TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở VIỆT NAM MỤC LỤC I CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH THỂ CHẾ I 1 Thử nghiệm I 2 Cải cách thể chế thời kỳ đ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Trang 2tế thời kỳ đổi mới.
II.CẢI CÁCH THỂ CHẾ TRONG GIAI ĐOẠN
III Đổi mới cải cách biên soạn thể chế
III.1 Biên soạn luật , pháp lệnh , nghị định
KẾT LUẬN
Trang 3I CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH THỂ CHẾ
Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành nên hệ thống thể chế, tồn tạicùng với các thể chế như chính trị, giáo dục, dân sự, lao động… Thể chế kinh
tế có thể hiểu như một hệ thống gồm các luật lệ kinh tế, quy tắc, quy chế vềkinh tế gắn với các chế tài xử phạt, các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế,các cơ quan quản lý, vận hành nền kinh tế
Thể chế kinh tế Việt Nam thực sự được quan tâm xây dựng khi chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong chủ đề này tập trung phân tíchthể chế kinh tế và các thành phần liên quan trong các giai đoạn cải cách củaViệt Nam từ cuối những năm 1970
- Trước năm 1975, Việt Nam thống nhất 2, miền Nam có hoạt động kinh
tế mang tính chất thị trường tự do, kinh tế tư nhân Đến hội nghị lần 24 củaban chấp hành trung ương Đảng lao động VN khóa III đã áp dụng mô hìnhkinh tế chung của cả nước và quyết định: xóa bỏ tư sản mại bản ( thànhphần trung gian giữa tư bản nước ngoài với thị trg VN), cải tạo xhcn đối với
tư sản dân tộc, phát triển kinh tế quốc doanh
- Năm 1976, thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980, tập trung cải tạo xãhội chủ nghĩa ở miền Nam với mô hình hợp tác hóa, cải tạo thương nghiệp
- Năm 1978, thống nhất tiền tệ trong cả nước Việc này góp phần cải tạo
xã hội chủ nghĩa ở miền Nam xóa bỏ lối làm ăn rối loạn của tư thương
=> Kế hoạch 5 năm gặp khó khăn, giai đoạn này bị cắt giảm viện trợ
từ các nước xã hội chủ nghĩa, cơ chế kinh tế mới áp dụng tại miền nam khiến kinh tế cho miền Nam cũng như cả nước nói chung sa sút.
-Từ năm 1979 Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có một số thử nghiệmnhằm khắc phục một bước một bước những khuyết tật của cơ chế quản lýcũ
Hội nghị Trung Ương Đảng khóa IV tiến hành hội nghị lần thứ sáu vàđưa ra quyết định với tinh thần là: Cho phép kết hợp kế hoạch tập trung với
cơ chế thị trường; Sử dụng kinh tế tư nhân dưới sự quản lý của nhà nước;
Trang 4Sửa lại giá nông sản theo hướng thỏa thuận; cho phép địa phương đượcxuất khẩu,
-Năm 1981, Nhà nước đã thay đổi một bước hệ thống kế hoạch điềuhành xí nghiệp quốc doanh Từ một kế hoạch tập trung và Nhà nước đãchuyển thành một kế hoạch ba phần (Chế độ 3 kế hoạch):
+Phần kế hoạch bắt buộc mà Nhà nước giao cho xí nghiệp (KH1)
+Phần kế hoạch có tính hướng dẫn cho xí nghiệp được tham khảo lựachọn (KH2)
+Phần kế hoạch tự quản do xí nghiệp đặt quan hệ với thị trường (KH3)
- Ban hành chỉ thị về Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩmđến nhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp,thường gọi tắt là khoán 100
-Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa của thương nghiệp quốc doanh đãthí điểm và mở rộng từng bước cơ chế giá thị trường đi đôi với phương thức
bù giá vào lương cho những người trước đó như mua nhu yếu phẩm theogiá thấp (hiểu là tăng lương tối thiểu để giúp người dân đối phó với tínhtrạng giả cả leo thang, vì do tình trạng tranh mua tránh bán khi KH2, Kh3được thực hiện nhiều, vì vậy để đạt mức kế hoạch (KH1) đề ra nhà vì nước
in thêm tiền => lạm phát)
- Những thử nghiệm đó tuy chỉ mới thay đổi bộ phận song là bước khởiđộng cho sự đổi mới tư duy và làm bộc lộ rõ những lực cản trong hệ thốngthể chế
Thứ nhất là thể chế hành chính-kinh tế Các cơ quan quản lý hành chínhchi phối cả đời sống dân cư dẫn đến không có quyền chủ động và chịu tráchnhiệm về kết quả hoạt động của mình, thủ tục hành chính phiền hà gâynhiều trở ngại
Thứ hai là thể chế xã hội và đời sống dân cư.Trong nền kinh tế bao cấpNhà nước được tổ chức, điều hành như một trung tâm chỉ huy.Xuất hiệnnhiều vấn đề về sở hữu, về quyền và nghĩa vụ qua lại mà hệ thống thể chếchưa giải quyết được
Thứ ba về thể chế lao động.Thời bao cấp làm việc ngoài xã hội bị cấmđoán, hạn chế coi như chưa có việc làm còn những người làm trong nhànước mới gọi là có việc làm và làm trong hợp tác xã thì coi như có việc làmmột nửa Tạo nên tình trạng ỷ lại vào nhà nước
Thứ tư là thể chế tài chính, tiền tệ, ngân hàng trong cơ chế bao cấp làmột chế độ cấp phát của Nhà nước cho toàn xã hội Những người khônglàm việc cũng được hưởng một chế độ cấp phát nhất định Tuy nhiên không
có những ràng buộc cho đối tượng được cấp phép gây sử dụng thiếu hiệuquả
Trang 5.- Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cuối năm 1986 đãnhận định: từ năm 1979 Đảng và Nhà nước đã cho thử nghiệm một số môhình mới về quản lý kinh tế, tìm ra cách làm ăn mới song cơ chế tập trung,quan liêu, bao cấp về cơ bản chưa bị xóa bỏ, cơ chế mới chưa được thiếtlập đồng bộ ,nhiều thể chế mới chưa được thay đổi.
I.2 CẢI CÁCH THỂ CHẾ THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986- 2001)
a Nội dung
- Trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuốinăm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn, Nền kinh tế
Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Tình hình này làm cho Đảng
Cộng sản Việt Nam quyết định mở Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Trên
cơ sở phân tích nguyên nhân đúng đắn của tình hình khủng hoảng kinh tế nhiều năm trước, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế quản lý kinh doanh thay thế cho nền kinh
tế hiện vật với cơ chế quản lý tập trung , bao cấp đã xuất hiện nhu cầu
cấp bách về xây dựng thể chế
- Quan điểm Đổi mới về kinh tế đã được hoàn thiện dần trong quá
trình thực hiện, đó là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa Tuy nhiên trong văn kiện chính thức ở đại hội VI không coi nền
kinh tế VN là “kinh tế thị trường” mà chỉ là “kinh tế hàng hóa”
- Về quan hệ sản xuất: Nhận thức được làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
- Về cơ chế quản lý: Thay cho cách quản lý cơ chế cũ mang nặng tính chủ quan, duy ý chí là cơ chế quản lý mới trong thời kỳ quá độ có
2 đặc trưng cơ bản là “tính kế hoạch” và “ sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa- tiền tệ”
- Đặc Điểm
Nhà nước chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Tuy nhiên, kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo
Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai bàn tay: thị trường và Nhà nước Điều này có ưu điểm là nó phát huy tính tối ưu trong phân bổ nguồn lực xã hội để tối đa hóa lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của Nhà nước giúp tránh được những thất bại của thị trường như lạm phát, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế
Thực hiện
Trang 6Sau những năm chuyển mình gian lan sang cơ chế mới được ghi nhậnbằng việc thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế quan trọng như:
- Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp , đã xây dựng được nhiều thể chế
về tự chủ tài chính của doanh nghiệp nhà nước (1986) ; thể chế đổi mới kếhoạch hóa và hoạch toán kinh tế(1987)
- Trong lĩnh vực đầu tư của người nước ngoài vào Việt Nam và lĩnh vựckinh doanh tư nhân,đã có một loại thể chế được hình thành như Luật+ Đầu
tư nước ngoài (1987), Luật Doanh nghiệp tư nhân( 1990) ,…
- Việc ban hành Hiến pháp 1992 khẳng định những nguyên tắc pháp
lý cơ bản của công cuộc đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, nền kinh tế nhiều thành phần được Hiến Pháp chính thức được thừa nhận.
+ nguyên tắc tự do kinh doanh theo pháp luật của các thành phần kinh tế.
+ đảm bảo quyền con người và quyền công dân
+ khuyến khích người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
- Tăng cường hội nhập kinh tế, quốc tế: Bình thường hóa quan hệ
với TQ, tham gia các tổ chức thương mại quốc tế
Trong giai đoạn 1986 – 2001 , Việt Nam trải qua thời kì đổi mới và dần
có những bước tiến tích cực Giai đoạn 1986-1990, là giai đoạn đầu củacông cuộc đổi mới, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũsang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sốngkinh tế - xã hội và bước đầu giải phóng được lực lượng sản xuất, tạo rađộng lực phát triển mới Đến giai đoạn 1991-1995 ,Đất nước dần dần ra khỏitình trạng trì trệ, suy thoái Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựuquan trọng và đến giai đoạn 1996-2001 là giai đoạn đánh dấu bước pháttriển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Với những bước đầu thành công của giai đoạn 1986 -2001 đãkhẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, góp phần khích lệ, độngviên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đấtnước với những bước tiến cao hơn
I.3 Thành tựu cơ bản trong xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ đổi mới.
Thứ nhất, trước đây nhà nước quản lý kinh tế xã hội bằng chính sách, Nghị quyết và mệnh lệnh hành chính, thì từ khi đổi mới đến nay pháp luật đã trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước.
- Nguyên tắc pháp quyền được phát huy hiệu quả hơn Việc công dânkhởi kiện cơ quan hành chính trước tòa án đang dần dần trở thành hoạtđộng bình thường
Trang 7Thứ hai, thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã từng bước thay thế thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp:
- Tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, xác định chế độ sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp,xóa bỏ chế độ Nhà nước độc quyền về ngoại thương, giảm sự can thiệp củanhà nước bằng các biện pháp hành chính vào quan hệ dân sự, kinh tế,thương mại và các doanh nghiệp
- Mở rộng quan hệ đối ngoại
- Dân chủ hóa đời sống xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vàoquản lý Nhà nước, Nhà nước chỉ quản lý những gì thực sự cần thiết thuộc
về chức năng vốn có của nhà nước
Thứ ba, Nhận thức về điều ước quốc tế đã được nâng cao một cách
rõ rệt Điều ước quốc tế dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của hệ thống thể chế và được thừa nhận là có ưu thế hơn so với văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
Thứ tư, về cải cách lập pháp Cách xây dựng thể chế đã dựa vào luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để đưa công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi vào nề nếp.
Thứ năm, về cải cách hành chính Tổ chức và hoạt động của các cơ
quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ cấu kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
- Việc Chuyển đổi cơ bản từ chế độ cấp phép sang đăng kí kinh doanhtạo thuận lợi cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội
- Tổ chức bộ máy của Chính phủ đã sắp xếp gọn hơn, giảm bớt số bộ,
cơ quan ngang bộ Ở địa phương, giảm số đầu mối ở cấp tỉnh từ trên 30xuống 20 cơ quan và ở cấp huyện từ trên 20 phòng ban xuống còn khoảng
10 phòng ban
Thứ sáu, về cải cách tư pháp Đã có những điều chỉnh nhất định về
tổ chức, bộ máy của tòa án, viện kiểm sát, các cơ quan điều tra thi hành án, bảo trợ tư pháp.
- Thành lập thêm các tòa kinh tế, lao động, hành chính tại Tòa án nhândân tối cao và các Tòa án cấp tỉnh, đảm bảo việc xét xử được chuyên mônhơn
- Lập lại chế độ bổ nhiệm thẩm phán thay thế chế độ bầu, cải thiện đáng
kể chế độ đãi ngộ đối với thẩm phán
Ngoài ra, có trọng tài kinh tế (phi Chính phủ) ra đời thay thế cho hệ thốngtrọng tài kinh tế trước đây
Trang 8Hoạt động bổ trợ tư pháp như luật sư tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý,công chứng,… được triển khai mạnh mẽ và rộng khắp nhằm giúp công dân,doanh nghiệp bảo vệ được quyền lợi của họ, góp phần đảm bảo an toàn chocác chi phí giao dịch kinh tế.
Thứ bảy, hoạt động thông tin mở rộng và phát triển hơn, trong đó
có thông tin về thể chế của các cơ quan Nhà nước và khu vực tư nhân
có sự phát triển đáng kể Khái niệm Chính phủ điện tử (E-government) được quan tâm Công báo được phát hành rộng rãi, đảm bảo số lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng Công báo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, nhân dân,
=>Những thành tựu
- Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới.
Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển Kết
thúc kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được nhữngthành tựu bước đầu rất quan trọng: GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sảnxuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8 - 4%/năm; công nghiệp tăng bình quân7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13 -14%/năm; giá trị kimngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1) Việc thực hiện tốt ba chương trình mụctiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đâyđược đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệphóa XHCN trong chặng đường đầu tiên Điều quan trọng nhất, đây là giaiđoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thựchiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giảiphóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới
- Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ,
suy thoái Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng:
đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp
tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng12%/năm; tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệutấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990 (2) Hầu hết các lĩnh vực kinh tếđều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một sốmặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết đển chuyển sangmột thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước” (3)
Trang 9- Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển
quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính -
kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liêntiếp, đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách khốc liệt, tuy nhiên, ViệtNam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá GDP bình quân của cả giaiđoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; côngnghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ tăng 5,2% (4) “Nếu tính
cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân là 7,5% Sovới năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần”
Hạn chế
Trong những năm đổi mới tốc độ phát triển kinh tế khá, song kinh
tế phát triển vẫn chưa đạt được như tiềm năng và yêu cầu, chưa thật
sự bền vững Chất lượng hiệu quả, năng suất lao động, năng lực cạnh
tranh còn thấp Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩachậm được hoàn thiện, hệ thống thị trường hình thành và phát triển chưađồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, kết cấu hạ tầngchưa đồng bộ đang cản trở sự phát triển, việc tạo nền tảng để trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại còn gặp nhiều khó khăn
Cải cách thể chế kinh tế: hạn chế chính là chưa thực sự tạo ra tính bình đẳng trong sân chơi kinh doanh giữa các thành phần kinh tế Quá nhiều số lượng văn bản, mâu thuẫn giữa các qui định, thẩm quyền ban hành các thể chế quá rộng rãi, giao cho nhiều cơ quan (vd: để quản lý
việc xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới việt nam đã cso các cơ quansau đây ra qui định và cử nhân viên xuống tận cửa khẩu kiểm tra: cơ quanthương mại về quy chế mậu dịch biên giới, cơ quan kiểm dịch động vật, thựcvật thuộc bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, cơ quan hải quan về thủtục và thuế xuất nhập khẩu hàng hóa, cơ quan biên phòng về quy chế biêngiới, cơ quan bảo vệ môi trường, cơ quan quản lý thị trường Khi rà soátkhoảng 200 văn bản thuộc loại này của các bộ, tổng cục, đã thấy có thể bãi
bỏ 48 văn bản.)
Chưa có một khung thể chế hình thành đầy đủ các bộ phận của nền kinh tế thị trường, có bộ phận thể chế quá nhiều hoặc còn thiếu so với nhu cầu, có bộ phận khập khiễng, mâu thuẫn chồng chéo
Ngoài ra còn thể hiện rõ nét ở các qui chế cho vay về vốn, về cấp và chothuê đất đai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, về thái độ Nhà nước đối vớinhững rủi ro, thua lỗ của doanh nghiệp; tất cả những qui chế đó đối với từngloại thành phần kinh tế đều có chênh lệch, có bộ phận được ưu ái, bạc đãi
Trang 10Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạnchế: Hệ thống các thị trường: lao động, vốn, bất động sản hoạt động chưahiệu quả, quản lý nhà nước chưa linh hoạt, thiếu chủ động và mức độ kiểmsoát thị trường chưa cao
Về hệ thống pháp luật
- Chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, thể hiện ở tính chưađồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật Một sốvấn đề chậm thể chế hóa như quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc nhànước, đăng ký kinh doanh bất động sản, kiểm soát độc quyền
- Chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thu hành luật, tình trạng vănbản hướng dẫn thi hành mâu thuẫn với văn bản luật chưa được khắc phụctriệt để
- Hiệu lực thi hành của một số văn bản pháp luật chưa cao, chưa quiđịnh rõ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, thể chế hóa các hoạt độnggiao dịch, chống độc quyền, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Qui trình xây dựng văn bản pháp luật còn thiếu dân chủ, cứng nhắc,cách phân công cho cán bộ, ngành soạn thảo văn bản pháp luật dễ dẫn tớitình trạng bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành
Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường
- Vận dụng chưa đồng bộ các công cụ quản lý và điều tiết thị trường
- Năng lực của bộ máy quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu quản lýhiệu quả nền kinh tế thị trường, thiếu tính chuyên nghiệp và sự tận tâm phụcvụ
Cải cách thể chế hành chính- kinh tế: hạn chế lớn nhất tương tự như thểchế kinh tế là quá nhiều văn bản, mâu thuẫn chồng chéo, thẩm quyền banhành chế độ của bộ, tổng cục quá rộng, chưa tạo được một trật tự, kỷcương mới trong nền hành chính và trong xã hội
Nhiều nhu cầu mới xuất hiện đòi hỏi có thêm thể chế hành chính nhưngtiến độ nghiên cứu và xây dựng chậm chạp hoặc còn có những nhận thứckhác nhau như vấn đề chính quyền đô thị, việc đổi mới cấu trúc bên trongcủa một Bộ, Tổng cục ( có vấn đề làm thử 8,9 năm vẫn chưa có kết luậnnhư vấn đề cải cách thủ tục hành chính,,,
Nội dung thể chế hành chính vẫn bị ảnh hưởng rất sâu tư duy của cơchế bao cấp cũ, quản lý nặng nề về sự can thiệp sự vụ của cơ quan hànhchính, gây khó khăn cho doanh nghiệp và công dân Chức năng đảm bảotrật tự, kỷ cương theo pháp luật chưa được coi trọng cả trong bộ máy nhànước cũng như trong xã hội
Trang 11Thể chế bộ máy hành chính cấp trung ương chưa thoát khỏi tình trạngkhông rành mạch về chức năng Tổ chức bên trong của Bộ, Tổng cục phầnlớn theo nguyên tắc khép kín, lẫn lộn chức năng
Thể chế hành chính bộ máy địa phương mang nặng tính chất đồng loạt,chưa có phân biệt rõ rệt quản lý đô thị, nông thôn, phân biệt cấp huyện, thị
xã, xã, phường,,, Cũng chưa có sự phân biệt về qui mô đơn vị hành chính,địa vị tài chính
Thể chế về quản lý công chức từ đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm đến chế
độ tiền lương, thưởng, bảo hiểm chưa có tác dụng khích lệ người côngchức trau dồi đạo đức công vụ Ngược lại trong một số lĩnh vực dễ đưangười công chức vào vòng tiêu cực
Cải cách thể chế dân sự- kinh tế: các thể chế dân sự chưa được quantâm xây dựng và hoàn thiện, mặc dù cuộc sống đang đòi hỏi phải có nhiềuthể chế dân sự hơn nữa Các quyền của công dân ghi trong hiến pháp đều
có nội dung tiến bộ nhưng mới chỉ được ghi nhận trên nguyên tắc hiến định,một số quyền ghi trên hiến pháp cần sớm được qui định thành thể chế cụthể
Nhận xét:
Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến về chất trong nhận thức , cải cách kinh tế và thiết lập, hoàn chỉnh dần thể chế kinh tế Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam đã dần chuyển sang nền kinh tế kế hoạch hóa có điều chỉnh trong những năm 1980 và nền kinh tế định hướng thị trường, mở cửa
và hội nhập từ năm 1989 và với mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ khoảng năm 2000 Và điều
đó đã tạo ra thành tựu cơ bản trong việc xây dựng thể chế kinh tế thời
kỳ đổi mới
II.CẢI CÁCH THỂ CHẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2002-2010
II.1 Mục tiêu tổng quát:
Cải cách thể chế giai đoạn 2002-2010 được thực hiện với 5 mục tiêu cơbản:
- Bảo đảm hoàn thành đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế, hành chính, dân
sự, tư pháp và các thể chế khác để tăng cường năng lực thi hành thể chếtrong bộ máy nhà nước và trong toàn xã hội
- Tập chung vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế tạo cơ sở pháp lý chocác hoạt động của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tạo hành lang antoàn, điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế
Trang 12- Hoàn thiện và đổi mới hệ thống thể chế hành chính, xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nâng cao nănglực quản lí điều hành của bộ máy.
- Nghiên cứu, đẩy mạnh hơn nữa việc ban hành các thể chế dân sự,tiếnđến xây dựng một xã hội trong đó các quyền công dân được bảo đảm, cáchình thức tự quản được phát triển nhiều hơn nữa ở nông thôn, thành thị docác tổ chức, đoàn thể chính trị, xã hội, tạo điều kiện phát huy mạnh mẽquyền dân chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng
- Hoàn thiện, đổi mới hệ thống thể chế tư pháp, xây dựng thực sự mộtnền công lý, một xã hội công bằng, mọi người bình đẳng trước pháp luật,pháp luật bình đẳng trước mọi người
II.2 Thể chế kinh tế :
Nhược điểm :
- Thể chế kinh tế giai đoạn này chưa thực sự tạo ra tính bình đẳng
trong sân chơi kinh doanh giữa các thành phần kinh tế
-Chưa có một khung thể chế hình thành đầy đủ các bộ phận của
nền kinh tế thị trường Sự bình đẳng trong kinh doanh thể hiện rõ nét ở
các quy chế cho vay vốn, về cấp và cho thuê đất đai làm mặt bằng kinhdoanh, về đóng thuế, về ưu tiên xuất nhập khẩu, về thái độ của nhà nướcđối với những rủi ro, thua lỗ của doanh nghiệp… những quy chế này đối vớitừng loại thành phần kinh tế có sự chênh lệch
- Về số lượng văn bản thể chế, tình trạng phổ biến là có quá nhiều
văn bản dưới luật Cụ thể là 1990-2000 đã ban hành 84 đạo luật, 77 pháp
lệnh, 826 nghị định, bên cạnh đó còn rất nhiều các thông tư của bộ, quy địnhcủa chính quyền
- Số lượng văn bản quá nhiều khó tránh khỏi sự mâu thuẫn, chồng
chéo trong các thể chế Điều này nếu không tiến hành một kế hoạch đơn
giản hóa thì hiệu quả không những không cao mà còn xuất hiện tình trạng
lạm dụng thể chế
- Giải pháp :
-Hoàn thiện thể chế tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường: Bên cạnh hoàn thiện các thể chế thị trường đã hình thành như hàng hóa, thị trường vốn, tiền tệ … cần xây dựng các nhóm thể chế mới về các thị trường khác như:
+ Thị trường bất động sản
+ Thị trường lao động
+ Thị trường sản phẩm khoa học - Công Nghệ
+ Thị trường bảo hiểm
- Hoàn thiện chế độ pháp lí về sở hữu
Trang 13- Bảo đảm quyền tự do kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
-Bảo đảm quyền công dân và doanh nghiệp được tự do và dễ dàng giao kết hợp đồng.
-Bảo đảm quyền tự chủ, tự định đoạt của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước với tư cách là các chủ thể pháp luật độc lập.
-Hoàn thiện khung pháp luật về tài chính, tiền tệ.
- Hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra, làm rõ thẩm quyền thanh tra, kiểm tra của từng cơ quan để chấm dứt tình trạng thanh tra chồng chất, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và công dân II.3 Thể chế hành chính – kinh tế
Thể chế hành chính – kinh tế bao gồm hai bộ phận lớn:
- Bộ phận thể chế hành chính thuần túy về hoạt động quản lí Nhà nướcbao gồm các thể chế trong lĩnh vực chính trị, hành chính, xây dựng chế độquản lý giấy tờ, hiện đại hóa công sở, chế độ bầu cử …
- Bộ phận thể chế hành chính tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanhbao gồm các thể chế về thủ tục đăng ký kinh doanh, cấp các loại giấy phép,
sự kiểm soát hành chính, thuế, hải quan, quản lí đất đai, các tổ chức củacông chức hành chính
Phần này chỉ đề cập đến bộ phận thứ hai của thể chế hành chính, tạm
gọi là thể chế hành chính – kinh tế Nhược điểm lớn nhất của thể chế
hành chính là quá nhiều văn bản, mâu thuẫn, chồng chéo, thẩm quyền ban hành thể chế của Bộ, Tổng cục quá rộng, chưa tạo được một trật
tự, kỷ cương mới trong nền hành chính và trong xã hội.
Nội dung thể chế hành chính vẫn bị ảnh hưởng rất sâu tới tư duy của cơ chế bao cấp cũ, quản lý nặng về sự quan thiệp sự vụ của cơ quan hành chính Thể chế bộ máy hành chính ở Trung ương chưa rành mạch về chức năng Thể chế về bộ máy hành chính địa phương mang nặng tính chất đồng loạt, cào bằng, chưa có phân biệt rõ rệt quản lý đô thị, quản lý nông thôn, hay giữa các cấp quận, huyện, thị xã, phường,
xã, thị trấn …
Hoàn thiện thể chế hành chính với vấn đề xây dựng nhà nước phápquyền có liên quan mật thiết Xây dựng thể chế hành chính có khả năng tạonên một bước đổi mới quan trọng trong nền hành chính, xây dựng nhà nướcpháp quyền ( Nền hành chính gần dân hơn, phục vụ dân, tinh giản hơn, canthiệp vừa đủ và đúng vào đời sống nhân dân, một nền hành chính trongsạch, có hiệu lực, hiện đại hơn Xóa bỏ cơ bản các thủ tục hành chính quanliêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân Xác định rõ
Trang 14chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan trong hệ thống hànhchính, xây dựng các thể chế về dịch vụ công…)
a) Đổi mới, hoàn thiện các thể chế về tổ chức bộ máy hành chính Trung ương.
- Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ: Xây dựng cơ cấu tổ chứcChính phủ gồm các Bộ, cơ quan ngang bộ làm chức năng quản lí nhà nước
Cơ cấu tổ chức Chính Phủ theo nguyên tắc Bộ đa ngành, đa lĩnh vực, bộmáy của các Bộ được điều chỉnh về cơ cấu phân biệt rõ chức năng Giảmmạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chínhphủ
- Điều chỉnh lại bộ máy bên trong của các Bộ và cơ quan thuộc Chínhphủ: tách chức năng quản lí nhà nước của Bộ đối với ngành, tổ chức hànhchính với tổ chức sự nghiệp để hoạt động theo cơ chế riêng Tinh gọn bộmáy bên trong các Bộ, cơ quan Chính phủ, phù hợp với chức năng, nhiệmvụ
b) Đổi mới, hoàn thiện thể chế tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền địaphương, sửa đổi Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân
- Quy định các tiêu chí cụ thể để phân loại các đơn vị hành chính
- Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dâncác cấp theo hướng trách nhiệm, rõ ràng, rành mạch, gọn nhẹ…
c) Nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ đi đôi với cải cách chế độ tiền lương
- Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức Tăngcường cấc biện pháp giáo dục về trách nhiệm, tận tâm, tận tụy với côngviệc Tôn vinh nghề nghiệp danh dự của người cán bộ, công chức
- Ban hành thực hiện nghiêm Quy chế công vụ, gắn với thực hiện Quychế dân chủ trong các cơ quan hành chính nhà nước
- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyếtcông việc của dân
- Cải cách chế độ tiền lương theo quan điểm coi tiền lương là hình thứcđầu tư trực tiếp vào con người, đầu tư cho phát triển
d) Đổi mới, hoàn thiện thể chế về tài chính công.
- Đổi mới về cơ chế phân cấp quản lí tài chính và ngân sách
- Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhândân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền chủ động xử lí các công việc củađịa phương
Trang 15- Thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan hànhchính
- Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công: xâydựng quan niệm đúng về dịch vụ công, có các chính sách cơ chế tạo điềukiện để doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụphục vụ đời sống và sản xuất Xóa bỏ các cơ chế cấp phát tài chính thiêukiểu “xin – cho”, ban hành các cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủtài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều kiện như trường đại học, bệnhviện, viện nghiên cứu…
- Thực hiện một số cơ chế tài chính mới: Cơ chế khuyến khích các nhàđầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư phát triền trường học, cơ sở chữabệnh, khu công nghiệp, cho thuê đất xây dựng trường học, bệnh viện …, Cơchế khoán một số dịch vụ công cộng cho các công ty thực hiện, hợp đồngmột số dịch vụ trong cơ quan hành chính(ô tô đưa đón, dọn dẹp vệ sinh …)
- Đổi mới công tác kiểm toán đối với cơ quan hành chính, đơn vị sựnghiệp
e) Đổi mới tăng cường thể chế tài phán hành chính
Bổ sung thể chế tài phán hành chính thì tình hình khiếu kiện có thể đượcgiải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật và dứt điểm hơn Thể chếtài phán hành chính có nhưng lợi thế như: Bình đẳng bên kiện(công dân) vàbên bị kiện( cơ quan hành chính) Kiện ra tòa là đưa vấn đề ra công khai,
mọ, phải mở phiên tòa và mọi người đều biết và đánh giá phán quyết củatòa một cách khách quan nhất, kiện ra tòa cũng làm sáng tỏ chân lý cụ thểkhi xảy ra tranh luận trực tiếp giữa hai bên Tăng thẩm quyền và phạm vi xét
xử cho Tòa án Hành chính, đồng thời kiện toàn cơ quan này
II.4 Thể chế dân sự - kinh tế
Bao gồm các quy định về quyền công dân, về thân phận của con người trong các mối quan hệ của họ với gia đình, cộng đồng, xã hội, Nhà nước, về các hình thức tổ chức được thiết lập giữa các thành viên, các cộng đồng để hoạt động nhằm đạt đến 1 mục tiêu chung Các mối
quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến thể chế dân sự gồm:
Quan hệ giữa con người với cộng đồng
Quan hệ giữa con người với xã hội
Quan hệ giữa con người với Nhà nước
Quan hệ giữa con người với con người
Quan hệ giữa các cộng đồng với gia đình
Quan hệ giữa gia đình, cộng đồng với Nhà nước