ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KINH TẾ THỂ CHẾ ĐỀ TÀI THÀNH QUẢ CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THEO NGHỊ QUYẾT 19 CỦA CHÍ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KINH TẾ THỂ CHẾ
ĐỀ TÀI
THÀNH QUẢ CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THEO NGHỊ QUYẾT 19 CỦA
CHÍNH PHỦ
Trang 2Mục lục
1 Một vài khái niệm 3
1.1 Môi trường kinh doanh 3
1.2 Năng lực cạnh tranh: 3
1.3 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI): 3
2 Hoàn cảnh lịch sử 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Nghị định 19 (2014) 4
4 Thành quả của Nghị quyết 19 (2014) 5
Trang 31 Một vài khái niệm
1.1 Môi trường kinh doanh
- Là tập hợp các yếu tố liên quan chặt chẽ với các hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố này có ảnh hưởng bên trong hoặc bên ngoài đối với kết quả, hiệu suất và tăng trưởng của công ty
1.2 Năng lực cạnh tranh:
- Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau:
“Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
- Diễn đàn Kinh tế thế giới quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”
1.3 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI):
- GCI là công cụ để đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và
vĩ mô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia; những điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế các nước
2 Hoàn cảnh lịch sử
Trước đó, nước ta đã có những cải cách quan trọng nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và đã đạt được nhiều thành tựu, kinh
tế tăng trưởng khá Tuy nhiên, nền kinh tế bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp Tại thời điểm đó, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng ở mức thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực, ở mức trung bình thấp so với các nước ASEAN, chậm được cải thiện, nhất là về thể chế, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh, trong đó đáng lưu ý là các vướng mắc liên quan tới thành lập doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, nộp thuế, tiếp cận điện năng và xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Trang 4Vì vậy ngay từ năm 2011, năm bắt đầu nhiệm kỳ mới, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nhận thấy vấn đề cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Đến năm 2012, Thủ tướng quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia
về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở Hội đồng Phát triển bền vững quốc gia Sau đó, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thay Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân làm Chủ tịch Hội đồng
Chỉ hơn một tháng sau khi được Quốc hội phê chuẩn giữ chức
vụ mới, ngày 31/12/2013, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã triệu tập cuộc họp của Hội đồng, yêu cầu bàn giải pháp làm thế nào để nâng cao được năng lực cạnh tranh quốc gia trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về vấn đề này trong quý I/2014
Theo các cán bộ của Văn phòng Chính phủ trực tiếp tham gia soạn thảo Nghị quyết 19, việc xây dựng Nghị quyết đặt ra trong bối cảnh nhiều năm liền, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng ở mức thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực, chậm được cải thiện
Và sản phẩm của quá trình giải “bài toán” hóc búa nói trên chính
là hai Nghị quyết cùng mang số 19 của Chính phủ: Nghị quyết
19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016
3 Mục tiêu, nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Nghị quyết 19 (2014)
Trong giai đoạn 2014 - 2015 tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử
lý, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước Phấn đấu đến hết năm 2015 đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6, trong đó một số tiêu chí
cụ thể là:
Trang 5- Đơn giản thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp xuống còn tối đa là 6 ngày; cải thiện các khâu liên quan khác nhằm rút ngắn thời gian từ đăng ký đến bắt đầu kinh doanh của doanh nghiệp;
- Cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế và rút ngắn thời gian các doanh nghiệp phải tiêu tốn để hoàn thành thủ tục nộp thuế đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6[1] (mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 là 171 giờ/năm);
- Rút thời gian tiếp cận điện năng đối với các doanh nghiệp, dự
án đầu tư xuống còn tối đa là 70 ngày (mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 là 50,3 ngày);
- Hoàn thiện quy định về quyền sở hữu và bảo vệ nhà đầu tư vào Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp theo hướng tăng cường bảo
vệ quyền sở hữu, nhà đầu tư, cổ đông thiểu số theo chuẩn mực quốc tế;
- Tạo thuận lợi, bảo đảm bình đẳng, công khai, minh bạch trong tiếp cận tín dụng theo cơ chế thị trường giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế;
- Đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan và giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp, phấn đấu thời gian xuất khẩu và thời gian nhập khẩu bằng mức trung bình của các nước ASEAN-6 (mức trung bình thời gian xuất khẩu của nhóm nước ASEAN-6 là 14 ngày
và thời gian nhập khẩu là 13 ngày);
- Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sản doanh nghiệp xuống còn tối đa 30 tháng;
- Công khai hóa, minh bạch hóa tình hình hoạt động, tài chính doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế
4 Thành quả của Nghị quyết 19 (2014)
Sau 5 năm triển khai, Nghị quyết 19 của Chính phủ đã thực sự
đi vào cuộc sống và được cộng đồng doanh nghiệp, xã hội ghi nhận
và đánh giá cao Nghị quyết 19 được ban hành hằng năm đều cải tiến, đổi mới và tiếp nối các Nghị quyết 19 trước đây Mới đây, ngày 01/01/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về tiếp
Trang 6tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm
2019 và định hướng đến năm 2021
4.1 Cải thiện môi trường kinh doanh
Theo báo cáo về môi trường kinh 2019 “Doing Business
2019” được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố mới đây, Việt Nam xếp hạng thứ 69 về môi trường kinh doanh trong số 190 nền kinh tế được khảo sát
(https://www.doingbusiness.org/content/dam/doingBusiness/media/ Annual-Reports/English/DB2019-report_web-version.pdf)
Trang 7Theo thang điểm đánh giá là 100 thì Việt Nam đạt 68,36 điểm, cao hơn 1,59 so với bảng xếp hạng năm 2017 Tuy nhiên về thứ hạng lại xếp thứ 69/190, giảm 1 bậc so với bảng xếp hạng Doing Business 2018
Trong Khu vực ASEAN, Việt Nam hiện đứng sau 4 nước là: Singapore (thứ 2), Malaysia (thứ 15), Thái Lan (thứ 27) và Brunei (thứ 55) và đứng trên Indonesia (thứ 73), Philippines (thứ 124), Campuchia (thứ 138), Lào (thứ 154) và Myanmar (thứ 171)
4.2 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu
Theo đánh giá mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới, chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam đã tăng lên thứ hạng 67, tăng 10 bậc và 3,5 điểm trong một năm nay
Báo cáo GCI đánh giá Việt Nam là quốc gia có điểm số tăng mạnh nhất toàn cầu, nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
có năng lực cạnh tranh cao nhất thế giới, trở thành quán quân trong cuộc đua cải thiện thứ hạng về năng lực cạnh tranh
Trang 8Việt Nam lần đầu tiên vươn lên trong nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí 67 trên 141 nền kinh tế được xếp hạng
(http://www3.weforum.org/docs/
WEF_TheGlobalCompetitivenessReport2019.pdf)
Năm 2019, WEF xếp hạng 141 nền kinh tế (chiếm 99% GDP thế giới) qua 103 chỉ số được nhóm thành 12 trụ cột (GCI 2018 bao gồm 98 chỉ số) Các trụ cột bao quát các yếu tố kinh tế - xã hội như thể chế, cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), ổn định kinh tế vĩ mô, y tế, kỹ năng, thị trường sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, mức độ năng động trong kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo
Bảng xếp hạng này cho thấy, năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam đã cải thiện vượt trội, song vẫn còn nhiều thách thức Năm 2019, Việt Nam tăng 3,5 điểm (từ 58 điểm lên 61,5 điểm) cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm) và tăng 10 bậc (từ vị trí
77 lên vị trí 67) Kết quả này đạt được là do 8/12 trụ cột tăng điểm
và tăng nhiều bậc Cụ thể là:
Trang 9- Trụ cột Ứng dụng CNTT tăng điểm và tăng hạng nhiều nhất (tăng 25,7 điểm và 54 bậc, từ 43,3 điểm lên 69,0 điểm và theo đó thứ hạng từ vị trí 95 lên vị trí 41) Tất cả các chỉ số thành phần trong trụ cột này đều tăng điểm, tăng hạng (như Thuê bao internet cáp quang, Thuê bao di động, Thuê bao di động băng thông rộng, Số người sử dụng internet, Thuê bao Internet băng thông rộng cố định)
- Tiếp đến là Trụ cột Thị trường sản phẩm tăng 23 bậc (từ vị trí
102 lên thứ 79), với các chỉ số về cạnh tranh trong nước đều tăng điểm và tăng hạng, độ mở thương mại được ghi nhận tích cực với việc giảm bớt các rào cản phi thuế
- Mức độ năng động trong kinh doanh tăng 12 bậc (từ vị trí 101 lên vị trí 89), với những cải thiện mạnh mẽ trên hầu hết các chỉ số thành phần (ngoại trừ phá sản doanh nghiệp), nhất là những chỉ số thể hiện tăng trưởng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp có ý tưởng đột phá
- Trụ cột Thị trường lao động tăng 2,6 điểm và 7 bậc (từ thứ 90 lên thứ hạng 83), với sự cải thiện về Di cư lao động trong nước (tăng 27 bậc); Mức độ dễ dàng trong tuyển dụng lao động nước ngoài (tăng 22 bậc); Mức độ linh hoạt của tiền lương (tăng 15 bậc); Quan hệ giữa người lao động- người sử dụng lao động và Thực tiễn tuyển dụng và sa thải lao động (đều tăng 10 bậc) Tuy nhiên, Quyền của người lao động chưa được đảm bảo, giảm 4 điểm và giảm 11 bậc (từ vị trí 82 xuống vị trí 93)
- Trụ cột Năng lực đổi mới sáng tạo tăng 6 bậc (từ thứ hạng 82 lên thứ hạng 76) Trong đó, Mức độ tinh thông của người mua tăng
46 bậc; Mức độ phát triển các cụm ngành tăng 33 bậc; Hợp tác đa bên tăng 17 bậc; Tính đa dạng của lực lượng lao động tăng 16 bậc; Chi phí R&D tăng 6 bậc
- Trụ cột Thể chế tăng 0,3 điểm và 5 bậc (từ vị trí 94 lên vị trí 89) Trong đó, đáng kể nhất là nhóm các chỉ số thể hiện Mức độ định hướng tương lai của Chính phủ tăng mạnh Nhóm chỉ số này trong GCI 2019 được phát triển và thể hiện cụ thể hơn so với đánh giá trong GCI 2018, do đó thứ hạng của Việt Nam ở chỉ số này được ghi nhận cải thiện tích cực (vị trí 40 năm 2019 so với thứ hạng
Trang 1075 năm 2018) Tuy vậy, chỉ số về Quy định pháp lý thích ứng linh hoạt với mô hình kinh doanh số còn thấp điểm và thấp hạng (43,1 điểm và ở vị trí 71); chỉ số Ổn định chính sách chỉ đạt 50,3 điểm và thứ hạng 67
- Trụ cột Kỹ năng tăng 2,7 điểm và 4 bậc (từ thứ 97 lên thứ hạng 93), với sự ghi nhận cải thiện tích cực trên tất cả các chỉ số thành phần Đáng chú ý là: Chất lượng đào tạo nghề (tăng 13 bậc);
Kỹ năng của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp (tăng 12 bậc); Mức độ đào tạo nhân viên và Mức độ dễ dàng tìm kiếm lao động lành nghề (cùng tăng 8 bậc); Tư duy phản biện trong giảng dạy (tăng 7 bậc);…
- Trụ cột Quy mô thị trường tăng 0,9 điểm và 3 bậc (từ vị trí 29 lên vị trí 26)
Mặc dù Việt Nam có những cải thiện đáng kể về điểm số và thứ hạng của hầu hết các chỉ số thành phần trong 8/12 trụ cột nêu trên, song vẫn còn 3 trụ cột tụt hạng và 1 trụ cột giữ vị trí không đổi Cụ thể là:
- Trụ cột Ổn định kinh tế vĩ mô không thay đổi điểm số và thứ hạng (giữ ở mức 75 điểm và thứ hạng 64)
- Trụ cột Hệ thống tài chính tăng 1,6 điểm, nhưng giảm 1 bậc; trụ cột Cơ sở hạ tầng tăng 0,5 điểm, nhưng giảm 2 bậc
- Trụ cột Y tế giảm điểm nhẹ (0,5 điểm, từ 81 điểm xuống 80,5 điểm) và do đó tụt 3 hạng (từ vị trí 68 xuống vị trí 71)
Mặt khác, có đến 8/12 chỉ số trụ cột hiện ở thứ hạng thấp hoặc rất thấp Các trụ cột có thứ hạng dưới thứ hạng chung về năng lực cạnh tranh (thứ 67) gồm Thể chế (89); Cơ sở hạ tầng (77); Y tế (71); Kỹ năng (93); Thị trường sản phẩm (79); Thị trường lao động (83); Mức độ năng động trong kinh doanh (89); và Năng lực đổi mới sáng tạo (76)
Ở cấp độ các chỉ số thành phần, một số chỉ số có sự suy giảm mạnh như:
Trang 11- Mức độ minh bạch về ngân sách giảm 50,4 điểm (từ 65,4 xuống 15 điểm), dẫn tới thứ hạng tụt 42 bậc (từ vị trí 42 xuống vị trí 84);
- Mức độ Tiếp xúc với nước uống không an toàn có dấu hiệu tăng, hiện ở thứ hạng thấp (thứ 95), giảm 13 bậc so với năm 2018 (thứ 82);
- Hiệu quả dịch vụ cảng biển tuy không giảm điểm, nhưng tụt 5 bậc (đứng thứ 83) Điều này thể hiện Việt Nam chưa quan tâm chú trọng tới dịch vụ cảng biển so với các nền kinh tế khác
- Đáng chú ý là trong trụ cột Hệ thống tài chính, nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giảm 0,8 điểm và 12 bậc, đứng
ở thứ hạng 97 (năm 2018 có thứ hạng 85) Kết quả này cho thấy tiếp cận tín dụng vẫn là trở ngại lớn đối với các DNVVN Bên cạnh
đó, Mức độ sẵn có về vốn đầu tư mạo hiểm tuy có sự cải thiện, nhưng chậm hơn so với nhiều nền kinh tế, dẫn tới thứ hạng giảm 10 bậc (từ vị trí 51 xuống vị trí 61) Điều này phần nào phản ánh môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam chưa thực sự ổn định và thuận lợi, khiến các quỹ đầu tư thận trọng hơn khi đầu tư cho doanh nghiệp ở Việt Nam
- Hiệu quả giải quyết phá sản doanh nghiệp tiếp tục là rào cản lớn đối với hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, đứng cuối bảng xếp hạng (trong đó, mức độ phục hồi sản xuất kinh doanh đứng thứ 112, khuôn khổ pháp lý về giải quyết phá sản thứ 98; giảm tương ứng 3
và 5 bậc so với năm 2018)
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2018), “Tìm hiểu về chỉ số Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) của Diễn đàn kinh tế thế giới”.
2 Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (2014).
3 Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (2018).
4 Hội nghị Đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết 19 và giới thiệu Nghị quyết 02 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh (2019).
5 World Bank (2019), “Doing Business 2019”.
6 World Economics Forum (2019), “The Global Competitiveness Report”.