1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Kinh Tế Thể Chế - Đề Tài : Dựa Vào Nhà Nước Và Thể Chế Kinh Tế Thị Trường, Trung Quốc Đã Đạt Tốc Độ Tăng Trưởng Cao

13 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dựa Vào Nhà Nước Và Thể Chế Kinh Tế Thị Trường, Trung Quốc Đã Đạt Tốc Độ Tăng Trưởng Cao
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế thể chế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 37,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào nhà nước và thể chế kinh tế thị trường, Trung Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng cao Vai trò của nhà nước và thể chế kinh tế thị trường trong việc phát triển Xuất phát từ nền kinh tế kế hoạch hóa[.]

Trang 1

Dựa vào nhà nước và thể chế kinh tế thị trường, Trung

Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng cao Vai trò của nhà nước và thể chế kinh tế thị trường trong việc phát triển

- Xuất phát từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Trung Quốc chưa tiến hành chuyển đổi triệt để thể chế kinh tế Nhà nước vẫn kiểm soát các doanh nghiệp lớn của nhà nước với vai trò là trụ cột của nền kinh tế

- Năm 1978 với sự lãnh đạo của nhà nước và chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình, mà Trung Quốc đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế khác thường trong những thập niên cuối của thế kỷ

20 và thập niên đầu thế kỷ 21

- Năm 1978 bắt đầu cải cách kinh tế, thu nhập bình quân đầu người là

340 USD, nhưng năm 2000 đạt tới 3920 USD

- Năm 2000, GDP của Trung Quốc tăng từ 1000 tỷ USD lên 30.000

tỷ Nhân dân tệ (tương đương 4300 tỷ USD) Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong hai thập niên cuối thế kỷ 20 khoảng 9 – 10% Trở thành nước có mức thu nhập trung bình

Sự phát triển nhanh này chứng tỏ rằng một nền kinh tế đi sau có thể tăng nhanh sản lượng bằng việc sử dụng nhà nước như một công cụ phát triển Trung Quốc áp dụng mô

hình Đông Á qua hai đặc điểm dựa vào nhà nước và hướng

về xuất khẩu để phát triển Nhờ có chính sách mở cửa đã giúp

Trang 2

Trung Quốc hưởng lợi nhiều từ các mối quan hệ thương mại

và đầu tư với thị trường thế giới

- Khác với các nền kinh tế Đông Á, Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhờ phát huy năng lực cạnh tranh nhưng vẫn dựa vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung Từ tài

sản tư nhân chỉ được thừa nhận chứ không được xác định rõ

ràng, thì nay đã công nhận quyền sở hữu tư nhân.

Trung Quốc là nền kinh tế phát triển sau, chuyển đổi từ một hệ thống thể chế kinh tế phi thị trường sang một mô hình phát triển dựa vào nhà nước trên cơ sở chấp nhận sở hữu tư nhân giống như các quốc gia Đông Á.

1 Sự khác biệt giữa Trung Quốc và Nga trong quá trình chuyển đổi

Mục đích của việc so sánh là để làm sáng tỏ tầm quan trọng của ngành dịch vụ giao dịch trong nền kinh tế thị trường, cũng như các lợi thế của Trung Quốc với tư cách là một nền kinh tế chuyển đổi kém phát triển hơn

-Bắt đầu chuyển đổi kinh tế bằng

liệu pháp Sốc

-Chính sách Tự do hóa triệt để gia

cả

- Chuyển đổi bằng cơ chế thị trường

- Cơ chế thị trường được vận dụng ở khu vực nông thôn, các

Trang 3

-Tư nhân hóa hàng loạt các xí

nghiệp nhà nước

-Xóa bỏ kiểm soát nhà nước đối

với nền kinh tế ngay từ giai đoạn

đầu của quá trình chuyển đổi kinh

tế

 Suy giảm kinh tế

hộ gia đình nhưng vẫn giữ nguyên sở hữu nhà nước trong một số ngành then chốt

- Lập kế hoạch hoạt động kinh

tế đối với từng ngành

- Chính quyền Trung Quốc chỉ

từ bỏ việc kiểm soát doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ vào giữa thập niên 1990 Cho đến nay Trung Quốc vẫn nắm giữ các doanh nghiệp lớn – đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế

 Đạt tốc độ tăng trưởng cao

Thông qua quá trình tự do hóa triệt để, Nga đã tiến tới nền kinh tế thị trường tự do nhanh hơn Trung Quốc, nhưng tự do hóa từng phần của Trung Quốc lại hoạt động hiệu quả hơn nhiều so với Nga Trong 10 năm 1990 – 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân của Trung Quốc là 10,3%/năm còn Nga chỉ có 4,8%/năm

Lý do dẫn đến tình trạng này :

NGA

- Do bất ổn kinh tế vĩ mô ở Nga gắn liền với tự do hóa giá cả Do

đã trì trệ quá lâu Sản xuất của Nga tiếp tục giảm vào cuối thập

Trang 4

niên 1990 sau khi mức lạm phát tăng cao GDP của Nga giảm hơn 50% trong vòng 10 năm kể từ khi Liên Xô tan rã từ 579 tỷ USD (1990) xuống 251 tỷ USD (2000) Nguyên nhân của tình trạng tăng trưởng thấp không phải là do chính quyền Nga không nhanh chóng

áp dụng quyền sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường Thực tế là Nga

đã đi theo mô hình chuyển đổi kinh tế chuẩn mực nhằm nhanh chóng thiết lập quyền sở hữu tư nhân Việc tư nhân hóa hàng loạt các lĩnh vực nhanh ngay lập tức xóa bỏ quyền sở hữu công và chia nhỏ các tổ chức kế hoạch hóa tập trung

 Bên cạnh đó còn do Nga không coi trọng vai trò của giao dịch khi chuyển sang kinh tế thị trường tự do một cách triệt để Thị trường

tự do không hoàn toàn là tự do và có những khoản chi phí khổng lồ

gắn với trao đổi khách quan trên thị trường Mức độ phân công lao

động càng lớn và trao đổi càng phức tạp thì xã hội sẽ phải đối mặt với chi phí giao dịch càng lớn, nếu như các thị trường được sử dụng

làm công cụ điều tiết

 Điều không thuận lợi của nền kinh tế Nga khi chuyển đổi là nền kinh tế có mức độ phát triển và trình độ chuyên môn hóa tương đối cao Trong khi đó, nền kinh tế của Trung Quốc tương đối lạc hậu,

mức sử dụng công nghệ lạc hậu do đó yêu cầu đặt ra đối với các hoạt động dịch vụ giao dịch càng thấp Yếu điểm của nền kinh tế cao ở chỗ

là khi kinh tế phát triển ở trình độ cao thì lại không tồn tại các hoạt động giao dịch trình độ cao hơn tương ứng

 Sự sụp đổ của bộ máy hành chính đã tạo ra khoảng trống về thể chế ở nước Nga sau khi tiến hành tự do hóa Các doanh nghệp nhà

Trang 5

nước điều hành toàn bộ khu liên hợp công nghiệp của Liên Xô cho tới khi Liên bang Xô Viết tan rã (1991)

 Việc tư nhân hóa hàng loạt tức là trao cho cá nhân và công ty các tài sản của nhà nước vào tay tư nhân Tuy nhiên, bàn tay vô hình

không tự động làm tăng năng lực sản xuất, vì trước hết những người tham dự thị trường phải biết chắc rằng họ có thể tạo ra lợi nhuận

- Nga đã không có được một hệ thống thị trường tự do thực sự

mà chỉ có tự do hóa kiểu bộ phận.

TRUNG QUỐC

- Ngược lại thì trình độ phát triển ban đầu của nền kinh tế Trung Quốc còn thấp Phần lớn dân số Trung Quốc tham gia sản xuất nông nghiệp, lao động dồi dào cùng với việc phân công lao động còn ở trình độ thấp Vào thời kì bắt đầu chuyển đổi, năm 1978, số

lượng lao động ở nông thôn chiếm tới hơn 70% lực lượng lao động của cả nước GDP bình quân đầu người lúc đó khoảng 300 USD (trong khi Nga là 10.000 USD trước khi chuyển đổi)

- Trước hết chính quyền Trung Quốc chọn khu vực nông thôn, sau đó tiến tới khu vực thành thị với các cải cách ôn hòa và vẫn duy trì cơ chế kế hoạch hóa Lợi ích lớn nhất của phương thức cải cách này là giữ được sự liên tục của hoạt động sản xuất tại khu vực đô thị có trình độ chuyên môn hóa cao, trong khi bộ máy kế hoạch hóa xử lý giao dịch hầu như không bị ảnh hưởng Tự do hóa

sớm ở khu vực nông thôn, nơi có trình độ giao dịch thấp, kết hợp với chính sách mở cửa đã thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn, đặc biệt là

Trang 6

phía Đông Nam Trung Quốc Quá trình này đã trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong hai thập niên bắt đầu chuyển đổi, hàng loạt các xí nghiệp hương trấn đã mọc lên.

Cải cách nông nghiệp đã làm tăng sản lượng nông nghiệp ngay lập tức nhờ áp dụng hệ thống trách nhiệm gia đình Trung Quốc

đã sản xuất ra nhiều ngũ cốc và rau tươi hơn, trong khi rất ít sự hỗ trợ

của dịch vụ giao dịch Thực sự cải cách nông nghiệp của Trung Quốc là việc từng bước quay lại tình trạng tự nhiên của quyền sở hữu đất đai tư nhân trong các chế độ kinh tế nông thôn truyền thống Các cải cách tại khu vực nông thôn tạo bước tiến cho quá trình

công nghiệp hóa tại nông thôn Sau đó là quá trình công nghiệp hóa

được triển khai trên diện rộng Điểm đặc biệt là Trung Quốc đã phát huy tốt hơn vai trò của bàn tay vô hình.

2 Phát huy vai trò điều tiết của thị trường tự do

- Ba nhân tố tạo nên sự phát triển thành công của Trung Quốc

+ Vai trò của nhà nước : Các chính sách nhất quán bảo đảm ổn định

xã hội và duy trì các hoạt động sản xuất theo tinh thần đổi mới.

+ Chủ trương hướng vào xuất khẩu: giúp TQ chuyển từ nền kinh tế

tự cung tự cấp sang nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế toàn

cầu

+ Sự thay đổi về cơ chế khuyến khích trong nền kinh tế TQ: áp

dụng hình thức cạnh tranh thị trường và sở hữu tư nhân , phát huy

vai trò của bàn tay vô hình.

Trang 7

- Triết lý chuyển đổi của Trung Quốc với mục tiêu là: đạt được tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao chứ không đặt niềm tin vào hệ thống thị trường tự do, sẵn sàng áp dụng hình thức cạnh tranh và mở của hướng tới các thị trường thế giới => chính quyền TQ đã chuyển đổi kinh tế

từ khu vực ngoại vi nhưng không từ bỏ sở hữu nhà nước

- Thay đổi cơ chế khuyến khích trong nền kinh tế kéo theo những

thay đổi về thể chế trong sở hữu: thay đổi thể chế kế hoạch hóa cũ tới mức bàn tay vô hình hoặc động cơ tư lợi đã trở thành cơ chế khuyến khích chiếm ưu thế trong nền kinh tế TQ

+ Cải cách ở khu vực nông thôn: nông dân được tham gia vào các

xí nghiệp hương trấn hay di chuyển đến các thành phố làm thuê cho các doanh nghiệp lớn

+ Quá trình đô thị hóa nhanh: các nông dân của TQ không chỉ

mang theo dịch vụ lao động mà còn cả thị trường tự phát đến thành phố nơi các DNNN chi phối Các hoạt động kinh doanh của người dân di cư dần thay thế các doanh nghiệp nhà nước trong kĩnh vực dịch vụ và xây dựng

+ Tự do hóa một phần giá hàng hóa công nghiệp

+ Chính sách mở cửa thị trường tạo thuận lợi cho các công ty

nước ngoài liên doanh với các công ty của Trung Quốc đem đến cho TQ công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý, các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán mới… giúp các công ty của TQ nâng cao hiệu quả hoạt động => sự tăng nhanh của các doanh nghiệp tư nhân Tỷ

lệ đóng góp của các DN tư nhân cho GDP năm 1978 là 0% nhưng đến năm 2003 là 23%

Trang 8

+ Quá trình cải cách doanh nghiệp đã có tác dụng trong việc thay đổi thể chế hoạt đông của DN: chức năng xã hội tách rời với

chức năng sản xuất của DN Giúp các DNNN có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường trong và ngoài nước

+ Vào đầu năm 1990 TQ bắt đầu thực hiện các chương trình cải cách xã hội: chuyển dần sở hữu tư nhân về nhà ở đối với dân thành

thị, xóa bỏ chế độ tập trung tiền lương, cải các hệ thống y tế, giáo dục,

3 Quyền lực của chính quyền địa phương

- Do sự kế thừa của cơ chế kế hoạch hóa tập chung, chính quyền TQ

là một thế lực mạnh tham gia sâu hơn và các hoạt động kinh tế.TQ tiến hành các chiến lược thúc đẩy tăng trưởng trực tiếp thông qua quản lý các DNNN và các doanh nghiệp tập thể Các DNNN quản lý

là đối tượng chính tham gia vào trình công nghiệp hóa TQ

- Vì kế thừa cơ chế kế hoạch hóa tập trung và TQ là một nước đông dân nên chính quyền phải giao quyền lãnh đạo cho nhà nước cho các địa phương

+ Khi được phân quyền, chính quyền địa phương có thể huy động mọi tiềm năng, nâng cao năng lực cạnh tranh để thúc đầy tăng trường kinh tế toàn diện

+ Với chế độ thuế mới, chính quyền địa phương được giữ lại các khoản thu tài chính với tỷ kệ cao hơn nếu họ thu vượt chi tiêu đề ra

và chỉ phải nộp một khoản nhỏ cho chính quyền Trung ương

Trang 9

+ Chính quyền địa phương có thêm quyền tự chủ trong việc nâng cấp hạ tầng cơ sở, chi cho các mục tiêu phát triển ngành địa phương

và chính quyền địa phương phải đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế

+ Chính quyền địa phương có lợi thế sử dụng quyền quản lý nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp của vùng, cũng có quyền tự quyết trong hoạch định chính sách phát triển, lập ngân sách tài chính, đề

ra quy định với các công ty địa phương và công ty nước ngoài Đặc biệt là chính quyền địa phương có thể thu hút đầu tư nước ngoài + Quyền lực của chính quyền địa phương bắt nguồn từ hợp sức hai chức năng : người quản lý và người trực tiếp tham gia sản xuất => Hình thành nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ

+ Chính quyền Trung ương có quyền bổ nhiệm quan chức cấp Tỉnh, luân chuyển cán bộ cấp Tỉnh đưa ra định hướng tăng trỏng cho các vùng

 Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương đều đóng vai trò đi đầu trong việc phát triển và mở rộng các ngành sản xuất thông nâng cấp công nghệ và quy mô sản xuất

4 Vai trò của yếu tố Hồng Kông đối với tăng trưởng

Hồng Kông là nhà đầu tư số vốn FDI lớn nhất lên tới 16,7 tỷ USD vào năm 2001 (gấp 4 lần đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc cùng thời kì đó)

Trang 10

• Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng đặc khu kinh tế(SEZ) dọ bờ biển phía Đông để đáp ứng và thu hút dòng tiền FDI từ Đông Á đặc biệt là Hong Kong

• Hồng Kông đóng vai trò là trung tâm xuất khẩu là cầu nối để các nhà sản xuất Trung Quốc bán sản phẩm sang thị trường Phương Tây

• Hồng Kông cung cấp các loại dịch vụ quan trọng làm tiền đề giúp Trung Quốc gia nhập thị trường thế giới một cách thuận lợi

• Hồng Kông tuân theo lý thuyết tự do thương mại, tự do cạnh tranh và chính quyền nên không có rào cản về mặt kinh tế giúp phát triền kinh tế và dịch vụ công tạo ảnh hưởng cho việc tăng trưởng tại Trung Quốc

• Hồng Kông phát triển các dịch vụ thương mại đa dạng, giải quyết tranh chấp bằng việc hòa giải, tạo điều kiện cho sự phát triền bền vững lâu dài

• Sỡ hữu số lượng lớn các công ty phương Tây đầu tư kinh doanh

và phát triển từ chứng khoán, ngân hàng, và nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế của Trung Quốc

• Sở hữu nhiều doanh nghiệp có nguồn gốc từ Thượng Hải do đó Hồng Kông là nơi cung cấp vốn và giúp cho các công ty Trung Quốc phát triển và nhận được đầu tư khoản vay từ các công ty nước ngoài

• Sở hữa thị trường chứng khoán lớn thứ 2 thế giới do đó sau khi được trao trả lại cho Trung Quốc đã giúp cho sự thúc đẩy phát triển vượt bậc về mặt kinh tế

Trang 11

Tóm lại: Hồng Kong là tác nhân khởi động và đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế tại Trung Quốc nhờ việc tiếp thu công nghệ mới, nguồn vốn dồi dào, nguồn nhân lực và phát triển các dịch vụ giao dịch -> Hong Kong là mốc phân chia hai giai đoạn phát triển của Trung Quốc dựa vào nhà nước

5 Thách thức của Trung Quốc.

 Công ty của Trung Quốc bất cứ là của nhà nước hay của tập thể

và của tư nhân đều phải dựa nhiều vào nhà nước => Sự méo mó

về tiêu chuẩn phân phối thu nhập

+ Của cải sẽ chuyển về tay người có quyền lực hoặc người có quan hệ gần gũi với quan chức chính quyền Một mặt, thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có lãi Mặt khác, phát sinh tình trạng mất dân chủ, chia rẽ nội bộ hình thành các mục tiêu phát triển theo ý chí của các nhóm lợi ích

+ Việc phụ thuộc chính quyền dẫn tới tình trạng tham nhũng và hối lộ ở mọi cấp Nhiều quan chức cấp cao bị tù, tử hình hoặc đào tẩu ra nước ngoài

+ Bất bình đẳng về thu nhập giữa các vùng của Trung Quốc tăng nhanh, chỉ số Gini của Trung Quốc đang tiến tới mức cao nhất của thế giới, giá nông sản giảm từ 60% xuống còn 42% (1980-2001)

Trang 12

+ Tình trạng thất nghiệp trái hình cũng đang gia tăng tại khu vực nông thôn do dòng người tiếp tục di cư từ nông thôn vào thành phố

+ Vẫn còn một lực lượng dân chúng ở mức ngưỡng nghèo tuyệt đối theo chuẩn nghèo đói quốc tế

 Tình trạng xuống cấp môi trường trầm trọng là một thách thức lớn của Trung Quốc

+ Diện tích bị ảnh hưởng bởi xói mòn đất đã tăng tới mức 38% vào năm 2008 Diện tích bị sa mạc hoá với tốc độ tăng hàng năm khoảng 2500km2

+ Trong hơn 4 thập niên qua kể từ năm 1970 gần một nửa diện tích rừng của Trung Quốc bị huỷ hoại, độ che phủ rừng của Trung Quốc vào loại thấp nhất thế giới

+ Nguồn nước cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước gây nên tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, cho công nghiệp và nước sinh hoạt

+ Số người mắc bệnh về phổi và hô hấp tăng nhanh tại các thành phố của Trung Quốc

 Chịu sức ép từ hai phía trong việc cải cách về chính trị Phía bên ngoài cho rằng TQ nếu là 1 quốc gia lớn mạnh về kinh tế thì phải có nhiệm vụ quốc tế ( tham gia nhiều hơn vào các tổ chức, quỹ hỗ trợ nước nghèo) Phía bên trong là những người đòi dân chủ và một thể chế kinh tế thị trường tự do

Ngày đăng: 26/06/2023, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w