội dựa trên sở hữu tư

nhân, tăng cường hiệu quả của khu

vực doanh nghiệp.

Góp phần vào ổn định hóa tài chính,

góp phần xây dựng một nền kinh tế

cạnh tranh và phi độc quyền hóa.

Phát triển  kết cấu hạ tầng xã hội bằng cách sử dụng các khoản tiền thu được từ tư nhân hóa.

Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 10

Chương trình bao gồm hai quá trình độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau

3.1: Tư nhân hóa

doanh nghiệp

nhà nước

Tính đến tháng 7/1994, 15.052 DNNN vừa và lớn, thu hút hơn 80% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp đã được tư nhân hóa.

Trang 11

Năm 1995, nước Nga bước vào đợt tư nhân hóa mạnh mẽ lần thứ hai thông qua Kế hoạch “vay nợ để mua cổ phần”, đặc biệt

chú trọng vào tư nhân hóa những bộ phận có giá trị nhất trong nền kinh tế.

Từ năm 1997, bắt đầu diễn ra giai đoạn tư nhân hóa thứ ba trong

đó Chính phủ tập trung vào tư nhân hóa theo mục tiêu ở từng

dự án cá biệt

3.1: Tư nhân hóa

doanh nghiệp

nhà nước

Trang 12

3.2: Cải cách thể chế tài chính - tiền tệ

3.2.1: Cải cách hệ thống thuế

Trang 13

Đầu những năm 1990 , Nga tiến hành cải cách hệ thống thuế theo hướng

phù hợp với nền kinh tế thị trường

Thời kỳ 1992 - 1998 chính phủ Nga nhiều lần tiến hành sửa

đổi các luật thuế và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống thuế

Từ năm 1999 chính phủ Nga đã xây dựng 1 chiến lược cải cách

hệ thống thuế

Theo thời gian 1 hệ thống thuế tương đối đồng bộ đã hình thành

gồm 3 nhóm thuế chủ yếu: nhóm thuế Liên Bang ; nhóm thuế của

các nước cộng hòa thuộc Liên bang và nhóm thuế địa phương

Trong thời kỳ tính đến năm 1998 , hệ thống thuế của Nga

hoạt động rất kém hiệu quả

Năm 1999 Bộ Thuế và Phí đã được thành lập nhằm tăng cường

hiệu quả công tác quản lý thuế

Trang 14

3.2.1: Cải cách

hệ thống thuế Kết quảđã thanh toán được gần 50% số thuế : Vào đầu năm 1999 các công ty lớn

của họ Doanh thu thuế của cả nước từng bước được cải thiện Cơ cấu thu thuế cũng thay đổi theo hướng nguồn thu của ngân sách liên bang ngày càng lớn so với nguồn thu của ngân sách khu vực và địa phương

Trang 15

3.2.2 Cải cách hệ thống ngân hàng

Vào thời điểm Liên Xô tan rã hệ thống ngân hàng của Liên bang Nga chỉ có 5 ngân hàng Sau đó ngân hàng Trung ương Nga (CBR) đã thực hiện 1 số chính sách tự do cho phép thành lập mới các ngân hàng Đến năm 1997 đã có khoảng 1675 ngân hàng và

39000 chi nhánh ngân hàng

Năm 1993 Cơ quan Giám sát Ngân hàng được thành lập trực thuộc CBR có chức năng chủ yếu là giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng đang lớn mạnh

Năm 1995 Luật Ngân hàng Trung ương mới được ban hành

Trang 16

và các ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác cho vay đáng tin cậy và có khả năng sinh lợi Hơn nữa hoạt động giám sát của ngân hàng còn nhiều hạn chế.

Với yếu kém tích dồn lại cuộc khủng hoảng tài chính ở Nga năm 1998 đã gây ra sự đổ vỡ của

hệ thống ngân hàng và hệ thống thanh toán

Trang 17

3.2.2 Cải cách hệ thống ngân hàng

Trước tình hình ấy Chính phủ Nga được sự giúp

đỡ của Ngân hàng thế giới và IMF đã tiến hàng

một loạt các biện pháp tái cơ cấu ngân hàng

Xây dựng khung pháp lý

Xây dựng thể chế thích hợp

Củng cố hệ thống ngân hàng

Hình thành 1 khu vực ngân hàng nòng cốt

Đến nay Nga đã đạt một số tiến bộ trong cải cách

hệ thống ngân hàng tuy nhiên hiệu quả hoạt động của khu vực ngân hàng của Liên bang Nga vẫn còn yếu kém nên nỗ lực cải cách phải tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới

Trang 18

Hội đồng Bộ trưởng ban hành

hai nghị quyết quan trọng, tạo

môi trường pháp lý cho sự ra

đời của các công ty cổ phần

1991

Gắn liền với các chương trình tư nhân hóa ồ ạt và kế hoạch vay nợ để mua cổ phần

Sự phát triển của nền tảng pháp lý, kết cấu hạ tầng, tăng tiền mặt và vốn trên thị trường và tính ổn định được cải thiện của thị trường

Giá chứng khoán và khả năng thanh khoản của giá cổ phiếu giảm đột ngột ảnh hưởng lớn đến đầu tư và lòng tin vào nền

kinh tế

Những động thái tích cực của nền kinh tế góp phần vào sự hồi phục của thị

Trang 19

3.3 Cải cách thể chế kinh tế đối ngoại

Suốt những năm 1990 việc cải cách thể chế kinh tế đối ngoại của Nga chủ yếu nhằm vào mục tiêu mở cửa nền kinh tế ra bên ngoài Việc mở cửa nền kinh tế của Nga trên cả 2 phương diện chức năng và thể chế được đánh giá ở mức độ khá cao

Tuy nhiên sau sự tan vỡ của Hội đồng Tương trợ Kinh tế và Hiệp ước Vacsava Nước Nga đã không duy trì được chỗ đứng cả về phương diện chính trị và kinh

tế trên trường quốc tế

Cuộc khủng hoảng đã tạo sức ép lớn buộc Nga phải tập trung vào các biện pháp

khôi phục uy tín của Nhà nước và các doanh nghiệp Nga trên thị trường tài

chính quốc tế và tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 20

3.3 Cải cách thể chế kinh tế đối ngoại

Từ năm 2000 Chính phủ của Tổng thống V Putin đã đề ra 2 mục tiêu cơ bản của hoạt động cải cách thể chế kinh tế đối ngoại trong những năm tiếp theo.

Đặc biệt, Nga đã chủ trương tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết

để gia nhập WTO Ngày 6/6/2002 Bộ Thương mại Mỹ đã chính thức

công nhận Nga là “một nền kinh tế thị trường”.

Trang 21

3.4 Cải cách thể chế hành chính

Đợt nỗ lực cải cách thứ nhất diễn ra từ năm 1991 đến

1993, đã chứng kiến sự phình to của bộ máy nhà nước Cho dù bộ máy phình to nhưng hiệu quả và hiệu lực hoạt động rất thấp

Kể từ năm 1991, Chính phủ Nga đã có 3 đợt nỗ lực lớn trong cải cách hành chính

Trang 22

Cải cách cơ cấu hành chính.

Điều chỉnh mối quan hệ

giữa các cấp chính quyền

Ngăn chặn tham nhũng

Cải cách chính sách nguồn nhân lực

Nâng cao hiệu quả và hiệu lực của nền hành chính

Đợt nỗ lực cải tổ thứ hai diễn ra từ năm 1996 đến 1998 và được

cho điển hình của thất bại Những nội dung quan trọng của

chương

trình bao gồm:

Trang 23

Không có nhiều cuộc cải cách hành chính thành công trong lịch sử nước Nga

Sức khỏe không tốt của tổng thông vào cuối nhiệm kì và sự thay đổi tổng thống

Cuộc khủng hoảng kinh tế

năm 1998

Chương trình không được chính

phủ quan tâm và ủng hộTuy nhiên, trong thực tế chương trình hầu như đã không được

thực hiện Thất bại này được quy cho một số lí do như:

Trang 24

Đợt nỗ lực cải cách thứ ba

diễn ra năm 2000 khi V.Putin

lên làm tổng thống Chương

trình chứa đựng hai nội dung

quan trọng là cải cách kinh

tế và cải cách cơ cấu tổ chức

của Nhà nước

Trong thời gian tới, cuộc cải cách hành chính của Liên bang Nga vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức

Trang 25

3.5 Cải cách thể

chế xã hội

Vào đầu những năm 1990, sự tan rã của hệ thống XHCN

đã tạo ra một khoảng trống lớn về phúc lợi xã hội ở Liên bang Nga Thực tế đó đã tạo điều kiện cho các thể chế

xã hội có vai trò tích cực trong việc hình thành xã hội dân sự ở Liên bang Nga

Hiến pháp Liên bang Nga (12/1993) đảm bảo quyền của các công dân được thành lập và tham gia vào các thể chế

xã hội, cho phép các thể chế như: NGO, văn hóa, giáo dục

tự do hoạt động Các thể chế này được thành lập rộngkhắp trên phạm vi toàn Liên bang, tuy nhiên phần lớn chúng tập trung ở các khu vực trung tâm

Trang 26

3.5 Cải cách thể

chế xã hội

Tính đến đầu năm 2001, diện hoạt động của các thể chế

xã hội trải rộng từ các hoạt động xã hội, pháp lý, giáo dục, văn hóa và nhiều dịch vụ khác Ngày nay, các thể chế này đã trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Tuy nhiên, sự phát triển của các thể chế xã hội ở Nga cũng gặp phải nhiều cản trở Ngoài ra cũng gặp khó khăn

về môi trường pháp lý, năng lực tổ chức, khả năng tài chính và kết cấu hạ tầng

Trang 27

4 Kết quả của sự chuyển đổi

Trang 28

Bảng GDP của Nga sau sự sụp sổ của Liên Xô qua các năm

Trang 29

5 Nhận xét chung và bài học rút ra

Trang 30

Nước Nga tượng trưng cho sự thất

bại trong chuyển đổi kinh tế nói

chung và trong cải cách thể chế nói

riêng trong số các nước có nền

kinh tế chuyển đổi ở Trung và

Cải cách thể chế đã không được tiến hành theo đúng phương pháp, đúng tiến độ, đúng phạm vi và đã không

thành công

Từ năm 2000 đến nay, do kết quả của các cuộc cải cách mạnh mẽ sau khủng hoảng, Nga đã đạt được những thành tựu khả quan

về kinh tế - xã hội

Nhận xét chung

Trang 31

Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh

Pháp luật và cơ chế chính sách phải

tạo thuận lợi nhất cho mọi người

dân và doanh nghiệp phát triển sản

xuất kinh doanh và phải được tiến

Trang 32

THANK YOU

FOR LISTENING

Ngày đăng: 26/06/2023, 01:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w